Như vậy, cũng như khái niệm phong cách và phong cách học, vấn đề phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu hầu như
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng đại học vinh
Lê thanh h-ơng
Phong cách Truyện ngắn đỗ chu
Chuyên ngành: lý luận văn hoc
Mã số: 60.22.32
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2010
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Lịch sử vấn đề ……… 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát ……… 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 7
5 Phương pháp nghiên cứu ……… 8
6 Cấu trúc luận văn ……… 8
Chương 1 Khái niệm phong cách nghệ thuật và quá trình hình thành phong cách truyện ngắn Đỗ Chu ……… 10
1.1 Vấn đề phong cách nghệ thuật ……… 10
1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật ……… 10
1.1.2 Những biểu hiện cụ thể của về phong cách nghệ thuật nhà văn 14
1.1.3 Sự chi phối quan niệm nghệ thuật trên thể loại truyện ngắn … 16
1.2 Quá trình hình thành phong cách truyện ngắn Đỗ Chu ………… 20
1.2.1 Con đường sáng tác của Đỗ Chu ……… 21
1.2.2 Những yếu góp phần hình thành phong cách truyện ngắn Đỗ Chu ……… 27
1.2.2.1 Những quan niệm của tác giả về sáng tác văn học nói chung và sáng tác truyện ngắn nói riêng ……… 27
1.2.2.2 Sự tác động của cac yếu tố chính trị, xã hội, văn hoá……… 30
Chương 2 Phong cách truyện ngắn Đỗ Chu nhìn từ bình diện nội dung sáng tác ……… 36
2.1 Những nét riêng trong xử lý đề tài, chủ đề ở truyện ngắn Đỗ Chu 36 2.1.1 Sự ám ảnh về đề tài người lính ……… 39
2.1.2 Sự ám ảnh về đề tài cuộc sống và những con người miền quê … 50 2.2 Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Đỗ Chu ……… 56
Trang 32.2.1 Cảm hứng lãng mạn cách mạng ……… …… 60
2.2.2 Cảm hứng bi kịch ……… ……… 73
Chương 3 Phong cách truyện ngắn Đỗ Chu nhìn từ bình diện hình thức nghệ thuật ……… 82
3.1 Nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Chu……….……… 82
3.1.1 Một thế giới nhân vật rất gần với nguyên mẫu nhà văn ……… 82
3.1.2 Một thế giới nhân vật đa dạng nhiều kiểu loại ……… 84
3.2 Ngôn ngữ trong truyện ngắn Đỗ Chu ……… 86
3.2.1 Một ngôn ngữ truyện ngắn giàu chất thơ ……… 88
3.2.2 Một ngôn ngữ truyện ngắn giàu tính triết lý ……… 91
3.3 Giọng điệu trong truyện ngắn Đỗ Chu ……… 95
3.3.1 Một giọng điệu nhẹ nhàng trong sáng giàu chất trữ tình …… 96
3.3.2 Một giọng trầm tư, suy ngẫm được thể hiện qua những dòng chảy cảm xúc ……… 100
KẾT LUẬN ……… 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 110
Trang 4
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đỗ Chu là một trong những nhà văn thuộc lớp đàn anh hiện nay, là thế hệ của những người vừa cầm bút vừa cầm súng Từng tham gia chiếu đấu trong những năm tháng ác liệt nhất của chiến tranh chống Mỹ, phẩm chất và tinh thần người lính hầu như
đã ăn sâu vào máu thịt của ông và lan toả trong những trang văn ông viết Ngay từ những
tác phẩm đầu tay Ao làng, Thung lũng cò, Hương cỏ mật, Mùa cá bột đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào hai năm 1962-1963, Đỗ Chu đã khiến người đọc phải chú ý tới
một năng khiếu văn chương độc đáo lúc bấy giờ
1.2 Năm 2003 và 2005 là hai năm Đỗ Chu được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn, với
các tác phẩm Một loài chim trên sóng (Tập truyện ngắn) và Tản mạn trước đèn (Tập tuỳ
bút) Riêng năm 2004 ông được bình chọn nhận Giải thưởng Văn học ASEAN, dù đây chỉ là một giải thưởng mang tính khu vực nhưng đã khẳng định được vai trò, vị thế của nhà văn trên văn đàn Đông Nam Á Thiết nghĩ trong giai đoạn đổi mới với sự bùng nổ của văn học thời mở cửa cùng hàng loạt tên tuổi gây xôn xao dư luận như Hồ Anh Thái,
Tạ Duy Anh, Chu Lai, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Huy Thiệp, nhưng người ta vẫn chú ý đến một Đỗ Chu với một văn phong nho nhã, với một vẻ đẹp cả về giọng điệu lẫn những suy tưởng nhân tình, âu cũng là điều đáng phải nghĩ suy
1.3 Sự tồn tại của văn học không thể tách rời phong cách sáng tác của nhà văn Thực
ra, bất cứ nghệ sĩ sáng tạo văn chương nào cũng có đặc điểm riêng của mình, nhưng phong cách thì không phải ai cũng có Phong cách chính là kết quả lao động không mệt mỏi của mỗi nghệ sĩ Và nói như nhà văn Pháp Victor Hugo: “Tương lai chỉ thuộc về những ai nắm được phong cách” Đỗ Chu chính là một trong số những nhà văn biết nắm bắt và tạo dựng cho mình một phong cách sáng tác riêng, độc đáo Bởi vậy, tìm hiểu nghiên cứu phong cách truyện ngắn Đỗ Chu là một việc làm thú vị
Trang 51.4 Đã có một số bài viết về sáng tác của Đỗ Chu, nhưng qua khảo sát, chúng tôi thấy chưa có công trình nào đạt được tính bao quát, tương xứng với vị trí, nhất là về phong cách truyện ngắn của nhà văn
Đấy lí do giải thích tại sao, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói Đỗ Chu là một trường hợp khá đặc biệt, ông xuất hiện trên văn đàn từ rất sớm, mười bảy tuổi đã được nhiều người biết đến và ngưỡng vọng Hơn bốn mươi năm gắn bó với nghề văn, chủ yếu sống và viết, Đỗ Chu luôn được bạn bè quý mến và trân trọng Những cống hiến của ông đối với sự nghiệp văn học nước nhà là rất đáng kể Thế nhưng cho đến nay các công trình nghiên cứu về nhà văn này còn rất hạn chế Qua khảo sát của chúng tôi, hiện nay mới chỉ có một số bài viết đăng trên các tạp chí, các trang Web hoặc một số những bài phỏng vấn đối với nhà văn trong thời gian gần đây Chẳng
hạn, Lê Hương Thuỷ với bài viết Đặc trưng truyện ngắn Đỗ Chu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9 – 2006, tập trung khẳng định một số điểm cơ bản sau: “Các sáng tác được viết từ trước 1975 (qua hai tập truyện Phù sa và Gió qua thung lũng) cho đến những năm cuối của thập kỷ bảy mươi (Trung du) nổi bật với cảm hứng lãng mạn
cách mạng, cũng là đặc trưng của một thời kỳ văn học chịu sự chi phối của quy luật chiến tranh ( ) Đỗ Chu đã viết về những đau thương và mất mát trong thời điểm lịch sử ấy như một tất yếu và chính điều đó là động cơ tạo nên sức mạnh cho cuộc chiến đấu đang ở phía trước” [54; 117] Tác giả bài viết này cũng đã chỉ ra và khẳng định: “Thiên về khai thác cái đẹp trong đời sống là đặc trưng nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu, đặc biệt là thời
kỳ đầu của quá trình sáng tác Cái đẹp được biểu hiện ở tình yêu quê hương, tình quân dân, tình đồng chí, tình đồng đội, ở những mối tình trong trắng, đầy thi vị - những tình yêu chớm nở và được nuôi dưỡng trong chiến tranh dù phía trước đang là cuộc chiến cam
go và thử thách” [54; 118] Cũng theo tác giả Lê Hương Thuỷ, sau những năm tháng gần như chững lại, đến cuối thập kỷ tám mươi của thế kỷ XX, người đọc lại gặp lại một Đỗ Chu với một diện mạo mới, “với những trang viết giàu chất trữ tình của hơn hai mươi
Trang 6năm trước, nhưng giờ đây đã có thêm những sắc thái và giọng điệu mới Đỗ Chu đã bắt nhịp được với cuộc sống đương đại, khám phá ra nhiều vỉa tầng của hiện thực và thể hiện
nó bằng một lối viết “đằm chín” và ấn tượng” [54; 119]
Tác giả Nguyên An trong Phiên bản Đỗ Chu (Văn nghệ Công an, canh.com.vn) cũng
có những nhận xét tinh tường: “Đỗ Chu là một phong cách truyện ngắn giàu chất thơ, thứ thơ thanh cao và bình dị vẫn có trong đời hỗn tạp mà anh là người có công chưng cất lại,
tô thắm thêm Hình như trong cảnh bẫn bách, người ta càng có cơ gượng dậy, đứng lên
mà vui sống là nhờ những trang văn giàu chất thơ như thế? Tôi nghĩ, trong nhà trường của ta, cũng nên tuyển thêm một số áng văn giàu chất suy ngẫm như của Đỗ Chu ở các tập “Tản mạn trước đèn” (2004), “Thăm thẳm bóng người” (2008) và các tác giả khác nữa Bồi dưỡng tiềm năng trí tuệ là khó, bồi dưỡng phẩm chất tâm hồn cho thế hệ trẻ còn cần công phu hơn” [1]
“Văn Đỗ Chu viết kỹ, đẹp cả về giọng điệu lẫn những suy tưởng nhân tình.” Đó là
nhận xét của tác giả Nguyễn Hoà trong bài viết Văn chương 2004 - oằn mình giữa “nhập nhòa” cũ mới (http:/evan.vnex/New/phebinh) Tác giả còn nhấn mạnh: Văn Đỗ Chu “có những câu, những đoạn gợi nhớ đến Thạch Lam, Vũ Bằng” Cũng tác giả này, trong Văn học 2002 - qua một góc nhìn cận cảnh đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 36 – 2003, đã nhận
định: “Đỗ Chu viết không nhiều nhưng anh là một trong hiếm hoi những cây bút mà chúng ta vẫn gọi là “viết có văn” Viết có văn - nghe thật trừu tượng, nhưng dẫu là một cái gì đó khó có thể cắt nghĩa rạch ròi thì với nó, đọc tác phẩm người ta thấy hay, thấy nhớ, thấy đọng lại đôi điều” [24]
Nhà văn Nguyễn Trí Huân, người từng thân thiết với Đỗ Chu từ những năm đầu văn nghiệp (sau này giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam) cũng luôn dành cho nhà văn này những nhận xét đẹp, đáng lưu tâm: “Hãy đọc những gì Đỗ Chu viết Đấy là người có thể vạ mồm vạ miệng ở đâu đó nhưng trên trang viết thì cẩn trọng tới từng con chữ”
Trong cuốn Sổ tay truyện ngắn (Nxb Hội Nhà văn, 1988), Vương Trí Nhàn dành một
bài riêng viết về Đỗ Chu, ở đó ông cho rằng: “Với tác giả, việc viết văn dường như là
Trang 7việc nói về những người đồng đội, những người cùng tuổi với mình, trong nhiều công việc khác nhau, ở nhiều ngã đường khác nhau trong công cuộc chống Mỹ cứu nước” Tác giả khẳng định: “Ngay từ những truyện ngắn đầu tiên, anh đã đi theo một đường hướng
về truyện mà anh theo đuổi cho đến hiện nay Có người gọi là truyện giầu chất thơ Có người gọi là truyện ngắn trữ tình, có màu sắc chủ quan” [43]
Nhà báo Tô Hoàng, trong Nhà văn Đỗ Chu 40 năm tung hoành “văn trường” (http//antgct.cand.com.vn) cũng có những nhận xét đáng lưu ý: “Ngòi bút Đỗ Chu luôn
hướng về ca ngợi con người nói chung, những phẩm giá tốt đẹp trong quan hệ giữa con người với con người nói riêng Đó là nét hiện thực cơ bản, tạo nên sức mạnh tinh thần của người dân miền Bắc trong thời kỳ vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu” [26]
Tác giả Nhật Chung, trong Thanh niên Online, cho rằng: “Đỗ Chu là một nhà văn
lãng mạn Văn anh nghiêng hẳn về duy cảm và duy mỹ, điều cũng rất hiếm thấy trong các nhà văn thời chống Mỹ cứu nước Thời ấy, nhiều người đọc thích văn Đỗ Chu cũng như thơ Lưu Quang Vũ, Bằng Việt vì tác phẩm của họ nghiêng nhiều về duy mỹ và duy cảm, lại phù hợp với tình cảm của những người thời ấy Sau này, Đỗ Chu viết ít hơn, nhưng tôi còn nhớ, khoảng những năm 80 thế kỷ trước, thời bao cấp, cứ mỗi giao thừa là dân ta lại
mở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam nghe tùy bút Đỗ Chu Những bài tùy bút văn chương rất bay bổng và rất chính trị, cũng là chính trị của một thời bao cấp Tôi nghĩ, văn Đỗ Chu có thể đưa vào sách giáo khoa cho học sinh học, vì nó đẹp và chuẩn Chỉ có điều, những ai từng đọc các truyện ngắn rất mơ mộng, thấm đẫm tình cảm và hơi văn gợi nhớ đến văn Paustovski rồi sau đó gặp Đỗ Chu, một ông Đỗ Chu đi đâu cũng vác cái điếu cày kè kè, mắt thì liếc nhanh như chớp, miệng thì tía lia “không cho mọc da non”, tất sẽ đầy ngạc nhiên: nhà văn Đỗ Chu mướt mát là đây sao?” Tác giả Bùi Việt Thắng, trong
bài Truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, nhận xét: “Đỗ Chu tài hoa trong truyện ngắn với Hương cỏ mật, Phù sa, Ráng đỏ, Chiến sỹ quân bưu, Thung lũng cò (…) Không ham hố,
viết ít nhưng găm lại được nhiều ở bạn đọc, đấy là thành công của Đỗ Chu” [51] Về phong cách, Bùi Việt Thắng cho rằng truyện ngắn Đỗ Chu thuộc phong cách truyện ngắn trữ tình cùng với Nguyễn Thành Long, Lý Biên Cương…
Trang 8Gần đây, trong Đỗ Chu thăm thẳm bóng người (http//thethaovanhoa.vn), Thạch Linh
khẳng định: “Một lối viết Đỗ Chu đã thành “văn hiệu” từ những truyện ngắn đầu tay say đắm, nồng nàn da diết của những năm sáu mươi thế kỷ trước, đến khoảng cuối thế kỷ hiện lại trong “Mảnh vườn xưa hoang vắng”, tới đầu thế kỷ mới thì chảy tràn trong mạch tâm tư tình cảm của một con người đã trải qua những buồn vui thế sự đời người đời văn
đủ để trang trải lòng mình lên trang giấy sẻ chia đồng vọng cùng người đời” Tác giả còn chỉ rõ: “Về đường sáng tác, Đỗ Chu là người sớm thành danh Khi mới mười tám, mười chín tuổi, ông đã có những trang truyện gây dấu ấn sâu đậm trong ký ức độc giả, được bậc đàn anh Nguyễn Khải đến những ngày tháng cuối đời vẫn nắc nỏm ngợi khen Những truyện đó đến nay đọc lại, người khó tính cũng phải thừa nhận là văn phong trang hoàng,
có những đoạn đẹp đến mức chuẩn mực” Theo Thạch Linh, “có thể xếp Đỗ Chu vào hệ những nhà văn rất chú trọng đến cái đẹp của câu chữ, như các bậc tiền bối Thạch Lam,
Hồ Dzếnh”…
Tóm lại, đi sâu vào nghiên cứu Đỗ Chu nói chung, truyện ngắn Đỗ Chu nói riêng cho đến nay vẫn còn chưa nhiều Song sự đánh giá về nhà văn, đặc biệt ở bình diện truyện ngắn là khá thống nhất Nhìn chung các tác giả đều cho rằng:
- Đỗ Chu là một trong những nhà văn sớm nổi tiếng trên văn đàn qua thể loại truyện ngắn Những sáng tác đầu tay của ông đã gây được nhiều ấn tượng đối với độc giả và đồng nghiệp
- Đỗ Chu là nhà văn thiên về khai thác cái đẹp trong đời sống Ngòi bút của ông luôn hướng về ca ngợi con người trong mối quan hệ thấm đẫm tình nhân ái, bao dung
- Chất lãng mạn cách mạng là cảm hứng chính trong sáng tác của Đỗ Chu nhất là giai đoạn đầu, những năm chiến tranh chống Mỹ Sau đổi mới có sự thay đổi về cảm hứng
- Truyện ngắn Đỗ Chu mang phong cách trữ tình, giàu chất thơ, với một lối viết luôn nghiêng về duy cảm, duy mĩ
- Đỗ Chu là nhà văn cẩn trọng trong từng con chữ, đã tạo được một văn phong với những đoạn văn đẹp đến chuẩn mực
Trang 9Những nhận xét, đánh giá về Đỗ Chu nói chung, truyện ngắn của ông nói riêng dẫu chưa thật toàn diện, chi tiết song cũng đã đề cập đến một số khía cạnh cả về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật Chúng tôi nhận thấy, đó là những tư liệu hết sức quý giá mang tính gợi ý, giúp nhận diện phong cách nhà văn, đồng thời có tác dụng hỗ trợ, định hướng để chúng tôi thực hiện đề tài này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
Luận văn tập trung tìm hiểu phong cách truyện ngắn Đỗ Chu thông qua việc nghiên cứu, khảo sát các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn của ông Để hoàn thành đề tài, chúng tôi khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu các tác phẩm của Đỗ Chu qua các nguồn tài liệu: 3.1 Các tập truyện ngắn, truyện vừa
Hương cỏ mật (tập truyện), Nxb Văn học, Hà Nội, 1965
Vòm trời quen thuộc (tập truyện), Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1969
Gió qua thung lũng (tập truyện), Nxb Văn học, Hà Nội, 1971
Trung du (tập truyện), Nxb Văn học, Hà Nội, 1977
Phù sa (truyện ngắn, in lần thứ hai có bổ sung), Nxb Văn học, Hà Nội, 1982
Tháng hai (tập truyện), Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn, 1985
Mảnh vườn xưa hoang vắng (tập truyện vừa), Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn,
1985
Một loài chim trên sóng (tập truyện), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002
Các truyện ngắn của Đỗ Chu đăng trên báo Văn nghệ những năm gần đây
3.2 Tiểu thuyết và tuỳ bút
Đám cháy trước mặt (tiểu thuyết), Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1973
Tản mạn trước đèn (tuỳ bút), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2004
Thăm thẳm bóng người (tuỳ bút), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008
Trang 104 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, luận văn tập trung làm rõ những nội dung cơ bản sau:
4.1 Tìm hiểu quá trình hình thành phong cách truyện ngắn Đỗ Chu
4.2 Làm rõ đặc trưng phong cách truyện ngắn Đỗ Chu qua các yếu tố thuộc phương diện nội dung: lựa chọn chủ đề, đề tài, cảm hứng chủ đạo
4.3 Làm rõ đặc trưng phong cách truyện ngắn Đỗ Chu qua các yếu tố thuộc phương diện hình thức: nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Cụ thể:
5.1 Phương pháp khảo sát, phân tích, tổng hợp
Đây là một trong những phương pháp được sử dụng chủ yếu ở luận văn này Chúng tôi xuất phát từ việc khảo sát đến phân tích từng tác phẩm cụ thể trên các phương diện, cấp độ: đề tài, cảm hứng, nhân vật, cốt truyện, giọng điệu, ngôn ngữ để từ đó rút ra những nhận xét có tính tổng hợp, khái quát
5.2 Phương pháp đối chiếu so sánh
Trong quá trình phân tích, tổng hợp, chúng tôi luôn đối chiếu, so sánh giữa các chi tiết, yếu tố trong tác phẩm, đối chiếu so sánh giữa tác phẩm này với tác phẩm kia của tác giả, đối chiếu, so sánh với các thể loại khác của tác giả như tiểu thuyết, tuỳ bút và so sánh sáng tác của nhà văn với các nhà văn khác cùng thời Từ đó rút ra nét riêng trong phong cách truyện ngắn của Đỗ Chu
5.3 Phương pháp hệ thống
Sử dụng phương pháp hệ thống trong luận văn, chúng tôi có chủ đích là phát hiện tính lặp lại nhiều lần của các phương diện khác nhau trong các sáng tác của Đỗ Chu Từ
Trang 11đó có đủ cơ sở để khẳng định những đặc điểm mang tính ổn định trong phong cách truyện ngắn Đỗ Chu
6 Cấu trúc luận văn
Trên cơ sở những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1 Khái niệm phong cách nghệ thuật và quá trình hình thành
phong cách truyện ngắn Đỗ Chu
Chương 2 Phong cách truyện ngắn Đỗ Chu nhìn từ bình diện nội dung
Chương 3 Phong cách truyện ngắn Đỗ Chu nhìn từ bình diện hình thức
nghệ thuật
Trang 13Chương 1 KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU
1.1 Vấn đề phong cách nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật
Phong cách học là một ngành khoa học ra đời khá muộn, nhưng lại có sự phát triển khá nhanh và được nhiều người chú ý Trong hệ thống khái niệm khoa học ngôn ngữ, phong cách là một trong số những khái niệm được đưa ra nhiều cách kiến giải khác nhau
Từ những điểm nhìn và đối tượng khác nhau mà đã có hàng chục định nghĩa về phong cách học
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn Phong cách học tiếng Việt (tái bản lần thứ
tám, 2008): “Phong cách học được hiểu là khoa học nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ, nói khác đi là khoa học về các quy luật nói và viết có hiệu lực cao” [32; 7] Và cũng theo tác giả: nói, viết đạt được tính chính xác, có hiệu lực cao nghĩa là ngôn ngữ phải đặt dưới tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mĩ trong mọi phạm vi hoạt động của giao tiếp
xã hội Từ đó đi đến kết luận: “Phong cách học, trong nghĩa chung nhất, là một môn trong
ngành ngôn ngữ học nghiên cứu các nguồn phương tiện ngôn ngữ dồi dào và các nguyên tắc lựa chọn, sử dụng những phương tiện này trong việc diễn đạt một nội dung tư tưởng, tình cảm nhằm đạt được những hiệu quả thực tế mong muốn, trong những điều kiện giao
tiếp khác nhau” [32; 13] Đây là một trong những khái niệm khá súc tích Trong khi đó
nhà nghiên cứu Hữu Đạt trong cuốn Phong cách học với việc dạy văn và lí luận phê bình văn học lại cho rằng: “Phong cách không hoàn toàn là thuật ngữ của phong cách học Nó
được dùng ở nhiều địa hạt nghiên cứu khác nhau và cả trong giao tiếp đời thường” [17; 14] Với quan niệm này, tác giả Hữu Đạt khẳng định: “Trong lí luận văn học, thuật ngữ phong cách được dùng để chỉ đặc điểm sáng tác của nhà văn hoặc của nhiều nhà văn cùng một trào lưu” [17; 15] Điều này có nghĩa là trong nghiên cứu văn hoá, phong cách
Trang 14thường dùng để chỉ những đặc điểm văn hoá mang tính dân tộc, thời đại như phong cách truyền thống, phong cách dân tộc, phong cách Á Đông Trong điêu khắc, hội hoạ phong cách được dùng để biểu thị một cách thức như phong cách tả thực, phong cách Phục hưng… Trong nghệ thuật biểu diễn, phong cách được dùng để chỉ đặc điểm về nghệ thuật trình bày như phong cách biểu diễn dân gian, phong cách nghệ thuật chèo… Cũng từ đó tác giả cho rằng: “Phong cách học mà chúng ta nghiên cứu thực chất là phong cách học ngôn ngữ Đó là bộ môn khoa học nghiên cứu những đặc điểm và phong cách sử dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Nó liên quan trực tiếp tới sáng tác văn
học” [17; 15] Còn Giáo sư Phan Ngọc trong Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều [42] cho rằng: Mỗi một kí hiệu ngôn ngữ có hai mặt, mặt thông báo và mặt
biểu cảm Phong cách học chính là thứ khoa học chỉ nghiên cứu cái mặt biểu cảm này của ngôn ngữ Cụ thể hơn nó nghiên cứu các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy Như vậy có thể thấy có nhiều cách lý giải khác nhau về khái niệm phong cách học, nhưng rõ ràng trên thực tế, các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự tồn tại của một khái niệm phong cách trong sử dụng ngôn ngữ nói chung và trong sáng tác văn chương nói riêng Các nhà nghiên cứu đã căn cứ vào đối tượng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp nghiên cứu để có những cách phân loại khác nhau Chẳng hạn, dựa vào sự giống nhau giữa lý thuyết và ứng dụng, các tác giả đã đưa ra các khái niệm phong cách học lý thuyết, phong cách học thực hành Phong cách học đại cương, phong cách học ngôn ngữ dân tộc, phong cách học lời nói cá nhân là những khái niệm được đưa ra “trên cơ sở từ sự đối lập giữa cái phổ quát cho các ngôn ngữ và cái riêng cho từng ngôn ngữ, từ sự đối lập cho cái
chung cho cộng đồng và cái riêng ở một cá thể” [32; 32] Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) lại cho rằng: “Phong cách ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật là hai phạm trù khác nhau” [22;
207] Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn, chúng tôi không có ý định đi sâu vào khái niệm phong cách học, cũng như các biểu hiện đa dạng của chúng, mà chỉ dừng lại ở nội hàm phong cách nghệ thuật nhà văn Cũng có nghĩa là đi vào một nhóm phong cách gắn liền với những tác giả, tác phẩm cụ thể
Trang 15Theo định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong
Từ điển thuật ngữ văn học: “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự
thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng
lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [22; 207-208] Theo quan điểm của các tác giả, không nên đồng nhất hai khái niệm phong cách nhà văn và phương pháp sáng tác của nhà văn: “Phong cách khác phương pháp sáng tác ở sự thực hiện cụ thể trực tiếp của nó: các dấu hiệu phong cách dường như nổi lên trên bề mặt tác phẩm, như một thể thống nhất hữu hình và có thể tri giác được của tất cả mọi yếu tố cơ bản của hình thức nghệ thuật” [22; 208] Các tác giả còn cho rằng: “Phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách Chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có phong
cách riêng độc đáo” [22; 208] Trong Nhà văn, tư tưởng và phong cách, giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh đã gắn phong cách với cá tính nhà văn: “Văn chương là một hình thái ý thức
xã hội có đặc trưng riêng Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu và tài nghệ, cần cá tính và phong cách” [36] Cũng nhấn mạnh khía cạnh dấu ấn làm nên bản sắc riêng của nhà văn,
tác giả Phương Lựu trong Từ điển văn học cho rằng: “Phong cách từ chỗ độc đáo mang
phẩm chất thẩm mĩ cao được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn Không phải bất cứ nhà văn nào cũng tất yếu có phong cách Chỉ cần lặp đi lặp lại đã gọi là đặc điểm, nhưng phong cách đòi hỏi sự bền vững, không chấp nhận sự chóng phai mờ nhưng phải lặp đi
lặp lại một cách đổi mới.” Tác giả Đỗ Lai Thuý, trong Phong cách và phê bình văn học,
cũng có những nhận định tương tự: “Dĩ nhiên, không phải công trình nghệ thuật nào cũng
có phong cách Một tác phẩm chỉ có phong cách khi nó đạt được tính cấu trúc, tức có sự thống nhất hữu cơ của các bộ phận trong một chỉnh thể Bởi vậy, chỉ cần biết một bộ phận là có thể suy ra cái toàn thể, như lý thuyết toàn đồ đã chứng minh Chính vì phong cách là một phạm trù chất lượng, nên trong nghệ thuật có được phong cách là một hiện tượng rất quý Và, vì thế, không phải tác giả nào cũng có phong cách, thể loại nào cũng
có phong cách và thời đại nào cũng có phong cách” [53] Trong Nhà văn Việt Nam hiện đại: chân dung và phong cách, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: phong cách “phụ
Trang 16thuộc vào những thói quen tâm lý và những sở trường riêng của nhà văn” [40] Từ đó,
“dựng” nên phong cách nhà văn, như Nguyễn Tuân ngông, Quang Dũng tài hoa, tài tử, phong tình và lãng mạn, Nguyễn Đình Thi nhà thơ của đất nước tươi đẹp và hùng tráng đau thương, thơ Hoàng Cầm là linh hồn của quê hương Kinh Bắc cổ kính, đầy huyền thoại, cổ tích và chứa chan chất nhạc, chất thơ, Nguyên Ngọc là cây bút sử thi - lãng mạn,
một chủ nghĩa lãng mạn anh hùng đầy chất thơ [40] Còn trong 150 thuật ngữ văn học,
tác giả Lại Nguyên Ân xem phong cách nghệ thuật của nhà văn là “khái niệm chỉ những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện
nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn” [2] Đặc biệt trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, M.B Khravchenco đã đưa ra nhiều định
nghĩa về phong cách nhà văn tiêu biểu cho nhiều quan niệm khác nhau Ông đã dẫn ra các tác giả như: D Likhachev, L Novichenco, V Kovalev, V Turbin, R Yakobson… để cho rằng: các định nghĩa này xoè ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách nhà văn là một phạm trù lịch sử, thẩm mĩ rộng nhất, bao quát nhất Từ đó tác giả nêu lên định nghĩa khái quát của riêng mình: “Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả” Như vậy, cũng như khái niệm phong cách và phong cách học, vấn đề phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu hầu như đã thừa nhận về phong cách nghệ thuật của nhà văn được thể hiện thông qua các tác phẩm và biểu hiện trên nhiều khía cạnh, phương diện cụ thể
1.1.2 Những biểu hiện cụ thể của phong cách nghệ thuật nhà văn
Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống Điều này có nghĩa mỗi sáng tác dù thuộc thể loại nào thì ít nhiều cũng có mối quan hệ với hiện thực mà anh ta đang sống Tuy nhiên, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn có một cách tiếp cận hiện thực riêng và có những thủ pháp, cách thức sáng tạo riêng Điều này góp phần hình thành phong cách của mỗi nhà văn Tất nhiên như chúng tôi đã trình bày, phong cách là một biểu hiện của tính nghệ thuật, vì thế không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách,
Trang 17mà thực tế chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong cách riêng độc đáo Như vậy, ta cũng có thể hiểu rằng nói đến phong cách nhà văn là nói tới những nét riêng độc đáo, mới lạ, nổi bật của nhà văn, nó giúp cho người đọc nhận ra diện mạo sáng tác của nhà văn không lẫn với nhà văn khác Chẳng hạ, theo Phan Ngọc, cái đặc sắc nhất của văn Nguyễn Tuân là đồ vật Đồ vật là nhan đề tác phẩm Đồ vật tạo ra cốt truyện Đồ vật trở thành nhân vật chính của câu chuyện Con người được Nguyễn Tuân dựng lên không phải vì anh ta mà vì đồ vật, bởi chỉ có người ấy thì mới hiểu được vật ấy, tức tôn lên giá trị của nó Như vậy, đồ vật, lần đầu tiên, trở thành cứu cánh Nhưng đồ vật cũng khẳng định giá trị, nhân cách và đặc tính của con người Bởi đó là những đồ vật đẹp Nhưng khác với người khác, Nguyễn Tuân chú ý đến cái đẹp ở cạnh khía kỹ thuật, cụ thể hơn, cách thức biến kỹ thuật thành nghệ thuật Cái nhìn kỹ thuật này ở Nguyễn Tuân mang tính chất thời đại, thời đại của sự phát triển kỹ thuật Bởi lẽ, thời đại kỹ thuật đòi hỏi con người phải nghệ thuật hóa kỹ thuật để cải tạo thế giới theo tiêu chuẩn của cái đẹp Trong nền văn học dân tộc, chúng ta đã có nhiều tên tuổi thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của mình như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên…, hoặc như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân… Ở những nhà văn này, đều có những đặc điểm nghệ thuật giúp người đọc hình dung ra được chân dung nghệ thuật của họ Mặt khác, bạn đọc tiếp nhận những nét sáng tác độc đáo của các nhà văn như tiếp nhận một phẩm chất thẩm mĩ - nghệ thuật mà mỗi nhà văn tự tạo dựng lên Như vậy có thể khẳng định rằng: phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn phải có những điểm độc đáo, mới lạ không ai giống ai, dù rằng họ có thể cùng sống trong một thời đại, sinh hoạt trong một môi trường văn hoá, thậm chí họ cùng sáng tác về một đề tài, chủ đề Tất nhiên những nét độc đáo ấy phải mang tính ổn định, được thể hiện ở hầu hết các tác phẩm và đó chính là yếu tố giúp chúng ta nhận ra nét chủ yếu trong phong cách của nhà văn Đồng thời cái ổn định lại phải luôn đổi mới, nghĩa là bản thân cái ổn định trong nó phải có cái mới, không lặp lại Phong cách nghệ thuật của nhà văn suy cho cùng là phải mang đến cho bạn đọc một sự hưởng thụ thẩm mĩ cao
Để nhận diện, xem xét về phong cách nghệ thuật của nhà văn chúng ta phải thông qua chủ yếu từ các tác phẩm của họ Bởi phong cách nghệ thuật nhà văn luôn bộc lộ sinh
Trang 18động, rõ nét trong toàn bộ các yếu tố cấu thành nên tác phẩm như: đề tài, chủ đề, tư tưởng, kết cấu, nhân vật, chi tiết, tình huống, cốt truyện, ngôn từ, phương thức trần thuật… Có thể nói ở bất cứ phương diện nào, nhà văn cũng có thể chứng tỏ dấu ấn cá tính sáng tạo của mình, tức là bộc lộ phong cách nghệ thuật Mỗi nhà văn khi biết tạo cho mình một phong cách cũng tức là đã tạo cho mình một chỗ đứng trong văn học Lịch sử văn học đã khẳng định, nền văn học nào có sự phát triển phải là nền văn học có sự hội tụ của nhiều phong cách cá nhân độc đáo Với toàn bộ sự nghiệp sáng tác của mình, trong suốt chiều dài hơn bốn mươi năm, qua không ít thăng trầm, biến cố, có thể khẳng định Đỗ Chu đã để lại những dấu ấn rõ nét trong nền văn học Việt Nam hiện đại bằng tài năng và phong cách nghệ thuật truyện ngắn độc đáo của ông
1.1.3 Sự chi phối của quan niệm nghệ thuật trên thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày Nó có đặc điểm nổi bật là súc tích, dễ đọc, mang nhiều chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn, có lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Thuật ngữ truyện ngắn ra đời khá muộn, nhưng kỳ thực bản thân truyện ngắn đã xuất hiện từ thời bình minh của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương Trải qua hàng ngàn năm với biết bao những biến cố thăng trầm, truyện ngắn vẫn ngày một phát triển và giờ đây đã giữ một vị trí hết sức quan trọng trong văn đàn của nhân loại
Cũng có thể từ nguyên nhân xã hội, khi con người bị thúc ép về mặt thời gian, những
tác phẩm đồ sộ như các bộ tiểu thuyết Hồng lâu mộng, Thuỷ hử, Tây du ký, Tam quốc chí,… của Trung Quốc, hoặc Chiến tranh và hoà bình, Sông Đông êm đềm,… của Nga…
đã không còn là món ăn thường nhật của những người yêu thích văn chương mà giờ đây
họ tập trung vào những truyện ngắn với cấu trúc nhỏ gọn, xinh sắn, có sức truyền cảm, truyền dẫn những thông tin một cách hết sức nhanh nhạy Chính bậc thầy truyện ngắn hiện nay là Raymond Carver đã từng khẳng định: “Tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn
và thoả mãn nhất về nhiều mặt, thậm chí có lẽ có cơ hội lớn nhất để trường tồn, chính là tác phẩm được viết dưới dạng truyện ngắn” Có thể thấy trong thời đại ngày nay người đọc quen và thích đọc truyện ngắn trong vài chục phút hoặc trong vài giờ Mặt khác sau
Trang 19rất nhiều thời gian chiếm lĩnh văn đàn, thơ, kịch, tiểu thuyết,… hầu như đã vắt kiệt về khả năng hồi sinh cũng như đổi mới thể loại Trong khi đó truyện ngắn vẫn còn là mảnh đất tương đối trống, đây là điều kiện hết sức thuận lợi để những cây bút truyện ngắn phát triển Nhìn lại lịch sử văn học dân tộc, trong suốt thế kỷ XX, truyện ngắn Việt Nam đã phát triển liên tục và vượt trội lên trên tất cả các thể loại, bắt đầu từ những năm đầu của thập
kỷ hai mươi với sự đóng góp của Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nhất Linh, Khái Hưng,
Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân, Tô Hoài, Vũ Bằng,… Sau Cách mạng tháng Tám, nhiều tên tuổi mới xuất hiện như Trần Đăng, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu, Vũ Thị Thường, Đỗ Chu… Vào thời kỳ đổi mới tiếp tục xuất hiện nhiều cây bút truyện ngắn xuất sắc như Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,… Điều này chứng tỏ truyện ngắn đang là thể loại được các nhà văn quan tâm và nỗ lực cách tân bậc nhất
Trước 1945, truyện ngắn Việt Nam hầu như chỉ tập trung vào chủ đề thể tài sinh hoạt
- phong tục, miêu tả những mặt trái của các quan hệ xã hội đương thời, thể hiện cảm quan
về sự suy sụp của những giá trị nhân bản truyền thống Trong quỹ đạo của nền văn học mới, với sự tìm tòi của nhà văn, truyện ngắn sau 1945 đã trở nên đa dạng hơn về chủ đề,
về kết cấu, về giọng điệu, ngôn ngữ
Quan điểm nghệ thuật chi phối trong thể loại truyện ngắn được thể hiện khá rõ nét Bên cạnh những tác phẩm có cốt truyện chặt chẽ, lấy sự hấp dẫn chính ở sự phát triển của
cốt truyện như kiểu Làng, Vợ nhặt của Kim Lân; Mùa lạc của Nguyễn Khải; Những bông bần ly của Dương Thu Hương, từ những năm 1960, với tác động của văn học dịch, nhất
là truyện ngắn của K Paustovski, đã dần dần xuất hiện loại truyện ngắn không có cốt
truyện chặt chẽ như một số truyện trong tập Rẻo cao của Nguyễn Văn Báu (Nguyên Ngọc), các truyện trong các tập Trăng sáng và Đôi bạn của Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn
Thi), đặc biệt là các truyện ngắn của Đỗ Chu Loại truyện “không có chuyện” này thậm chí có lúc đã trở thành mốt
Trang 20Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, các truyện ngắn Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi, những truyện trong các tập Bến quê và Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Những bông bần ly và Ban mai êm ả của Dương Thu Hương, truyện Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam, Trái cam trong lòng tay của Nguyễn Kiên, Gió từ miền cát của Xuân Thiều, Mẹ và con của Ma Văn Kháng,… đã gây
được nhiều chú ý với bạn đọc và các nhà phê bình bởi tính cốt truyện mang vai trò quan trọng của nó Dù vậy cũng trong thời gian đó các tác phẩm được sáng tác theo lối
“Truyện không có chuyện” vẫn tồn tại và phát triển, chẳng hạn như tập truyện ngắn
Tháng hai (1985) của Đỗ Chu và một số tác giả khác Thực ra trong các truyện: Mưa tạnh, Đất bãi, Tâm sự người ở lại,… (Tháng hai) [11] hoặc cả những truyện mà Đỗ Chu sáng tác trước đó như Hương cỏ mật, Mùa cá bột,… (Phù sa) [10] không phải là không
có một “biến cố” nào đó làm cơ sở cho cốt truyện, chỉ có điều những “biến cố” đó thường
là những xung động hết sức nhỏ nhẹ, khẽ khàng trong tâm lý của nhân vật
Có một nét rất dễ nhận thấy, trong sinh hoạt tinh thần của con người Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám mà đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ là ngươi ta thường “sống” trong những môi trường cộng đồng nhiều hơn là môi trường riêng tư Người ta được dạy bảo và bàn bạc nhiều đến việc sống để làm đường, sửa cầu, xây nhà máy, dựng hợp tác xã, và nhất là sống để chiến đấu Đó là thời kỳ “ra ngõ gặp anh hùng”, thời kỳ “cuộc đời đẹp nhất là trên trận chiến thắng quân thù” Cuộc sống tập thể trở nên vô cùng quan trọng, có thể là một đơn vị, một tiểu đội, một tổ lao động, chí ít cũng phải là một tổ tam tam và mối quan hệ trong những tập thể ấy luôn được xem là số một Nó mới mẻ, quan thiết và đáng kể hơn nhiều so với đời sống riêng tư Và như vậy họ hầu như rất ít khi có dịp đối mặt với chính mình Đây cũng là yếu tố hết sức quan trọng chi phối quan niệm nghệ thuật trong sáng tác truyện ngắn của các nhà văn hiện đại Việt Nam Điều này giải thích tại sao trong giai đoạn này, chủ đề nổi bật nhất của các nhà văn nói chung, các tác giả truyện ngắn nói riêng luôn là mảng đề tài viết về chiến tranh, là việc phản ánh về cuộc sống tập thể, cuộc sống cộng đồng của người dân Việt Nam trên các mặt trận lao động và chiến đấu Ở phạm vi này vốn rất ít những sự mách bảo của kinh nghiệm nghệ thuật truyền thống, mà vai trò rất lớn là thuộc về tài liệu
Trang 21trực tiếp của đời sống, sự mô phỏng những hình thức và quan hệ trong cuộc sống đã trở thành khá phổ biến Tất nhiên trong đó còn có sự chi phối không nhỏ từ quan điểm nghệ thuật của văn học các nước anh em, đặc biệt là văn học Nga Xô-viết và văn học Trung Quốc hiện đại như một số truyện chiến đấu hoặc truyện nông thôn hợp tác hoá đầu tiên ra đời đã chịu ảnh hưởng không ít của một Triệu Thụ Lý, của một Sôlôkhôp
Sự chi phối quan niệm nghệ thuật trên thể loại truyện ngắn còn được thể hiện qua việc miêu tả sự việc, sự kiện luôn được đặt ra trước nhà văn như một nhiệm vụ nghệ thuật, bởi vậy nhiều khi tiến trình vận động của sự kiện đã được mô tả khá kỹ lưỡng và
công phu Hãy lấy Trận Phố Ràng làm minh chứng Đọc truyện này người đọc thấy các
bước của một trận đánh đã được mô tả khá tỉ mỉ, đó là: nhận nhiệm vụ, động viên chiến
sĩ, hạ quyết tâm, chuẩn bị đạn dược, lương thực, trinh sát, hành quân, bố trí, phát hỏa, mở đột phá khẩu, vào tung thâm, phát triển, diệt những điểm địch, cố thủ, bắt bọn chỉ huy, thu chiến lợi phẩm, giải quyết thương vong, giải tù binh, rút về căn cứ, kiểm điểm trận đánh,… Đây cũng có thể được xem là hứng thú mô tả trong sáng tác Trong loại truyện chiến đấu thường có thủ trưởng quân sự (đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng…), thủ trưởng chính trị (chính trị viên, chính uỷ…), rồi chiến sỹ, y tá, liên lạc, anh nuôi,…và những quan hệ thường được khai thác là quan hệ giữa thủ trưởng với chiến
sỹ, quan hệ giữa thủ trưởng quân sự với thủ trưởng chính trị, quan hệ giữa các chiến sỹ trong tiểu đội, trong trung đội, trong tổ tam tam,… Trong loại truyện lao động sản xuất thường có chủ tịch xã, bí thư đảng uỷ, chủ nhiệm hợp tác xã, chủ tịch huyện, bí thư huyện
uỷ, các xã viên,… rồi giám đốc, các phó giám đốc, quản đốc, các đội trưởng đội sản xuất,
kế toán, công nhân,…và ở đó cũng là hàng loạt các mối quan hệ của các nhân vật với nhau Trong đó không thiếu những mối quan hệ đan xen, phức tạp
Bước vào thời kỳ đổi mới (1986), sự chi phối quan niệm nghệ thuật trên thể loại truyện ngắn đã mở đường cho hàng loạt các tác phẩm thuộc thể loại truyện sinh hoạt thế
sự ra đời Ở loại tác phẩm này, mối quan tâm chính của nhà văn dường như đặt vào việc phác hoạ không khí xã hội một thời kỳ nhất định, hoặc đề xuất các vấn đề xã hội, các tình huống tâm lý đạo đức Do đó, ưu thế ở đây thường không thuộc về sự kiện mà thường
Trang 22thuộc về sự quan tâm đến các vấn đề con người Số phận con người qua những biến động chính trị, lịch sử, giá trị nhân cách của con người thông qua những quan hệ khác nhau - dường như là những nét được quan tâm nhiều hơn so với loại truyện chiến đấu hoặc sản xuất Con người ở đây không chỉ được xem xét và mô tả ở góc độ đời công (thành viên dân tộc, người tham dự vào một phong trào chính trị) mà còn được xem xét ở góc độ đời
tư (với tư cách một cá nhân, một cư dân trong môi trường quen thuộc, một thành viên của
xã hội dân sự) Những điểm được soi rọi chăm chú có khi lại không phải là lúc nhân vật đang hoạt động giữa đám đông, với danh nghĩa và cương vị xã hội của mình, mà lại là lúc nhân vật đang tự vấn, đang nhớ lại, đang tự đánh giá lại chính mình Các biện pháp độc thoại, hồi cố, tự bạch,… ở đây được sử dụng nhiều hơn, và có vai trò không kém quan trọng so với sự miêu tả hành động hoặc khung cảnh
Như vậy có thể nói sự chi phối của quan niệm nghệ thuật trên thể loại truyện ngắn là hết sức cụ thể nhưng đồng thời cũng hết sức đa dạng, nó đã trở thành điểm tựa cho nhiều nhà văn trong những giai đoạn nhất định, đồng thời ở một phương diện nào đó nó đã góp phần tạo nên phong của nhà văn, mà Đỗ Chu cũng là một minh chứng rõ nét cho vấn đề này
1.2 Quá trình hình thành phong cách truyện ngắn Đỗ Chu
1.2.1 Con đường sáng tác của Đỗ Chu
Đỗ Chu tên thật là Chu Bá Bình, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1944, tại Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang, từng tham gia quân đội, là lính cao xạ thuộc quân chủng Phòng không – Không quân trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước Ông viết truyện ngắn từ khi còn là học sinh trường Phổ thông trung học Hàn Thuyên (Bắc Ninh) Ông
cũng đã từng học qua Trường Bồi dưỡng viết văn Hội Nhà văn Việt Nam khoá II (1965),
nhưng đã được nhiều người biết đến từ khi còn rất trẻ Thậm chí ông trở thành mẫu hình
lí tưởng cho một thế hệ thanh niên yêu văn học thời bấy giờ Theo lời kể của tác giả Tô
Hoàng (Nhà văn Đỗ Chu: 40 năm tung hoành “văn trường”) [26], các chàng sinh viên
mê văn chương như Phạm Tiến Duật, Nghiêm Đa Văn, Tô Nhuận Vĩ, Vương Trí Nhàn…
đã sửng sốt khi phát hiện ra Đỗ Chu, tác giả của những truyện ngắn đăng trên Văn nghệ
Trang 23Quân đội khi mới 17 tuổi: “Những truyện ngắn ấy đầy sức hấp dẫn và cũng đầy chất kích thích các chàng sinh viên sư phạm nhưng lại ấp ủ hoài bão trở thành nhà văn, nhà thơ Nghiêm Đa Văn đóng những tập giấy năm hào hai lại với nhau viết một lèo hai cuốn tiểu thuyết tựa đề rất hay nhưng không bao giờ ra mắt bạn đọc - “Lá nho” và “Con ngựa cơm cháy” Lâm Quang Ngọc viết lên vách tường cạnh chỗ nằm ở ký túc xá sinh viên:
“Cố gắng đuổi kịp và vượt Đỗ Chu!” Các chàng sinh viên mê văn chương ấy càng ngạc nhiên, sửng sốt hơn khi phát hiện ra Đỗ Chu mới 17 tuổi, đang là học sinh năm cuối trường Phổ thông cấp ba Hàn Thuyên, thị xã Bắc Ninh”
Sự nghiệp văn học của Đỗ Chu được bắt đầu từ những truyện ngắn Ao làng, Thung lũng cò, Mùa cá bột, Hương cỏ mật,… đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào những
năm 1962 – 1963 Có thể nói, vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, thế hệ trẻ miền Bắc vừa như náo nức, mê say trước những phác hoạ đầu tiên của kế hoạch năm năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, lại vừa như đang trải qua cái không khí phập phồng, chờ đợi cuộc trường chinh lần thứ hai của dân tộc Phải thấy cội nguồn của hai tác động tâm lý này mới lý giải nổi chất lãng mạn khắp xã hội lúc bấy giờ Trong bối cảnh như thế, những truyện ngắn của Đỗ Chu không chỉ phản ánh tâm lý của thế hệ ông, mà sự đón nhận, tung
hô tài năng trẻ Đỗ Chu là minh chứng xác đáng, nó khẳng định cây bút trẻ này đã cất lên một tiếng nói tươi tắn, mới lạ để kể lại những ước ao, khát vọng, cách sống của thế hệ mình Cũng như nhiều nhà văn trẻ khác, Đỗ Chu tham gia quân đội vừa trực tiếp chiến
đấu vừa sáng tác văn học Tạp chí Văn nghệ Quân đội trở thành chiếc nôi để nâng đỡ cho tài năng của nhà văn trẻ Đỗ Chu Ông được các nhà văn đàn anh ở Văn nghệ Quân đội
như Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hải Hà, Mai Ngữ… đón nhận và giúp đỡ tận tình Cuộc sống chiến đấu trở thành nguồn mạch chính trong sáng tác của Đỗ Chu thời kỳ này Hàng loạt các mẫu hình nhân vật là người lính đã xuất hiện trên các trang viết của nhà văn Kỳ thực, hình tượng người lính cũng chính là hình tượng mang tính trung tâm của nền văn học Việt Nam giai đoạn ấy Vẻ đẹp lãng mạn, đầy màu sắc sử thi là điểm nổi bật ở những anh bộ đội, những cô thanh niên xung phong đang ngày đêm chiến đấu, ngày đêm giáp mặt với tử thần Tuy nhiên, nói đến sinh hoạt, cách thức ăn nói, yêu đương, tâm lý luyến nhớ quê hương của đám lính trẻ giữa nơi lửa đạn thì
Trang 24không ai kể hay, kể sinh động, tươi tắn, kể giàu sự sống như Đỗ Chu trong Chiến sĩ quân bưu, Thành phố bên kia cầu, Chuyện mùa hạ…
Xét về trình độ học vấn, Đỗ Chu xem như chỉ mới tốt nghiệp trung học phổ thông Thế nhưng những bạn bè cùng trang lứa không ai dám so bì học vấn với ông Đỗ Chu đọc nhiều, sức khái quát tốt, khả năng nhớ và đúc rút rất nhanh những điều đã đọc thành vốn liếng của mình Theo quan điểm của Nguyễn Khải, tài năng của nhà văn là ở chỗ anh ta biết gọi tên của từng hiện tượng sự việc, mà người khác không thể, hoặc không có năng lực ấy Về phương diện này Đỗ Chu khá nổi trội Ông quan sát tinh tường, sắc sảo thế giới xung quanh và tóm thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm của mình Mặt khác, ông có một trí tưởng tượng nhanh nhạy, khoáng hoạt không ai bì kịp Trí tưởng tượng ấy lại được bù trợ bởi sức lao động bền bỉ, chăm chỉ và một ý thức trách nhiệm cao với từng con chữ, từng dòng viết Có thể chính điều đó đã giúp Đỗ Chu sớm trở thành nhà văn thành đạt Ngay từ những tác phẩm đầu tay đã được nhiều người chú ý Có tác phẩm đã được đưa vào chương trình phổ thông cho học sinh học Hoặc vào những năm
tháng chiến tranh các khoá đào tạo người viết trẻ, (trại sáng tác văn học do Hội Văn học Việt Nam, Tổng cục Chính trị mở ra liên tục), trong giờ lên lớp, các nhà văn đàn anh
thường lấy truyện ngắn Đỗ Chu làm dẫn chứng về cách thức cấu tứ, vận dụng tu từ, cách tạo chi tiết… Dù vậy, Đỗ Chu luôn là người có không ít trăn trở, vật vã, day dứt băn khoăn Ông không chịu bằng lòng với những gì mình đã có, cho dù những gì đã có của ông từng là mơ ước của nhiều người
Trong những năm chiến tranh ác liệt, Đỗ Chu trăn trở nhiều tới cuộc sống của những người lính trẻ trên các mặt trận Đó là những tác phẩm viết về những người lính thuộc
binh chủng Phòng không - Không quân như: Vòm trời quen thuộc, Một vùng phía bắc, Buổi tối ở Hàm Rồng… Nhà văn đã tái hiện lại cuộc sống gian khổ nhưng hết sức hào
hùng và cũng đầy lãng mạn, đầy khát khao ngay trong những giờ phút đối đầu trực tiếp với kẻ thù của những chàng trai, cô gái tuổi đời còn rất trẻ nhưng trong tim luôn tràn đầy
lý tưởng sống cao đẹp Đó là những người lính ngồi trên mâm pháo “lưng các anh quay
về phía thành phố, mắt dõi nhìn vòm trời nhẹ bỗng” (Vòm trời quen thuộc) [6; 6] Đó là
Trang 25những Xuyên, những Giáp, những Dậu…, trực tiếp đối đầu với bom đạn của kẻ thù Mà
“cho đến bây giờ Dậu cũng vẫn chưa giải thích được vì sao trong trận đánh ngày hôm đó anh chỉ bị sức ép làm hỏng hai tai còn anh Giáp thì lại bị thương vào đầu? Hai người cùng đứng thẳng trong hai cái hố cá nhân đào gần sát nhau, cùng nhìn về một hướng, cùng nhằm vào chiếc máy bay địch đi đầu và chắc chắn là cùng chỉ có một quả bom đó
rơi xuống sau lưng hai người” (Một vùng phía bắc) [6; 15]… Viết về những người lính,
Đỗ Chu thể hiện sự nhạy cảm và tinh tế trong sự quan sát, trong suy ngẫm và cả trong sự trải nghiệm của bản thân Không dừng lại ở hình tượng người lính Phòng không quen thuộc, là quân chủng ông nhập ngũ và công tác chủ yếu trong thời gian ở quân đội, Đỗ Chu còn đề cập đến nhiều đối tượng khác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Đó là những người lính lái xe chở hàng vào chiến trường, phải xuyên qua nhiều tầng đạn bom của giặc
Mỹ Huyền thoại về con đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh lịch sử đã được nhà văn cụ thể hoá qua những đoạn đời và qua cả những nghĩ suy, nung nấu: “Những ngày ấy anh em lái xe gặp thêm rất nhiều khó khăn, nhưng công việc vẫn là công việc, không thể nào chậm trễ được Không ai có quyền lùi bước, không ai dám quên cái điều đơn giản là
quân thù vẫn còn đang lấp ló ở trước mặt” (Ráng đỏ) [7; 34] Truyện ngắn của Đỗ Chu
không chỉ cổ xuý, động viên đồng bào chiến sĩ vào những năm tháng chiến tranh, mà còn lưu giữ mãi giá trị của việc phản ánh tình người, tinh thần cao thượng và sức hy sinh chịu đựng của cả dân tộc ở một khúc ngoặc lịch sử
Cũng phải nói thêm rằng, Đỗ Chu trong những năm chiến tranh đã trở thành một con người của Hà Nội, cùng chia xẻ vui buồn với mọi người, ông như chiếc gạch nối giữa Hà Nội đời thường với bộ máy chiến tranh đang hoạt động âm thầm, để bảo vệ Hà Nội Ta đã từng được đọc nhiều trang văn của Đỗ Chu viết về Hà Nội, mà ở đó Hà Nội hiện ra thật duyên dáng, một Hà Nội thường là ngoại ô, nghĩa là có những tán bàng thưa, có những bóng vệt dài cô gái đi gánh nước và tiếng chuông tàu điện leng keng Những đứa trẻ con trong tác phẩm Đỗ Chu cũng thích bắt cánh cam, xén tóc Người Hà Nội vẫn hết sức giản
dị khiêm nhường, họ sống tự bằng lòng với mình Đó là cái thời nghèo mà trong sạch
Trong truyện ngắn Thành phố bên kia cầu (1966), nhà văn đã kết thúc tác phẩm bằng
những câu có vẻ rất bâng quơ: “Quê hương chúng ta là những xóm nhỏ, những cánh đồng
Trang 26và nếu là thành phố thì những thành phố ấy thường nằm trên bờ sông có nhịp cầu thân thuộc bắc qua” Đúng là ông không nói rõ, nhưng những thành phố mà ông nói ở đây có thể bao gồm cả Hà Nội Quả là một sự tiếp nhận thanh thản dịu dàng Và đó chính là cảm hứng chính mà Thủ đô gợi lại trong tâm trí Đỗ Chu và bạn bè ông trong những năm ấy,
để rồi còn lại dư vị trong sáng tác của ông rất lâu về sau
Sau một khoảng thời gian có vẻ như im hơi, lặng tiếng, nhà văn đã xuất hiện với các
tác phẩm Mảnh vườn xưa hoang vắng, Mê lộ, Cánh đồng không có chân trời, Một loài chim trên sóng… làm sửng sốt bạn đọc với một cách nhìn, cách cảm và cách thể hiện mới
sinh động, hấp dẫn và cũng đầy trăn trở Có thể nói, với sự ra đời của những tác phẩm
này, “Đỗ Chu đã thực sự bắt nhịp được với cuộc sống đương đại, khám phá ra nhiều vỉa tầng của hiện thực và thể hiện nó bằng một lối viết “đằm chín” và ấn tượng” [54; 119]
Điều này có thể lý giải từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng trong đó phải kể đến xu hướng nhận thức lại lịch sử của văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt là vào thời kỳ đổi mới Thực tế trên văn đàn nước nhà thời kỳ này đã xuất hiện không ít các tác phẩm trong
đó có sự thay đổi về chuẩn mực thẩm mỹ, thay đổi về thang giá trị trong tâm lý tiếp nhận
của bạn đọc Chẳng hạn như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp,…
đã đề cập đến những hiện thực nhức nhối của đời sống cả trong quá khứ cũng như trong
hiện tại một cách trực diện và thẳng thắn Với tập truyện Mảnh vườn xưa hoang vắng
(1989), Đỗ Chu đã không ngần ngại đưa lên trang viết của mình những hiện thực cay đắng mà một thời người ta rất ít quan tâm, chưa nói là cố tình che đậy Đó là những quan niệm cứng nhắc của một bộ phận đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều cuộc đời, nhiều con người Người đọc không khỏi xót xa trước những số phận đắng cay như ông Đống
(Mảnh vườn xưa hoang vắng), với nghịch cảnh từ một thiếu tá trong quân đội trở về quê
nhà trong nỗi cô độc và phải kiếm kế sinh nhai bằng nghề thổi kèn đám ma Đặc biệt là
nhân vật Hoàng Trữ trong Mê lộ, một người đã sống hết mình vì chiến tranh, đã ghi nhận
bao nhiêu chiến công để rồi cuối cùng rơi vào “mê lộ” của cuộc đời, trở thành một con người không bình thường giữa đồng loại với những ký ức trận mạc luôn hằn sâu trong
Trang 27tâm trí ông ta Còn những nhân vật trong Cánh đồng không có chân trời lại là những con
người mang nỗi đau do chiến tranh đã cướp đi của họ những người thân yêu nhất
Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, Đỗ Chu cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn
Một loài chim trên sóng (2002), được xem như là sự tiếp nối cho ý thức đổi mới ngòi bút
trước yêu cầu hiện thực và tâm lý tiếp nhận của bạn đọc Ở tập truyện này, nhà văn đã cho thấy một cách nhìn mới về hiện thực đời sống, nói đúng hơn là nhà văn đã lật xới lên những mảng tối của đời sống xã hội Đó là sự xuất hiện của những kẻ cơ hội, lợi dụng thời thế để phất lên làm giàu bất chính, hoặc là sự đua chen khốc liệt để tồn tại, để mình không phải lâm vào tình trạng “trâu chậm uống nước đục”, được nhà văn phản ánh trong
Người của muôn năm trước Đau đớn hơn là thực trạng tha hoá nhân cách vì đồng tiền được thể hiện trong Hoạ mi hót Đó là người con trai của ông Thiêm đang định cư ở Đức
đã đáp lại lời thỉnh cầu của bố - một ông tướng về hưu, đã giành hết cuộc đời cho chiến tranh, giờ đang sống một mình cô độc - bằng một lối suy nghĩ thực dụng đến tàn nhẫn Anh ta sẵn sàng “nhổ toẹt” vào cả quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, dù cho tất cả những điều đó cha anh và đồng đội của ông đã từng phải đổ xương máu, đã phải “mất trọn một đời để tìm kiếm”, để giữ gìn
Con đường sáng tác của Đỗ Chu không dừng lại ở tập truyện Một loài chim trên sóng, từng được nhận giải thưởng cao của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2003, cũng đồng
thời được đề xuất nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2004, mà nó được tiếp
nối bởi các tập tuỳ bút cũng rất nổi tiếng của ông như Tản mạn trước đèn (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2005), Thăm thẳm bóng người (2008) Kỳ thực Đỗ Chu đã từng viết tuỳ bút từ trước đó Theo tác giả Nhật Chung (trên Thanh niên Online) “khoảng
những năm tám mươi thế kỷ trước, thời bao cấp, cứ mỗi giao thừa là dân ta lại mở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam nghe… tuỳ bút Đỗ Chu Những bài tuỳ bút văn chương rất bay bổng và rất… chính trị, cũng là chính trị của một thời bao cấp.” Ở một khía cạnh nào đó, người đọc cũng dễ nhận thấy mối liên thông giữa truyện ngắn với tuỳ bút trong sáng tác của Đỗ Chu và việc ông tìm đến thế loại này như một điều tất yếu, bởi ông là người đọc nhiều, đi nhiều, có vốn kiến thức phong phú Đọc văn Đỗ Chu ta thấy ngồn ngộn
Trang 28trong đó các tầng kiến thức văn hoá sâu rộng và minh xác Cũng rất có thể chính điều này đã tạo nên “cái uy văn chương” trong sáng tác của Đỗ Chu
1.2.2 Những yếu tố góp phần hình thành phong cách truyện ngắn Đỗ Chu
1.2.2.1 Những quan niệm của tác giả về sáng tác văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng
Như trên đã trình bày, Đỗ Chu đến với văn nghiệp khá sớm và như một cái duyên trời phú, để ngay những tác phẩm đầu tay của ông đã được nhiều người đánh giá cao, thậm chí xem đó là những áng văn mẫu mực Tuy nhiên, cái duyên văn chương ấy lại có quan
hệ chặt chẽ với những suy nghĩ, những quan niệm của chính nhà văn mà đã không ít lần ông tâm sự với bạn đọc hoặc báo giới Theo lược thuật của nhà báo Hồng Thanh Quang,
Đỗ Chu đã từng tâm sự: “Nhà văn có công việc của mình Lặng lẽ âm thầm, cô đơn được thì càng tốt Và đôi khi mình phải chấp nhận để người ta quên mình đi Nhà văn không
phải diễn viên!” [47] Rõ ràng đến với nghiệp văn chương, mỗi người không bao giờ là sự
tình cờ, tất cả họ đều rất hiểu nỗi vất vả, chịu đựng mà bản thân họ buộc phải vượt qua
Đỗ Chu là một trong những tác giả đã từng được ca tụng, được tung hô trong rất nhiều năm thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của Mỹ Theo tác giả Trần Nhượng (“Thư giãn
Chủ nhật: Gã Phục điên từ bao giờ” http://trannhuong.com/news): “Bạn văn chương cùng
lứa tuổi chúng tôi hẳn còn nhớ, khoảng những năm 1966, 1967, 1968 những truyện ngắn của Đỗ Chu hầu như thống lĩnh văn đàn văn xuôi của những cây bút trẻ mới xuất hiện những năm đầu chiến tranh chống Mỹ” Đây là nhận xét thực tâm, bởi thời ấy người ta cũng đã từng đưa nhiều tác phẩm của Đỗ Chu vào chương trình phổ thông như những gì
là tiêu biểu là tinh tuý của văn học dân tộc Để rồi sau đó có không ít những khoảng lặng, thậm chí có cảm giác như bị phủ nhận tất cả Tên tuổi nhà văn gần như bị lu mờ, bị lãng
quên Trong Tản mạn trước đèn, chính nhà văn đã kể lại vừa hài hước vừa chua chát:
“Khi chủ khách được giới thiệu để làm quen với nhau, nhạc sĩ Văn Dung có nhã ý nói tôi
là nhà văn Đỗ Chu đến hai ba lần mà xem chừng mọi người vẫn thờ ơ thế nào ấy, có một
anh bắt tay tôi rất chặt, nói là đã đọc tiểu thuyết của tôi, cuốn Bão biển Tôi không dám
nhận xằng nên nói đấy là tiểu thuyết của ông Chu Văn Lại còn một cô nữa cũng rất đẹp,
Trang 29lúc ăn cơm từ mâm bên cạnh cầm bát rượu sang bắt tôi phải uống một nửa bát, hứa uống xong sẽ bàn với tôi một chuyện rất hay Tôi hỏi chuyện gì, cô ấy nói cô ấy là cô giáo, đã đọc nhiều sách của tôi, rất may mắn hôm nay được gặp tác giả (…) Cô ấy vươn cái cổ rất thon thả lên, uống cạn, rất ân cần cô đưa tay bắt tay tôi, gật đầu chào: “Sáng mai em cho người đến đón anh, tạm biệt nhà văn Chu Lai nhé” Tôi thấy tủi thân quá” [14; 80,81] Quả đúng là chuyện cười ra nước mắt
Quay lại với quan điểm sáng tác của nhà văn, ta thấy Đỗ Chu luôn trăn trở với những
gì mình nghĩ, mình viết Ông sẵn sàng vứt bỏ cả đống bản thảo khi thấy nó chưa vừa ý Ông luôn cho rằng: “Nhà văn có những đóng góp riêng bằng sứ mệnh của mình trong đời sống chung, rộng lớn Nhà văn mang cái nhạc chữ, nhạc ý tứ, nhạc tình cảm của bản thân mình để hát lên, góp phần làm đẹp cho cây đời ” [47] Theo nhà thơ Nguyễn Thanh Kim, Đỗ Chu phân định rất rõ trách nhiệm của người cầm bút: “Làm báo là cập nhật, viết văn thì phải… dài dài Phần lớn người viết văn bây giờ phải viết báo cho nên gì thì gì nhớ
là khi sách ra phải có văn chương, không thì vứt…” Ông cũng thường xuyên tâm niệm:
“Nhà văn luôn luôn đồng hành với bạn đọc, nó đi tới với sự vẫy gọi của chân lý, của cái thiện, cái chân, cái mỹ Đó là ngọn lửa bập bùng, ngọn lửa hiền minh luôn hiện ở phía trước, ta càng đến gần nó, nó lại càng lùi ra xa Nếu anh nghĩ rằng, anh đã túm được ngọn lửa ấy và đút luôn vào túi quần thì thực sự là tội nghiệp ” Rất có thể những quan niệm này đã đi theo nhà văn suốt dặm dài sự nghiệp sáng tác của ông, để những trăn trở không bao giờ mất và sự nghiệp sáng tác luôn tạo ra cho ông những bài học quý báu:
“Nhà văn là người có quyền lật đi lật lại vấn đề mà anh ta quan tâm Và phải biết lật đi lật lại! (…) suốt cuộc đời, người ta ai mà chẳng phải trăn trở, nghĩ ngợi Đâu phải nhất nhất mọi việc, mọi chuyện đều bất biến Cái gì cũng nên lật đi lật lại để tìm ra góc nhìn khả
dĩ nhất, sát thực nhất, thể tất nhân tình nhất "Sinh sinh nhi vị dịch", sinh sinh không ngừng, ấy là dịch vậy! Trong quá trình nhận thức của một đời người, quan trọng là xác lập cho được những câu hỏi lớn, chứ không phải là thuộc lòng vài ba câu trả lời lớn Biết đặt ra những câu hỏi mới khó!” [47] Cũng trả lời phỏng vấn trước nhà báo, Đỗ Chu không ngần ngại khẳng định vai trò, vị trí và cả nhân cách của nhà văn trong quá trình sáng tác: “Với tất cả ý thức của mình, nhà văn trước tiên phải cố gắng là một trí thức Xin
Trang 30nhớ là trước mọi việc của đời sống, anh phải biết đặt ra những câu hỏi lớn, chứ không phải lúc nào cũng hớt hải, léng phéng chạy đi tìm câu trả lời Xã hội đặt cho anh nhiệm
vụ đi tìm những câu hỏi nghiêm trang nhất, vì con người nhất” [47]
Cũng như nhiều nhà văn khác cùng thế hệ, Đỗ Chu luôn ý thức về sự đổi mới trong sáng tác văn học Kỳ thực, sau một thời gian dài văn học Việt Nam mịt mùng trong quỹ đạo chính trị, với cảm hứng cộng đồng, với cái TA bao trùm tất cả, đến mức có vô khối những bài thơ cổ động, những tác phẩm tự sự na ná giống nhau Các nhà văn chợt giật mình nhận ra sự bàng bạc của những trang văn mình viết và họ thấy ngay lập tức phải thay đổi, phải tạo ra cho bản thân mình một phong cách riêng Theo phỏng vấn của Tuệ
Nhi (đăng trong “Một chiều Hà Nội với nhà văn Đỗ Chu” honvietquochoc.com.vn), Đỗ
Chu đã cho rằng: “Suy cho cùng, đổi mới là một quá trình tìm kiếm chính bản thân mình, trở về với chính mình Đây là một đòi hỏi có ý nghĩa quyết định Một cuộc lên đường tìm kiếm đòi hỏi nhiều dũng khí, nhiều trung thực và sẽ không bao giờ dễ dàng Nó là công việc của tài năng và trí tuệ, ở đây mọi nông nổi khéo mồm chỉ làm nhiễu thêm tình hình
mà thôi” Trong tập tuỳ bút Tản mạn trước đèn (2005), người đọc cũng dễ nhận thấy nỗi
ưu tư lớn của tác giả về con đường mà chính ông cũng đang là “kẻ bộ hành can đảm và cô độc” Với tư cách là “sư trưởng” trong làng văn, trực tiếp chứng kiến những đổi thay dữ dội của một thời kỳ sáng tác mới, (khi các giá trị còn chưa được khẳng định), nhà văn đã muốn “đặt lại và tái khẳng định vấn đề trách nhiệm của nhà văn đối với vận mệnh đất nước, bản lĩnh văn hoá của người viết, sự cô đơn của nghệ sĩ trên hành trình đi tìm cái đẹp, sự tỉnh táo cần thiết của một nhà văn giữa muôn nẻo đường sáng tạo để làm sao thoát khỏi mê lầm” [16] Ông còn khẳng định một cách mạnh mẽ rằng: “Các nhà văn, người cầm bút trở thành vững chãi đều phải qua một giai đoạn dài từng trải, vừa học hỏi vừa sáng tạo một cách công phu, ai tính chuyện đi tắt, mưu mẹo vặt, toan bỏ qua chuyện đó thì trước sau gì đều cũng sẽ lụi.” Đây quả thực là những quan niệm rất đáng suy nghĩ và chắc chắn nó cũng chính là những điểm mấu chốt để tạo nên phong cách truyện ngắn của nhà văn này
1.2.2.2 Sự tác động của các yếu tố chính trị, xã hội, văn hoá…
Trang 31Xét về mặt lý luận, mỗi nhà văn đều có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống xã hội mà tác giả đã sinh ra, học tập, công tác và trưởng thành Khi sáng tác văn học, hơi thở của cuộc sống luôn bám riết lấy họ, chi phối và tác động trực tiếp đến từng trang viết Trước hết ta phải nói đến sự tác động của đời sống chính trị đối với văn học nói chung và đối với sáng tác truyện ngắn của Đỗ Chu nói riêng Phải thành thật mà khẳng định rằng thế
hệ Đỗ Chu là thế hệ chịu sự tác động sâu sắc của cơ chế chính trị, là thời đại mà chính trị thống soái tất cả, là thời kỳ mà “xu hướng đồng nhất văn nghệ với chính trị là xu hướng chủ đạo, bao trùm” (Nguyễn Đăng Mạnh Phê bình văn học trong tình hình mới Văn nghệ,
số ra ngày 29-8-1988 & Văn nghệ, số 9-1988: thảo luận “bàn tròn”) Tuy nhiên, cũng phải hiểu rằng, trong xã hội có giai cấp không thể tách văn nghệ ra khỏi chính trị, không thể coi văn nghệ là vô tư, là độc lập với chính trị, đứng trên hay đứng ngoài chính trị Đỗ Chu cũng như nhiều nhà văn khác ý thức rất rõ điều này và thực tế ý thức tư tưởng chính trị đã được thể hiện khá nổi bật trong sáng tác truyện ngắn của ông
Một tác động không nhỏ khác vào quá trình sáng tác và cũng là cơ sở tạo phong cách truyện ngắn Đỗ Chu chính là không khí thời đại Có thể nói thời đại Đỗ Chu là thời đại của những biến động dữ dội và huy hoàng trong lịch sử dân tộc Ông là người chứng kiến
và đi qua cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, là người trực tiếp hít thở không khí sục sôi của chiến tranh Với chống Pháp có thể chỉ là âm hưởng, nhưng với chiến tranh chống Mỹ, nhà văn đã trực tiếp đối đầu Theo ý kiến của cố nhà thơ Phạm
Tiến Duật trong bài viết Về tác phẩm văn học đỉnh cao: “Chính lịch sử oanh liệt của cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã sản sinh ra văn học chống Mỹ, cứu nước Chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp chín năm đã chuẩn bị cho sự nở rộ của văn học thời kỳ chống Mỹ, cứu nước Nhân vật anh đội viên vệ quốc đã trở thành anh chiến sĩ giải phóng Cái mũ nan đã trở thành cái mũ tai bèo Đó là cả một chặng đường liền khi lịch sử
tư tưởng của nhân dân ta bước sang một chặng đường hoàn toàn mới, trước đó chưa hề
có Đó là sự thăng hoa kỳ diệu của cả dân tộc khi mục tiêu độc lập hòa quyện với hoài bão xã hội xã hội chủ nghĩa”
Trang 32Những đau thương mất mát, những cống hiến hết mình, những sự hy sinh dũng cảm của bao chàng trai cô gái trên các mặt trận chiến đấu cũng như xây dựng luôn hiện diện
và cận kề cùng tác giả Môi trường, điều kiện sống, hoàn cảnh sống chính là nguồn sữa
nóng để nuôi dưỡng các sáng tác của ông Tác giả Tô Hoàng (Nhà văn Đỗ Chu: 40 năm tung hoành “văn trường” [26]) đã từng khẳng định: “Nói đến sinh hoạt, cách thức ăn nói,
yêu đương, tâm lý luyến nhớ quê hương của đám lính trẻ giữa nơi lửa đạn - không ai kể hay, kể sinh động, tươi tắn, kể giàu sự sống như Đỗ Chu trong “Chiến sĩ quân bưu”,
“Thành phố bên kia cầu” “Chuyện mùa hạ”…” Là người hoạt động trong Hội Nhà văn với một thâm niên khá dày dặn, Đỗ Chu hiểu sâu sắc những biến động của xã hội và văn học Việc dân chủ hoá nền văn nghệ dân tộc đã tạo cho nhà văn có cơ hội thể hiện tất cả những gì băn khoăn, trăn trở, những suy nghĩ riêng để phản ánh vào trong sáng tác của mình Ông đi sâu vào đời sống cá nhân, khám phá bi kịch của con người trong cuộc sống Ông chủ động bày tỏ quan điểm, cách nhìn nhận đánh giá của mình về con người, cuộc sống theo những gì đang diễn ra trong đời sống xã hội đa chiều và phức tạp
Sinh ra và lớn lên ở vùng quê Kinh Bắc, chiếc nôi của văn hoá dân tộc, tâm hồn Đỗ Chu luôn gắn bó máu thịt với mảnh đất cổ kính và giàu truyền thống này Và chính mảnh đất mang những giá trị văn hoá tinh thần hàng ngàn đời của ông cha đã có tác động rất lớn đến phong cách truyện ngắn của ông Đâu đó trong toàn bộ sáng tác của Đỗ Chu luôn
ẩn hiện bóng hình của những liền anh liền chị xứ quan họ với những áo the, khăn xếp, những nón thúng quai thao, rồi tà áo tứ thân mớ ba mớ bảy, giải yếm đào, “váy sồi áo lụa,
khăn thâm bao nhiễu” (Ngày đang trôi) [13] Người đọc cũng có thể nhận thấy một không
gian văn hoá với những đặc trưng vùng miền đã được nhà văn tạo dựng qua thế giới nghệ thuật của mình Đó là hình ảnh của sông Hồng, sông Đuống, sông Cầu được lặp đi lặp rất
nhiều trong những sáng tác của Đỗ Chu (Một loài chim trên sóng, Phù sa, Mận trắng…)
Người đọc cũng được chứng kiến những hình ảnh của một vùng quê mà trong đó nổi bật
là hình ảnh nông thôn đồng bằng Bắc Bộ với những “ao chum”, những “doi đất bờ đầm”, những cánh đồng “đất nâu”,… Ảnh hưởng của vùng quê Kinh Bắc còn được thể hiện qua các hội hè đình đám hoặc qua những thú chơi thanh nhã của con người đất văn vật như
chơi sơn ca, bắt sơn ca và nghe sơn ca hót… (Mưa tạnh) [11;5] Đọc truyện ngắn Đỗ
Trang 33Chu, người đọc còn khám phá ra được nhiều vỉa tầng văn hoá của thế giới Kinh Bắc đầy huyền thoại Đó là một không gian văn hoá với những lễ hội, những tập quán, những phong tục như cuộc đua đuổi sít vào những dịp năm mới của những thanh niên nam nữ
tuổi mười tám đôi mươi (Chuyến đi cuối năm) [13], như hội Chen vào rằm tháng ba của
làng Đặng xá, dành cho những đôi trai gái yêu nhau, cho những mối tình ngang trái,
những mộng ước không thành…(Mảnh vườn xưa hoang vắng) [12], hoặc như lễ rước bà
Chúa về đền, một sắc thái văn hoá tâm linh của người dân đất Việt nói chung, người dân
xứ Kinh Bắc nói riêng (Ngày đang trôi) [13]…
Có thể kể đến một vài yếu tố khác nữa cũng góp phần tạo dựng phong cách truyện ngắn Đỗ Chu Đó là sự ảnh hưởng của văn học dịch cũng như của các trường phái lý luận phê bình đã góp phần không nhỏ cho sự trưởng thành và phát triển của văn học Việt Nam trong đó có truyện ngắn Đỗ Chu Quả thực trong những năm đầu của văn học cách mạng, người đọc Việt Nam đã được tiếp cận với những tác phẩm xuất sắc của nhân loại, mà một trong những tác giả có ảnh hưởng khá lớn đến một số nhà văn Việt Nam nói chung, nhà văn Đỗ Chu nói riêng là nhà văn trữ tình K Paustovski Đến với những áng văn xuôi của Paustovski, chúng ta không gặp những cái gọi là xung đột, cũng không bắt gặp những tình tiết lắt léo li kỳ Đọc những áng văn xuôi của nhà văn Nga nổi tiếng này, người đọc lặng đi trước những dòng văn trữ tình như những dòng cảm xúc chảy tràn trên trang giấy Chất thơ ngọt ngào êm dịu mới chính là phong vị, là thần thái của văn xuôi Paustovski
Chính nhà văn đã khẳng định trong “Truyện cuộc đời” rằng: “Tôi đã nhìn thế giới xung
quanh qua tấm lăng kính trong suốt của thơ…Tôi biết rằng thơ – đó là cuộc sống được thể hiện ở dạng hoàn thiện nhất, là thế giới mở ra trong tất cả chiều sâu mà cặp mắt dửng dưng lười nhác không thể nào bao quát được” Đỗ Chu hình như đã có ảnh hưởng hết sức
sâu đậm trong nghệ thuật truyện ngắn của ông Trong Phiên bản Đỗ Chu, tác giả Nguyên
An đã nhận xét: “Đỗ Chu là một phong cách truyện ngắn giàu chất thơ, thứ thơ thanh cao
và bình dị vẫn có trong đời hỗn tạp mà anh là người có công chưng cất lại, tô thắm thêm Hình như đời trong cảnh bẫn bách, thì người ta càng có cơ gượng dậy, đứng lên mà vui sống là nhờ những trang văn giàu chất thơ như thế?” [1] Tác giả Nhật Chung cũng khẳng định: “Đỗ Chu là một nhà văn lãng mạn Văn anh nghiêng hẳn về duy cảm và duy mỹ,
Trang 34điều cũng rất hiếm thấy trong các nhà văn thời chống Mỹ cứu nước (…) Chỉ có điều, những ai từng đọc các truyện ngắn rất mơ mộng, thấm đẫm tình cảm và hơi văn gợi nhớ đến văn Pauxtovxki rồi sau đó gặp Đỗ Chu, một ông Đỗ Chu đi đâu cũng vác cái điếu cày
kè kè, mắt thì liếc nhanh như chớp, miệng thì tía lia “không cho mọc da non”, tất sẽ đầy ngạc nhiên: nhà văn Đỗ Chu mướt mát là đây sao?” Đúng là qua hàng mấy chục tác phẩm được sáng tác trong những thời gian khác nhau, nhưng chất trữ tình đằm thắm vẫn là điểm dễ nhận thấy nhất trong truyện ngắn Đỗ Chu Cũng cần nói thêm rằng lý luận phê bình cũng có vai trò rất lớn đối với đời sống văn học trên cả hai bình diện sáng tác và tiếp nhận Đặc biệt hiệu ứng thẩm mỹ của lý luận phê bình văn học đối với sáng tác văn học là hiệu ứng mang cấp số nhân, là sự cộng hưởng mang tính cộng sinh Bởi lẽ trong quá trình sáng tác, những lý thuyết của các trường phái lý luận văn học đã được các nhà văn tiếp nhận và vận dụng vào quá trình sáng tác của mình một cách vô thức và nhiều khi những suy tư về văn chương của các nhà lý luận cũng chính là chất liệu sáng tác của các nhà văn Đỗ Chu chắc chắn cũng không thể ngoài tầm ảnh hưởng của lý luận phê bình văn học trong hơn nửa thế kỷ qua
Tóm lại, từ sự đam mê ham thích nghề văn, từ những quan điểm mang tính nhất quán
về văn học cũng như quan điểm về nhà văn và quá trình sáng tạo, từ những tác động của đời sống chính trị, xã hội, của nền văn hoá dân tộc và rất nhiều các yếu tố khác nữa đã tạo nên một Đỗ Chu đằm thắm, thiết tha, một Đỗ Chu với những trang văn mang chất thơ vời vợi từng làm đắm say nhiều thế hệ yêu thích văn chương
Chương 2
Trang 35PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG SÁNG TÁC
2.1 Những nét riêng trong xử lý đề tài, chủ đề ở truyện ngắn Đỗ Chu
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội - 1997) của
nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, đề tài là “Khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [22; 94] Đây là một khái niệm có phạm
vi khá rộng, bao quát tất cả các hiện tượng đời sống mà các hiện tượng ấy có thể liên kết với nhau thành loại theo mối liên hệ bề ngoài giữa chúng Vì đề tài biểu hiện khái niệm
về loại của hiện tượng đời sống, do vậy, có bao nhiêu hiện tượng của đời sống là có bấy nhiêu đề tài Ở một phương diện nhất định khái niệm đề tài gắn với khái niệm chủ đề của tác phẩm (chẳng hạn như trong tác phẩm trữ tình) Theo quan điểm của Lại Nguyên Ân
trong 150 thuật ngữ văn học (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003): “Trong các
bộ môn nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, đề tài là thuật ngữ dùng để chỉ phạm
vi các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống của tác phẩm nghệ thuật Khái quát hơn, đề tài thể hiện phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm nghệ thuật” [2; 127] Giới hạn của phạm vi đề tài có thể được xác định với bình diện rộng hay hẹp Đó có thể là một giới hạn
bề ngoài với các đề tài loài vật, kháng chiến, tiểu tư sản, công nhân, bộ đội,…Giới hạn bề ngoài cho phép nhìn nhận tầm quan trọng của các phạm trù xã hội hay lịch sử tuy đối tượng nhận thức của tác phẩm nghệ thuật nói chung thường không chỉ giới hạn cái bề ngoài của sự vật Cũng cần nói thêm về các phương diện bên trong của đề tài, đó là bề sâu của phương diện phản ánh với cuộc sống con người bao gồm trong nó tất cả các giá trị hiện thực, tố cáo, viễn ảnh, được miêu tả trong tác phẩm thông qua những hình tượng nghệ thuật Đề tài do đó không nên được đồng nhất với đối tượng nhận thức, chất liệu đời sống hay nguyên mẫu thực của tác phẩm, bởi vì đối tượng là cái nằm ngoài tác phẩm, đặt đối diện với tác phẩm Đề tài của tác phẩm phải là một phương diện nội dung tác phẩm,
là đối tượng đã được nhận thức, là kết quả lựa chọn của tác giả Thực chất lâu nay trong
Trang 36công tác nghiên cứu, phê bình văn học, người ta thường phân chia các tác phẩm văn học theo từng diện đề tài Chẳng hạn như đề tài lao động, đề tài chiến tranh, đề tài cách mạng,
đề tài lịch sử,…Trong các diện đề tài lớn đó, người ta lại có thể chia nhỏ ra thành nhiều
đề tài ở phạm vi hẹp, cụ thể như đề tài công nhân, đề tài người lính, đề tài phụ nữ, đề tài nông thôn,… Ở từng thời kỳ của văn học, do yêu cầu chính trị cần phải động viên, cổ vũ một số đối tượng nào đó, lập tức sẽ có những đề tài được quan tâm hơn Người ta thường xem đó là những đề tài mang tính trung tâm, đề tài mang tính thời sự Lẽ đương nhiên các nhà văn sẽ tập trung hơn ở những đề tài mang tính thời sự đó Điều này diễn ra không chỉ
ở văn học Việt Nam mà cả văn học trên toàn thế giới
Việc xác định đề tài sáng tác là một trong những bước đầu tiên và vô cùng quan trọng của bất cứ nhà văn nào Đã có không ít nhà văn thất bại do họ không tìm được cho bản thân một đề tài thích hợp để có thể xem như một tờ giấy thông hành đi qua con đường sáng tạo Nhà nghiên cứu văn học Nga A Xâytlin cho rằng bất cứ nhà văn nào khi bắt tay vào xây dựng tác phẩm văn học cũng phải làm một loạt công việc có quan hệ hữu cơ với nhau mà trong đó việc xác định đề tài là khâu thứ nhất Từ định nghĩa của M Gorki “Đề tài là tư tưởng nảy sinh trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi ra cho nhà văn, nhưng còn ẩn náu trong kho tàng ấn tượng của nhà văn dưới dạng thức chưa thành hình
và đòi hỏi được thể hiện bằng hình tượng thúc đẩy nhà văn làm cho nó thành hình”, A Xâytlin quan niệm: “Khi tìm đề tài, sở dĩ nhà văn càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa là vì,
để đến được với đề tài, nhà văn phải len lỏi qua vô số những đề tài đã quá quen thuộc đối với thời đại, những đề tài đã bị những kẻ chuyên bắt chước vồ vập lấy và lặp đi lặp lại mãi hóa nhàm” [57] Nói cách khác việc xác định đề tài, hay nói đúng hơn là lựa chọn cho mình một đề tài thích hợp, luôn là một điều hết sức khó khăn đối với mỗi nhà văn Viết về cái gì luôn là câu hỏi được đặt ra đầu tiên đối với người nghệ sỹ Thông thường với câu hỏi này người ta buộc phải đứng trước sự trăn trở, lựa chọn: hoặc là viết về một cái gì “cụ thể” nhất, hoặc là viết về một cái gì “lớn lao” nhất
Văn học Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có những đặc thù riêng của nó Do yêu cầu về mặt chính trị mà đề tài Tổ quốc, đề tài nhân dân trở
Trang 37thành những mảng đề tài lớn và quan trọng nhất Thực ra đây cũng chính là những đề tài
có ý nghĩa vĩnh cửu trong sáng tác nghệ thuật, bởi suy cho cùng mọi cảm hứng đều không
thể tách khỏi đất nước, nhân dân Nhiều tác phẩm vĩ đại của nhân loại như Chiến tranh và hoà bình của L Tônxtôi hay Sông Đông êm đềm của M Sôlôkhôp đều xuất phát từ đề tài
Tổ quốc và nhân dân Và chính đề tài ấy đã góp phầm tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm Như chúng tôi đã trình bày ở trên do yêu cầu chính trị mà một số đối tượng đã trở thành đề tài trung tâm, đề tài thời sự Trong đó nổi bật nhất là hình tượng người lính trong chiến tranh và cuộc sống của người dân lao động Có thể thấy hàng loạt nhà văn, nhà thơ
đã tập trung vào khai thác hai mảng đề tài này như Nguyễn Minh Châu với Dấu chân người lính, Hữu Mai với Vùng trời, Hồ Phương với Biển gọi,…hoặc như Bão biển của Chu Văn, Tầm nhìn xa của Nguyễn Khải, Buổi sáng của Nguyễn Thị Ngọc Tú,… Điều đáng nói ở đây là cách khai thác, xử lý các đề tài của mỗi nhà văn trong những tác phẩm
cụ thể để có thể tạo nên những nét riêng, góp phầm tạo phong cách cho mỗi nhà văn Cũng như hầu hết các tác giả cùng thời, ngay từ những ngày đầu tiên bước vào sự nghiệp văn học, Đỗ Chu đã bị chi phối bởi những đề tài mang tính trung tâm, mang ý nghĩa thời sự, đó là người lính và cuộc sống của những con người miền quê mà ông luôn yêu quý Tất nhiên tác giả không hề lặp lại, không hề dẫm lên chân của những nhà văn khác, mà ông luôn có cách thức khai thác, xử lý riêng phù hợp, độc đáo Các đề tài được
sử dụng trong sáng tác của Đỗ Chu thường có giá trị như một ám ảnh nghệ thuật Để từ
đó nhà văn không ngừng say mê sáng tạo, cho ra mắt bạn đọc những hình ảnh đẹp đẽ, say đắm lòng người Để từ đó những hình tượng ấy cứ đi suốt dặm dài trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông, làm nên một Đỗ Chu riêng biệt đầy cá tính
Trang 38từ trái tim mách bảo, đã đưa nhà văn đến việc tiếp cận đề tài người lính, để rồi đề tài này trở thành sự ám ảnh trong toàn bộ sáng tác của ông Ở những tác phẩm đầu tay, cách nhìn người lính gần như còn mang tính gián tiếp, đó là cách nhìn của Tịch “híp” về đại uý Bài,
cái nhìn của Vinh “mốc” về thượng uý Ngoạn (Thung lũng cò) [10; 37] Cả hai đều là
những đứa trẻ, chúng nhìn người cha của mình bằng ánh mắt ngưỡng vọng và tự hào Bằng trí tưởng tượng ngây thơ và trong sáng, lũ trẻ đã tự dựng lên một huyền thoại về một người lính: Một vị chính uỷ bị giặc bao vây, dũng cảm một mình chiến đấu, bị thương, tự mình băng bó vết thương rồi trở về đơn vị tiếp tục chỉ huy, để lại nơi mình
chiến đấu và chiến thắng một vỏ lựu đạn để làm kỷ niêm [10; 45] Kể cả trong Hương cỏ mật, người lính vẫn được nhìn ở tư cách người cha Đó là những suy nghĩ, những tình
cảm của Tuân đối với Huy, một người lính từ chiến trường trở về với nỗi đau vợ bị giặc giết ngay trên mảnh đất của quê hương mình [10; 25]
Rời ghế nhà trường phổ thông, Đỗ Chu nhập ngũ vào binh chủng Phòng không - Không quân Bắt đầu từ đây các nhân vật trong truyện ngắn của ông là những người lính thực thụ Hình như đối với Đỗ Chu việc viết văn đồng nghĩa với việc kể chuyện về đồng đội, về những người cùng trang lứa, cùng nhiệm vụ với mình Người đọc bắt đầu được gặp những chàng lính trẻ trung, sôi nổi, nhiệt tình nhưng không hề thiếu sự trăn trở suy tư trong những trang viết của nhà văn Đó là một “chiến sỹ quân bưu” với câu chuyện về
“Lầm làng tôi” thật giản dị, trong sáng nhưng lại gợi nhắc trong lòng ta bao nỗi niềm day dứt [10; 52] Đó là Xuyên, là Dậu, là Giáp, những người lính cao xạ ở những cương vị, trách nhiệm khác nhau Người mới hy sinh, người bị thương chưa lành, người đang trực tiếp chiến đấu Và, dù là ai, ở cương vị nào, họ vẫn có một điểm chung là dũng cảm, linh
hoạt và tài trí trong chiến đấu (Một vùng phía bắc) [6; 8] Đó là những Thuyên, những Thứ, những Bá… trong Ghi chép trên một chặng đường [6; 68]… Ta còn gặp ở đó những
người lính Trường Sơn mà từng giờ, từng phút phải đối mặt với bom đạn của kẻ thù Đó
là Hàm một người lính trẻ, mới lần đầu lái xe vào miền Nam đã phải đụng đầu với máy
bay Mỹ giữa đèo Ông Phật, để rồi từ đó anh phải vượt qua biết bao những hiểm nguy,
phải trực tiếp chứng kiến sự hy sinh anh dũng của Chuyên, người con gái anh đã yêu say
đắm trong một mối tình thiêng liêng, dịu ngọt nơi tuyến lửa (Ráng đỏ) [7; 5] Đó là Liệu
Trang 39(Tiếng vang của rừng) [6; 45], là Bùng (Gió qua thung lũng) [7; 107], họ đều còn rất trẻ,
nhưng những việc làm, những hành động của họ thì đáng khâm phục biết bao Liệu đã xung phong lái xe lao qua cả bãi mìn nổ chậm để kích nổ những quả bom từ trường đang nằm mai phục đoàn xe Bùng cũng là một trong những người lính lái xe phải liên tục giáp mặt với tử thần: “Họ vừa ra khỏi trận địa vài trăm mét thì bị bọn địch phát hiện Chiếc OV10 phóng liền hai quả cối ở trước mặt Bùng dận ga cho xe vụt lên qua cụm khói trắng
đó Anh cảm thấy chiếc F4H như một mũi khoan đang nhắm vào gáy anh lao xuống, tiếng nó rú lên điên dại, ổ súng hai mươi ly khạc đạn ràn rạt nghe như bàn chân gấu cào bóc vỏ cây Đạn cắm thun thút xung quanh, đạn xuyên cả vào đầu xe, anh vẫn nắm chắc tay lái cho xe chạy lồng lên” [7; 151] Hình như tất cả họ đều đã rất quen với chiến tranh, bom đạn đã trở nên quá quen thuộc đối với cuộc đời người chiến sỹ: “Đất rung lên bần bật Căn hầm nghiêng ngả Một cây cột chống vì kèo bị đẵn gẫy, đất sụt lấp kín lối ra Trong hầm tối như bưng, (…) một trận bom nữa lại dội ầm ầm, núi như bỗng bị nhấc bổng lên rồi rơi xuống Đất sụt như mưa vào đầu hai người Lát sau ngẩng lên, một khoảng trống hiện ra trên nóc Diệu nhỏm dậy, rút một cây gỗ lát nóc hầm xuống cho lỗ hổng rộng thêm, rồi anh và Tiêu lần lượt chui ra Mấy ngọn núi đều ngập trong khói bom Dưới lòng khe, nơi ban sáng hai người xuống gánh nước, còn là một khoảng rừng rộn rã tiếng chim hót giờ đang bốc cháy, lửa bén lên những cây gỗ bị chết khô từ lâu, nổ lép bép” [9; 78]
Có một điều khá đặc biệt là trong truyện ngắn của Đỗ Chu, người đọc luôn bắt gặp hình ảnh những người lính thuộc các đơn vị pháo, họ xuất hiện ở đủ mọi cương vị: chỉ huy, liên lạc, thợ chữa pháo, anh nuôi, pháo thủ…Tất cả đều là những chàng trai mồm miệng mau mắn, khéo léo linh hoạt, hay đùa tếu ngay cả trong bom rơi, đạn nổ và chiến đấu luôn hết sức dũng cảm, thông minh và tài hoa Có thể kể ra hàng loạt các nhân vật
như Tuệ (Buổi tối ở Hàm Rồng), Trung, Liệu (Tiếng vang của rừng), Thuyên (Ghi chép trên một chặng đường), Đô (Trong tầm súng), Tiêu, Tuý (Khoảng xanh),…Rất có thể
điều này có liên quan mật thiết với lý lịch nhà văn Thực tế khi tham gia quân đội, Đỗ Chu đã được tuyển vào đơn vị pháo phòng không, trực tiếp công tác và chiến đấu trên các trận địa pháo trong những năm giặc Mỹ oanh tạc bắn phá miền Bắc Cả khi đã chuyển
Trang 40hẳn sang cơ quan Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ông cũng vẫn thường xuyên hoặc được cử
xuống, hoặc xung phong về các đơn vị để nắm bắt tình hình, để có tài liệu sáng tác Vì vậy, hình ảnh của những người lính pháo có vẻ ám ảnh nhiều trong những trang viết của nhà văn và tất nhiên ở phạm vi này ông đã thể hiện được vốn kiến thức quân sự mang tính chuyên biệt một cách khá sâu rộng mà không phải người nào cũng đều hiểu hết Khảo sát trên tổng thể văn bản truyện ngắn của Đỗ Chu, ta có thể nhận thấy trong gần
ba mươi năm đầu cầm bút, từ những sáng tác trước 1975 (Hương cỏ mật, Vòm trời quen thuộc, Gió qua thung lũng, Phù sa) cho đến những năm cuối của thập kỷ bảy mươi, thế
kỷ XX (Trung du, Nơi con đường gặp biển), Đỗ Chu luôn viết về hình tượng người lính
Kỳ thực trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả dân tộc Việt Nam đều ra trận Bởi vậy ở một phương diện nào đó, mỗi người dân Việt Nam đều có thể được xem là một người lính Từ người phụ nữ đang gặt, cấy trên đồng, đến anh công nhân đang đứng bên những giàn máy, khi có báo động kẻ thù sắp tới, họ liền tức khắc trở thành chiến sĩ Những cây liềm, cây hái, những chiếc búa, chiếc cưa, đã được thay thế bằng những khẩu súng trường, tiểu liên hoặc cả những khẩu mười hai ly bảy tung đạn vào kẻ thù Đỗ Chu đã viết về những con người này, song trong những trang truyện của mình, hình như ông vẫn ưu tiên hơn cho những người lính thứ thiệt, những người lính mặc quân phục, mang quân hàm, quân hiệu Họ được thể hiện một cách sinh động và hết sức đa dạng: trong chiến đấu, trong lao động, trong sinh hoạt,…Khi ở mặt trận, lúc ở quê nhà Trong thời bình, trong chiến tranh Cả ở hiện tại cả trong quá
khứ…Đó là Huy (Hương cỏ mật) từ mặt trận trở về, gặp con trai trên đường mà không
thể nhận ra, vợ bị giặc giết mà không hề hay biết Để rồi từ đó, anh một mình âm thầm chịu đưng, một mình lặng lẽ vừa công tác vừa nuôi con Đó là anh quân bưu “Thược tình
cảm” (Chiến sĩ quân bưu) luôn canh cánh trong lòng về những bức thư từ các phương trời gửi về cho các chiến sĩ Đó là Xuyên (Một vùng phía bắc), Nham (Phù sa),… Các anh
không chỉ một lần đến với cuộc đời người lính Đối với Xuyên “mấy năm sau ngày hoà bình lập lại, Xuyên trở về làng, cho đến khi đó anh mới bắt đầu cầm cái cày đi những luống cày đầu tiên trong đời Anh trở thành đội trưởng một đội sản xuất trong hợp tác xã Những ấn tượng cũ của đời lính ở anh tuy không phai mờ nhưng cũng bị thu hẹp lại