Trong doanh nghiệp, quan hệ này được thể hiện ở việc tham gia của công đoàn trong việc cụ thể hóa những điều kiện lao động như tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ n
Trang 1CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT LAO ĐỘNG
I Lý thuyết
Câu 1: Luật lao động điều chỉnh các quan hệ xã hội nào? Lấy một ví dụ cụ thể cho mỗi quan hệ xã hội đó
Trả lời:
Cơ sở pháp lý: Điều 1 BLLĐ 2019
Có 3 nhóm quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của Luật lao động Việt Nam, là:
Quan hệ lao động cá nhân hay nói cách khác là quan hệ lao động giữa cá
nhân NLĐ với NSDLĐ Ví dụ: anh A kí hợp đồng làm việc với công ty của anh B, như vậy giữa anh A và công ty của anh B tồn tại quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ
Quan hệ lao động mang tính chất tập thể là quan hệ giữa tập thể người lao động với NSDLĐ hoặc giữa tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở với NSDLĐ hoặc giữa tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở với tổ chức đại diện NSDLĐ Ví dụ: Công đoàn
là tổ chức chính trị - xã hội thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của NLĐ trong QHLĐ Trong doanh nghiệp, quan hệ này được thể hiện ở việc tham gia của công đoàn trong việc cụ thể hóa những điều kiện lao động như tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi…
Các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, như quan hệ về việc làm và học nghề, quan hệ về bảo hiểm xã hội, quan hệ về bồi thường thiệt hại, quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động và đình công, quan hệ về quản lý nhà nước về lao động… Ví dụ: việc đảm bảo vật chất cho NLĐ trong những trường hợp ốm đau, sinh sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hưu trí, tử tuất,… bằng quỹ bảo hiểm xã hội đều được Luật lao động nước ta điều chỉnh
Câu 2: Phân tích đặc điểm của quan hệ lao động cá nhân.
QHLĐ cá nhân hay còn nói cách khác là quan hệ lao động giữa cá nhân
NLĐ với NSDLĐ được thiết lập trên cơ sở hợp đồng lao động Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ này được xem là đối tượng điệu chỉnh chủ yếu, quan trọng nhất của pháp luật lao động
-Về tính chất, QHLĐ cá nhân vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội Quan hệ này
được thiết lập trong quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ, nhằm hướng tới những lợi ích kinh
tế như NSDLĐ thu lợi nhuận, NLĐ nhận lương và các chế độ vật chất khác Hệ quả của những lợi ích vật chất này là đảm bảo về đời sống tinh thần của NLĐ nói riêng và toàn xã hội nói chung
-Về quy mô, QHLĐ cá nhân vừa là một quan hệ cá nhân vừa là một quan hệ có tính tập
thể Tính tập thể được thể hiện rõ nét trong trường hợp doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể
Trang 2-Về pháp lý, QHLĐ cá nhân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện giữa các
chủ thể thong qua việc giao kết hợp đồng lao động Tuy nhiên, sau khi giao kết hợp đồng lao động thì NLĐ ở một vị thế phụ thuộc vào NSDLĐ (như NSDLĐ xây dựng mức lương, thưởng,
xử lý kỷ luật NLĐ… - điều mà NLĐ không thể có được trong quá trình làm việc cho NSDLĐ)
-Về lợi ích, QHLĐ cá nhân vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn Mâu thuẫn về lợi ích là tất
yếu trong nên kinh tế thị trường khi mà NSDLĐ luôn hướng tới việc thu nhiều lợi nhuận, còn NLĐ luôn mong muốn có thu nhập ngày càng cao hơn Tuy nhiên, trong một xã hội phát triển, vấn đề hài hòa QHLĐ là vấn đề được nhà nước quan tâm, điều đó thúc đẩy QHLĐ phát triển bền vững hơn, mang lại lợi ích ổn định và lâu dài cho cả hai bên
Với tư cách là một quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật lao động cá nhân có những đặc điểm nói chung của một quan hệ pháp luật Ngoài ra, quan hệ pháp luật lao động cá nhân có những đặc điểm riêng sau đây:
-Trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người lao động phải tự mình thực hiện công việc theo như cam kết trong quan hệ lao động Luật lao động 2019 đã có quy định rõ ràng về vấn
đề này trong Điều 28 về Thực hiện công việc theo hợp đồng lao động: “Công việc theo hợp đồng lao động phải do người lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện Địa điểm làm việc được thực hiện theo hợp đồng lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.” Do đó, thực hiện công việc theo hợp đồng lao động đã cam kết chính là người lao động đã tuân thủ và thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng lao động
Tuy nhiên, trong thực tế cũng có trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp nếu được sự đồng
ý của người sử dụng lao động, người lao động có thể tạm thời chuyển giao quyền và nghĩa vụ lao động của mình cho một người khác thực hiện Đây là trường họp được chấp nhận nhằm đảm bảo tính linh hoạt của quan hệ pháp luật về sử dụng lao động Khi đó, nghĩa vụ lao động sẽ tạm thời được chuyển từ người lao động kí hợp đồng lao động sang cho người thay thế Một số quyền lợi liên quan cũng có thể chuyển giao nhưng riêng quyền tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội thì không thể chuyển giao được vì đó là quyền nhân thân quan trọng gắn với tư cách của người lao động
- Trong quá trình thực hiện quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người sử dụng lao động
có quyền quản lí, điều hành, giám sát đối với người lao động Đây là đặc điểm có tính đặc thù của quan hệ pháp luật lao động cá nhân mà các quan hệ hợp đồng khác không có Dưới góc độ khế ước, sự bình đẳng trong quan hệ lao động cá nhân phải được đảm bảo từ khi xác lập cho đến khi kết thúc quan hệ Tuy nhiên, quyền quản lí lao động cũng xuất hiện như là một nhu cầu khách quan của quan hệ lao động Thực hiện quyền quản lí, giám sát của người sử dụng lao động thực chất là việc triển khai trong thực tế quyền kiểm soát của người sử dụng lao động đối với quá trình thực hiện công việc của người lao động Nội dung của quyền quản lí lao động gồm: quyền tuyển chọn, phân công, sắp xếp, giám sát, khen thưởng, kỉ luật đối với người lao động Việc người sử dụng lao động có quyền quản lí, giám sát, điều hành người lao động trong quá trình lao động là đặc trưng quan họng của quan hệ pháp luật lao động cá nhân
-Trong quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt quan hệ pháp luật lao động cá nhân có sự tham gia của đại diện lao động Đặc điểm này khẳng định tính đặc thù của quan hệ pháp luật lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động so với các quan hệ lao động khác
Trang 3trong xã hội Khi tham gia quan hệ lao động cá nhân, người lao động thường ở vị thế bất lợi trong mối quan hệ, do đó họ có xu hướng liên kết để bảo vệ quyền lợi của mình dẫn đến việc ra đời các tổ chức đại diện của người lao động và được pháp luật thừa nhận Đại diện lao động tham gia trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân thông thường là tổ chức công đoàn do người lao động tự nguyện lựa chọn, bầu ra
Ở Việt Nam, từ khi LLĐ, Luật Công đoàn được ban hành để điều chỉnh quan hệ lao động trong thị trường thì đại diện lao động tham gia trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân thông thường là tổ chức công đoàn tại những nơi đã có tổ chức công đoàn Tuy nhiên, hoạt động của ban đại diện lao động chỉ có tính chất nhất thời, trong những thời điểm cần thiết và không phải lúc nào cũng được pháp luật lao động thừa nhận
Câu 3: So sánh quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động của viên chức.
Quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động của viên chức thường bị nhầm lẫn khi nhắc về đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động Phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm giúp xác định đúng đắn loại quan hệ điều chỉnh, từ đó tránh những nhầm lẫn không đáng có khi áp dụng vào thực tế
Tiêu chí so sánh Quan hệ lao động của viên chức Quan hệ lao động cá nhân
Khái niệm
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động
Văn bản điều
chỉnh
- Luật Viên chức 2020
- Nghị định 115/2020/NĐ-CP Bộ luật lao dộng 2019
Tên gọi hợp
Hình thức tuyển
dụng
- Thi tuyển;
- Xét tuyển
Thỏa thuận giữa các bên
Trang 4Căn cứ tuyển
dụng
Căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập
Căn cứ vào nhu càu tuyển dụng của người sử dụng lao động
Tính chất
Mối quan hệ giữa người lao động với Nhà nước, mang tính chất phục
vụ lợi ích chung – lợi ích công
Quan hệ lao động làm công ăn lương phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động
Hình thức công
việc
Hoạt động nghề nghiệp, chuyên môn
Hoạt động theo yêu cầu của người
sử dụng lao động
Biểu hiện của
tính tập thể
Có tổ chức Công đoàn nhằm mục đích hỗ trợ người lao động chứ không đối trọng trực tiếp với Nhà nước
Sử dụng tổ chức Công đoàn để tác động trực tiếp vào quan hệ lao động, đây là phương pháp đặc thù của quan hệ lao động
Trường hợp ví
dụ
Giảng viên các trường Đại học thuộc khối ĐHQG Tp Hồ Chí Minh
Nhân viên kinh doanh của một công ty bất động sản
Câu 4: Phân tích các điều kiện để một công dân Việt Nam có thể tham gia vào quan hệ lao động cá nhân với tư cách người lao động
Quan hệ pháp luật lao động cả nhân là quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình lao động được các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh.
Căn cứ theo Điều 1, Bộ luật lao động 2019 có quy định: “ Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động…” Vì thế, đặc điểm cơ bản có tính quyết định để nhận diện đối tượng điều chỉnh của luật lao động Việt Nam cũng như là tư cách tham gia quan hệ của các chủ thể và sự phụ thuộc của người lao động trong quan hệ lao động.
Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là mối quan hệ xã hội phát sinh giữa một bên là người lao động làm công ăn lương với một bên là cá nhân hoặc tổ chức sử dụng, thuê mướn có trả công cho người lao động (gọi là quan hệ lao động) và các quan hệ khác có liên quan phát sinh trong quá trình sử dụng lao động( quan hệ liên quan đến quan hệ lao động).
Trang 5Câu 5: Phân tích các điều kiện để người nước ngoài được làm việc tại Việt Nam?
Anh/chị đánh giá như thế nào về những điều kiện này?
Theo Khoản 1 Điều 151 Bộ Luật Lao Động 2019 có quy định về các điều kiện để người nước ngoài làm việc tại Việt Nam như sau:
“1 Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là người có quốc tịch nước ngoài và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề, kinh nghiệm làm việc; có đủ sức khỏe theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
c) Không phải là người đang trong thời gian chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích hoặc đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật Việt Nam;
d) Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ trường hợp quy định tại Điều 154 của Bộ luật này.”
Qua căn cứ pháp lý nêu trên, vừa có thể đảm bảo được tính bình đẳng và quyền lợi của người nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ lao động ở Việt Nam, vừa đảm bảo được việc quản lý tốt các cá nhân là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam của Nhà nước, của các tổ chức sử dụng lao động nước ngoài Ngoài ra, còn thấy được sự cẩn trọng của nhà làm luật khi hình thành các điều kiện này, các quy định được nêu rất cụ thể và chặt chẽ hơn so với Bộ Luật lao động 2012, điển hình là tại Điểm a, Khoản 1 đã thêm vào cụm từ “Đủ 18 tuổi trở lên”, việc
đủ 18 tuổi trở lên sẽ đảm bảo hơn địa vị pháp lý của cá nhân, đây cũng là độ tuổi cá nhân có thể bắt đầu chịu đầy đủ các trách nhiệm pháp lý Ngoài ra các điều kiện còn lại là vô cùng đương nhiên và hợp lý Người lao động nước ngoài cần đảm bảo được các điều kiện đó vì những điều kiện đó có thể xem là những điều kiện khá cơ bản trong lao động Việc sử dụng lao động người nước ngoài, không đơn thuần chỉ là mối quan hệ giữa người lao động và nhà sử dụng lao động
mà đó còn là mối quan hệ liên quan đến hai quốc gia, vì thế đây có thể được xem là mối quan hệ khá nhạy cảm cần cẩn trọng và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về vấn đề này
Câu 6: Tại sao pháp luật lao động lại điều chỉnh mối quan hệ lao động tập thể?
Quan hệ pháp luật lao động tập thể là quan hệ giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động/ đại diện người sử dụng lao động về các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động tập thể được các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh
Trước đây không tồn tại quan hệ pháp luật lao động tập thể, một là vì lý do kinh tế xã hội, doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lượng lao động được sử dụng là không nhiều cho nên lao động tập thể không được chú ý tới; hai là vì xuất phát từ quan điểm của nhà làm luật thì quan hệ lao động là quan hệ nhỏ dễ thỏa thuận và giải quyết các vấn đề phát sinh Vì vậy mà quan hệ lao động này không được thừa nhận
Trang 6Có thể thấy khởi điểm của quan hệ lao động trong doanh nghiệp là quan hệ lao động cá nhân Tuy nhiên, do quan hệ lao động trong thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh của sự phát triển ngày càng cao về yêu cầu quản lí, công nghệ thì quan hệ lao động chủ yếu là những quan
hệ mang tính xã hội hoá rất cao cả về số lượng, chất lượng, quy mô, tầm, mức của mối quan
hệ Tức là sự tham gia lao động của nhiều người lao động với cùng với một (hoặc nhóm) công việc, tại cùng một địa điểm, thời gian với những trách nhiệm và đặc biệt là lợi ích đồng nhất là hiện tượng phổ biến của thị trường lao động Quá trình thực thi quan hệ lao động cá nhân không thể tránh khỏi có sự xung đột, mâu thuẫn về quyền và lợi ích Khi đó, trước người sử dụng lao động với địa vị hơn hẳn về kinh tế thì người lao động sẽ khó có thể đạt được yêu cầu của mình chỉ với các yêu sách cá nhân
Vì vậy, một cách tự nhiên - người lao động sẽ liên kết nhau lại để tạo nên sức mạnh của
số đông Nói cách khác, sự gắn kết của người lao động tạo nên tính tập thể nhằm xác lập ưu thế trong mối quan hệ lao động với người sử dụng lao động (hoặc các đối tác khác) là nhu cầu tất yếu, khách quan không phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Quan hệ lao động tập thể không phải
là phép cộng của các quan hệ lao động cá nhân đơn lẻ mà là quan hệ được hình thành trên cơ sở
sự đồng thuận của tất cả (hoặc đa số) người lao động về ý chỉ và hành động Ở đây yếu tố đại diện và tính tổ chức của tập thể lao động trong mối quan hệ với các đối tác khác của quan hệ lao động là biểu hiện rõ nét về hình thức của quan hệ lao động tập thể Như thế, xét ở khía cạnh quan
hệ xã hội thì quan hệ lao động tập thể tồn tại một cách khách quan Tuy nhiên, nó không thể tồn tại và vận động một cách tự phát, đặc biệt do tính chất nhạy cảm về kinh tế, xã hội của mối quan
hệ này mà cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật nhằm một mặt, thừa nhận sự tồn tại khách quan của mối quan hệ này; mặt khác, đảm bảo sự xuất hiện, tồn tại của nó không mâu thuẫn với lợi ích chung của xã hội Nói cách khác, với tư cách là quan hệ xã hội do luật lao động điều chỉnh và khi được các quy phạm pháp luật lao động tác động vào thì nó trở thành quan hệ pháp luật lao động
Nhìn chung, ngày nay, việc xuất hiện quan hệ lao động tập thể đã mang lại nhiều lợi ích cho cả người lao động và người sử dụng lao động
II.Tình huống
Tình huống 1: Căn cứ vào pháp luật lao động hiện hành, hãy cho biết
a) Quan hệ lao động giữa ông Nguyễn Ngọc và Công ty BT có thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động hay không? Vì sao?
Theo Điều 1 Luật Lao Động 2019 thì quan hệ lao động giữa ông Nguyễn Ngọc và Công
ty BT không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động
QHLĐ cá nhân là quan hệ mang tính chất cá nhân giữa NLĐ và NSDLD được thiết lập trên cơ sở hợp đồng lao động Mà giữa ông Nguyễn Ngọc và Công ty BT không có hợp đồng lao động nên QHLĐ cá nhân không thể xác lập Công Ty BT không trực tiếp thuê mướn hay sử dụng
và trả công cho lao động, đồng thời quan hệ lao động giữa ông Nguyễn Ngọc và Công ty BT cũng không phải là quan hệ lao động mang tính tập thể Từ đấy, chúng ta thấy được quan hệ lao
Trang 7động giữa ông Nguyễn Ngọc và Công ty BT không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật lao động.
b) Nếu là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn (hoặc bị đơn) bạn sẽ đưa
ra những luận cứ gì để chứng minh cho quan điểm của mình?
Trên phương diện là người bảo vệ nguyên đơn, các luận cứ đưa ra để bảo vệ nguyên đơn như sau:
-Theo như Điều 1 LLĐ 2019 thì “Bộ luật Lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại
cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.” mà công ty Thạch Mỹ trực tiếp tuyển dụng sử dụng và trả công lao động có trách nhiệm pháp lý với ông Ngọc
-Theo Điều 7 Nghị định 05/2015/NĐ-CP nêu rõ trong thời hạn 3 ngày trước khi kết thúc thử việc người sử dụng lao động phải thông báo kết quả cho người lao động nhưng công ty Thạch Mỹ không thông báo
-Theo Khoản 2 Điều 13 LLĐ 2019 thì người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động khi nhận lao động vào làm việc nhưng ở đây đã hết thời gian thử việc nhưng Công ty Thạch Mỹ vẫn không ký hợp đồng với ông Ngọc mà vẫn cho ông tiếp tục công việc và trả lương
Tình huống 2: Bạn có ý kiến gì về việc điều chỉnh của pháp luật lao động đối với quan hệ giữa tài xế với Grab?
Trong thực tế vai trò của tài xế không khác gì vai trò của người lao động, họ chịu sự quản lý, điều hành từ Grab, sức lao động của họ cũng góp phần tạo dựng thương hiệu cho Grab Mặt khác, dù không trả lương nhưng thu nhập của tài xế phần lớn cũng phụ thuộc vào Grab vì toàn bộ cước phí, thưởng, hoa hồng là do Grab quy định Tuy nhiên, bên phía Grab cũng có cơ
sở khi cho rằng giữa họ và tài xế chỉ tồn tại thỏa ước sử dụng chứ không phải hợp đồng lao động
vì trong hợp đồng lao động có ba yếu tố chính cần thỏa thuận đó là Lương, Điều kiện làm việc và Quyền, nghĩa vụ cụ thể của hai bên Còn trong quan hệ lao động của tài xế Grab chỉ có tồn tại thỏa thuận về Điều kiện làm việc, Quyền, nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên, còn lương của tài xế không do Grab quản lý mà họ chỉ quản lý cước chuyến xe, sau đó hành khách sẽ trả cước trực tiếp cho tài xế
Với quy định của pháp luật hiện tại, chúng ta có thể hiểu rằng rất khó để coi tài xế là người lao động của Grab Vì họ tuy có quan hệ làm việc và chịu sự điều hành không khác gì một người lao động, nhưng Grab lại không thuê, mướn mà chỉ cung cấp dịch vụ kết nối tài xế với khách hàng, từ đó khách hàng trả lương trực tiếp cho tài xế
Để tháo gỡ vướng mắc trong tình huống này, nhóm chúng em có ý kiến rằng các nhà làm luật nên mở rộng yếu tố "trả lương" thành "quyết định lương, thu nhập" Đồng thời cần có thêm văn bản hướng dẫn quy định về việc một bên quyết định toàn bộ cơ cấu lương, thu nhập cho bên còn lại cũng tương tự như hình thức trả lương, như vậy đồng thời cũng sẽ giúp các tài xế của
Trang 8Grab có cơ hội được hưởng những quyền lợi khác như chi trả các loại bảo hiểm theo quy định của pháp luật như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cũng như trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng thi các tài xế sẽ còn được hưởng những phúc lợi cơ bản Điều này cũng tạo ra một cơ chế bảo vệ những người lao động trước sự bóc lột ngấm ngầm của nhiều
tổ chức kinh doanh
Tình huống 3
a) Có tồn tại mối quan hệ lao động do Luật Lao Động điều chỉnh giữa ông Lee C và Công
ty D không? Vì sao?
CSPL: Khoản 1 Điều 7 BLLĐ 2019
Do ông Lee C và Công ty D có thỏa thuận miệng làm việc với nhau và ông Lee C đã làm việc cho Công ty D được 02 năm theo giấy phép lao động
Vậy tồn tại mối quan hệ lao động do Luật Lao Động điều chỉnh giữa ông Lee C và Công ty D
b) Theo quy định của pháp luật Lao động hiện hành, hãy giải quyết vụ này.
Giấy phép lao động của ông Lee C đã được gia hạn, trong giấy phép lao động bắt buộc phải có địa điểm nơi làm việc, và lúc này không có thỏa thuận thay đổi nên trong giấy phép lao động của ông Lee C vẫn ghi địa chỉ làm việc là Công ty D Vì vậy ông Lee C vẫn đang là người lao động của Công ty D, việc Công ty D không cho ông Lee C vào làm là không phù hợp
Thêm đó, việc ông Lee C làm việc trong Công ty D mà không ký kết hợp đồng lao động là trái pháp luật Khi Công ty D gửi HĐLĐ bằng mail cho ông Lee C nhưng ông Lee C đã vô tình xóa
đi, thì hai bên phải thông báo cho nhau và kí một HĐLĐ mới để bảo vệ quyền cũng như nghĩa vụ của hai bên