Y tế luôn là mảnh đất mà giới báo chí - truyền thông rất quan tâm nhất là vấn đề y đức, thái độ và phong cách phục vụ bệnh nhân… Có thể thấy, thời gian qua, những ý kiến phản ánh của ng
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
HOÀNG THỊ KHÁNH PHƯƠNG
BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG VỚI VẤN ĐỀ
“ĐỔI MỚI PHONG CÁCH THÁI ĐỘ PHỤC VỤ CỦA CÁN BỘ Y TẾ,
HƯỚNG TỚI SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH”
(Khảo sát trên Báo Sức khỏe & Đời sống, Báo Tuổi trẻ, Báo Dân trí
Trang 2LUẬN VĂN ĐÃ ĐƢỢC CHỈNH SỬA THEO Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Chủ tịch hội đồng khoa học
PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các Thầy, Cô giáo giảng dạy các bộ môn
đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành bày tỏ lòng biết sơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Văn Dững - người thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình về sự
hỗ trợ của họ cả về chuyên môn và tinh thần Trong quá trình thực hiện luận văn, với thời gian nghiên cứu hạn hẹp, chắc chắn không thể tránh được những hạn chế, sai sót, tôi rất mong sẽ tiếp tục nhận được sự hướng dẫn của các Thầy,
Cô giáo và góp ý của bạn bè, đồng nghiệp để luận văn chất lượng hơn
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Hoàng Thị Khánh Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Báo chí - Truyền thông với vấn đề “Đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế, hướng tới sự hài lòng của người bệnh” (Khảo sát trên Báo Sức khỏe & Đời sống, Báo Tuổi trẻ, Báo Dân trí hai năm từ 2015 - 2016) là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu thuộc công trình nghiên cứu trong luận văn này chưa được công bố trên bấy
kỳ phương tiện thông tin đại chúng hay tạp chí khoa học nào Ngoài ra, các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đã được trích dẫn đầy đủ tại phần tài liệu tham khảo, đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Khánh Phương
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Số lượng tác phẩm vấn đề đổi mới phong cách, thái độ phục
vụ của cán Bộ Y tế từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm
2017 Bảng 2.2 Số lượng tin, bài, ảnh về vấn đề đổi mới phong cách, thái độ
phục vụ của cán Bộ Y tế Bảng 2.3 Nguyên nhân dẫn tới sự không hài lòng ở người bệnh tại Bệnh
viện phụ sản TWBảng 2.4 Tỷ lệ tác phẩm tuyên truyền về chủ trương, chính sách về đổi
mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế Biểu đồ 2.1 Biểu thị bảng 2.1, ta có Biểu đồ tác phẩm như sau:
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ tin, bài ảnh viết về đổi mới phong cách, thái độ phục
vụ của cán Bộ Y tế Biểu đồ 2.3 Người dân đón nhận thông tin về y tế từ các kênh
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ tác phẩm tuyên truyền về chủ trương, chính sách đổi
mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận - thực tiễn vai trò báo chí-truyền thông với vấn đề “Ðổi mới phong cách thái ðộ phục vụ của cán Bộ Y tế, hướng tới sự hài lòng của người bệnh” 14
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 14
1.3 Cơ sở chính trị, pháp lý và đạo đức vấn đề đổi mới phong cách, thái độ phục vụ 36
Tiểu kết chương 1 52
Chương 2: Thực trạng báo chí - truyền thông với vấn đề đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế 53
2.1 Giới thiệu các đơn vị khảo sát 53
2.2 Thực trạng vai trò báo chí với cuộc vận động 59
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3: Một Số Giải Pháp Và Khuyến Nghị Khoa Học 84
3.1 Mấy vấn đề đặt ra trong cuộc vận động đổi mới phong cách, thái độ hướng tới hài lòng người dân 84
3.3 Những khuyến nghị đối với ngành y tế 98
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 125
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, ngành y tế đã có những bước tiến đáng ghi nhận trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Đặc biệt, đáng chú ý là sự đổi mới một cách khá toàn diện về mọi lĩnh vực Toàn ngành y tế đã nhận thức sâu sắc về việc cần thiết phải đổi mới như: Giảm quá tải bệnh viện tuyến trên; Đổi mới về trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ người bệnh tốt hơn; Đổi mới về chính sách và cơ chế tài chính; Đổi mới về quản lý, cải cách hành chính; Đổi mới kinh tế y tế; chính sách y tế; Đổi mới về bảo hiểm y tế…
Về cơ bản, ngành y đã thay đổi rõ rệt về chất lượng, trình độ chuyên môn cũng như trang thiết bị, các dịch vụ y tế Nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, với đặc thù là một ngành chăm sóc, điều trị nên các cán bộ nhân viên ngành y hàng ngày tiếp xúc với rất nhiều đối tượng bệnh nhân do đó cũng được coi là nguồn “nạy cảm” Do
đó trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống cũng như mạng xã hội thời gian qua, dịch vụ y tế vẫn là “điểm nóng” thu hút độc giả quan tâm
Y tế luôn là mảnh đất mà giới báo chí - truyền thông rất quan tâm nhất là vấn
đề y đức, thái độ và phong cách phục vụ bệnh nhân…
Có thể thấy, thời gian qua, những ý kiến phản ánh của người dân về phong cách, tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ nhân viên y tế dường như
đã giảm hơn so với 2 năm về trước Và trong thực tế, những phản ánh của người dân về thái độ ứng xử, phong cách phục vụ của cán Bộ Y tế vi phạm quy chế của ngành cũng đã được xử lý rất nghiêm khắc Kết quả này có được
là do đâu? Có phải là thành công bước đầu của việc toàn ngành y tế thực hiện cuộc vận động “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế, hướng tới sự hài lòng của người bệnh”?
Trang 8Chủ trương “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” thể hiện sự quyết tâm, là một trong những bước đột phá của lãnh đạo Bộ Y tế sau khi ngành triển khai một loạt các chính sách đồng bộ về đầu tư cơ sở hạ tầng, đổi mới cơ chế tài chính, bảo hiểm y tế toàn dân, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh thông qua Đề án giảm tải bệnh viện và Đề án Bệnh viện vệ tinh chuyển giao kỹ thuật cao cho bệnh viện tuyến dưới Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới của ngành y tế Trong đó, nội dung “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” gồm: (1) “Đến đón tiếp niềm nở, ở chăm sóc tận tình, về dặn dò chu đáo” lấy người bệnh làm trung tâm là tinh thần phục vụ của cán Bộ Y tế đã được lãnh đạo Bộ Y tế quán triệt đối với nhân viên y tế tại các bệnh viện trên toàn quốc để thực hiện Đây cũng là sự đòi hỏi của người bệnh và người nhà bệnh nhân (2) Thay đổi màu sắc trang phục các loại hình cán bộ trong cơ sở y tế để người dân dễ dàng nhận biết (3) Thành lập Bộ phận chăm sóc khách hàng đặt tại Khoa khám bệnh trực thuộc Phòng công tác xã hội với nhiệm vụ đón tiếp, hướng dẫn, chỉ dẫn người bệnh, gia đình người bệnh khi đến bệnh viện (4) Tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai “Đường dây nóng Bộ Y tế” (5) Thiết lập thêm kênh thu thập thông tin của người dân thông qua “hòm thư góp ý” (6) Triển khai đề án
“Tiếp sức người bệnh” do các thầy thuốc trẻ và sinh viên tình nguyện hướng dẫn, giúp đỡ người bệnh trong các bệnh viện (7) Ký cam kết thực hiện nội dung đổi mới phong cách phục vụ người bệnh của cán Bộ Y tế (8) Bộ Y tế,
Sở Y tế các tỉnh, thành phố và các đơn vị liên quan sẽ thực hiện giám sát việc triển khai các hoạt động, để kịp thời biểu dương khen thưởng những gương điển hình và xử lý những sai phạm nếu có
Theo PGS.TS.Vũ Bá Quyết cho rằng việc “Đổi mới phong cách, thái
độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” nhằm
Trang 9thay đổi nhận thức, thái độ, dẫn đến thay đổi hành vi, phong cách phục vụ người bệnh của cán Bộ Y tế, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử, nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người bệnh Việc thực hiện đầy đủ các nội dung Quyết định 2151 của Bộ Y tế sẽ tạo điều kiện tốt, thuận lợi cho người dân tiếp cận các dịch vụ y tế; xây dựng hình ảnh đẹp của người cán Bộ Y tế Việt Nam, các thầy thuốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương” Qua hai đợt kiểm tra đột xuất của Bộ Y tế, bệnh viện đã có những bước tiến bộ, chuyển biến rõ rệt trong thực hiện các nội dung của phong trào thi đua, đã đạt 88/100 điểm đợt II, được Bộ Y tế đánh giá hoàn thành tốt [trích bài phát biểu ngày 25/5/2016, Bệnh viện Phụ sản Trung ương
đã tổ chức tập huấn “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” trong chương trình kế hoạch của bệnh viện năm 2016 nhằm triển khai thực hiện Quyết định số 2151/QĐ-BYT ngày 04/6/2015 của Bộ Trưởng Bộ Y tế.]
Để thấy rõ hơn sự quan tâm, vào cuộc của báo chí - truyền thông đối với vấn đề đã được nêu trên tác giả lựa chọn đề tài: “Báo chí - Truyền thông
với vấn đề Báo chí - Truyền thông với vấn đề “Đổi mới phong cách thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh” (Khảo sát trên Báo Sức
khỏe & Đời sống, Báo Tuổi trẻ, Báo Dân trí hai năm từ 2015 - 2016) làm luận
văn thạc sĩ Báo chí học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Sách, giáo trình
- Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật Cuốn sách cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nói chung, truyền thông vận đọng xã hội và truyền thông đại chúng nói riêng, giúp sinh viên tạo lập kiến thức nền tảng và nâng cao kỹ năng về giao tiếp –
Trang 10truyền thông vận động xã hội trong hoạt động truyền thông và báo chí Nhìn chung, cuốn sách mang đến cho tác giả về những lý thuyết truyền thông Tuy không đề cập đến vấn đề truyền thông y tế nói riêng nhưng đây là tài liệu thiết lập cơ sở lý thuyết báo chí - truyền thông tham gia giải quyết các vấn đề kinh
tế - xã hội, giúp tác giả đặt nền móng đầu tiên trong nghiên cứu luận văn
- Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao Động Cuốn sách thiết lập cơ sở lý luận về báo chí, nhất là các nguyên tắc, chức năng xã hội trong tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, cung cấp thêm về cơ sở lý luận – thực tiễn báo chí – truyền thông hiện đại, nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận và ý thức tự giác về hoạt động nghệ nghiệp báo chí Cuốn sách giúp tác giả tiếp cận báo chí từ quan điểm hệ thống, đặt báo chí trong môi trường chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội và truyền thông; mặt khác, coi báo chí là những kênh, những loại hình truyền thông đại chúng, trong đó báo chí là trục chính và nó có vai trò trung tâm, vị trí nền tảng, chi phối cả về sức mạnh, khuynh hướng chính trị của hệ thống hay mạng lưới truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội nói chung – cách tiếp cận này, theo tác giả phù hợp với đề tài nghiên cứu luận văn
- Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao Động Cuốn sách chủ yếu thiết lập khung lý thuyết về mối quan hệ báo chí và
dư luận xã hội, xét trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn hoạt động Cuốn sách chỉ ra báo chí chính là phương tiện truyền tải các sự kiện, ý kiến, phán xét… của dư luận xã hội; báo chí vừa có thể phản ánh và biểu đạt dư luận xã hội, vừa có thể định hướng và điều hòa dư luận xã hội, mà sự định hướng này đối với dư luận xã hội lại có thể dẫn đến những luồng dư luận mới được sản sinh từ trong thực tế cuộc sống… Đây chính là một trong những định hướng được tác giả học hỏi và trích dẫn sử dụng trong khung lý thuyết ở chương 1
và hiện thực hóa ở chương 2 qua những phản ánh của Báo chí truyền thông
Trang 11với vấn đề “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới
sự hài lòng của người bệnh”
- Đỗ Quý Doãn (2014), quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam, NXB Thông tin và Truyền thông Cuốn sách đề cập đến sự phát triển của báo chí cũng đã bộc lộ một số khuyết điểm, yếu kém Đó là tình trạng báo chí nhiều nhưng không mạnh, việc thông tin sai sự thật, thiếu chính xác, giật gân, câu khách, một chiều chưa được khắc phục được hiệu quả, hoạt động báo chí vẫn còn gặp không ít khó khăn khi tiếp cận nguồn tin, việc thông tin vẫn chưa được thực thiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, công tác chỉ đạo… Cuốn sách này cũng cho rằng đây là một vấn đề mà tác giả luận văn quan tâm để có thêm một góc nhìn về vấn đề chỉ đạo của cơ quan báo chí
- truyền thông trong diện khảo sát về vấn đề “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
Sách “Quản lý Nhà nước và pháp luật về báo chí” - sách chuyên khảo
dành cho học viên ngành báo chí truyền thông (NXB Văn hóa - Thông tin,
2009) của PGS.TS Lê Thanh Bình, ThS Phí Thị Thanh Tâm, sách “Quản lý Nhà nước về thông tin và truyền thông” - sách chuyên khảo dành cho cán bộ,
viên chức, học viên, sinh viên của TS Lê Minh Toàn (chủ biên) (NXB Chính
trị Quốc gia, 2009), sách “Thông tin đối ngoại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (NXB Chính trị Hành chính, 2011) do tác giả Phạm Minh Sơn làm chủ biên; sách “Truyền thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay” (NXB Chính trị Hành chính, 2009) do tác giả
Phạm Minh Sơn và Nguyễn Thị Quế đồng chủ biên
Đỗ Thị Thu Hằng (2013), Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo (sách
chuyên khảo), Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội Những nội dung này giúp cho người nghiên cứu những kiến thức ở mảng tâm lý học báo chí, đồng thời nắm bắt sâu về tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng
Trang 12Nguyễn Trí Nhiệm và Nguyễn Thị Trường Giang đồng chủ biên
(2014), Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội Quyển sách hơn 300 trang này chứa đựng những nội dung nêu rõ kiến thức và kỹ năng căn bản của báo mạng điện tử, trong đó nhấn mạnh các đặc trưng cơ bản (khả năng đa phương tiện, tính tương tác…), quy trình sản xuất; hình ảnh, âm thanh, video trên báo mạng điện tử…
Vũ Thanh Vân (2014), Truyền thông quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội; là quyển sách chuyên khảo dành cho sinh viên chuyên ngành thông tin đối ngoại, đã cung cấp cái nhìn toàn cảnh về hiện trạng và đặc thù của ngành kinh doanh truyền thông trên thế giới hiện nay; xác định và làm rõ thách thức trong việc quản lý cơ quan báo chí truyền thông toàn cầu Tác giả đã dành hẳn một chương để trình bày những vấn đề cơ bản về tập đoàn truyền thông (khái niệm, con đường hình thành, các loại hình tập đoàn truyền thông)…
The Missouri Group (2007), Nhà báo hiện đại (News reporting and writing), Nhà xuất bản Trẻ (dịch) đã nêu bật những đặc trưng của báo chí hiện
đại và mang đến cho người nghiên cứu một cái nhìn khái quát về yêu cầu phải thay đổi trong hoạt động báo chí, tác nghiệp của nhà báo
- Cuốn “Hướng dẫn thực hiện giao tiếp ứng xử của cán Bộ Y tế” do
Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp Công đoàn ngành y tế Việt Nam và Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng, Bộ Y tế xuất bản năm 2015
2.2 Các văn bản chỉ đạo của Bộ Y tế
+ Các văn bản về Luật cán bộ công chức;
+ Quy tắc ứng xử, giao tiếp đối với bệnh nhân và người nhà bênh nhân; + 12 điều y đức;
Trang 13+ Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 2151/QĐ-BYT ngày 04/6/2015 của Bộ Trưởng Bộ Y tế “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về báo chí - truyền thông thamgia giải quyết vấn đề đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ nhân viên ngành Y Cụ thể là các vấn đề lý luận, lý thuyết về báo chí - truyền thông, đặc biệt về vai trò của báo chí - truyền thông trong tham gia giải quyết vấn đề
“Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
- Khảo sát thực trạng vai trò của báo chí - truyền thông trong trong quá trình tham gia thúc đẩy sự lan tỏa của một chủ trương lớn “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”, qua nghiên cứu một số trướng hợp trên Sức khỏe & Đời sống; báo Tuổi trẻ và báo Điện tử Dân trí
Trang 14- Từ khảo sát thực trạng (qua nghiên cứu một số trường hợp) phân tích các vấn đề thực tiễn và tìm kiếm các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của báo chí - truyền thông trong chiến dịch đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là vai trò báo chí - truyền thông trong tham gia thúc đẩy vấn đề “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đây là vấn đề trọng tâm của cuộc vận động toàn ngành, được chuyển tải và thể hiện trên các loại hình báo chí - truyền thông trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, do điều kiện và khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ nghiên cứu qua một số trường hợp ở 3 tờ báo in và báo điện tử, báo trong ngành và ngoài ngành y tế là báo Sức khỏe & Đời sống (báo của ngành Y tế); báo Tuổi trẻ, báo Dân trí (là hai tờ báo ngoài ngành Y tế) trong 2 năm: 2015 - 2016
5 Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn hệ thống hóa các các vấn đề lý luận của báo chí - truyền thông và vai trò của báo chí truyền thông đối với vấn đề “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
- Luận văn chỉ ra thực trạng, vai trò của báo chí trong việc khảo sát báo Sức khỏe & Đời sống, Báo Tuổi trẻ, Báo Dân trí
- Luận văn chỉ ra thực trạng và đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của báo chí trong vấn đề đổi mới phong cách thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu vấn đề này dựa trên các cơ sở lý luận sau đây
Trang 15- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề y tế, các văn bản chỉ đạo của Bộ Y tế nhất là về y đức Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về y đức “thầy thuốc như mẹ hiền”
- Dựa trên cơ sở lý luận báo chí - truyền thông về vai trò của báo chí trong tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, được thể hiện trong
chuyên đề “Những vấn đề lý luận và thực tiễn báo chí - truyền thông” Bài
giảng của PGS,TS Nguyễn Văn Dững tại các lớp Cao học ngành báo chí trong đó có lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự Từ cơ sở đó, luận văn chủ yếu dựa vào các lý thuyết sau đây:
Thứ nhất, lý thuyết truyền thông “can thiệp xã hội”: Theo PGS.TS
Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền; năm 2013 trong Cơ
sở lý luận báo chí), trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thông tin – giao tiếp của công chúng xã hội, truyền thông thể hiện phương tiện và phương thức kết nối xã hội, từ đó tạo lập sức mạnh xã hội để can thiệp xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra Từ lý thuyết can thiệp xã hội của truyền thông, có thể hiểu về sự can thiệp xã hội của báo chí như sau: báo chí cung cấp thông tin, kiến thức và tạo diễn đàn công chúng - xã hội chia sẻ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm theo nhu cầu thực tế và về các sự kiện và vấn
đề thời sự đang đặt ra; trên cơ sở ấy, giúp công chúng xã hội mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức; từ đó, báo chí - truyền thông góp phần làm thay đổi, điều chỉnh thái độ và hành vi xã hội của công chúng và cộng đồng xã hội nói chung theo hướng mục đích truyền thông; mà ở đây là hướng tới thay đối phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên ngành Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh
Thứ hai, lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” (Agenda
Setting Theory) Đây là lý thuyết do Maxwell Mccombs và Donald Shaw (Mỹ) đề xướng năm 1972, trong đó mô tả khả năng ảnh hưởng của giới
Trang 16truyền thông đối với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông Trong xã hội, nếu một tin tức nào đó được nhắc tới thường xuyên, liên tục và nổi bật, công chúng sẽ nhớ tới và coi nó quan trọng hơn những thông tin khác
Do vậy, chức năng “thiết lập chương trình nghị sự” là một giả thiết quan trọng trong các lý thuyết truyền thông Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí - truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những “chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng bằng cách phú cho các
“chương trình” nét nổi bật khác nhau, từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn đường trong tương lai Vận dụng lý thuyết này, chúng tôi coi chiến dịch đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của ngành Y tế là trọng tâm của “chương trình nghị sự” truyền thông đại chúng đối với ngành Y trong vài năm trở lại đây
Thứ ba, lý thuyết “đóng khung” Lý thuyết này do Erving Goffman
(người Mỹ gốc Canada) đưa ra năm 1974 Trong đó, đối với báo chí – truyền thông, quá trình đóng khung chủ yếu liên quan tới việc lựa chọn và làm nổi bật thông tin về sự kiện và vấn đề thời sự Đóng khung có nghĩa là lựa chọn một số khía cạnh trong cách hiểu về hiện thực, rồi làm cho nó nổi bật lên trên văn bản truyền thông bằng cách nhấn mạnh vào một cách đặt vấn đề, một cách lý giải, một cách đánh giá đạo đức, hoặc/và một cách xử lý nào đó Tương thích với lý thuyết này, chúng tôi đặt trọng tâm trong tầm quan sát của ngành Y khi làm việc với truyền thông đại chúng là chiến dịch đổi mới phong cách,thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh
- Dựa trên lý thuyết quan hệ công chúng, về thiết lập, củng cố và phát triển các mối quan hệ với giới truyền thông, trên cơ sở làm tốt quan hệ công chúng nội
bộ để phát triển các quan hệ với bên ngoài, nhất là với giới truyền thông
Trang 176.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến
đề tài nhằm hệ thống hoá lý thuyết về báo chí, báo chí truyền thông, dư luận xã hội, xây dựng các luận chứng khoa học để làm khung lý thuyết cho luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu được dùng để phỏng vấn các nhóm đối
tượng như: một số lãnh đạo báo cơ quan báo chí, một số chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông đối với vai trò của báo chí – truyền thông trong việc đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh, Phỏng vấn một số nhà quản lý, lãnh đạo Bộ Y tế… Phương pháp phỏng vấn sâu thực hiện chủ yếu ở các nhóm đối tượng như, nhóm cán bộ quản lý các
cơ sở y tế (5 người), nhóm cán bộ quản lý Bộ Y tế; nhóm bệnh nhân với tư cách khách hàng phục vụ (5 người), nhóm phóng viên theo dõi y tế (5 người), nhóm lãnh đạo các cơ quan báo chí (5 người) Các câu hỏi đều tập trung chủ đề về vai trò báo chí-truyền thông trong cuộc vận động đổi mới phong cách, thái độ phục
vụ của ngành y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh
- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Thảo luận nhóm nhỏ ngoài hội
thảo “Báo chí - truyền thông với vấn đề đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng người bệnh” nhằm đưa ra những ý kiến cụ thể
về vấn đề báo chí - truyền thông đăng tải thông tin về vấn đề nghiên cứu như thế nào Phương pháp này được thực hiện ở các tòa soạn báo chí chọn nghiên cứu, nhóm cán Bộ Y tế
- Phương pháp trưng cầu ý kiến - phỏng vấn anket dùng để trưng cầu
ý kiến của 200 cộng tác viên, thông tin viên, 200 phiếu hỏi cho bệnh nhân ở một số cơ sở y tế Trên cơ sở kết quả khảo sát thực tế, hình thành hệ dữ liệu
để phân tích và rút ra các vấn đề thực tế Với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, đối với 200 phiếu hỏi cho các cộng tác viên, chúng tôi phát
Trang 18ngẫu nhiên trong một số bệnh viện TW và tuyến tỉnh, tuyến huyện khu vực phía Bắc; tương ứng, 200 phiếu hỏi cho các bệnh nhân cũng được lựa chọn theo đó
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
7.2 Giá trị thực tiễn
Công trình là tài liệu tham khảo cho những người làm báo chí truyền thông nói chung và môn muốn là tài liệu cần thiết cho những người làm việc trong lĩnh vực quản lý nhà nước về truyền thông y tế nói riêng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm có 3 chương, 7 tiết, 89 trang Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của báo chí - truyền thông với “Đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh” Chương này chủ yếu hình thành khung lý thuyết cho vấn đề
nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng báo chí - truyền thông trong việc “Đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”, chủ yếu khảo sát và phân tích thực trạng vai trò báo chí – truyền thông
trong đối mới phong cách, thái độ phục vụ của ngành Y tế
Trang 19Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
của báo chí - truyền thông trong việc “Đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VAI TRÒ BÁO CHÍ-TRUYỀN THÔNG
CÁN BỘ Y TẾ, HƯỚNG TỚI SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH”
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1 Báo chí
Báo chí Việt Nam tuy mới phát triển trên hơn 1 thế kỉ nhưng thực sự đã
có nhiều thành tựu, với những chặng đường lịch sử đáng ghi nhớ Khoảng thời gian giữa 2 cuộc Thế chiến từ 1918-1939 là thời kì phát triển khá thịnh vượng đầu tiên của báo chí Việt Nam Thời kì trước Cách mạng tháng Tám, báo chí phát triển với nhiều khuynh hướng khá phức tạp Có khuynh hướng tiến bộ đấu tranh cho công bằng và sự phát triển của xã hội; có khuynh hướng cải lương, thỏa hiệp, xoa dịu mâu thuẫn xã hội; và cũng có khuynh hướng nô dịch làm công cụ phát ngôn cho chế độ thực dân thống trị [10, tr 211]
Hiện nay, có khá nhiều quan niệm về báo chí Tuy nhiên, để có một khái niệm báo chí rõ ràng, thống nhất, kể cả trong các sách cơ sở lý luận báo chí nước
ta cũng chưa thấy đề cập Có thể liệt kê một số quan niệm về báo chí:
Nhà báo Hữu Thọ nêu trong tập tài liệu môn báo chí học (dành cho các khóa đào tạo cao học báo chí), tập II: “Báo chí được định nghĩa là một ấn phẩm xuất bản, phát hành định kỳ ” [39]
GS, TS Tạ Ngọc Tấn viết trong cuốn Cơ sở Lý luận báo chí: “Báo chí
là hiện tượng đa nghĩa, gắn bó chặt chẽ với các thành tố của kiến trúc thượng tầng, là loại hình hoạt động nghề nghiệp sáng tạo với tính chất chính trị, xã hội rõ ràng Hoạt động báo chí bao hàm trong đó sự vận động phức tạp của
Trang 21một loại nghề nghiệp, quan hệ với nhau bằng quy luật vận động nội tại của cả
hệ thống và bằng hiệu quả xã hội có tính mục đích ”.[35, tr.8]
Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí - truyền thông (Dương Xuân Sơn -
Đinh Văn Hường - Trần Quang) thì đưa ra định nghĩa: “Báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị- xã hội Báo chí luôn năng động trong việc phản ánh hiện thực đa dạng, sinh động và luôn vận động phát triển Thông tin trong báo chí là một quá trình liên tục, xuyên suốt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cuộc sống - Nhà báo -Tác phẩm - Công chúng”.[30, tr.5]
Còn theo Luật Báo chí sửa đổi bổ sung năm 1999: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng,
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân” [20,tr.4] Nghị
quyết Trung ương 5 (Khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu
cầu đổi mới, nhấn mạnh hơn: “Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của
tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí” [20]
Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến, tác động, chi phối đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội Nhưng cho đến nay, chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm này, và cũng chưa có sự phân định rõ báo chí và thông tin báo chí có những đặc điểm cơ bản nào để có thể nhận diện rõ hơn về bản chất và cơ chế hoạt động
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, qua khảo cứu, phân tích khái niệm
báo chí của nhiều tác giả đã dẫn tới kết luận bản chất của báo chí: “Báo chí là hoạt động thông tin giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là phương tiện và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là phương tiện và phương
Trang 22thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế” [10, tr61]
Báo chí trong trường hợp này được dùng, được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử (“phát hành” trên mạng internet) và hãng thông tấn Báo chí theo nghĩa hẹp, là bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự
Khái niệm báo chí tiếp cận từ quan điểm hệ thống, khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống; nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung; trong đó, báo chí là một bộ phận cấu thành
và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống (hoặc hệ thống con)
Không thể tách rời báo chí khỏi môi trường truyền thông số Hiện nay, trong tình hình phát triển như vũ bão của công nghệ, còn xuất hiện một loại báo chí gọi là báo chí công dân Chính môi trường này đã tạo cho báo chí một siêu kết nối mới (báo chí công dân, mạng xã hội) Từ đây, nó tạo thành một sức mạnh mới trong làng báo chí
1.1.1.2 Truyền thông
Nói đến truyền thông là nói đến sự tương tác, kết nối, bình đẳng nhằm thuyết phục công chúng Sức mạnh của báo chí – truyền thông là kết nối, và kết nối tạo ra sức mạnh Nó góp phần tạo ra và hình thành những giá trị và sức mạnh xã hội, góp phần khơi nguồn sức mạnh xã hội khi báo chí kết nối với truyền thông sẽ tạo ra những siêu sức mạnh để khơi nguồn dự luận xã hội, điều chỉnh, định hướng xã hội
Có thể hiểu thêm, truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin,
tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều
Trang 23người với nhau, nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển
Theo TS Trần Hữu Quang trong Xã hội học báo chí thì truyền thông là một quá trình truyền đạt thông tin Truyền thông là một dạng hoạt động căn bản của bất kỳ một tổ chức nào mang tính chất xã hội
Theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn sách Cơ sở lý luận báo
chí cũng đưa ra khái niệm về truyền thông như sau: “Truyền thông là quá trình trao đổi liên tục thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững.”[10,tr15]
Như vậy có thể khẳng định báo chí - truyền thông không chỉ là vũ khí tư tưởng sắc bén của Ðảng và Nhà nước, là cầu nối giữa Ðảng, Nhà nước với nhân dân, mà còn là thiết chế kiến tạo xã hội, là phương tiện quan trọng phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng Ðảng và hệ thống chính trị, là diễn đàn để nhân dân tham gia quản lý xã hội, giám sát quyền lực, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trong môi trường truyền thông số, báo chí kết nối trên đa nền tảng, kết nối với truyền thông và mạng xã hội tạo nên khái niệm kép báo chí – truyền thông
1.1.1.3 Phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế
Để làm rõ khái niệm về phong cách phục vụ của cán Bộ Y tế, trước hết cần làm rõ khái niệm về phong cách
+ Phong cách
Để hiểu rõ về phong cách tác giả Nguyễn Bùi Khiêm đã chia phong cách dưới sáu nhóm lớn cùng với những nhận xét từ Henry David Thoreau, một
Trang 24stylist giàu tính nghệ thuật, người đã bày tỏ sự thờ ơ đối với phong cách, và kết thúc với hai trích dẫn từ tiểu thuyết gia Vladimir Nabokov, người đã khẳng định rằng phong cách là tất cả những vấn đề, như sau:
Một là, Phong cách là thực hành
“Mọi người nghĩ rằng tôi có thể dạy cho họ phong cách gì các công cụ tất cả là có một cái gì đó để nói, và nói rằng nó rõ ràng như bạn có thể Đó là
bí mật duy nhất của phong cách.” (Matthew Arnold)
Hai là, Phong cách là hình thức của nội dung
“Phong cách ăn mặc của những suy nghĩ, và để cho họ có bao giờ nên chỉ, nếu phong cách của bạn giản dị, thô, và thô tục, họ sẽ xuất hiện là bất lợi nhiều” (Philip Dormer Stanhope, Earl của Chesterfield)
“Phong cách của một người đàn ông nên giống như trang phục của mình nên càng không phô trương và nên thu hút được sự quan tâm ít nhất có thể” (CEM Joad)
Ba là, Phong cách là con người
“Phong cách là chính con người” (George-Louis Leclerc de Buffon)
“Câu nói cũ của phong cách của Buffon đó là chính con người thật gần
sự thật như chúng tôi có thể nhận được, nhưng sau đó hầu hết những người đàn ông sai lầm ngữ pháp cho phong cách, vì họ nhầm lẫn đúng chính tả các
từ hoặc học cho giáo dục”(Samuel Butler)
“Khi chúng tôi nhìn thấy một phong cách tự nhiên, chúng tôi ngạc nhiên
và vui mừng, vì chúng ta mong đợi để xem một tác giả, và chúng tôi tìm thấy một người đàn ông.” (Blaise Pascal)
“Phong cách là dấu hiệu của một tính khí đã được định hình, như dấu vân tay của mỗi người vậy” (Andre Maurois)
“Bản chất của một phong cách âm thanh là nó không thể được giảm đến quy tắc rằng đó là điều sống và thở với một cái gì đó của devilish trong đó -
Trang 25rằng nó phù hợp với chủ sở hữu của nó chặt chẽ chưa bao giờ nên lỏng lẻo, như da của ông phù hợp với mình Đó là, trong thực tế, khá là nghiêm trọng một phần không thể tách rời của anh ta như da Nói tóm lại, một phong cách luôn luôn là biểu tượng bên ngoài và có thể nhìn thấy một người đàn ông, và không thể có bất cứ điều gì khác” ( HL Mencken )
“Bạn tôi không tạo ra một phong cách làm việc, và phát triển bản thân, phong cách của bạn là một hóa thân từ bản thể riêng của bạn” ( Katherine
Anne Porter)
Bốn là, Phong cách là quan điểm (Point of View)
“Phong cách là sự hoàn hảo của một quan điểm” (Richard Eberhart)
“Ở đâu có là không có phong cách, có hiệu lực không có quan điểm, về
cơ bản, không giận dữ, không có tiền án, không có tự ngã Style là ý kiến, treo giặt, tầm cỡ của một viên đạn, hạt mọc răng” (lexander Theroux)
“Phong cách là mà chỉ ra làm thế nào nhà văn có bản thân mình và những gì chàng nói là tâm trượt băng vòng tròn xung quanh chính nó như là
nó di chuyển về phía trước” (Robert Frost)
Năm là, Phong cách là kỹ năng thực hành
“Điều quan trọng là cách chúng ta nói nó nghệ thuật là tất cả về nghề thủ công Khác có thể giải thích nghề thủ công như phong cách nếu họ muốn (US) là những gì liên kết bộ nhớ hoặc hồi ức, tư tưởng, tình cảm, nỗi nhớ, điê m, cách chúng tôi thể hiện tất cả những điều đó Đó không phải là những
gì chúng tôi nói nhưng làm thế nào chúng ta nói nó có vấn đề.” (Federico
Fellini)
“Từ thích hợp ở những nơi thích hợp, làm cho các định nghĩa thật sự của phong cách” ( Jonathan Swift)
“Web, sau đó, hoặc mô hình, một trang web ở kết cấu một lần gợi cảm
và hợp lý, thanh lịch và mang thai: đó là phong cách” Robert Louis Stevenson
Trang 26“Điều bền nhất bằng văn bản là phong cách, và phong cách là đầu tư có giá trị nhất là một nhà văn có thể làm với thời gian của mình Nó trả tiền chậm, đại lý của bạn sẽ thường lĩnh, nhà xuất bản của bạn sẽ hiểu lầm nó, và nó sẽ mất người bạn có bao giờ nghe nói để thuyết phục họ độ chậm rằng nhà văn người đặt dấu ấn cá nhân của mình trên con đường ông viết luôn luôn sẽ trả hết” (Raymond Chandler)
“Phong cách của tác giả là hình ảnh của tâm trí của mình, nhưng sự lựa chọn và lệnh của ngôn ngữ là kết quả của tập thể dục.” (Edward Gibbon)
“Một đến phong cách chỉ với nỗ lực tàn bạo, với bướng bỉnh cuồng tín
và tận tâm.” (Gustave Flaubert)
Sáu là, Phong cách là bản chất của vấn đề
“Đối với tôi phong cách bên ngoài của nội dung, và nội dung bên trong của phong cách, giống như bên ngoài và bên trong của cơ thể con người Cả hai đi cùng nhau, họ không thể tách rời” (Jean-Luc Godard)
“Suy nghĩ và lời nói là không thể tách rời nhau Vật chất và biểu hiện là một phần của một phong cách là một suy nghĩ sang ngôn ngữ” (Đức Hồng Y
John Henry Newman)
“Trong các vấn đề có tầm quan trọng nghiêm trọng, phong cách, chứ không phải chân thành, là điều quan trọng” (Oscar Wilde)
“Style, theo nghĩa tốt nhất của nó, là tiếp thu cuối cùng của tâm giáo dục, nó cũng là hữu ích nhất tràn ngập khắp toàn thân” (Alfred North
Whitehead)
“Phong cách không phải là một cái gì đó áp dụng một cái gì đó đang dâng trào Đó là bản chất của nó được tìm thấy, cho dù bài thơ, theo cách của một vị thần, chịu lực của một người đàn ông Không phải là một chiếc váy”
(Wallace Stevens)
Trang 27“Phong cách và cấu trúc là bản chất của một cuốn sách, những ý tưởng tuyệt vời là hogwash ”; “Tất cả các câu chuyện của tôi là súc của phong cách
và không ai có vẻ blush đầu tiên có chứa nhiều vấn đề động học (Vladimir Nabokov)
Như vậy, theo tác giả: “phong cách là chỉ dáng điệu bên ngoài của con người Hiện nay các quan niệm chủ yếu đề cập tới phong cách với nghĩa phong cách là cách thức riêng thể hiện riêng, phong cách bao gồm phong độ, phẩm cách của con người (Dáng vẻ, sắc thái bề ngoài; cách ứng xử, giao tiếp, sinh hoạt thể hiện những phẩm chất về tư tưởng, tình cảm, nội tâm bên trong của con người) Phong cách luôn là cái riêng, độc đáo (lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ, phẩm cách…) có tính hệ thống, trở thành nề nếp
ổn định của một người hoặc một lớp người được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, ứng xử, diễn đạt (nói và viết) tạo nên những giá trị, những nét riêng biệt của chủ thể đó.”
- Đạo đức, phong cách của thầy thuốc và cán Bộ Y tế
Tiếp cận khái niệm về đạo đức, phong cách của thầy thuốc căn bản ở nhiều định nghĩa, nhiều quan niệm có sự tương đồng nhất định, đều chỉ sự y đức, phong cách tận tâm, tận tình chu đáo trong công việc
Từ hàng ngàn năm trước Công nguyên, lúc xã hội còn phụ thuộc vào thần quyền, tôn giáo, cả dưới các chế độ nô lệ, phong kiến và tư bản, loài người từ Đông sang Tây đã nêu cao vấn đề y đức Những lời thơ dân gian, những đạo luật, những điều thuyết giảng trong tôn giáo, những phần thưởng
và hình phạt, những điều răn trong triết học và những lời thề của thầy thuốc, những lời dạy của các bậc danh y, những tiêu chuẩn, quy chế và luật pháp về
y đức trong hành nghề y, dược… đã được sử dụng trong các thời đại khác nhau để giáo dục và bảo đảm giữ gìn đạo đức người thầy thuốc
Trang 28Hippocrates, Ông tổ nghề Y, 377 năm trước Công nguyên đã nêu lên những nội dung cụ thể về y đức trong lời thề mà đến nay từ thầy giáo đến các học sinh trường y, từ bác sĩ đến các nhân viên điều dưỡng, hộ lý đều ghi nhớ:
- “Tôi sẽ cho chế độ ăn uống có lợi cho bệnh nhân phù hợp với bệnh trạng, thể theo quyền hạn và suy xét của tôi, tôi sẽ không cho thuốc giết người, nếu có ai yêu cầu và cũng không khởi xướng một gợi ý như vậy”
- “Tới nhà ai, tôi cũng chỉ vì quyền lợi của bệnh nhân, sẽ tránh tất cả mọi hành động đồi bại và nhất là những cử chỉ lả lơi trên thân thể nữ giới cũng như nam giới, bất kể người đó là người tự do hay nô lệ”
- “Những điểm liên quan đến đời sống của người khác, đáng phải bảo mật, mà trong phạm vi hay ngoài phạm vi nghề nghiệp, tôi nhìn thấy hay nghe thấy, tôi sẽ không bao giờ thổ lộ”
Ở Việt Nam hơn 200 năm trước đây các bậc danh y như Tuệ Tĩnh, Hải
Thượng Lãn Ông đã có những di huấn về y đức quý báu Ông nói “Suy nghĩ sâu
xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc là người bảo vệ tính mạng con người: Sống chết trong tay mình nắm, phúc họa trong một tay mình giữ Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tâm hồn không rộng lớn, hành vi không thận trọng mà dám liều lĩnh học đòi cái nghề cao quý đó chăng!”
Ngoài tiếp cận dưới góc độ xưa, trong luận văn này, tác giả còn tiếp cận gần hơn về đạo đức, phong cách của thầy thuốc và cán Bộ Y tế với quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngành y tế cũng như các thầy thuốc Việt Nam phải chú trọng kết hợp Đông, Tây y và hết lòng yêu thương, chăm sóc người bệnh Ngay từ những năm đầu sau khi nước ta giành được độc lập, trong Thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
Trang 29rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu” Khi gặp “một số anh em quân nhân không được trấn tĩnh, người thầy thuốc “nên lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động cảm hóa họ Người ta có câu “Lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”(1) Nhiệm vụ của ngành y tế và phẩm chất của người thầy thuốc được Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết trong thư gửi Hội nghị Cán Bộ Y tế toàn quốc, tháng
6-1953 Người cho rằng: Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy, cán Bộ Y tế cần phải thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân Người nhấn mạnh: “Lương y phải kiêm từ mẫu”(2) Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đối với đội ngũ thầy thuốc,
về chuyên môn, cần thường xuyên “học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ”;
về chính trị, cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ như “yêu nước, yêu dân, yêu nghề… thi đua học tập, thi đua công tác”(3) Tại Hội nghị Cán Bộ Y tế ngày 27-2-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư “góp vài ý kiến” để các đại biểu thảo luận Bức thư này thể hiện một cách khá toàn diện và hệ thống tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về y tế Vấn
đề y đức, một lần nữa, tiếp tục được Người nhấn mạnh, cán Bộ Y tế phải thương yêu người bệnh, bởi, “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các
cô các chú (cán Bộ Y tế - người trích) Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào Đó là một nhiệm vụ rất
vẻ vang” “Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh
em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn”(4) Điểm cốt lõi trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề y đức là người thầy thuốc phải như một mẹ hiền Nghĩa là các thầy thuốc phải có lương tâm và nghĩa vụ cao cả như của người mẹ hiền đối với bệnh nhân Có lương tâm với
Trang 30người bệnh là cơ sở để hình thành những đức tính cần thiết của người thầy thuốc
Từ những quan lời dạy của người xưa và quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể rút ra nhận xét sau: Đạo đức, phong cách của thầy thuốc và
cán Bộ Y tế cần: “1- Thầy thuốc phải chăm chỉ, nhiệt tình lao động, luôn sẵn sàng, chủ động trong công việc của mình; 2- Thầy thuốc phải thận trọng, cảnh giác trước các trường hợp coi là bệnh nhẹ, bình thường, giản đơn; 3- Thầy thuốc phải luôn giữ gìn phẩm giá, danh dự nghề nghiệp của mình; 4- Thầy thuốc phải là người có tính sáng tạo trong nghề nghiệp…”
1.1.1.4 Thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế
+ Thái độ
Thái độ là một phạm trù tâm lý học tương đối phức tạp Từ khi khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên từ năm 1918, cùng với nhiều nhiên cứu khác nhau về thái độ, thì đồng thời cũng xuất hiện những định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái độ Mỗi định nghĩa lại bàn tới một khía cạnh của thái độ, góp phần làm phong phú thêm cách hiểu về phạm trù này
Trong từ điển tiếng Việt, thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đỏ trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó” Trong từ điển Anh-Việt, từ “thái độ” trong tiếng Anh là “Attitude” và được định nghĩa
là “cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân, là tư thế điệu bộ, dáng dấp”
Còn trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New York năm 1996 thì lại cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ốn định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng
ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất
Trang 31quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng
có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”
Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là cách ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội” Nó được cấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ ngữ khi định nghĩa về thái độ là khác nhau
Nói tóm lại có thể nói rằng thái độ là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượng theo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể
Thái độ là một phạm trù rộng lớn và có ý nghĩa trong xã hội đối với tất
cả mọi người Trong cuộc sống xã hội hiện đại, dù đảm đương ờ những công việc khác nhau, những vị trí khác nhau thì ai cũng phải để ý đến thái độ của bản thân và của người khác: thái độ sống của bạn như thế nào, thái độ làm việc ra sao, những quan điểm và thái độ của bạn đối với các vấn đề xã hội, thái độ giữa người với người, giữa con cái và cha mẹ, giữa bạn bè và đồng nghiệp Thái độ điều khiển hành vi, và người khác sẽ đánh giá giá trị của một con người qua hành vi của người đó
Thái độ được hình thành qua quá trình sống và phát triển của con người Sống trong môi trường xã hội,con người tiếp thu những kiến thức, quan niệm, giá trị tống hợp và được điều chỉnh qua các mối quan hệ giữa người với người để hình thành nên hệ ý thức và thái độ của con người đối với thế giới quan
+ Thái độ phục vụ
Trang 32Thái độ có tầm ảnh hưởng khác nhau trên mọi phương diện của đời sống nói chung Xét trên phương diện phát triển kinh doanh và quản lý doanh nghiệp thì “thái độ” là một tiêu chí đánh giá quan trọng Các mối quan hệ đặc trưng trong doanh nghiệp là: mối quan hệ giữa cáp trên và cấp dưới, mối quan
hệ giữa các đồng nghiệp với nhau, mối quan hệ đội nhóm và đặc biệt là mối quan hệ nhân viên với khách hàng Mối quan hệ này được khách hàng đánh giá qua phong cách và thái độ của nhân viên đối với khách hàng gọi là thái độ phục vụ
Thái độ phục vụ là một hành vi giao tiếp mà người phục vụ sử dụng để giao tiếp với khách hàng của mình thông qua một công việc cụ thê Người đánh giá hành vi giao tiếp này là khách hàng nhưng chủ thể điều chỉnh hành
vi là người nhân viên, người phục vụ Bởi vì thái độ phục vụ là hành vi xuất phát trực tiếp từ người phục vụ, hành vi đó tác động lên ý thức, cảm nhận và
sự hài lòng của khách hàng để đưa đến các quyết định sau này
+ Thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế
Thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế biểu hiện sự nhận thức của mỗi cán
Bộ Y tế về người bệnh khác nhau và kết quả là hành vi ứng sử với người bệnh khác nhau Thái độ luôn có hai mặt đối lập tốt và xấu, tích cực và tiêu cực, tôn trọng và kì thị, nhiệt tình và thờ ơ Thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế phản ánh cán bộ đó cảm thấy như thế nào về bệnh nhân Mọi hành vi đối xử, chăm sóc cho bệnh nhân, gồm 3 thành phần của thái độ: Thành phần nhận thức bao gồm ý kiến hoặc niềm tin về thái độ Ví dụ mọi cán Bộ Y tế đều tin rằng “phân biệt đối xử là hành động sai trái” Tôi cũng đồng ý với ý kiến này
và điều đó thể hiện nhận thức về thái độ Thành phần ảnh hưởng là cảm nhận hay cảm xúc của thái độ
Thành phần hành vi là chủ ý cư xử theo một cách nào đó với một người hay một việc gì đó Ví dụ: khi gặp một người hành khách có người
Trang 33thương cho tiền, có người không cho Khi thay băng cho một người bệnh bị thương, nhiều cán Bộ Y tế đồng cảm nhẹ nhàng hỏi bệnh nhân còn đau nhiều không nhưng cũng có cán Bộ Y tế chưa có sự đồng cảm cần thiết Ví dụ trên cho thấy thái độ của cán Bộ Y tế ảnh hưởng tới hành vi chuyên môn và phương thức ứng xử với người bệnh
1.1.1.5 Quan niệm về sự hài lòng
+ Sự hài lòng: Nói đến cuộc sống là nói đến các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng cũng như
có khá nhiều tranh luận về định nghĩa này Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự hài lòng là sự khác biệt giữa kì vọng của khách hàng và cảm nhận thực tế nhận được Theo Fornell (1995) sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực
tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó
Hoyer và MacInnis (2001) cho rằng sự hài lòng có thể gắn liền với cảm giác chấp nhận, hạnh phúc, giúp đỡ, phấn khích, vui sướng
Sự hài lòng là thước đo của mối quan hệ hài hòa, vui vẻ Nhưng sự hài lòng đối với người bệnh (khách hàng) có những đặc thù khác với các quan hệ nói trên Chúng ta biết, đằng sau người bệnh là gia đình của bệnh nhân Họ luôn theo sát thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế đối với bệnh nhân - đối tượng đặc biệt nên có cái nhìn đặc biệt của người nhà dành cho cán Bộ Y tế
+ Hướng tới sự hài lòng của người bệnh: nghĩa là hướng tới làm thỏa mãn khách hàng (bệnh nhân) của mình; Nghĩa là ngành y tế đang hướng tới làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng phục vụ của mình và thỏa mãn người thân của người bệnh Người bệnh có hoàn cảnh đặc thù, đặc biệt, vì vậy mong
Trang 34đợi của họ khác hoàn toàn mong đợi của những con người khỏe mạnh bình thường Và Bộ Y tế đang phấn đấu đạt được điều đó một cách tốt nhất
1.1.2 Vai trò của báo chí - truyền thông trong cuộc vận động “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
1.1.2.1 Tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Vai trò tuyên truyền về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước làm cho người dân hiểu rõ vấn đề đổi mới nói trên, đồng thời giáo dục đội ngũ cán Bộ Y tế phải nghiêm túc thực hiện chủ trương này nhằm góp phần nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân
Báo chí ở nước ta hiện nay vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân Báo chí kết nối Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân và ngược lại Trong bài nói chuyện tại Đại hội nhà báo Việt Nam lần thứ III (Ngày 7/9/1962), Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhà báo lớn của dân tộc Việt Nam đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” Xuất phát từ nhận thức đó, bên cạnh công tác giáo dục lý luận, Đảng luôn coi trọng công tác tuyên truyền báo chí, coi báo chí là công cụ sắc bén trong công tác tư tưởng của Đảng, là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa
Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, báo chí đã có những bước phát triển mạnh mẽ chưa từng có Từ chỗ chỉ có 2 tờ báo in hằng ngày và hơn 10 tờ báo hằng tuần, một đài phát thanh và một đài truyền hình quốc gia với diện phủ sóng rất hạn chế Hiện nay, Việt Nam có
859 tờ báo, tạp chí in, trong đó có 199 báo, 660 tạp chí; 135 báo, tạp chí điện tử; 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, trong đó có 02 đài quốc gia là Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam, 01 đài
Trang 35Truyền hình Kỹ thuật số VTC và 64 đài phát thanh, truyền hình địa phương Các đài đã cho ra thêm nhiều kênh phát thanh, truyền hình, đưa số lượng các kênh chương trình phát thanh, truyền hình trong nước lên tới hơn 268 kênh, trong đó 86 kênh phát thanh và 142 kênh truyền hình Đặc biệt, các trang mạng và truyền thông xã hội trên môi trường in-tơ-nét phát triển rất nhanh chóng Sau 20 năm có mặt tại Việt Nam (1997 - 2017), in-tơ-nét đã trở nên phổ biến, mang đến cả thời cơ, thuận lợi, cả khó khăn, thách thức cho công tác quản lý Cả nước có 125 cơ quan báo chí điện tử, hơn 1.500 trang thông tin điện tử tổng hợp; 270 mạng xã hội được cấp phép hoạt động Có gần 59 triệu người sử dụng in-tơ-nét, chiếm 62,7 % dân số, Việt Nam xếp thứ 8 ở châu Á và thứ 18 trong số 20 quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng in-tơ-nét cao của thế giới
Để tiếp tục khẳng định vai trò của báo chí trong thời kỳ đổi mới, tiếp tục tạo ra những tác động tích cực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, điều quan trọng là phải không ngừng nâng cao chất lượng cả về nội dung và hình thức của báo chí Tại Đại hội lần thứ X Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nhận định: Hệ thống thông tin đại chúng đã đạt được một số thành tựu: thông tin ngày càng phong phú, chất lượng nội dung và hình thức được nâng cao, sinh động, đa dạng, từng bước tiếp cận trình độ báo chí hiện đại, thực hiện tốt chức năng là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các
tổ chức xã hội, đồng thời là diễn đàn của nhân dân Báo chí hiện nay trở thành nguồn thông tin và sinh hoạt văn hóa quan trọng, không thể thiếu trong đời sống tinh thần của xã hội Báo chí góp phần giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phản ánh và phát hiện tâm tư nguyện vọng của nhân dân, những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, khích lệ động viên phong trào thi đua yêu nước Báo chí - truyền thông ở phạm vi này là phải
Trang 36làm cho công chúng cũng như cán Bộ Y tế hiểu rõ nội dung của cuộc vận
động “Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán Bộ Y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
1.1.2.2 Vai trò báo chí – truyền thông triển khai các quan điểm chỉ đạo của ngành y tế
Thông qua báo chí – truyền thông, Bộ Y tế triển khai các quan điểm chỉ đạo cũng như nội dung, phương thức cuộc vận động đổi mới phong cách,thái
độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh
Cụ thể, cơ quan tham mưu có trách nhiệm gì; bệnh viện tuyến trung ương phải làm gì; Bệnh viện tuyến dưới cần thực hiện gì và mỗi cán bộ viên chức ngành Y tế cần phải làm gì và làm như thế nào… để thực hiện một cách
có hiệu quả cuộc vận động này
Ở đây, vai trò báo chí bao gồm giáo dục, nâng cao nhận thức của cán
bộ viên chức ngành Y tế cũng như đông đảo bệnh nhân và người nhà bệnh nhân hưởng hứng cuộc vận động này
1.1.3 Vai trò phản hồi, giám sát và phản biện
Báo chí – truyền thông không chỉ tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, tiến tới thay đổi thái độ và hành vi đội ngũ cán bộ ngành y tế,
mà còn là kênh nghe ngóng phản ánh những thông tin từ đối tượng phục vụ như bệnh nhân, người nhà bệnh nhân để cán bộ nhân viên và lãnh đạo ngành
y tế có cơ sở điều chỉnh phù hợp, Báo chí – truyền thông còn là kênh giám sát, phản biện xã hội để ngành y tế có cơ sở kịp thời điều chỉnh, cũng như biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể và cá nhân thực hiện tốt, phê bình những cá nhân, tập thể trì trệ trong việc đổi mới hoặc làm sai quy định, hoặc có thái độ hành vi không tốt đối với bệnh nhân, làm ảnh hưởng đến ngành
Trang 37Vai trò quản lý, giám sát và phản biện xã hội của báo chí thể hiện ở chỗ, báo chí duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi Giám sát có thể được hiểu là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” Điều đó có nghĩa là, giám sát bao gồm hai quá trình, theo dõi và kiểm tra Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động được thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong điều kiện có thể, theo mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã đề ra
Giám sát xã hội của báo chí là quá trình báo chí bằng mọi phương thức huy động sức lực, trí tuệ và cảm xúc của đông đảo nhân dân với tinh thần trách nhiệm chính trị cao nhất trong việc theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, bảo đảm đạt được mục đích cao nhất trong điều kiện có thể Giám sát xã hội của báo
chí bao gốm các bình diện khác nhau, như theo dõi, kiểm tra phát hiện những
nơi làm đúng, làm tốt để biểu dương và nhân rộng; theo dõi và kiểm tra để phát hiện những nơi làm chệch, làm sai để uốn nắn và đấu tranh, bảo đảm cho đường lối, chính sách chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước được thực thi đúng trong thực tế…
Báo chí – truyền thông làm nhiệm vụ chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, toàn diện và có định hướng Cũng như mọi hoạt động khác của con người, hoạt động báo chí bao giờ cũng hướng tới những mục tiêu xác
định Mục tiêu của hoạt động báo chí là nâng cao tính tự giác cho đối tượng
công chúng (Tự giác là làm việc gì tự mình hiểu mà làm, không cần phải
nhắc nhở, đốc thúc) Để nâng cao tính tự giác cho công chúng, báo chí phải nâng cao nhận thức và tự nhận thức cho họ Nhận thức và tự nhận thức nằm trong mối quan hệ biện chứng Nhận thức (là khả năng của con người phản
Trang 38ánh và tái hiện hiện thực vào tư duy) - là toàn bộ những tri thức về thế giới
xung quanh: những quy luật, những hiện tượng, những khuynh hướng, những
quá trình của đời sống xã hội Còn tự nhận thức là hiểu được vị trí của mình
trong thế giới, trong các mối quan hệ xã hội; hiểu được mục đích, ý nghĩa của cuộc sống, hiểu được mục đích và yêu cầu, hiểu được cách thức để đạt được mục đích và thỏa mãn những nhu cầu ấy Sự tự giác là kết quả của nhận thức và tự nhận thức Tự giác là động lực mạnh mẽ của hành vi, nó quy định tính tích cực xã hội của con người
Sự định hướng như vậy thể hiện ở các mặt:
- Thứ nhất: Qua thông tin báo chí cung cấp giúp cho công chúng hiểu
được cái gì đang diễn ra Sự định hướng bắt đầu từ hiểu biết tất cả các sự kiện hàng ngày diễn ra trong thế giới xung quanh để tạo thành bức tranh toàn cảnh
về thế giới khách quan của con người mà con người sống trong nó Đối với báo chí, mô hình thông tin, hệ thống các khái niệm về cuộc sống là rất quan trọng
- Thứ hai: Qua việc cung cấp thông tin báo chí giúp cho công chúng
xác định rõ được rằng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể cần đạt tới cái gì,
cả về trước mắt, cả về lâu dài từ quan điểm chính thống
- Thứ ba: Sự định hướng được thể hiện qua việc đánh giá các sự kiện,
hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân vật (Đương nhiên là
từ quan điểm chính thống) Sự đánh giá đó sẽ có sức thuyết phục, tác động
mạnh mẽ tới đối tượng khi nó như là những kết luận được rút ra từ việc phân tích các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân vật
ấy của thực tiễn (từ quan điểm chính thống)
- Thứ tư: Sự định hướng còn thể hiện ở việc phổ biến những giá trị,
những chuẩn mực, những phương thức, phương pháp hoạt động nhằm thực
Trang 39hiện những mục tiêu đề ra và đạt được những kết quả cao nhất trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
Kết quả định hướng của báo chí đến mức nào phụ thuộc vào mức độ công khai các vấn đề của đời sống xã hội; vào sự dễ hiểu, cập nhật của thông tin; vào khả năng phản ánh và xem xét công khai, thẳng thắn các vấn đề của đời sống xã hội trên báo chí
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VAI TRÒ BÁO CHÍ – TRUYỀN THÔNG TRONG VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHONG CÁCH, THÁI ĐỘ PHỤC VỤ
1.2.1 Cần phải tiếp tục học tập theo lời dạy của Hồ Chí Minh
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, trong đó, những người đau
ốm, bệnh tật là những người được quan tâm nhất Người đã viết nhiều bức thư gửi ngành y tế khuyên người thầy thuốc cần nâng cao y đức để chăm sóc, cứu chữa cho người bị bệnh, người bị thương Trong Hội nghị Cán Bộ Y tế được
tổ chức từ ngày 21/2 đến 02/3/1955 tại Thủ đô Hà Nội vào đúng ngày 27/02/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị Trong thư, Người nhắc nhở cán Bộ Y tế phải đoàn kết và thắt chặt đội ngũ, phải nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, thương yêu nhân dân như ruột thịt Người đã nhắn nhủ trách nhiệm của các cán bộ là phải “thương yêu người bệnh” và coi
họ như người thân của mình Người còn căn dặn phải xây dựng được một nền
y học dựa trên nguyên tắc: khoa học, dân tộc và đại chúng
Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/02 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể đó, ngày 27/02
đã trở thành ngày truyền thống của ngànhY tế Trong bức thư gủi ngành y tế, Người viết rằng: … “Bác góp vài ý kiến sau đây để các cô, các chú thảo luận: Thương yêu người bệnh Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô
Trang 40các chú Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng bào Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn “Lương-y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng” Làm theo lời dạy của Bác, hơn 60 năm qua, ngành y tế đã không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề, trình độ chuyên môn, đem lại nhiều thành tựu rất đáng tự hào trong công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân; Nhiều kỹ thuật khoa học mới đã được áp dụng trong công tác điều trị Đồng thời, đổi mới trang thiết bị, các dịch vụ chăm sóc y tế, đổi mới cơ sở hạ tầng, đổi mới mạng lưới y tế cơ sở từ trung ương đến địa phương
Có thể khẳng định, ngành y tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong công tác khám, chữa bệnh, đẩy lùi dịch bệnh, chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần thiết thực trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng Tổ quốc; không ngừng phấn đấu đổi mới về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân Các cán Bộ Y tế, thầy thuốc Việt Nam trên mọi miền tổ quốc ngày đêm quên mình cống hiến cho sự nghiệp chăm sóc sức, bảo vệ khỏe nhân dân, được xã hội và người dân ghi nhận và tôn vinh
1.2.2 Phong cách, thái độ phục vụ ngành Y còn những vấn đề phải khắc phục
Những thành quả trong nhiều năm qua đã phần nào khẳng định vị trí, vai trò và tầm cao mới, trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh dự, tự hào của người cán Bộ Y tế Tuy nhiên, ở đâu đó trong các cơ sở khám, chữa bệnh còn xảy ra một số hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh”, làm cho người bệnh, người nhà bệnh nhân bức xúc, không hài lòng đối với cán Bộ Y tế Hơn nữa, ở đâu
đó trong một số cán Bộ Y tế vẫn còn tư tưởng lạc hậu, coi việc khám chữa bệnh cho bệnh nhân là ban ơn, điều này hoàn toàn sai Bộ trưởng Bộ Y tế