1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI-THẢO-LUẬN-LUẬT-LAO-ĐỘNG-CHƯƠNG-5

13 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 44,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiền lương của người lao động làm viêc theo HĐLĐ: Khoản 1 Điều 90 BLLĐ 2019: "Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

BÀI THẢO LUẬN CHƯƠNG V TIỀN LƯƠNG GIẢNG VIÊN: DS - LÊ NGỌC ANH

LỚP: TM44B3 NHÓM 7 ST

Trang 2

BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM 7

Trang 3

CHƯƠNG V TIỀN LƯƠNG

I LÝ THUYẾT:

1.1 Hãy so sánh tiền lương của người lao động làm việc theo HĐLĐ với tiền lương của viên chức nhà nước và tiền công của người nhận gia công.

Tiền lương của người lao động làm viêc theo HĐLĐ:

Khoản 1 Điều 90 BLLĐ 2019: "Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động

trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác "

Và Khoản 1 Điều 95 BLLĐ 2019 có quy định: " Người sử dụng lao động trả lương

cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc"

Theo quy định trên, nếu đây chỉ là HĐLĐ thông thường đối với người lao động thì tiền lương sẽ áp dụng mức lương theo nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên, tuy nhiên sẽ không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng

- Tiền lương của viên chức nhà nước: Viên chức là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập Đối với viên chức, vì họ là những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước, trực thuộc Nhà nước nên đơn vị

tổ chức trả lương cho họ được trích từ chính ngân sách của nhà nước hoặc từ các nguồn thu theo quy định của pháp luật Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển

- Tiền công của người nhận gia công: Tiền công là một thuật ngữ khác của tiền lương Tiền công thường được hiểu như quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thường được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các hợp động dân sự thuê mướn lao động có thời hạn Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao động Tiền công của người nhận gia công theo Hợp đồng gia công Bên đặt gia công có nghĩa vụ thanh toán tiền công cho bên nhận gia công theo thỏa thuận

1.2 Phân tích và đánh giá cơ sở xây dựng tiền lương tối thiểu theo pháp luật hiện hành.

Điều 90 BLLĐ 2019 quy định về tiền lương như sau: Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định

Trang 4

Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau

“Điều 91 Mức lương tối thiểu

1 Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành.

2 Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế – xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động, Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia.

3 Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố.”

Mức lương tối thiểu tùy từng loại và tùy từng quốc gia sẽ được xác định bằng những phương pháp khác nhau Vấn đề này là nội dung chủ yếu của Công ước số 26 (năm 1928) của ILO về việc thiết lập những phương pháp ấn định lương tối thiểu Song

dù bằng phương pháp nào thì: ‘Trong chừng mực nhất định có thể thích hợp, xét theo thực tiễn và điều kiện quốc gia, những yếu tố cần lưu ý để xác định mức lương tối thiểu phải bao gồm:

a) Những nhu cầu của người lao động và gia đình họ, xét theo mức lương chung trong nước, giá sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn xã hội và mức sống so sánh của các nhóm

xã hội khác;

b) Những yếu tố về kinh tế, kể cả những đòi hỏi của phát triển kinh tế, năng suất lao động

và mối quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao.’

Những căn cứ cơ bản để xác định mức lương tối thiểu là: cung cấp lao động; khả năng kinh tế và chỉ số giá sinh hoạt theo từng thời kì Chịu sự quyết định của giá trị sức lao động, tiền lương đồng thời chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố cung cầu lao động trên thị trường Sự tác động này có thể có lợi hoặc bất lợi cho người lao động xét ở từng thời điểm và hoàn cảnh nhất định

Nhà nước với tư cách là người quản lí, cần điều tiết tiền lương một mặt vừa phù hợp với diễn biến của yếu tố cung cầu lao động, vừa bảo vệ được người lao động với vị trí thế yếu trong thị trường lao động và bảo vệ lợi ích chung của xã hội Sự điều tiết này đương nhiên phải tính toán một cách kĩ lưỡng tới khả năng kinh tế từng thời kì mà cụ thể

là khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước và khả năng chi trả của các đơn vị sử dụng lao động thuộc các khu vực và thành phần kinh tế khác nhau Chỉ khi khả năng kinh tế đủ đảm bảo cho việc trả lương theo mức Nhà nước đã ấn định thì quy định của Nhà nước về lương tối thiểu mới có tính khả thi và được tôn trọng thực hiện

Trang 5

1.3 Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa các loại tiền lương tối thiểu? Theo bạn, Nhà nước

có nên thống nhất tiền lương cơ sở và tiền lương tối thiểu vùng hay không? Vì sao?

Theo Nghị Định 31/2012/NĐ-CP thì Lương tối thiểu chung là: áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang; tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội; Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật doanh nghiệp

Mặt khác, theo Nghị định 103/2012/NĐ-CP thì Lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động

Nhìn vào hai khái niệm trên ta thấy, việc thay đổi mức lương tối thiểu chung có tầm ảnh hưởng nhiều hơn đối với cuộc sống của người dân Bởi thu nhập của Cán bộ, công chức, viên chức hiện nay phụ thuộc vào lương tối thiểu chung là chính

Còn lương tối thiểu vùng thì thực tế hiện nay các DN có thuê mướn lao động chỉ dựa vào lương tối thiểu vùng để đăng ký làm thang lương, bảng lương cho người lao động Lương tối thiểu vùng cũng là căn cứ để người lao động tham gia chế độ Bảo hiểm

xã hội

Nhà nước nên thống nhất tiền lương cơ sở và tiền lương tối thiểu vùng vì chỉ khi nào lương tối thiểu vùng tăng lên thì lương tối thiểu chung mới tăng Tuy nhiên tỷ lệ tăng lương tối thiểu vùng bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ tăng lương tối thiểu chung Việc tăng nhỏ giọt như vậy nếu tính ra mức thu nhập cho cán bộ, viên chức thì không đảm bảo cho cuộc sống cũng như giá cả đang ngày một leo thang Điều này có khả năng dẫn tới nhiều hệ lụy khác như cán bộ, viên chức không còn muốn gắn bó trong CQ nhà nước, hoặc tạo điều kiện cho tệ nạn tham nhũng, tham ô, hối lộ ngày một tăng cao Chính phủ nên nghiên cứu để có một giải pháp tăng lương tốt hơn, hiệu quả hơn để không chỉ đời sống của người dân được nâng cao mà tệ nạn tham ô, tham nhũng cũng được giảm đi đáng kể

1.4 Hãy xác định cơ cấu tiền lương theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận Cơ cấu tiền lương theo quy định bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác (Khoản

1 Điều 90 BLLĐ 2019)

- Mức lương được xác định căn cứ vào giá trị của công việc hoặc yêu cầu cụ thể đối với

từng chức danh lao động Mức lương theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 BLLĐ 2019 còn được gọi là mức lương cơ bản, được thể hiện trong thang lương, bảng lương (Điều 93 BLLĐ 2019) do người sử dụng lao động xây dựng Trên thực tế, để xác định được mức lương (lương cơ bản) chính xác, người sử dụng lao động cần tổ chức hiệu quả hoạt động phân tích công việc và mô tả công việc Mức lương cơ bản vì vậy được coi là phần chính yếu nhất trong cơ cấu tiền lương

Trang 6

- Phụ cấp lương được coi là khoản tiền bù đắp các yếu tố do biến động, thay đổi, phát

sinh về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh Phụ cấp lương ngoài việc bảo đảm công bằng, bình đẳng trong việc

trả lương, còn có tác dụng động viên, khuyến khích, thu hút người lao động làm việc ở những ngành nghề, địa bàn, công việc… khó khăn, góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách phân công lao động xã hội trong phạm vi doanh nghiệp, ngành, địa phương và toàn quốc Các chế độ phụ cấp lương có thể bao gồm: phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp thu hút, phụ cấp độc hại, nguy hiểm

- Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có

liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, trừ các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan

đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động

1.5 Phân tích và đánh giá việc áp dụng các quy định về việc xây dựng thang lương, bảng lương theo pháp luật hiện hành.

Căn cứ Điều 93 BLLĐ 2019

- Người sử dụng lao động phải xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng, sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động

- Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại

cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động

- Thang lương, bảng lương và mức lao động phải được công bố công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện

BLLĐ 2019 không còn yêu cầu người sử dụng lao động phải đăng ký thang, bảng lương với cơ quan nhà nước nữa

Mức lương tối thiểu vùng làm cơ sở để xây dựng thang, bảng lương năm 2021

Thang, bảng lương là cơ sở để doanh nghiệp thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong hợp đồng lao động với người lao động Trong khi đó, theo quy định tại thì mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường Vì vậy, khi xây dựng thang, bảng lương, doanh nghiệp phải căn cứ vào mức lương tối thiểu vùng để thực hiện đúng quy định về nguyên tắc trả lương

Từ ngày 01/01/2021, mức lương tối thiểu vùng tiếp tục được thực hiện theo quy định tại Nghị định 90/2019/NĐ-CP Trong đó, đối với người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề thì phải trả cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng nêu trên

Trang 7

Đánh giá việc áp dụng các quy định về việc xây dựng thang lương, bảng lương theo pháp luật hiện hành:

So với các bộ luật trước đây (Điều 93 BLLĐ 2012) quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng thang lương, bảng lương trên cơ sở các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương mà Chính phủ quy định tại Nghị định 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013), việc áp dụng các quy định của BLLĐ 2019 tạo điều kiện cho người sử dụng lao động xây dựng thang lương, bảng lương cách nhanh chóng và tinh gọn về mặt thủ tục, người sử dụng lao động không còn phải đăng ký thang, bảng lương với cơ quan nhà nước nữa

BLLĐ 2019 cũng hướng tới bảo vệ người lao động khi quy định mức lương tối thiểu vùng, khi xây dựng thang, bảng lương, doanh nghiệp phải căn cứ vào mức lương tối thiểu vùng để thực hiện đúng quy định về nguyên tắc trả lương

Ngoài ra, người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề cũng thì phải trả cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng nêu trên Quy định này tạo ra sự bình đẳng, bảo đảm quyền lợi cho những người lao động đã qua đào tạo

1.6 Phân tích và đánh giá việc áp dụng các quy định về quy chế tiền thưởng tại doanh nghiệp hiện nay.

Quy định về việc trả lương trả thưởng phụ cấp cho từng cá nhân từng bộ phận nhằm khuyến khích người lao động làm việc hoàn thành tốt công việc theo chức danh và đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đồng thời, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp để yên tâm công tác đáp ứng được mức sống cơ bản của người lao động đúng với quy định của pháp luật về lương thưởng và các chế độ cho người lao động

Doanh nghiệp có những quy định cụ thể về điều kiện hưởng và mức được hưởng

theo quy chế lương thưởng của doanh nghiệp Trong đó Điều 104 BLLĐ 2019 quy định:

“1 Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2 Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở."

Theo quy định mới trên thì người sử dụng lao động thưởng căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động Thưởng được thực hiện dưới hình thức là tiền, hiện vật hoặc hình thức khác

Về căn cứ thưởng, mức thưởng:

Người sử dụng lao động thực hiện công tác đánh giá, tổng kết kết quả sản xuất, kinh doanh theo tháng, quý hoặc theo năm để xây dựng mức thưởng cho người lao động Thưởng của người sử dụng lao động cho người lao động không phải là một quy định bắt

Trang 8

buộc của pháp luật lao động do đó quy chế về thưởng hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của từng cá nhân, doanh nghiệp, người sử dụng lao động

Trong trường hợp người sử dụng lao động có quy chế thưởng cho người lao động thì mức độ hoàn thành công việc của người lao động cũng là một trong những căn cứ để nhận thưởng

Hiện nay nhiều tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sử dụng quy định về thưởng với nhiều mức thưởng khác nhau như một cơ chế để giữ chân người lao động gắn bó với doanh nghiệp và khích lệ tinh thần lao động, cải thiện tình hình sản xuất, kinh doanh

Về hình thức thưởng:

Điểm mới của Bộ Luật lao động năm 2019 so với Bộ Luật lao động năm 2012 là

về hình thức thưởng Theo Bộ Luật lao động năm 2012 chỉ quy định về tiền thưởng của người sử dụng lao động đối với người lao động, do đó người sử dụng lao động chỉ có thể thưởng bằng hình thức thưởng tiền cho người lao động Còn ở Luật Lao động năm 2019

đã quy định nhiều hình thức thưởng mới, theo đó người sử dụng lao động có thể quyết định hình thức thưởng bằng tiền, tài sản hoặc hình thức khác Tài sản hoặc hình thức khác

có thể là sản phẩm gia dụng, nội thất, dịch vụ làm đẹp, du lịch, phiếu mua hàng,

* Đánh giá:

Nhìn chung, Điều 104 BLLĐ 2019 đưa ra quy định này là hoàn toàn phù hợp với

tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay vì giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc thực hiện các quy định về thưởng cho người lao động và giảm bớt gánh nặng kinh tế cho người sử dụng lao động

Tuy nhiên chế độ tiền thưởng cho người lao động được quy định trong luật có nhiều quy định mới giải quyết những khó khăn, vướng mắc giữa người sử dụng lao động

và người lao động tuy nhiên có những bất cập có thể phát sinh khi quy định này áp dụng vào thực tiễn Ví dụ như:

- Thứ nhất, sẽ phát sinh việc không có sự đồng thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động về hình thức thưởng dẫn đến việc các doanh nghiệp cố tình gán hình thức thưởng ép người lao động nhận thưởng bằng hiện vật

- Thứ hai, các sản phẩm thưởng cho người lao động không có giá trị tương xứng với kết quả lao động và mức độ hoàn thành công việc của người lao động, nhiều sản phẩm chỉ mang tính hình thức, không thiết thực, phù hợp với nhu cầu sử dụng của người lao động

- Thứ ba, quy định mới này nếu không có cơ chế kiểm soát rõ ràng thì có thể dẫn tới việc một số doanh nghiệp ép người lao động tiêu thụ hàng tồn kho, sản phẩm của doanh nghiệp thay vì thưởng tiền để giúp đỡ kinh tế cho người lao động

II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:

2.1 Tình huống số 1

Tháng 01/1995 đến tháng 9/2008, ông Nguyễn Hồng là cán bộ kỹ thuật Ban quản lý các

dự án giao thông tỉnh Vĩnh Long Từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008, chuyển đổi các

Trang 9

Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình cấp tỉnh theo Quyết định số 2206/QĐ-UBND ngày 29/10/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long, ông Hồng được điều về Công ty Cổ phần Tư vấn quản lý các dự án xây dựng V (“Công ty V.”) từ tháng 10/2008 cho đến khi nghỉ việc Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên ông Hồng xin chấm dứt HĐLĐ số: 32/HĐ.PMC-2010 có hiệu lực từ ngày 26/02/2009 và nghỉ việc theo quyết định số 25/QĐ-PMC ngày 03/12/2015 của Công ty V

Sau khi việc, ông có yêu cầu Công ty V trả trợ cấp thôi việc nhưng Công ty này không đồng ý Ngoài ra, ông Hồng còn yêu cầu Công ty V phải chi trả tiền thù lao Hội đồng quản trị từ tháng 8/2012 đến tháng 11/2015 với số tiền 40.000.000 đồng (40 tháng x 1.000.000 đồng)

Hỏi: Ông Hồng có nhận được trợ cấp thôi việc và tiền thù lao Hội đồng quản trị

do Công ty V chi trả không? Vì sao?

Trả lời:

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 46, và Khoản 9 Điều 34, Khoản 1 Điều 35 BLLĐ 2019 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên Ở đây ông Hồng đã làm việc từ 10/2008 đến 3/12/2015 Ông Hồng ở đây thuộc khoản 9 Điều 35 BLLĐ 2019 nên ông Hồng vẫn được nhận tiền trợ cấp thôi việc

Theo Khoản 1 Điều 163 Luật Doanh Nghiệp 2020 Công ty có quyền trả thù lao theo kết quả và hiệu quả kinh doanh Nếu không có quy định khác thì được tính theo Khoản 2 Điều 163 Luật Doanh Nghiệp 2020, thì tất cả tiền thù lao và thưởng của Hội đồng quản trị phải báo cáo và do Đại hội đồng cổ đông quyết định tại cuộc họp thường niên; Như vậy việc ông Hồng có nhận được tiền thù lao Hội đồng quản trị hay không do Công Ty V quyết định

2.2 Tình huống 2

Ông Liên Thanh và Công ty Cổ phần S (gọi tắt là Công ty S) đã ký HĐLĐ với mức lương căn bản 8.000.000 đồng, lương công việc là 24.727.500 đồng, phụ cấp trách nhiệm là 12.000.000 đồng Thu nhập thực lãnh sau khi trừ các khoản khấu trừ (thuế thu nhập cá nhân, tiền BHXH, BHTN) là 40.000.000 đồng/tháng Ngày 14/3/2016, ông có viết đơn xin nghỉ việc, thời gian chính thức nghỉ việc của ông sẽ là ngày 13/4/2016 Ngày 18/5/2016, Công ty S ra thông báo vi phạm và tổn thất số 10/2016/TB nội dung là đang xem xét về công việc của ông và hẹn là ngày 2/6/2016 sẽ có kết quả Sau ngày 02/6/2016, ông Thanh vẫn không nhận được bất cứ kết quả nào từ Công ty S Người đại diện Công

ty S trình bày: Hiện Công ty còn giữ của ông Thanh 60.000.000 đồng tiền lương (tiền lương 1 tháng 13 ngày làm việc)

Sau khi kiểm tra lại, Công ty mới phát hiện ông có hành vi vi phạm nội quy Công ty, ông Thanh đã có các hành vi vi phạm:

(i) Tự ý chia nhỏ hóa đơn cho khoản mục xây dựng chuồng gà với tổng giá trị 22.817.000 đồng;

Trang 10

(ii) Tự ý mua hàng đắt hơn so với giá khảo sát đối với các mặt hàng: Bảng tên nhân viên,

số phòng Mica, In mark nhôm, lắc khóa tròn

Do đó, Công ty đã áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương của ông Thanh Các hành vi này gây thiệt hại cho Công ty 27.402.000 đồng nên Công ty đề nghị khấu trừ vào khoản tiền lương hiện Công ty đang giữ, số tiền lương còn lại 32.598.000 đồng, Công ty đồng ý hoàn trả lại cho ông Q

Trong đơn khởi kiện, Ông Thanh yêu cầu: Thanh toán cho ông tiền lương tháng

3/2016; 13 ngày công tháng 4/2016 số tiền làm tròn 60.000.000 đồng như Công ty đã xác nhận và thanh toán số tiền lãi chậm trả theo quy định pháp luật, tính từ ngày 13/4/2016 đến ngày xét xử

Hỏi, theo quy định của pháp luật hiện hành:

2.2.1 Công ty có thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh hay không? Vì sao?

2.2.2 Các yêu cầu trên đây của ông Thanh được giải quyết như thế nào?

Trả lời:

2.2.1 Công ty có thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh hay không? Vì sao?

Công ty không thể áp dụng biện pháp khấu trừ tiền lương đối với ông Thanh.Theo quy định tại Điều 71 Nghị định 145/2020 về trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại, công ty đã không tiến hành đúng trình tự thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại:

- Khi phát hiện người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép, Công ty đã không yêu cầu người lao động tường trình bằng văn bản về vụ việc quy định tại khoản 1 điều 71 NĐ 145/2020

- Không tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại theo Khoản 2 Điều 71 NĐ 145/2020

Theo quy định Khoản 1 Điều 102 BLLĐ 2019, người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do:

- Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ lương của người lao động trong trường hợp;

- Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản;

- Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao;

- Người lao động tiêu hao vật tư quá định mức cho phép

Mức khấu trừ tiền lương, Khoản 3 Điều 102 BLLĐ 2019 nêu rõ: Mức khấu trừ tiền lương hàng tháng không được quá 30% tiền lương tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và

Ngày đăng: 05/10/2021, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w