Tính tới thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu phong cách Nguyễn Ngọc Tư trong cả chặng đường sáng tác của chị từ tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đến tập truyện mới
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Quốc Khánh
Kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thúy Vi
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Quốc Khánh, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ trong khoa Khoa học
Xã hội và Nhân văn, phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Quy Nhơn đã tạo mọi điệu kiện thuận lợi để tôi học tập
Cuối cùng, tôi xin tri ân sự ủng hộ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu
Lê Thúy Vi
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGUYỄN NGỌC TƯ 10
1.1 PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT 10
1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật 10
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành phong cách nhà văn 12
1.1.3 Tính ổn định và vận động của phong cách nghệ thuật 15
1.2 NGUYỄN NGỌC TƯ – MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 18
1.2.1 Nguyễn Ngọc Tư – một phong cách độc đáo 18
1.2.2 Nguyễn Ngọc Tư – một cây bút miệt mài sáng tạo 19
1.3 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGUYỄN NGỌC TƯ 23
1.3.1 Đặc điểm con người Nguyễn Ngọc Tư 23
1.3.2 Môi trường văn hóa Nam Bộ 26
1.3.3 Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư 29
CHƯƠNG 2 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 35
2.1 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HIỆN THỰC 36 2.1.1 Sự mở rộng vùng hiện thực khám phá 36
2.1.1.1 Từ hiện thực một vùng miền Nam Bộ… 36
Trang 42.1.1.2 … đến mở rộng đường biên hiện thực 39
2.1.2 Sự thay đổi cách nhìn, cách cảm nhận về hiện thực 43
2.1.2.1 Từ cái nhìn trong trẻo, lạc quan… 43
2.1.2.2 …đến cái nhìn trần trụi, bi quan 44
2.1.3 Sự đa dạng trong các vấn đề về hiện thực 48
2.1.3.1 Từ những vấn đề về đời sống Nam Bộ… 49
2.1.3.2 …đến những vấn đề chung của đời sống đương đại 50
2.2 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 54 2.2.1 Sự mở rộng các bình diện khám phá con người 54
2.2.1.1 Từ khám con người trong các mối quan hệ thế sự … 54
2.2.1.2 …đến đào sâu vào thế giới bên trong phức tạp, bí ẩn 57
2.2.2 Sự thay đổi cách nhìn, cách cảm nhận về con người 63
2.2.2.1 Từ cái nhìn cảm thương, tin tưởng… 63
2.2.2.2 … đến cái nhìn trăn trở, lo âu 65
2.2.3 Sự phát triển các vấn đề về con người 69
2.2.3.1 Từ vấn đề thân phận của người nông dân, người nghệ sĩ… 69
2.2.3.2.…đến những vấn đề nhân sinh sâu sắc của con người nói chung 72
CHƯƠNG 3 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TỰ SỰ 76
3.1 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN 76
3.1.1 Từ những cốt truyện có hệ thống sự kiện rõ ràng… 77
3.1.2….đến những cốt truyện tâm lí phân rã sự kiện 80
3.2 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 85
3.2.1 Từ lối kể chuyện truyền thống… 85
3.2.2 … đến những nỗ lực cách tân 88
3.3 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 92
3.3.1 Sự thay đổi trong ngôn ngữ 92
Trang 53.3.1.1 Từ ngôn ngữ tự nhiên, bộc trực… 93
3.3.1.2 …đến ngôn ngữ trau chuốt, đậm màu sắc triết lí 97
3.3.2 Sự thay đổi trong giọng điệu 101
3.3.2.1 Từ giọng trữ tình mộc mạc, chan chứa yêu thương… 102
3.3.2.2 …đến giọng lạnh lùng, điềm tĩnh, khách quan 105
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….114
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phong cách nghệ thuật nhà văn là một trong những khái niệm quan trọng của đời sống văn học, là vấn đề cơ bản của nghiên cứu văn học Phong cách nghệ thuật là nét riêng độc đáo có tính ổn định, thống nhất qua nhiều sáng tác của một nhà văn Việc chỉ ra được sự thống nhất trong phong cách nghệ thuật giúp ta có được những dấu hiệu đặc trưng nhất, bản sắc nhất để nhận diện gương mặt riêng của nhà văn đó trên văn đàn Nhưng sáng tạo nghệ thuật là một cuộc hành trình không có đích đến Nếu một nhà văn tự thoả mãn với thành tích của mình và cho phép mình ngơi nghỉ thì anh sẽ bị chính nghệ thuật đào thải Trước sự đổi thay của cuộc sống và quy luật khắc nghiệt của văn chương, nhà văn không được lặp lại người khác và cũng không được lặp lại chính mình Phong cách có sự thống nhất nhưng đó không phải là sự lặp đi lặp lại một cách đơn điệu Phong cách luôn vận động, phát triển Vì vậy, khi nghiên cứu phong cách nhà văn, ta phải thấy được sự vận động qua từng chặng đường sáng tác
Trong nền văn học đương đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nguyễn Ngọc Tư đã sớm khẳng định được vị trí của mình Nữ nhà văn trẻ của Nam Bộ đã gây ấn tượng với phong cách độc đáo không thể trộn lẫn Ra mắt văn đàn năm 2000, Nguyễn Ngọc Tư lập tức tạo được thiện cảm với người đọc nhờ cái nhìn trong trẻo, nhân ái, lối kể chuyện nhẹ nhàng, mộc mạc và
ngôn ngữ Nam Bộ giản dị nhưng độc đáo Tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đánh dấu một khởi đầu thuận lợi của Nguyễn Ngọc Tư với Giải I
cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 Đến năm 2005, với sự ra đời của
truyện ngắn Cánh đồng bất tận thì tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư đã thật sự chiếm sóng, khuấy động đời sống văn học Truyện ngắn Cánh đồng bất tận
Trang 7nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và “Cánh đồng bất tận –
những truyện ngắn hay và mới nhất” trở thành cuốn sách bán chạy nhất của
văn học Việt Nam trong năm 2006 Và mới đây, văn học Việt Nam vô cùng
tự hào khi giải thưởng LiBeraturpreis 2018 do Hiệp hội quảng bá văn học
châu Á, châu Phi và Mỹ Latin (Đức) tổ chức đã gọi tên Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc Tư Phong cách Nam Bộ đã mang về nhiều thành công cho Nguyễn Ngọc Tư và đóng góp vào nền văn học nước nhà một màu sắc mới
mẻ mà nhiều người vẫn ưi ái gọi là “đặc sản miền Nam” hay “quả sầu riêng
vùng đất mũi” Cái tên Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục chứng tỏ ảnh hưởng với đời
sống văn học trong suốt hai mươi năm đầu thế kỷ XXI, với những tác phẩm được xuất bản đều đặn, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người đọc ngày nay Nữ nhà văn Nam Bộ vẫn đang bước tiếp trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình Đến thời điểm hiện tại, Nguyễn Ngọc Tư đã sỡ hữu một gia tài khá đầy đặn so với tuổi nghề của chị, bao gồm các sáng tác ở nhiều thể loại (tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp bút, tản văn,…) trong đó thể loại
tập trung toàn bộ bút lực của chị là truyện ngắn Cố định một đám mây, tập
truyện vừa mới ra mắt độc giả năm 2018, là tập truyện ngắn thứ 11 của Nguyễn Ngọc Tư Đối với những hiện tượng mà hành trình sáng tác vẫn đang tiếp diễn như Nguyễn Ngọc Tư, việc cập nhập những sáng tác mới từ khoảng cách gần hai mươi năm so với sáng tác đầu tay là việc cần thiết để thấy được
sự vận động trong phong cách, để bày tỏ sự trân trọng sức lao động cần mẫn của ngòi bút này Đó cũng là công việc có ý nghĩa để việc nghiên cứu có thể theo kịp tiến trình phát triển của sự nghiệp một tác giả nói riêng và đời sống văn học nói chung
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn “Sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” làm đề tài nghiên cứu
Trang 82 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng nổi bật thu hút giới phê bình,
nghiên cứu văn học Đặc biệt, với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã
tạo nên một làn sóng phê bình, tranh luận với đủ mọi luồng ý kiến khen chê
Sự xuất hiện của Nguyễn Ngọc Tư làm cho đời sống văn học trở nên sôi động Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu truyện ngắn của chị từ nhiều góc độ Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào về Nguyễn Ngọc Tư được
in thành sách, đa phần những bài viết, những bài phỏng vấn tác giả được
chúng tôi thu thập được trên các báo như Văn nghệ, Tuổi Trẻ, Thanh Niên,
Về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nói chung, luận văn “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” của tác giả Nguyễn Thành Ngọc Bảo đã chỉ
ra cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật cùng với những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Phạm Thị Thái Lê cũng đã nghiên
cứu phương diện quan niệm nghệ thuật về con người trong luận văn “Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” Trong bài viết “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” đăng trên
báo Văn nghệ quân đội, Trần Phỏng Diều đã chỉ ra thị hiếu thẩm mỹ thể hiện trong ba hình tượng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nông dân và hình tượng dòng sông
Về nét riêng độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư trên văn đàn, Trần Hữu
Dũng có bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam” Trong bài viết này,
ông xem xét truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Ông đặc biệt nhấn mạnh yếu tố tạo nên nét đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chính là ngôn ngữ Nam Bộ được sử dụng rất tự nhiên mà đúng nơi, đúng chỗ Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn Nam Bộ chính hiệu, kể những câu chuyện Nam Bộ bằng chính thứ ngôn ngữ của vùng
Trang 9đất đó Huỳnh Công Tín với bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam Bộ” cũng khẳng định điều đó: “Đặc biệt, vùng đất và con người Nam
Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [47] Chất Nam Bộ của
Nguyễn Ngọc Tư là điều quá rõ ràng và nhiều người nghiên cứu đã đề cập đến
Những công trình nghiên cứu về phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc
Tư cũng đã đề cập đến nhiều phương diện Nguyễn Trọng Bình có bài viết
“Phong cách truyện ngắn Nguyễn ngọc Tư nhìn từ phương diện quan
niệm nghệ thuật về con người” Ông chỉ ra một mô hình con người độc đáo
trong cái nhìn riêng của chị: mô hình con người hướng thiện Mô hình đó vừa
là sự kế thừa quan niệm nghệ thuật về con người của các thế hệ đi trước, vừa
là sự sáng tạo mang phong cách riêng của Nguyễn Ngọc Tư Giọng điệu - một biểu hiện quan trọng của phong cách cũng đã được các nhà nghiên cứu chú ý
tới Với bài viết “Một số giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”,
Phạm Thị Hồng Nhung đã chỉ ra ba giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Ngọc Tư: giọng buồn mênh mang; giọng trầm tĩnh, có phần đượm chua xót
đắng cay; giọng dân dã mộc mạc Tác giả đi đến kết luận: “Như vậy, có thể
thấy bên cạnh âm hưởng và giọng buồn, nhưng không chán chường ủ dột, thì
sự điềm nhiên và trầm tĩnh là giọng điệu chủ yếu góp phần làm nên phong cách nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư” [38] Không gian và thời gian nghệ thuật
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư cũng được nghiên cứu trong hai bài viết
“Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” của Thụy Khuê và bài viết “Thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư” của Mai Hồng Hai bài nghiên cứu đã chỉ ra
không gian đặc trưng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là không gian ruộng
Trang 10đồng sông nước và thời gian đặc trưng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là
thời gian huyền thoại
Ngoài những bài viết nghiên cứu những phương diện cụ thể của phong
cách của Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn thạc sĩ “Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” của Lương Thị Hải là một công trình nghiên cứu khá đầy
đủ các phương diện làm nên phong cách Nguyễn Ngọc Tư Chị chỉ ra “yếu tố
chi phối cả hệ thống trở thành hạt nhân phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc
Tư là bản sắc vùng văn hóa Nam Bộ với những nét đặc sắc” [16,105] Theo
đó, nhà văn nhìn con người từ cảm quan nhân bản đời thường và nhìn cuộc
sống trong tính đời thường phức tạp của nó và “chi phối thế giới nhân vật là
quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Ngọc Tư với cái nhìn nhân ái” [16,105] Luận văn cũng chỉ ra phong cách Nguyễn Ngọc Tư được thể
hiện ở những phương tiện thẩm mĩ đặc thù: giọng điệu nghệ thuật và ngôn
ngữ văn xuôi đặc sắc “Giọng điệu nghệ thuật chủ đạo của Nguyễn Ngọc Tư
là giọng buồn nhưng không chán chường, giọng điềm nhiên trầm tĩnh, giọng điệu tâm tình, tưng tửng, hóm hỉnh nhưng thấm thía và giọng điệu Nam Bộ đặc trưng”, “hệ thống ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư rất dung dị, tự nhiên, đậm tính địa phương Nam Bộ Biểu hiện rõ nhất trên ba phương diện: hệ thống từ địa phương Nam Bộ, lớp từ ấn tượng về “văn hóa sông nước”” [16,106-107]
Tuy nhiên, luận văn được viết năm 2012, phạm vi khảo sát chỉ dừng lại ở tập
truyện ngắn Khói trời lộng lẫy
Số bài viết, công trình nghiên cứu về sự vận động phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư còn rất hạn chế Chúng tôi tiếp cận được bài viết
“Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi” của Bùi Công Thuấn Tác giả đã nhìn lại chặng đường sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ Cánh Đồng Bất Tận đến Gió Lẻ và Khói Trời Lộng Lẫy : “Nguyễn Ngọc Tư đã đi từ những
Trang 11chuyện tình yêu lứa đôi lãng mạn đến những vấn đề xã hội gay gắt, đã viết những truyện đầy ắp những cảnh những người của đồng nước Nam Bộ đến kiểu truyện tư tưởng; và từ việc khai thác vốn sống đã trải nghiệm đến kiểu sáng tác truyện hư cấu (fiction) cần nhiều đến tài năng Nói một cách khác, Nguyễn Ngọc Tư đang đi về phía nghệ thuật hiện đại, đang chuyển từ cách viết thiên phú (cách viết bản năng) sang cách viết của một ý thức sáng tạo có
chiều sâu nhân bản” [45] Tuy nhiên, giống như luận văn “Phong cách
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, sự khảo sát này cũng chỉ dừng lại ở tập truyện ngắn Khói trời lộng lẫy (2010)
Tính tới thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu phong cách Nguyễn Ngọc Tư trong cả chặng đường sáng tác của chị từ tập truyện
đầu tay Ngọn đèn không tắt đến tập truyện mới nhất Cố định một đám mây
để thấy được sự vận động trong phong cách truyện ngắn của nữ tác giả này
Vì thế, chúng tôi tìm được mảnh đất chưa có người khai thác để thực hiện luận văn này Những bài viết, công trình của những người nghiên cứu vừa điểm qua là tư liệu bổ ích của chúng tôi
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu phong cách Nguyễn Ngọc Tư như một hệ thống, mang tính chỉnh thể, có cấu trúc riêng gồm nhiều yếu tố cấu thành và được biểu hiện trên nhiều bình diện
- Phân tích một số tập truyện ngắn tiêu biểu cho từng chặng đường trong hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư để chỉ ra sự vận động trong phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư ở các phương diện chủ yếu: nội dung
và nghệ thuật tự sự
Trang 12- Từ việc làm rõ sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, góp phần khẳng định những đóng góp của tác giả này trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phong cách sáng tác của mỗi tác giả tác được biểu hiện ở nhiều yếu tố khác nhau: đề tài, thể loại, kiểu nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, cái nhìn nghệ thuật, đặc điểm cốt truyện, không gian, thời gian… Có bao nhiêu yếu tố về nội dung và hình thức thì cũng có bấy nhiêu phương diện biểu hiện của phong cách Trong luận văn này, chúng tôi chọn ra hai phương diện tiêu biểu để khảo sát sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là nội dung và nghệ thuật tự sự
Trên phương diện nội dung, chúng tôi khảo sát sự vận động trong:
- Quan niệm nghệ thuật về hiện thực
- Quan niệm nghệ thuật về con người
Trên phương diện nội dung, chúng tôi khảo sát sự vận động trong:
Trang 13ngắn ở giai đoạn đầu, có nhiều truyện ngắn trùng nhau Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chọn ra 6 tập truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư:
1 Ngọn đèn không tắt
2 Cánh đồng bất tận
3 Gió lẻ và 9 câu chuyện khác
4 Khói trời lộng lẫy
5 Đảo
6 Cố định một đám mây
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: thông qua việc nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Ngọc Tư, tìm hiểu những yếu tố về con người, cuộc đời, gia đình, quê hương của tác giả có ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các truyện ngắn cụ thể để
đi đến tổng hợp, khái quát những đặc điểm truyện ngắn trong từng giai đoạn
- Phương pháp thống kê, so sánh: nhằm có được cơ sở khoa học để nhận xét, đánh giá sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: nhằm tìm hiểu sự vận động
có tính lịch sử của phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong bối cảnh phát triển của nền văn học đương đại, đồng thời làm sáng rõ ảnh hưởng của các luồng tư tưởng, xã hội đối với truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: trên cơ sở các đặc trưng của thể loại truyện ngắn để tìm hiểu quan niệm nghệ thuật, cốt truyện, ngôi kể, ngôn ngữ và giọng điệu… trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Trang 146 Đóng góp của luận văn
- Lí giải con đường hình thành và những nét đặc sắc làm nên phong cách của Nguyễn Ngọc Tư
- Nghiên cứu một cách hệ thống sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn tư phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật tự sự
- Đưa ra nhận định, đánh giá về hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
từ tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt (2000) đến tập truyện mới nhất Cố định một đám mây (2018)
- Chỉ ra đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư đối với nền văn học Việt Nam đương đại và khẳng định tiềm năng phát triển của cây bút này
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Phong cách nghệ thuật và những yếu tố ảnh hưởng đến sự
hình thành phong cách Nguyễn Ngọc Tư
Chương 2 Sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3 Sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
nhìn từ phương diện nghệ thuật tự sự
Trang 15CHƯƠNG 1 PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGUYỄN NGỌC TƯ
1.1 PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật
Phong cách nghệ thuật là một khái niệm quan trọng trong đời sống văn học Phong cách là một phạm trù rộng, có phong cách thời đại, phong cách của trào lưu, phong cách dân tộc và phong cách cá nhân tác giả Trong phạm
vi đề tài này, chúng tôi tập trung vào phong cách nghệ thuật nhà văn Đây không phải là một khái niệm xa lạ, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa phong cách từ nhiều góc độ
Người xưa thường nói: “Văn ư kỳ nhân” Buffon, nhà văn Pháp, cũng đã nói rằng: “Phong cách chính là người” Còn nữ văn sĩ Pháp Elsa Trisolet lại cho rằng: “Nhà văn là người cho máu” Ở Việt Nam, Hàn Mặc Tử cũng nói:
“Người thơ phong vận như thơ ấy”… Từ những quan niệm ấy, có thể hiểu
phong cách là cá tính , là cái tôi cá thể riêng biệt của chính nhà văn được biểu đạt trong tác phẩm
Timofeep cho rằng: “Phong cách là sự thống nhất của tất cả những yếu
tố trong tác phẩm kể từ kết cấu của toàn bộ đến từng định ngữ riêng biệt”
Lại Nguyên Ân trong Từ điển văn học đã định nghĩa như sau: Phong cách là
“khái niệm chỉ những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình
tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một tác phẩm, một khuynh hướng văn học, một nền văn học dân tộc nào đó” [2,1472] Phan Ngọc cũng đã khẳng định : “Phong cách
là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện
một thời đại, một thể loại, một tác phẩm, hay một tác giả” [31,31] Theo Từ
Trang 16điển thuật ngữ văn học: “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ,
chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc”
[35,212] Ngoài ra, “trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt
trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật đem lại cho tác phẩm, một tính chỉnh thể có thể cảm nhận được, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất”
[35,212] Những định nghĩa của Timofeep, Lại Nguyên Ân, Phan Ngọc hay
định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn học đều gặp gỡ ở chỗ xem phong cách
là một hệ thống, mang tính chỉnh thể Chỉnh thể này bao gồm nhiều yếu tố, thuộc nhiều cấp độ từ cách nhìn đến các phương thức biểu hiện, tồn tại trong mối quan hệ mật thiết, xuyên thấm vào nhau không thể tách rời Dù nội dung
có phong phú và hình thức nghệ thuật có đa dạng đến đâu, chúng vẫn có tính thống nhất Tính thống nhất này giúp người đọc có thể từ một yếu tố nhỏ mà nhận diện được cả tác phẩm và xác định được cây bút sáng tạo ra nó
Không phải mọi nhà văn đều có phong cách nghệ thuật mà chỉ có những nhà văn ưu tú mới khắc họa được cái tạng riêng, mới ghi dấu được cái giọng riêng của mình vào tiến trình vận động không ngừng chảy trôi của văn học Chỉ cần cầm bút, nhà văn nào cũng có đặc điểm sáng tác, nhưng phong cách
chỉ có ở những nhà văn thật sự có tài “Chỉ có những nhà văn có đủ tài năng,
có bản lĩnh mới có phong cách riêng độc đáo Cái nét riêng ấy thể hiện ở nhiều tác phẩm của nhà văn làm ta có thể nhận ra sự khác nhau (giữa các nhà văn)…” [35,213]
Cũng cần thấy rằng, phong cách là cái mới lạ, riêng biệt nhưng phải là nét riêng độc đáo mang phẩm chất thẩm mỹ, có giá trị nghệ thuật chứ không phải là sự lập dị, cố tình làm cho khác người một cách vô nghĩa Đúng như ý
Trang 17kiến của Hoàng Ngọc Hiến: “Trong lĩnh vực văn nghệ, dẫu đổi mới thế nào,
đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể ra ngoài “quy luật cái đẹp”, ra ngoài “sự thật” và “nhân bản” là những quy luật cơ bản, vĩnh cửu của văn học nghệ thuật” [42,103]
Như vậy, phong cách nghệ thuật là một khái niệm phức tạp Việc đi đến một khái niệm thống nhất, toàn diện về phong cách nghệ thuật không phải là
dễ Trên cơ sở kế thừa và tổng hợp các thành tựu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi có thể đưa ra một cách hiểu phong cách như
sau: Phong cách nghệ thuật của nhà văn là một hệ thống những đặc điểm độc
đáo có phẩm chất thẩm mỹ trong cái nhìn và cách thể hiện đời sống, con người, là yếu tố tương đối bền vững xuyên suốt các sáng tác của những nhà văn ưu tú, in đậm dấu ấn cá nhân của nhà văn, tạo nên diện mạo riêng của nhà văn đó
1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành phong cách nhà văn
Phong cách nghệ thuật của một nhà văn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố, cả khách quan lẫn chủ quan Trong đó, cá tính con người nhà văn là yếu tố
có vai trò rất quan trọng Nữ văn sĩ Pháp Elsa Trisolet cho rằng: “Nhà văn là
người cho máu” Từ điển thuật ngữ văn học cũng khẳng định: “Ngoài thế giới quan, những phương diện tinh thần khác như tâm lí, khí chất, cá tính đều
có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành phong cách của nhà văn”
[35,213] Có nghĩa rằng, những gì thuộc về chủ quan con người nhà văn như
cá tính, khí chất, tình cảm,…đều có tác động sâu sắc đến sự hình thành phong cách nghệ thuật Con người tác giả trong đời thực và trong văn chương không hẳn trùng khít nhau song đa phần người thế nào thì văn thế ấy Những tiếng cười trào phúng của Nguyễn Công Hoan có nguồn gốc từ cái cười của một
Nguyễn Công Hoan trong đời thực “chẳng mấy khi cười mỉm, anh đã cười thì
Trang 18cười thành tiếng…Cái cười thành thật thể hiện tâm trạng thật của mình, hồn nhiên, không xã giao, không điệu bộ” [42,111] Cái ngông hay phong cách tài
hoa, uyên bác trong văn Nguyễn Tuân cũng bắt nguồn từ nhu cầu chơi ngông với thiên hạ của một trí thức bất mãn trước thời cuộc, dùng cái tài hoa, uyên bác hơn đời của mình chống trả lại mọi phép tắc; chẳng phải cả cái gọi là chủ nghĩa xê dịch cũng có căn nguyên từ cái máu giang hồ xê dịch của Nguyễn Tuân đấy sao? Cũng không phải ngẫu nhiên mà danh xưng “nhà văn của những người cùng khổ” được gán cho Nguyên Hồng Nguyễn Đăng Mạnh lý
giải: “Nguyên Hồng là con người rất dễ xúc động, dễ khóc Ai từng tiếp xúc
với Nguyên Hồng đều thấy như thế Khóc khi nhắc đến nỗi khổ của con người trong xã hội cũ…Khóc cả khi kể lại nỗi bất hạnh của những nhân vật do chính mình sáng tạo ra” [28, 160-161] Nói tóm lại, bản chất con người, cá
tính của nhà văn trong đời thực có vai trò quan trọng đối với sự hình thành phong cách Tuy nhiên, không thể đồng nhất với phong cách nghệ thuật của nhà văn thể hiện trong tác phẩm
Bên cạnh yếu tố con người chủ quan, những yếu tố khách quan như môi trường sống, bối cảnh thời đại, văn hóa dân tộc cũng chứng tỏ ảnh hưởng của
nó lên phong cách của nhà văn “Vì tạo ra phong cách, ngoài thế giới quan,
còn rất nhiều nhân tố khác, như truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống, môi trường sống thiên nhiên, môi trường văn hóa,… Những động tác ấy, những thói quen ấy không dễ gì thay đổi Có ảnh hưởng lớn đến phong cách của một nhà văn thường lại là những ấn tượng của ông ta về môi trường sống của mình từ tuổi ấu thơ” [26,9] Xuân Diệu đã thừa nhận ảnh hưởng sâu đậm của
quê hương, gia đình đối với hồn thơ mình: “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng
trong/ Hai phía đèo ngang: một mối tơ hồng./ Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô
rang/ Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát…” (Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng
trong – Xuân Diệu) Chính ông tâm sự: “Biển Quy Nhơn có núi Phương Mai
Trang 19ở phía bên trái và có hòn Cù Lao Xanh, những cái đó đã vào tâm hồn tôi từ thơ bé, nhất là khi tôi qua Gành Ráng sóng biển cứ vỗ vào bờ và nhịp điệu của biển vào trong thơ tôi” [37, 41-42] Nguyễn Công Hoan sinh ra trong một
gia đình quan lại khoa bảng thất thế Từ nhỏ ông đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm,
đả kích tầng lớp quan lại Ông căm ghét xã hội thực dân nửa phong kiến, căm ghét bọn quan lại ôm chân đế quốc để mưu cầu phú quý Ông nhìn đời như một sân khấu hề Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này Nguyễn Đăng Mạnh đã có những nhận xét rất đúng đắn về
phong cách Nguyễn Công Hoan: “Phong cách Nguyễn Công Hoan không
thiên về lối thâm trầm kín đáo Ông thích bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phương Tiếng cười đả kích của Nguyễn Công Hoan, vì thế thường là những đòn đơn giản mà ác liệt” [28,100]
Ngoài quê hương, gia đình, thời đại sống cũng là yếu tố có tác động quan
trọng đến quá trình hình thành phong cách nhà văn Theo Từ điển thuật ngữ văn học,“Phong cách của nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và thời
đại” [35,213] Dù có sáng tạo, có độc đáo thế nào, “mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời” (Tô Hoài) Suy cho cùng, nhà văn vẫn tồn tại
trong một thời đại với hoàn cảnh lịch sử - xã hội nhất định và nhà văn “không
có phép thần thông để vượt ra khỏi thế giới này”, điều quan trọng là “thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng” (Hoài Thanh) Ta
thấy những bức tranh xã hội rộng lớn và nhốn nháo trong tiểu thuyết Số đỏ, Giông tố hay những phóng sự Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Ở đó, các nhân vật như bị ném vào một cái động bát nháo, hỗn
loạn Vũ Trọng Phụng sinh ra và lớn lên trong thời kỳ xã hội có nhiều biến động dồn dập, nghề báo lại càng khiến nhà văn gắn chặt với những vấn đề thời sự hơn ai hết Dĩ nhiên là những biến động của xã hội đã được Vũ Trọng
Trang 20Phụng đưa vào tác phẩm của mình theo một cách riêng, đó là một hình sắc
riêng mà chỉ qua ngòi bút của Vũ Trọng Phụng nó mới được hình thành
Nhưng một điều không thể phủ nhận rằng khả năng khái quát triết lí của Vũ Trọng Phụng sẽ không được phát huy nếu Vũ Trọng Phụng không sống trong một thời đại lố lăng và đốn mạt như thế
Những yếu tố nêu trên, trong quá trình hình thành nên phong cách nhà văn, không hề tách rời, cô lập mà tồn tại trong tương quan tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Ở mỗi nhà văn, tác động của mỗi yếu tố trên có thể đậm nhạt khác nhau, có vai trò và ý nghĩa khác nhau Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của một nhà văn, không thể chỉ nhìn những biểu hiện trong tác phẩm mà không tìm về cội nguồn hình thành nên nó Đó là con đường đi vào thế giới nghệ thuật và cũng là con đường lý giải phong cách nhà văn
1.1.3 Tính ổn định và vận động của phong cách nghệ thuật
Phong cách là nét độc đáo của nhà văn được bộc lộ trong toàn bộ các yếu
tố của tác phẩm, từ nội dung đến hình thức, có bao nhiêu yếu tố thì có bấy nhiêu phương diện biểu hiện phong cách Chúng tạo nên một hệ thống có sự
thống nhất, mang tính ổn định “Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật, mỗi
nhà văn có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật ấy, dù phong phú, đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất”[26,8] Có nghĩa rằng, nét riêng độc đáo phải xuất hiện thường xuyên,
nhất quán, xuyên suốt trong các tác phẩm của nhà văn Đúng như nhận định
của GS Nguyễn Đăng Mạnh: “Trong quá trình sáng tác của các nhà văn,
phong cách nghệ thuật của ông ta luôn luôn chuyển từ tác phẩm này đến tác phẩm khác… phong cách vận động trên một cơ sở thống nhất, khiến cho các tác phẩm của nhà văn dù có những nét khác nhau, vẫn là tác phẩm của ông ta chứ không phải của ai khác… Phong cách một khi đã định hình, thì thường có
Trang 21tính bền vững…” [26,9] Nhờ vào tính ổn định, sự thống nhất của phong cách
nghệ thuật, người đọc có thể dễ dàng nhận diện được cái giọng riêng, cái tạng riêng của một tác giả ngay cả khi chỉ đọc được một vài khúc đoạn của tác phẩm hay khi tên tác giả bị giấu đi
Nhưng trong lĩnh vực văn chương, nếu người nghệ sĩ hài lòng với những
gì mình có mà không tiếp tục tìm tòi, sáng tạo để làm mới mình, gương mặt của anh sẽ trở nên nhàm chán, tác phẩm của anh sẽ bị quy luật khắc nghiệt của văn chương đào thải Nét riêng độc đáo phải xuất hiện thường xuyên, tạo nên tính ổn định trong phong cách của nhà văn Mặt khác nét riêng đó cũng phải luôn luôn được đổi mới không lặp lại, không sáo mòn Phong cách nhà văn là một quá trình vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác Phong cách có tính ổn định nhưng điều đó không có nghĩa rằng phong cách là cố định, bất biến, là sự lặp lại giản đơn, nhàm chán một vài đặc điểm
cố hữu mà luôn mở ra đa dạng Phương Lựu khẳng định rằng: “Phong cách là
chỗ độc đáo mang phẩm chất thẩm mỹ cao được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn Không phải bất cứ nhà văn nào cũng tất yếu có phong cách, mặc dù nói cho cùng nhà văn nào cũng có đặc điểm Song đặc điểm mờ nhạt chưa đủ, phải là chỗ thật độc đáo không thể thay thế được mới làm nên phong cách Chỉ cần lặp đi lặp lại đã gọi là đặc điểm, nhưng phong cách, tuy cũng đòi hỏi sự bền vững, không chấp nhận sự chóng phai mờ, nhưng phải là sự
lặp đi lặp lại một cách đổi mới” [24,214] Điều này có nghĩa rằng trong quá
trình vận động, nét riêng làm nên diện mạo đặc biệt của nhà văn không biến mất mà được củng cố, nâng cao, triển khai đa dạng hơn, nhiều biểu hiện hơn
Ta đã thấy sự vận động trong tính thống nhất này ở sự nghiệp sáng tác của nhiều nhà văn lớn Nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta nói đến một nhà văn ngông nghênh và tài hoa uyên bác Nhưng những nét phong cách của Nguyễn
Trang 22Tuân cũng có sự thay đổi trong hai giai đoạn sáng tác Trước Cách mạng tháng Tám, người ta thấy trong tác phẩm của Nguyễn Tuân thái độ khinh đời, ngạo đời, cố ý làm cho khác đời Ông thích tìm đến những cảm giác mạnh, thích tô đậm những gì phi thường xuất chúng Là nhà văn yêu cái đẹp đến mức tôn sùng, Nguyễn Tuân thường tiếp cận sự vật, sự việc ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, tiếp cận con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ và vận dụng nhiều tri thức khác nhau ở nhiều lĩnh vực để miêu tả Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân vẫn là nhà văn duy mĩ, uyên bác, tài hoa, nhưng tác phẩm của ông không còn chỉ tập trung vào những con người xuất chúng, đặc tuyển, phi thường mà ông thấy chất tài hoa có ngay trong cuộc sống hiện tại, trong những con người bình thường Thái độ ngông nghênh, khinh bạc cũng
có sự chuyển biến sang giọng tin yêu, đôn hậu Như vậy, sự thay đổi cách nhìn hay thay đổi giọng điệu của Nguyễn Tuân ở các giai đoạn sáng tác khác nhau không làm thay đổi diện mạo đặc biệt, dấu ấn riêng của nhà văn trên văn đàn mà đó chính là những biểu hiện đa dạng và phong phú của cùng một diện mạo Chính sự vận động này khiến cho văn học luôn là những món ăn tinh thần phong phú và hấp dẫn đối với người đọc
Những nhà văn không ngừng đổi mới mình là những nhà văn chân chính Những nỗ lực tìm tòi và sáng tạo của họ chính là động lực thúc đẩy nền văn học phát triển Như vậy, nghiên cứu phong cách nghệ thuật của một nhà văn không thể chỉ dừng lại ở một vài tác phẩm riêng lẻ mà phải xem xét các tác phẩm trong cả một quá trình để vừa phát hiện nét riêng độc đáo mang tính nhất quán của phong cách, vừa nhìn thấy những biểu hiện đa dạng, phong phú của nó trong từng tác phẩm, từng giai đoạn sáng tác Và điều quan trọng hơn nữa là khám phá ra cơ sở của sự thống nhất những biểu hiện đa dạng đó Đó chính là quy luật nội tại của phong cách
Trang 231.2 NGUYỄN NGỌC TƯ – MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỘC ĐÁO CỦA VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI
1.2.1 Nguyễn Ngọc Tư – một phong cách độc đáo
Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện trên văn đàn vào thời điểm mà thể loại truyện ngắn đã phát triển đạt được nhiều thành tựu cả về số lượng lẫn chất lượng, người ta gọi thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI là khoảng thời gian
“được mùa” của truyện ngắn Bên cạnh những tên tuổi như Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Hoàng Diệu, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, không thể không nhắc tới tên tuổi của cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư khi nói tới truyện ngắn Việt Nam đương đại Sau sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp như một hiện tượng lạ làm dậy sóng nền văn học thì Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng nổi bật khác làm xôn xao dư luận
Nguyễn Ngọc Tư ngay từ những tác phẩm đầu tay đã tạo được tiếng vang trên văn đàn Khi văn học nước nhà vẫn đang tiếp tục phát triển trên đà đổi mới được khởi xướng từ năm 1986, nhiều nhà văn đã tích cực đổi mới tư duy nghệ thuật cũng như bút pháp sáng tạo, tất nhiên Nguyễn Ngọc Tư cũng không nằm ngoài làn sóng chung của hoạt động sáng tác đương thời Thế nhưng, nét độc đáo làm nên diện mạo riêng của Nguyễn Ngọc Tư lại là chất Nam Bộ, là đặc sắc vùng miền giàu giá trị truyền thống trong tác phẩm của chị Nhìn một cách tổng quát, phong cách của Nguyễn Ngọc Tư là sự hòa quyện giữa cái truyền thống và cái hiện đại Trong chặng đầu sáng tác, phong cách Nguyễn Ngọc Tư được khẳng định bởi nét truyền thống, từ cách nhìn trong trẻo, nhân hậu rặt Nam Bộ đến cách viết hết sức giản dị, mộc mạc
Nguyễn Ngọc Tư từng khẳng định hướng đi riêng của mình: “Biết bao người
đã viết về những rạn nứt, những thay đổi mất mát, những đổ vỡ trần trụi ấy rồi Tôi buộc lòng phải thủ thỉ chuyện nhân, chuyện nghĩa… để văn mình
Trang 24“độc quyền” một chút và cũng để thấy muốn sống thêm nữa vì cuộc đời này còn nhiều vẻ đẹp” [29] Và Nguyễn Ngọc Tư cũng đã có được những thành
công bước đầu trên con đường khẳng định phong cách của mình: “Nói như
vầy có vẻ hơi… tự cao, nhưng tôi thấy lúc trước tôi viết cũng có phong cách riêng lắm đó chớ Ít nhất, khi tham gia một vài cuộc thi, tác phẩm đã bị rọc phách, ban giám khảo vẫn nhận ra đấy là của Nguyễn Ngọc Tư” [21]
Bằng những truyện ngắn dung dị về đề tài nông thôn, thân phận và đời sống tình cảm của người nông dân Nam Bộ thời hiện đại, chị đã đóng góp cho
nền văn học đương đại “một cái nhìn hồn hậu, với lối viết chân tình, thẳng
thắn nhưng lại cũng rất hồn nhiên và nhẹ nhàng” [39;36] Đóng góp lớn nhất
của chị cho tới nay ở địa hạt truyện ngắn chính là một văn phong Nam Bộ giản dị, thuần phác với sự điêu luyện trong việc sử dụng chất liệu ngôn ngữ Nam Bộ như một ngôn ngữ nghệ thuật giàu giá trị biểu đạt và ẩn chứa tiềm lực sáng tạo đến vô tận Xin mượn lời của nhà văn Dạ Ngân để làm sáng rõ
thêm những đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư: “Nguyễn Ngọc Tư giỏi ở chỗ cái
tưởng không có gì mà Tư cũng viết được, lại viết rất có duyên, rất nhân hậu Đọc cái nào xong cũng phải nhoẻn cười sung sướng, sung sướng mà lại ứa nước mắt, thấy nước mắt của mình cũng trong trẻo và đẹp đẽ, ấy là cái đáng giá mà Tư cho người đọc hôm nay” [30]
1.2.2 Nguyễn Ngọc Tư – một cây bút miệt mài sáng tạo
Là một cây bút trẻ, chỉ mới xuất hiện trên văn đàn khoảng hai mươi năm, tuy gặp phải những luồng ý kiến đánh giá trái chiều, khen lắm chê nhiều, song
ai cũng phải công nhận rằng Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút khỏe khoắn và dẻo dai, miệt mài lao động sáng tạo không ngừng Nguyễn Ngọc Tư đã thử bút trên nhiều thể loại bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, tạp bút, Tuy nhiên, thành tựu rực rỡ nhất khẳng định tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư
Trang 25là truyện ngắn Luận văn này tập trung khảo sát hành trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Ra mắt làng văn với tập truyện ngắn đầu tay Ngọn đèn không tắt, con
đường tiếp cận độc giả cũng như khẳng định tên tuổi của chị có một khởi đầu
thuận lợi khi tập truyện đầu tay đạt giải I Văn học tuổi 20 năm 2000 Trên đà
thành công của Ngọn đèn không tắt, Nguyễn Ngọc Tư “tấn công” văn đàn
với các tập truyện ngắn ra đời đều đặn sau đó:
Biển người mênh mông (2003)
Giao thừa (2003)
Cánh đồng bất tận (2005)
Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008)
Khói trời lộng lẫy (2010)
Đảo (2014)
Cố định một đám mây (2018)
Nếu như Ngọn đèn không tắt là chiếc bệ phóng giúp Nguyễn Ngọc Tư
mở lời chào làm quen với độc giả thì Cánh đồng bất tận chính là một cú hích đột phá trong sự nghiệp của Nguyễn Ngọc Tư Đến Cánh đồng bất tận,
Nguyễn Ngọc Tư đã khẳng định được tên tuổi, có được một vị trí được nhiều
người chú ý trên văn đàn Có thể xem Cánh đồng bất tận như một hiện
tượng, một làn gió mới khuấy động giới sáng tác và công chúng văn học Tập truyện tạo nên một làn sóng tranh cãi dữ dội Tất cả những luận bàn, đánh giá
xoay quanh Cánh đồng bất tận đã chứng tỏ sức ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn học Sự xuất hiện của Nguyễn Ngọc Tư nói chung và Cánh đồng bất tận nói riêng đã khiến đời sống văn học đương thời vận động sôi nổi
Trang 26Truyện đã nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 và được chuyển thể thành phim điện ảnh cùng tên năm 2010 Doanh thu khủng
của bộ phim điện ảnh lại càng chứng tỏ sức hút của truyện ngắn Cánh đồng bất tận Và mới đây, cũng với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã mang
về niệm tự hào cho nền văn học Việt Nam với giải thưởng LiBeraturpreis
2018 Chính Nguyễn Ngọc Tư cũng bất ngờ trước thành công của truyện ngắn
này Sự thành công ấy lại đặt ra cho chính tác giả những yêu cầu khắt khe
hơn: “Một nhà văn mà bị ám ảnh bởi giải thưởng cùng những khen chê thì
giống kẻ đẽo cày giữa đường Và với tôi, chuyện của một giờ đồng hồ trước nghĩa là chuyện đã qua, bồi hồi vì nó chẳng ích gì Giải thưởng nào cũng là của ngày hôm qua Ngày mai tôi là một kẻ tay trắng, nếu không viết thứ gì mới.” [48] Không ngủ quên trên chiến thắng, Nguyễn Ngọc Tư vẫn tiếp tục
miệt mài trau dồi ngòi bút, lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc
Khi đã có sự trưởng thành về tuổi đời, sự dày dặn về vốn sống, cộng thêm ý thức nghiêm túc về nghề viết, chính chị đã tự đặt ra yêu cầu cho chính
mình, phải vượt qua chính mình Khi tập truyện Gió lẻ và 9 câu chuyện khác
ra đời, nhiều ý kiến cho rằng tập truyện làm Nguyễn Ngọc Tư mờ nhạt hơn
bởi phong cách từ Cánh đồng bất tận không còn rõ nữa, chị nhấn mạnh: “Tôi
muốn tùy nghi sống và viết theo đúng như bản chất thất thường vô chừng của mình Tôi biết không ít người đang băn khoăn bởi ý nghĩ họ đã mất tôi rồi Nhưng tôi đi đến đâu đó không có nghĩa là không quay lại Con cá quẫy để khỏa bèo vì nó cần thở ở một khoảng rộng hơn Tôi cũng vậy” [5,10]
Nguyễn Ngọc Tư đã tiếp cận những vùng gai góc, u ám của hiện thực và không ngừng nâng cấp ngòi bút Truyện ngắn của chị đã có khả năng bao quát những vấn đề của thời đại chứ không dừng lại ở vùng hiện thực Nam Bộ, bút pháp cũng mới mẻ hơn, không còn lối viết tự nhiên theo bản năng nữa Mạnh
Trang 27dạn bước ra khỏi Cánh đồng bất tận với khát khao vượt lên chính mình, ngòi
bút của Nguyễn Ngọc Tư đã tìm đến những vùng đất mới, thể nghiệm những
cách viết mới với tập truyện ngắn sau đó như Gió lẻ và 9 câu chuyện khác
(2008), Khói trời lộng lẫy (2010), Đảo (2014) và mới nhất là Cố định một
đám mây (2018) Như vậy, lấy tập truyện Cánh đồng bất tận – tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Ngọc Tư làm cột mốc, ta có thể tạm chia sự
nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thành hai chặng đường là trước và sau
Trang 281.3 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGUYỄN NGỌC TƯ
1.3.1 Đặc điểm con người Nguyễn Ngọc Tư
Timofeep có một nhận đinh rất đúng đắn về sự ảnh hưởng của cá tính
nhà văn đến sự hình thành phong cách: “Cá tính của nhà văn thể hiện cả
trong ngôn ngữ, trong cốt truyện, trong các tính cách, trong các chủ đề và cả trong những tư tưởng của tác phẩm Do đó mà hàng loạt tác phẩm của cùng một nhà văn có sự giống nhau trong tất cả các mặt ấy” [42,110] Những nét
tích cách của con người trong cuộc đời thật đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành phong cách nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Chính Nguyễn Ngọc Tư đã
thừa nhận: “con người văn chương và con người đời thường của mình chẳng
có sự khác biệt là mấy” [21]
Nguyễn Ngọc Tư là một người phụ nữ Nam Bộ bình dị, mộc mạc của vùng sông nước Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, Nguyễn Ngọc Tư có một tuổi thơ khá vất vả Chị kể:
“trước khi viết truyện ngắn đầu tiên, mình đơn thuần là một cô gái nông dân,
bỏ dở học hành, ở nhà nấu cơm nuôi ông ngoại, chăm sóc vườn rau, chiều chiều cắt rau cho má đi bán chợ đêm” [13] Nguyễn Ngọc Tư cũng không
phải là một nhà văn được học hành, đào tạo bài bản Tiếp xúc với Nguyễn Ngọc Tư, ai cũng nhận thấy ở nữ nhà văn sự mộc mạc, chân chất, thật thà Nét tính cách này chính là nguồn gốc của lối viết giản dị, chân thật, nhẹ nhàng Văn chương của chị cũng chân thật và mộc mạc như tính cách của một
cô gái nông thôn bình dị Viết văn đối với chị là một cách nói lên tiếng lòng thôi thúc Không bóng bẩy, cầu kì văn chị viết nhẹ nhàng như hít thở, như ngồi lại thủ thỉ tâm tình dăm câu ba sự với người hàng xóm Đặc điểm này không chỉ được thể hiện rõ ở những tác phẩm kể chuyện nghĩa tình của người
Trang 29dân quê mà ngay cả ở những tác phẩm viết về những vấn đề hiện thực cuộc sống khốc liệt, cách kể của chị cũng hết sức tự nhiên, bình dị Đọc văn của chị, cảm giác như những trang văn được chị viết ra rất dễ dàng, đơn giản, nhưng đằng sau cách kể chuyện giản dị ấy là một nội tâm luôn trăn trở về số phận con người
Nguyễn Ngọc Tư còn là một người nhân hậu Chị cũng trọng nghĩa trọng tình như bao con người Nam Bộ ở quê hương chị Dù cuộc sống của người dân Nam Bộ còn lam lũ, cơ cực, xa lạ với văn minh đô thị hiện đại, chị vẫn luôn cố tìm kiếm để phát hiện và nâng niu những cái đẹp, cái thiện, những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của những người xung quanh Bằng ngòi bút của mình, nữ nhà văn đã nỗ lực để gắn kết mọi người, hướng đến một cuộc sống đầy tình yêu thương, hay nói như cách của người Nam Bộ, là một cuộc sống giàu tình nghĩa Đó chính là thiên chức cao cả của văn chương như Nam Cao
đã nói trong Đời thừa: “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất
cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó
ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho người gần người hơn” Nguyễn Ngọc Tư từng tâm sự: “Tôi rất sợ lòng mình vô cảm Tôi cũng
sợ y như vậy khi thấy những người chung quanh không còn biết thương yêu nữa Nhiều người nhận xét người trẻ giờ đây thực dụng, ít nhân hậu hơn thế
hệ đi trước Tôi không tin là vậy” [56] Trong suốt quá trình sáng tác, ngòi bút
của Nguyễn Ngọc Tư đã không ngừng nỗ lực để củng cố niềm tin vào tình người và chống lại sự vô cảm, lãnh đạm giữa con người với nhau Vì thế, dù
là những sáng tác ca ngợi cuộc sống, đề cao vẻ đẹp tâm hồn con người ở chặng đầu hay những sáng tác bóc trần sự tan vỡ những chuẩn mực đạo đức,
sự rạn nứt trong các mối quan hệ rường cột của con người ở chặng sau, chị đều hướng đến mục đích đánh thức tình người, tính người Văn học muôn đời
Trang 30dù viết về cái thiện hay cái ác đều là để cổ vũ cái tốt đẹp, cái chất người cao quý trong con người Cái nhìn đầy thấu hiểu và cảm thông với con người được thể hiện trong tác phẩm của chị rõ ràng có nguồn gốc từ tính cách đôn hậu, nhân ái của một người phụ nữ Nam Bộ chính gốc
Nguyễn Ngọc Tư không phải là một người sôi nổi, chị thuộc “cái tạng buồn” Đọc văn của Ngọc Tư, người ta thấy âm hưởng chủ đạo là nỗi buồn,
sự trầm lắng, ngậm ngùi Đặc điểm này cũng xuất phát từ cái tạng riêng mà
nữ nhà văn đã tự thú nhận: “Có lẽ cái tạng của mình nó vậy, vui chỉ vui ngoài
mặt vậy thôi Và nhiều khi cũng cố để viết vui vui nhưng viết một hồi cuối cùng vẫn thấy ngậm ngùi” [59] Bởi thế, thường thấy xuất hiện trong văn chị
những nỗi buồn, những niềm cảm thương, những tiếng thở dài ngậm ngùi cho những thân phận nhỏ bé, những mảnh đời bất hạnh, những kiếp người bi kịch
Và cũng như nhiều nhà văn khác, trong đời thực, Nguyễn Ngọc Tư là một người cô đơn Nhưng chính những nỗi cô đơn ấy lại là cội nguồn của sự
sáng tạo:“sống trong thế giới phụ nữ, rất dễ nuôi cô đơn để viết” [1] Có một
thực tế phải công nhận rằng văn chương xưa nay đa phần được sinh ra từ nỗi buồn, nỗi cô đơn chứ không phải là sản phẩm của những niềm vui hoan hỉ và nhà văn nào cũng có một con người cô đơn bên trong thôi thúc họ sáng tác như một cách tự giãi bày Nguyễn Ngọc Tư cũng thế, chị tâm sự rằng mình là một con người cô đơn trong cuộc đời và là một nhà văn cô đơn trên văn đàn:
“Trong cõi văn chương, tôi là đứa cực kỳ cô đơn Nên tôi rất dễ dàng để
nhân vật của mình sống trong cô đơn tận cùng, trong hoang hoải, chán chường Tôi, cũng như những con người trong “Cánh đồng bất tận”, sống giữa nhiều người, sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người nhưng có cảm giác như bị bỏ rơi…” [21] Khi được phỏng vấn: “Nguyễn Ngọc Tư sợ nhất điều gì trong cuộc sống?”, chị đã trả lời: “Tôi sợ mất mình, sợ lạc mình ở một
Trang 31nơi mà cả đời không tìm lại được” [21] Chị đã miêu tả nỗi cô đơn, lạc lõng
của con người từ chính những trải nghiệm cảm xúc chân thật của mình Trong thế giới nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư, những con người cô đơn chiếm số lượng đông đảo và xuất hiện xuyên suốt hành trình sáng tác của chị Các nhân
vật trong tác phẩm của chị dù sống giữa một “biển người mênh mông”, “một
thế gian thênh thang” vẫn cảm thấy đơn độc Ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư
dường như đã đi thật sâu như đến tận cùng nỗi cô đơn của con người Sự cô đơn, lạc lõng của con người được chị phát hiện ở nhiều dạng thái, lý giải ở nhiều góc độ Sự am hiểu đến mức sâu sắc về nỗi cô đơn của con người ấy không thể xuất phát tự một người trong đời thực chưa từng nếm trải và thấm thía những biểu hiện của cô đơn như một phần bản ngã con người
Như vậy, hầu hết những đặc điểm, tính cách con người của Nguyễn Ngọc Tư đều có ảnh hưởng đến sự hình thành phong cách của nữ nhà văn này Đây là sự ảnh hưởng chủ yếu, rõ nét và dễ nhìn thấy Độc giả vẫn thường thân thương gọi Nguyễn Ngọc Tư bằng cái biệt danh “cô Tư” Đọc tác phẩm của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, bao giờ ta cũng thấy một “cô Tư” đằng sau đó, một “cô Tư” mộc mạc, buồn buồn mà rất đỗi nhân hậu
1.3.2 Môi trường văn hóa Nam Bộ
Đã có rất nhiều định danh gắn với Nguyễn Ngọc Tư như “đặc sản miền
Nam”, “quả sầu riêng vùng đất mũi” Những định danh ấy đều liên quan đến
vùng đất mà chị sinh ra và lớn lên Mỗi vùng đất đều có đủ dinh dưỡng để nuôi lớn một nhà văn có thể đại diện cho chính nó Nếu phải chọn ra một vài nhà văn đại diện cho từng vùng đất, chắc chắn Nguyên Ngọc đại diện cho Tây Nguyên; Thạch Lam, Nguyễn Tuân đại diện cho Hà Nội; thì Nguyễn Ngọc Tư cũng xứng đáng đại diện cho vùng đất Nam Bộ, bên cạnh những cái tên khác
như Nguyễn Quang Sáng, Dạ Ngân,… Nhà văn Dạ Ngân đã nhận xét: “Văn
Trang 32của Ngọc Tư mang đậm chất Nam Bộ: hồn hậu, hào sảng Văn hóa tiểu vùng khác nhau, thì sản sinh ra những chất văn khác nhau, sản sinh ra những tác giả khác nhau Ở Bắc Hà không sinh ra văn của Ngọc Tư được, mà ở Nam Bộ không thể sinh ra được văn của Y Ban và Tạ Duy Anh được, tôi nghĩ thế”
[30] Những con người, những kỷ niệm, cuộc sống Nam Bộ lam lũ, vất vả nhưng cũng vô cùng thi vị đã nuôi dưỡng tâm hồn, vun đắp tài năng, vốn sống
và khơi nguồn cảm hứng dồi dào cho sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Vùng đồng bằng sông Cửu Long với văn hóa sông nước đặc trưng đã đắp bồi phù sa của nó lên những trang văn của nữ nhà văn sinh ra và lớn lên ở
đó Người dân Nam Bộ nói chung và Nguyễn Ngọc Tư nói riêng xưa nay đã
sinh sống trên những con sông, những kênh rạch chằng chịt “Tôi sinh ra ở
một vùng quê, nhà tôi nằm ngay trên bờ sông, ngày nào tiếng tắc ráng, tiếng tàu máy đuôi tôm rồi chợ họp trên sông cũng nhộn nhịp” [29] Họ uống nước
sông, tắm nước sông, ngày ngày chèo thuyền trên sông, mua bán trên sông, hò hẹn trên sông, Sông là môi trường sống bao bọc và cũng là chứng nhân của những mảnh đời quê thăng trầm như nhịp xuống lên của con nước Không gian Nam Bộ với những cây đước, sú, tràm, ô rô, dừa nước…; với những vàm
Cỏ Xước, kinh Mười Hai, Rạch Mũi, Gò Cây Quao…; với những xóm Miễu, Trảng Cò, Mút Cà Tha…đã trở thành vùng không gian đặc trưng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Phong cách nghệ thuật phần nào được thể hiện ở sự lựa chọn vùng không gian phản ánh Mỗi nhà văn đều có một vùng không gian trọng điểm mà họ gắn bó và am hiểu từng ngóc ngách, Nguyễn Ngọc Tư cũng thỏa sức vẫy vùng ngòi bút trong không gian mênh mang sông nước
Chính chị đã khẳng định: “Tôi tự tin vào sự hiểu biết về nông thôn quê hương
tôi” [59]
Trang 33Cuộc sống của những người dân Nam Bộ cũng đi vào những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư một cách thật tự nhiên Điều này cũng góp phần hình thành thế giới nhân vật riêng biệt trong sáng tác của nhà văn Phần đông trong thế giới nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư là những người nông dân lao động vất
vả, khó nghèo, là những người nghệ sĩ đờn ca tài tử long đong, chìm nổi Trong vùng hiện thực Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư đặc biệt quan tâm đến những số phận đáng thương, những mảnh đời bi kịch Con người Nam Bộ có tính cách bộc trực, thẳng thắn, phóng khoáng, trọng tình nặng nghĩa, Trong giao tiếp, họ mộc mạc, chân chất, cởi mở, có sao nói vậy, không vòng vo quanh co Những con người ấy, gần gũi, gắn bó với Ngọc Tư mỗi ngày; và những trang văn của chị cũng không hề xa lạ với cuộc sống hằng ngày của chính họ Sự gắn bó của Nguyễn Ngọc Tư đối với con người và cuộc sống Nam Bộ là sự gắn bó máu thịt Tất cả những cách suy nghĩ, nói năng của người Nam Bộ, những nét tính cách trong văn hóa ứng xử cũng như ngôn ngữ của cha ông đã là một phần máu thịt của Nguyễn Ngọc Tư, có ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ, giọng điệu của Nguyễn Ngọc Tư một cách tự nhiên, tất yếu Và chính thứ giọng điệu riêng, ngôn ngữ riêng này tạo nên một nét phong cách đặc sắc không lẫn vào đâu được của Nguyễn Ngọc Tư
Đối với chị, cuộc sống quê hương Nam Bộ luôn là mạch nguồn cảm hứng dạt dào không bao giờ vơi cạn của ngòi bút Những gì chị viết ra đều mang hơi thở cuộc sống xung quanh Tô Hoài cũng từng bộc bạch với
Nguyễn Công Hoan về vấn đề này: “Nói câu này thì có người bảo là công
thức, Gorki đã kể: ông học viết do ông bà kể chuyện Tôi thấy rất đúng Chữ nghĩa ở đây mà ra cả Các tiếng nói ở trong nhà, ở trong xóm, của bà con bạn bè, lúc bắt đầu lớn lên, nó ăn rất sâu vào óc mình…tất cả các thứ ngôn ngữ mà tôi quen nghe, quen dùng, tạo thành cho tôi cái gốc trong tác phẩm đầu tiên và cả sau này của tôi….Một nhà văn nào không nhận cái gốc tiếng
Trang 34nói của mình là từ trong nhà, trong làng và thu lượm từ ngày mình còn bé, mà lại nói khác, là anh ấy chưa dò thấy cội rễ bước đầu của mình” [42,110] Nói
như vậy thì có lẽ Nguyễn Ngọc Tư là người ý thức rõ hơn ai hết cội rễ của
mình và chính chị cũng vô cùng trân quý cội nguồn ấy: “Riêng tôi, ngôn ngữ,
không khí Nam Bộ đã thấm vào tôi từ môi trường sống Bây giờ muốn gột bỏ cũng không dễ ” [13] Bắt rễ vững chãi vào cội nguồn ấy, Nguyễn Ngọc Tư
mới có điểm tựa để phóng tầm mắt ra thế giới rộng lớn ngoài kia: “Từ nơi
này, tôi đã nhìn được rất xa, đã sống với nhiều nơi, làm bạn với nhiều người, vậy cũng hạnh phúc lắm rồi” [13] Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đã ra đời
trên những “cánh đồng bất tận”, những dòng chảy miên man Chị đã nuôi
dưỡng cảm xúc về quê hương của mình một cách phong phú và bền bỉ Viết
về vùng đất quen, con người cũ nhưng chị vẫn luôn phát hiện được nét điều thú vị, mới mẻ Như thế, nói đến những yếu tố tác động đến sự hình thành phong cách Nguyễn Ngọc Tư, không thể không kể đến môi trường Nam Bộ
1.3.3 Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư
Một quan điểm nghệ thuật bao giờ cũng dẫn tới một phong cách nghệ thuật riêng của nó, đây chính là “ý thức cá tính” của nhà văn Với tính cách bộ trực của con người Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư đã nhiều lần bộc lộ một cách thẳng thắn những quan điểm nghệ thuật trong chính các sáng tác của mình hay trong những bài phỏng vấn, nói chuyện
Đối với Nguyễn Ngọc Tư, văn chương được sinh ra từ những cảm xúc mãnh liệt của người người sĩ Văn chương muôn đời chưa bao giờ có thể xa rời cội nguồn cảm xúc Không một tác phẩm nào có thể trường tồn với thời gian nếu nó ra đời từ những tình cảm nhạt nhẽo, hời hợt Sáng tác, đối với Nguyễn Ngọc Tư, là một cách giãi bày những nỗi lòng, những tâm tư thôi
thúc: “cứ lúc nào thấy xúc động, đủ cảm xúc, có suy nghĩ về cái mình đã trải
Trang 35qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc tự tử mất thì Tư viết thôi”
[12] Một nhà văn có thể cầm bút vì nhiều lý do, Nguyễn Ngọc Tư “viết vì
nhiều thứ lắm, phần vì sự thôi thúc và để giải toả những cảm xúc dồn nén bên trong, phần vì buồn quá, không biết nói chuyện cùng ai nên tìm cách trút vào trang viết chứ chưa dám nghĩ sẽ được đăng mà kiếm cơm bằng nhuận bút”
[13] Cảm xúc luôn là điểm tựa vững chắc cho ngòi bút của chị Những cảm xúc làm mạch nguồn cho sáng tác, chị lấy ngay từ chính cuộc sống xung quanh mình, từ những con người nghèo khổ nhưng giàu nghĩa tình trong cuộc sống lam lũ Có thể thấy, Nguyễn Ngọc Tư đã đến với văn chương bằng những cảm xúc chân thật, trong sáng và đáng quý như thế Bắt nguồn từ những cảm xúc chân thành, văn chương của Nguyễn Ngọc Tư mới có thể dễ dàng chạm đến phần thăm sâu trong trái tim người đọc Đó là con đường từ
cảm xúc đến cảm xúc, con đường của “những điệu hồn đi tìm những tâm hồn
đồng điệu” (Xuân Diệu)
Nhưng cũng chính người phụ nữ nông dân chân chất với những cảm xúc trong sáng và hồn nhiên ấy, cũng là một nhà văn có ý thức sâu sắc về nghề nghiệp của mình Viết văn là một nghề lao động sáng tạo đòi hỏi ở người
nghệ sĩ sự nghiêm túc Nam Cao đã từng nói: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề
gì cũng là một sự bất lương rồi Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật
là đê tiện” (Đời thừa) Trong suốt hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư,
có những tác phẩm thành công vang dội, có những tác phẩm chưa được người đọc chú ý đến nhiều, nhưng có một điều chắc chắn rằng chưa bao giờ người ta thấy đằng sau những trang văn ấy bóng dáng của một nhà văn hời hợt và cẩu thả Đặc biệt, khi tên tuổi của chị ngày càng có tầm ảnh hưởng đối với người đọc cả nước, chị lại càng ý thức sâu sắc hơn bao giờ hết sự cái “nợ” của mình
với văn chương: “Lúc đầu chỉ viết để giải tỏa cảm xúc cho nó nhẹ người đi,
Trang 36nhưng sau này thấy cái nghiệp đeo đuổi nặng trĩu, đầy nợ nần Viết vì mình là Nguyễn Ngọc Tư” [13]
Cũng xuất phát từ trách nhiệm với nghề, Nguyễn Ngọc Tư cũng ý thức sâu sắc về yêu cầu sáng tạo đối với người nghệ sĩ Sáng tạo là đổi mới, là không lặp lại người khác Nhà văn tự tìm cho mình một lối đi riêng trên văn
đàn: “Tư chọn viết những gì mà người đi trước không viết thôi Với những gì
người đi trước viết rồi, nếu mình đi lại con đường ấy, hoặc mình phải tránh qua một bên, hoặc là mình phải vượt trội hơn Nhưng vượt trội thì khó quá, ví
dụ như để vượt qua Vũ Trọng Phụng thì thôi đi, Tư không tự làm khó mình
mà chọn cái mình làm được” [12] Vì thế mà Ngọc Tư đã đi chậm, dò dẫm để khẳng định phong cách [19] Nhà văn hiểu rõ nét riêng, cái tạng riêng “độc
quyền” của mình, chị muốn văn chương không phải là sự rập khuôn theo một công thức nào cả
Sáng tác, đối với chị, là cả một hành trình mà nhà văn phải không ngừng
nỗ lực Rõ ràng, Nguyễn Ngọc Tư đã gặt hái được những thành công nhất định trong sự nghiệp của mình Những giải thưởng danh giá mà chị sở hữu là niềm ao ước của biết bao nhà văn khác Song Nguyễn Ngọc Tư chưa bao giờ ngủ quên trên giải thưởng, chưa bao giờ tự bằng lòng với chính mình mà luôn muốn vượt qua chính mình, thử sức ở những đề tài khó Là người luôn có ý thức và trách nhiệm với nghề cầm bút, Nguyễn Ngọc Tư xác định viết văn là một lựa chọn khó, đầy nhọc nhằn, nặng nề, dằn vặt Đối với chị, con đường văn chương dẫu có nhiều nhọc nhằn, gập ghềnh, trắc trở nhưng chị không hề nản lòng Chị vẫn giàu nhiệt huyết và miệt mài với hành trình sáng tạo nghệ thuật Không ngủ quên trên chiến thắng, chị vẫn muốn vươn xa hơn nữa trên con đường nghệ thuật Vì sự đổi mới trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng cần tới những nỗ lực phi thường của người nghệ sĩ tài năng mang phẩm chất
Trang 37táo bạo, dám chấp nhận thách thức và rủi ro, nên người viết văn cần có bản lĩnh, biết chấp nhận mạo hiểm để khám phá chiều sâu, tư duy nghệ thuật mới:
“Tôi cho phép mình sai sót, bởi nghĩ không có gì là hoàn hảo hết Trên con
đường lên núi, đôi khi tôi muốn dừng lại nghỉ chân, và gắng giữ mình đừng
bao giờ bị lùi bước.”; “Tôi chỉ sợ cái bóng của Cánh đồng bất tận quá lớn
đến nỗi người đọc sẽ không nhìn thấy tôi Trên cuộc hành trình của đời mình, tôi tình cờ rẽ vào một con đường nhỏ, tình cờ dựng cái rào, rồi thấy việc trèo qua cái rào do chính mình dựng lên là vô lý, nên tôi bỏ ngang, lại tiếp tục tìm một con đường khác, nhưng bạn đọc thì cứ chờ tôi mãi ở cuối cái đường có
rào kia, bạn đọc không quan tâm tôi đã đi tới đâu, đã làm được gì” [5]
Không chỉ độc giả luôn đặt nhiều kỳ vọng vào Nguyễn Ngọc Tư mà
chính chị cũng đặt ra thử thách cho chính bản thân mình: “Không hẳn vì tự ái
nghề nghiệp đâu Tôi còn muốn nhìn mình thật rõ Có thật mình bất tài? Có thật mình không thể với tới những đề tài gai góc hơn? Có thật mình đang buông xuôi, đang tụt dốc? Nếu không phải, thì làm thử coi Đấy hoàn toàn không phải thách thức bạn bè, tôi thách thức chính mình” [21] Sau thành
công của Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư vẫn chứng tỏ bút lực dồi dào
khi liên tiếp cho ra đời đều đặn nhiều tập truyện ngắn, tản văn Có ý kiến cho
rằng phong cách mà Nguyễn Ngọc Tư đã định hình trong Cánh đồng bất tận
không còn nữa Nhưng đối với nhà văn, chiến thẳng chính bản thân đã là
chiến thẳng hiển hách nhất: “Cánh đồng bất tận không đại diện duy nhất cho
tôi” [21, đó là một thành công lớn và cũng là thử thách đối với Nguyễn Ngọc
Tư: “…tôi đã thực sự nhìn thấy một bi kịch, là bạn đọc cứ trải chiếu ở cái chỗ
Cánh Đồng Bất Tận và muốn tôi ngồi uống rượu mãi ở đó Trong khi tôi muốn đi và thực sự đã đi rồi Tại sao tôi cứ luẩn quẩn ở cánh đồng đó trong năm năm, mười năm và hai ba mươi năm nữa, mà không được đi uống rượu, ngắm cảnh ở không gian khác? Tôi biết, cái chỗ tôi muốn tới và thích tới
Trang 38không đông đảo người chờ đợi và chúc tụng; nhưng tôi tự hào là mình cũng chịu dời chân khỏi cái hào quang cũ mà đi” [48] Nếu ví văn chương như một
cánh đồng thì chị muốn cánh đồng ấy thật phong phú Chị muốn thử trồng nhiều thứ, thử xen canh trên chính mảnh đất của mình Những vụ mùa mới trên cánh đồng của Nguyễn Ngọc Tư, có thể bội thu, cũng có thể thất bát, nhưng điều quan trọng hơn cả chính là nỗ lực tự vượt mình để không ngừng vươn lên trong sự vận động không ngừng của cuộc sống và của nền văn học Chính ý thức này đã thôi thúc nhà văn khám phá những đề tài mới, thể nghiệm những cách viết mới Điều này cũng dẫn đến sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Phong cách của nhà văn với những vẻ đẹp riêng độc đáo không chỉ thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của người đọc mà còn làm cho nền văn học trở nên phong phú Là một nhà văn trẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã sớm khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Sự xuất hiện của cây bút này đã mang đến cho đời sống văn học một làn gió mới, êm ả và mát lành Và phong cách đặc sắc của chị cũng góp thêm một màu sắc độc đáo vào bức tranh chung của văn học đương đại Đó là màu sắc mộc mạc mà ấm áp của ngôn ngữ Nam Bộ và cái nhìn nhân ái về cuộc đời và con người Trong việc hình thành phong cách Nguyễn Ngọc Tư, môi trường văn hóa Nam Bộ chứng tỏ ảnh hưởng sâu đậm của nó, bên cạnh những nhân tố khác như đặc điểm con người, quan điểm nghệ thuật của nhà văn Những phương diện biểu hiện phong cách của chị luôn có sự thống nhất và ổn định trong các sáng tác Tuy nhiên, đó không phải
là sự lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, mà đúng như bản chất của phong cách, vừa nhất quán, ổn định, vừa có sự phát triển, không ngừng đổi mới Đến thời điểm hiện tại, Nguyễn Ngọc Tư vẫn là một cây bút miệt mài sáng tạo Những tập truyện ngắn được xuất bản đều đặn cho thấy quá trình lao động không ngừng nghỉ của chị Trong quá trình ấy, phong cách đã được định hình tiếp tục được triển khai một cách linh hoạt và đa dạng hơn
Trang 40CHƯƠNG 2 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Nội dung của bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng là sự kết hợp giữa cái khách quan và cái chủ quan Đó là hiện thực đã được quan sát, chọn lọc, đúc kết, nghiền ngẫm theo cách nhìn, cách cảm rất riêng của nhà văn Chi phối thế giới nghệ thuật trong tác phẩm chính là quan niệm nghệ thuật về hiện thực và
con người của nhà văn Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa quan niệm
nghệ thuật là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình
thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [35,229] Theo đó, quan niệm nghệ thuật được hiểu là cách nhìn,
cách hiểu thế giới và con người; thể hiện khả năng và mức độ phản ánh, chiếm lĩnh đời sống của hệ thống nghệ thuật
Sáng tác văn chương là một con đường nhận thức của người nghệ sĩ, vì vậy văn học luôn mang tính quan niệm Mỗi nhà văn có một cách nhìn, cách miêu tả cuộc sống và con người của riêng họ Vì hiện thực cuộc sống vốn rất
đa dạng và phong phú nên đôi mắt nhà văn thường chỉ nhìn từ một góc độ, tập trung vào một vùng trọng điểm nào đó mà họ quan tâm Con người thì lại càng phức tạp nên mỗi nhà văn cũng sẽ có thế mạnh khám phá con người ở một hoặc vài bình diện nhất định Quan niệm nghệ thuật chi phối cách lựa chọn chất liệu, xây dựng hình tượng nghệ thuật Có thể thấy trong sáng tác của cùng một nhà văn, các hình tượng khác nhau đều có chung một hệ số nhất định nào đó, bởi nó đều được chỉ đạo bởi một quan niệm thống nhất Chính điều này góp phần tạo nên phong cách nhà văn Vì thế, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người là việc làm không thể bỏ qua khi nghiên cứu phong cách của một nhà văn Sự thay đổi, vận động trong quan niệm