1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phong cách truyện ngắn nguyễn ngọc tư

117 1,7K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 680,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Nguyễn Trọng Bình có một số bài viết, chẳng hạn“Phong cách truyện ngắn Nguyễn ngọc Tư nhìn từ phương diện quan niệm nghệ thuật về con người” đã nêu lên: qua truyện ngắn Nguyễn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯƠNG THỊ HẢI

PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN NGỌC TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lương Thị Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn, phòng Quản lý và Đào tạo sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

đã tạo điều kiện cho tôi học tập

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Trịnh Bá Đĩnh, người trong suốt thời gian qua đã tận tình giúp đỡ và động viên rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Lương Thị Hải

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI VĂN HÓA HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGUYỄN NGỌC TƯ 11

1.1 Lý luận về phong cách 11

1.1.1 Phong cách là gì? 11

1.1.2 Các bình diện của phong cách 12

1.2 Văn hóa Nam Bộ và quá trình hình thành phong cách Nguyễn Ngọc Tư 14 1.2.1 Vùng văn hóa Nam Bộ-một số nét đặc sắc 14

1.2.2 Trong “đội ngũ” các nhà văn Nam Bộ 18

1.2.3 Quan niệm văn học của Nguyễn Ngọc Tư 27

Chương 2 NHÂN VẬT “CON NGƯỜI ĐỜI THƯỜNG” VÀ CÁI NHÌN NHÂN ÁI VỀ CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 32

2.1 Nhân vật văn học 32

2.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 32

2.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học 33

2.2 Nguyễn Ngọc Tư với cảm quan đời thường trong xây dựng nhân vật văn học 34

2.2.1 Người nghệ sĩ miệt vườn 34

2.2.2 Người nông dân Nam Bộ 39

2.2.3 Chất thơ của vẻ đẹp tâm hồn 47

2.2.4 Nhân vật với những bi kịch đời thường 52

Trang 6

2.3 Cái nhìn nhân ái của Nguyễn Ngọc Tư trong truyện ngắn 57

2.3.1 Những khuynh hướng quan niệm về con người trong văn học trẻ đương đại 57

2.3.2 Cái nhìn nhân ái về con người của Nguyễn Ngọc Tư 59

Chương 3 ĐẶC SẮC TRONG NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN 72

VÀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ 72

3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 72

3.1.1 Khái niệm cốt truyện 72

3.1.2 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư với cốt truyện - dòng tâm trạng 73

3.2 Giọng điệu 77

3.2.1 Quan niệm về giọng điệu 77

3.2.2 Một giọng văn “điềm đạm mà thấu đáo” 78

3.3 Ngôn ngữ Nam Bộ đặc trưng 91

3.3.1 Lối diễn đạt Nam Bộ 91

3.3.2 Đặc trưng hệ thống từ vựng địa phương 95

3.3.3 Lớp từ gợi ấn tượng về “văn hóa sông nước” 97

3.3.4 Sáng tạo và biến ngôn ngữ “đời thường” của người bình dân thành ngôn ngữ văn học 99

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phong cách nhà văn là một quá trình vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác Nhưng mặc dù vậy, cái riêng độc đáo có giá trị mang tính thẩm mỹ - cốt lõi phong cách, dù ở điều kiện hoàn cảnh nào cũng ổn định, thống nhất Bản sắc thẩm mỹ riêng ấy phải có những yếu tố

“lặp đi lặp lại” một cách có hệ thống và luôn bị chi phối bởi cái nhìn độc đáo của nhà văn Nó thường xuyên ở thế vận động, phát triển và chịu ảnh hưởng của thế giới quan, môi trường xã hội và xu thế chung của thời đại, nhưng dù ở môi trường nào, xu thế xã hội ra sao, yếu tố thường xuyên được lặp lại ấy vẫn tồn tại cho dù chúng ngầm ẩn Nhiệm vụ của người nghiên cứu phê bình khi tìm hiểu một nhà văn là chỉ ra đặc sắc riêng, tức phong cách nhà văn đó

1.2 Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn trẻ mới xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm nay đã trở thành một “hiện tượng” đặc biệt, làm nóng văn đàn, trở thành đề tài trong một số cuộc tranh luận văn chương và được bạn đọc rất chú

ý Là một nhà văn trẻ nhưng chị là chủ nhân của của nhiều giải thưởng có uy

tín, tiêu biểu là: Giải Nhất cuộc vận động sáng tác "Văn học tuổi 20 lần II" do

Nhà xuất bản Trẻ, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ tổ

chức năm 2000 với tập truyện "Ngọn đèn không tắt"; Giải của Hội Nhà văn

Việt Nam các năm 2001, 2004, 2006; Giải Ba cuộc thi sáng tác truyện ngắn

2003-2004 của báo Văn Nghệ với truyện ngắn "Đau gì như thể…"; Giải

thưởng văn học ASEAN năm 2008; Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban Toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Chị là một

trong "Mười gương mặt tiêu biểu năm 2003" do TW Đoàn trao tặng và là một

trong những Hội viên trẻ nhất của Hội nhà văn Việt Nam

Trang 8

Liên tiếp các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư được tái bản Bạn đọc Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, tầng lớp khác nhau trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt Truyện ngắn của chị được dịch ra tiếng Hàn Quốc, Tập

truyện “Cánh đồng bất tận-những truyện ngắn hay và mới nhất” trở thành

cuốn sách Best-seller (Bán chạy nhất) của văn học Việt Nam trong năm 2006 Năm nghìn bản in lần thứ nhất bán hết trong một tuần, số lượng phát hành lên đến 25.000 bản, số ấn bản cao nhất trong năm Sự lay động và sức ám ảnh của chị đã đánh thức một bộ phận không nhỏ những người đọc đang thờ ơ và quay lưng với văn học Với lối viết truyền thống lại bằng một giọng điệu hóm hỉnh, tưng tửng và đặc chất Nam Bộ, tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư khẳng định được

vị trí trên văn đàn Giáo sư Trần Hữu Dũng đã lập “Tủ sách Nguyễn Ngọc Tư” trên trang web của ông Phạm vi bạn đọc và ảnh hưởng của Nguyễn Ngọc Tư ngày càng được rộng mở hơn trên các kênh phương tiện thông tin khác

1.3 Trong bối cảnh văn chương Việt Nam đang loay hoay làm mới văn xuôi thì Nguyễn Ngọc Tư như cô gái tỉnh lẻ vẫn giữ nguyên cái tạng chân chất của mình Chị thuộc kiểu nhà văn theo lối viết truyền thống, cổ điển Văn chị đứng ngoài khuynh hướng “hiện đại”, “cách tân” Nhưng như một nhà nghiên cứu từng nhận định, việc bứt phá khỏi quỹ đạo truyền thống là một nỗ lực đáng ghi nhận, trân trọng nhưng trụ vững trên cái nền tảng của truyền thống

mà vẫn tạo được dấu ấn của mình, điều đó cũng thể hiện cái tầm của người viết Dấu ấn lớn nhất của Nguyễn Ngọc Tư nằm ở “quặng văn” của chị Đó trước hết là sự hồn hậu, nhân hậu, là cái nhìn nhân ái về con người, về cuộc đời sau nữa là bản sắc vùng văn hóa nơi chị sinh ra, sống và viết Nhà văn Dạ Ngân còn cho rằng đó là cái thế mạnh, là cái mạnh nhất của Ngọc Tư, đó sẽ là cái còn lại, dù sau này có thể Ngọc Tư sẽ viết về những vấn đề gay gắt hơn Điều này làm nên sự thành công và khác biệt của văn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 9

Năm 2005, tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư đã tạo

nên làn sóng tranh luận sôi nổi trong và ngoài giới phê bình văn học Nhiều ý kiến trái ngược nhau, có những bài phê bình gay gắt, lại có bài ca ngợi hết lời Những ý kiến này đề cập đến nhiều phương diện, đặc biệt là những quan niệm khác nhau về cuộc sống, cách nhìn nhận về con người trong sáng tác của chị

Dù đã có khá nhiều bài phê bình khác nhau song công trình nghiên cứu một cách hệ thống về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là chưa nhiều Đặc biệt, vấn

đề phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư trong truyện ngắn vẫn là một

đề tài còn chưa được xem xét thấu đáo

1.4 Chúng tôi nhận thấy ở Nguyễn Ngọc Tư một tài năng thiên bẩm, một khả năng vươn lên mạnh mẽ, sự tự học và trải nghiệm đáng kính nể Chị xứng đáng được xem là hiện tượng văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI Trong giới hạn luận văn, chúng tôi muốn thể hiện lòng yêu mến đối với một tài

năng trẻ bằng cách dành tâm trí để tìm hiểu “Phong cách truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư”

2 Lịch sử vấn đề

Nói tới phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư đã có nhiều bài viết đề cập đến các khía cạnh riêng lẻ, ở đây chúng tôi đề cập đến một số bài tiêu biểu, có ít nhiều liên quan đến luận văn này Tác giả Nguyễn Trọng Bình có

một số bài viết, chẳng hạn“Phong cách truyện ngắn Nguyễn ngọc Tư nhìn từ

phương diện quan niệm nghệ thuật về con người” đã nêu lên: qua truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư, ở đây tác giả chỉ ra một “mô hình” về con người rất độc đáo trong cái nhìn riêng của chị “Mô hình” ấy vừa có sự kế thừa vừa có sự sáng tạo mang phong cách riêng của Nguyễn Ngọc Tư Đó là “mô hình” con người hướng thiện - kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư Có thể nói, kế thừa truyền thống quan niệm nghệ thuật về con người của các thế

hệ đi trước, bằng sự trải nghiệm và sáng tạo của bản thân, Nguyễn Ngọc Tư

đã trình ra một “cái nhìn”, một cách “lý giải” về con người rất mới mẻ và độc

Trang 10

đáo, đem đến cho người đọc một sự thích thú, bạn đọc ngày một yêu mến truyện ngắn của chị hơn Đây chính là dấu ấn riêng góp phần làm nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư.[6.1]

Bài “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa” đưa ra nhận

định: truyện của Nguyễn Ngọc Tư có những đặc trưng văn hóa đồng bằng sông Cửu Long! Qua những sáng tác của chị, độc giả không những được thưởng thức câu chuyện thắm đượm tinh thần nhân văn mà còn được cung cấp thêm những cứ liệu văn hóa về vùng quê sông nước đồng bằng sông Cửu Long rất bổ ích Đó là một khuynh hướng thẩm mĩ trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư - khuynh hướng mang vào tác phẩm những bản sắc và giá trị văn hóa của dân tộc, của quê hương (cụ thể ở đây là những nét đẹp văn hóa nơi vùng đất cực Nam của Tổ quốc).[7.1]

Hay trong “Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”

nhà phê bình cũng cho rằng: Qua khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi nhận thấy nếu xem giọng điệu như một yếu tố nhằm thể hiện nội dung và chủ đề của tác phẩm thì giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của

Nguyễn Ngọc Tư là Giọng buồn nhưng không chán chường, ủ dột Còn như

xem giọng điệu từ góc nhìn nhằm thể hiện thái độ, quan điểm của tác giả trong quá trình trần thuật, thì giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của

Nguyễn Ngọc Tư là giọng điềm nhiên, trầm tĩnh [5.1] Tất cả những vấn đề

này, ở góc độ nào đó chính là những nét riêng, độc đáo góp phần tạo nên phong cách của Nguyễn Ngọc Tư ở thể loại truyện ngắn

Bài “Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản miền Nam”của GS Trần Hữu Dũng là

một bài viết rất thú vị Ông đã xem xét truyện ngắn của chị một cách tường tận và thấu đáo trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Trần Hữu Dũng đặc biệt đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc

Trang 11

văn nào khác, như là một “đặc sản miền Nam” Bằng tất cả sự yêu mến chân

thành, Trần Hữu Dũng cũng không quên cảnh báo những nguy cơ có thể khiến tác giả trẻ này đi vào lối mòn trong sáng tác bên cạnh sự nhìn nhận tán thưởng tài năng của chị [13.1] Nói chung, các ý kiến nhấn mạnh đến bản sắc Nam Bộ trong sáng tác của nhà văn này là khá nhiều

Huỳnh Công Tín với bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam

Bộ” cũng dành cho Nguyễn Ngọc Tư những lời khen tặng xứng đáng Ông

đánh giá cao khả năng xây dựng những không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư và thừa nhận: “Đặc biệt vùng đất và con người trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [52.1] Huỳnh Công Tín cũng đánh giá cao khả năng miêu tả tâm lý người và vật hết sức sắc sảo của Nguyễn Ngọc

Tư, ông cũng yêu cầu chúng ta cần có cái nhìn thông cảm hơn khi những vấn

đề quan tâm còn nhỏ nhặt và chưa có tầm bao quát Ông cũng khẳng định cái đáng quý cần phát huy ở chị chính là chất Nam Bộ trong sáng tác

Bài viết của Trần Phỏng Diều với tựa đề “Thị hiếu thẩm mĩ trong

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” Với cách hiểu “đi tìm thị hiếu thẩm mỹ trong

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhận diện văn chương chị một khía cạnh khác, thực chất là đi tìm những hình tượng văn học trong sáng tác của tác giả Các hình tượng văn học này cứ trở đi trở lại và trở thành một ám ảnh khôn nguôi, buộc người viết phải thể hiện ra tác phẩm của mình.”[11.1] Trần Phỏng Diều

đã chỉ ra thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thể hiện qua

ba hình tượng: hình tượng người nghệ sĩ, hình tượng người nông dân và hình tượng dòng sông Sau khi phân tích vẻ đẹp của từng hình tượng, anh cũng đánh giá rất cao văn phong mộc mạc, cách viết như nói của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 12

Theo anh, nếu chị đánh mất đi vùng thẩm mỹ này thì đồng thời cũng làm mất

đi rất nhiều giá trị thẩm mỹ trong tác phẩm của mình

Ngoài ra, chúng tôi cũng thu thập được hai bài viết tìm hiểu một số khía cạnh về không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn

của Nguyễn Ngọc Tư Đó là bài viết “Không gian sông nước trong truyện

ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” của Thụy Khuê và bài viết “Thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư” của Mai

Hồng cùng được đăng trên trang web “Viet-studies” Nhìn chung, Thụy Khuê

thống nhất ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian Nam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, góp phần to lớn vào việc phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của tác giả Việc chỉ ra

kiểu thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” cũng là

một góc nhìn mới lạ của Mai Hồng trong việc tìm hiểu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ở nước ta hiện nay

Điểm qua một số bài viết mang tính “học thuật” như thế để hiểu thêm

về tình hình nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tư ở nước ta hiện nay nói chung là chưa nhiều và ít có cái nhìn hệ thống mang tính học thuật, đáp ứng việc hiểu

và giảng dạy Nguyễn Ngọc Tư trong nhà trường Đa phần các bài viết đều được đăng tải trên các báo, chưa có một công trình nghiên cứu chính thức được in thành sách Ngoài ra, hầu hết các bài viết đều trên tinh thần giới thiệu một tập truyện của chị vừa xuất bản, hay phê bình một truyện ngắn cụ thể nào

đó Chiếm đa số trong những tài liệu chúng tôi thu thập được là những bài phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư, những bài viết kể lại những kỉ niệm hay những lần gặp gỡ chị ở Cà Mau Chúng tôi nhận thấy có rất ít những bài phê bình truyện ngắn của chị trên bình diện khái quát mà đa số tập trung vào truyện

ngắn “Cánh đồng bất tận” Những bài viết ấy phần lớn đều là khen chê một

Trang 13

cách cảm tính, chủ yếu là những bài báo với tư cách tranh luận trên diễn đàn nhiều hơn là công trình nghiên cứu khoa học thật sự Thế nhưng, chúng tôi rất coi trọng những ý kiến đánh giá nghiêm túc và đúng đắn của các nhà văn và nhà phê bình như Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Khắc Phê, Nguyên Ngọc, Dạ Ngân,…những ý kiến này đã giúp chúng tôi tỉnh táo và vững vàng hơn trong việc nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Đề tài của luận văn này là tìm hiểu phong cách nghệ thuật truyện ngắn của một tác giả trẻ, do đó dĩ nhiên chưa thể có những công trình nghiên cứu dày dặn và thấu đáo để người viết tham khảo Các nguồn tư liệu chủ yếu được

thu thập trên các trang web văn học như: Viet-studies, E-văn, Vietnamnet, Văn

nghệ Sông Cửu Long…, trên các tờ báo giấy uy tín như: Văn nghệ, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người lao động, Tiền Phong, Công an nhân dân…và chúng tôi còn

tham khảo trên các diễn đàn văn học, blog cá nhân của tác giả và những nhà văn, nhà nghiên cứu khác để có thêm tư liệu Không thể nói tư liệu về Nguyễn Ngọc

Tư ít ỏi, nhưng trước sự đa dạng của các ý kiến cũng như các nguồn tư liệu, chúng tôi buộc phải cân nhắc khách quan để “gạn lọc” mong để tìm ra những tư liệu, những bài viết có giá trị nhằm phục vụ tốt cho luận văn này

Ngoài ra đã có nhiều luận văn nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư

như: Đặc điểm truyện ngắn hai cây bút nữ Phan Thị Vàng Anh và Nguyễn

Ngọc Tư (Ngô Thị Diễm Hồng); Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Phạm Thái Lê); Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Lê Hồng Tuyến); Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy nhìn từ phương diện văn học - văn hóa (Dương Thị Kim Thoa); Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nguyễn Thị Kiều Oanh) Chúng

tôi có kế thừa một số kết quả của các luận văn này

Chúng tôi nhận thấy chưa có một luận văn, luận án nào nghiên cứu toàn diện phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, do vậy, chúng tôi đã tìm được khoảng trống để thực hiện đề tài này Các công trình nghiên cứu của những

Trang 14

người đi trước sẽ là gợi dẫn bổ ích và quý báu cho chúng tôi tiếp cận và triển khai đề tài

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã xuất bản gồm:

1 “Ngọn đèn không tắt” (Tập truyện - NXB Trẻ - 2000)

2 “Ông ngoại” (Tập truyện thiếu nhi - NXB Trẻ - 2001)

3 “Biển người mênh mông” (Tập truyện - NXB Kim Đồng - 2003)

4 “Giao thừa” (Tập truyện - NXB Trẻ - 2003)

5 “Nước chảy mây trôi” (Tập truyện và kí - NXB Văn nghệ TP.HCM - 2004)

6 “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” (Tập truyện - NXB Văn hóa sài

gòn - 2005)

7 “Cánh đồng bất tận” (NXB Trẻ 2005)

8 “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác” (NXB Trẻ - 2008)

9 “Khói trời lộng lẫy” (NXB Thời đại - 2010)

Đề tài tập trung nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư trong truyện ngắn qua những tập truyện mang tính dấu mốc, cụ thể là các tập truyện ngắn sau:

- “Giao thừa”, Nhà xuất bản Trẻ, 2003

- “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, NXB Văn hoá, 2005

- “Cánh đồng bất tận”, NXB Trẻ, 2005

- “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”, NXB Trẻ, 2008

Tuy nhiên việc nghiên cứu phong cách không thể tách rời nghiên cứu

cả chặng đường sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư nên chúng tôi có sử dụng những tác phẩm trong cả quá trình sáng tác để thấy được sự vận động trong truyện ngắn của chị

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 15

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này trong phạm vi xác định là phương diện nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư về tư liệu có khảo sát thêm những tranh luận về nghệ thuật xung quanh tác phẩm của chị

Từ phong cách nghệ thuật truyện ngắn, được biểu hiện qua thế giới nhân vật, ngôn ngữ, nghệ thuật kể chuyện Vì vậy, chúng tôi đi vào phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư trong truyện ngắn ở ba phương diện: cơ sở văn hóa hình thành phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư; nhân vật “con người đời thường” và cái nhìn nhân ái về con người của Nguyễn Ngọc Tư; đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và sử dụng ngôn ngữ

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu phối hợp sử dụng những phương pháp sau:

4.1 Phương pháp phân tích

Đi vào phong cách nghệ thuật của một tác giả, luận văn sử dụng phương pháp phân tích tác phẩm để tìm ra các đặc điểm riêng có giá trị, ý nghĩa của tác phẩm ở các cấp độ khác nhau, từ đó làm sáng tỏ những luận điểm của luận văn

4.2 Phương pháp tổng hợp - so sánh

Để thấy được phong cách riêng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng như

sự đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư cho nền văn học Việt Nam đương đại, trong quá trình nghiên cứu người viết có tiến hành so sánh đối chiếu Nguyễn Ngọc Tư với một số cây bút truyện ngắn khác nhất là một số nhà văn nữ cùng thế hệ như: Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban,…ở từng vấn đề có liên quan để thấy được những nét tương đồng và dị biệt, từ đó thấy rõ hơn đặc điểm truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

4.3 Phương pháp nghiên cứu lịch sử

Trang 16

Chúng tôi đặt Nguyễn Ngọc Tư vào bối cảnh lịch sử để nghiên cứu Những giá trị truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được đánh giá trong mối tương quan với thành tựu văn học đương thời sau đổi mới Nét mới, nét độc đáo được nhìn nhận trong thời điểm nó ra đời

4.4 Phương pháp hệ thống

Để hiểu được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư trong truyện ngắn, luận văn chú trọng tìm ra được yếu tố tạo nên tính chỉnh thể và quy luật cấu trúc của nó Mọi đối tượng, vấn đề khảo sát được chúng tôi đặt trong hệ thống, trong quy luật của cấu trúc này

5 Đóng góp của đề tài

Với đề tài “Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, luận văn sẽ

xem xét đặc sắc của sáng tác truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên mọi khía cạnh: tư tưởng, hình tượng, nghệ thuật kể chuyện làm nổi bật tính riêng, không trộn lẫn của lối viết Nguyễn Ngọc Tư nhằm khẳng định tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, từ đó xác nhận vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XXI

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm ba phần chính: Ngoài phần Mở đầu và Kết luận; phần

Nội dung được chia làm ba chương:

Chương 1: Khái niệm phong cách nghệ thuật và cơ sở xã hội văn hóa

hình thành phong cách Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2: Nhân vật “con người đời thường” và cái nhìn nhân ái về

con người của Nguyễn Ngọc Tư

Chương 3: Đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và sử dụng ngôn ngữ

Trang 17

Chương 1 KHÁI NIỆM PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI VĂN HÓA HÌNH THÀNH PHONG CÁCH

sắc Chỉ ngay ở Liên Xô, viện sỹ M.B Khrapchenko trong cuốn Cá tính sáng

tạo của nhà văn và sự phát triển văn học đã thống kê tới gần 20 cách hiểu

khác nhau về phong cách Ngoài ra còn phải kể đến công trình của V V Vinôgrađôp, của D X Likhatsep các công trình của M.B Khrapchenko

Trong lý luận văn học phương Đông cách nói Văn ư kỳ nhân (Văn tức

là người), cũng là nhằm nói đến phong cách văn học, nó tương tự như cách

nói ở phương Tây “Le style, c‟est l‟homme?”

Cụ thể, Trung Quốc, cách thời đại chúng ta gần 1.500 năm, Lưu Hiệp

trong Văn tâm điêu long đã có hai chương bàn luận rộng rãi những vấn đề liên

quan đến sáng tác văn chương và tác giả: trong 49 chương trình bày lý luận cơ bản về sáng tác, phê bình, phần thứ 3 bao gồm 24 chương cuối, tác giả bàn về

phong cốt, tình thái

Ở nước ta, tuy muộn màng hơn, nhưng những năm gần đây, các nhà lý luận nghiên cứu văn học đã dành nhiều công sức tìm hiểu vấn đề phong cách

Từ những sách công cụ như: Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần

Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi chủ biên Các nhà lý luận, nghiên cứu văn học nước ta cũng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nội hàm thuật ngữ phong cách

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ

văn học trên cơ sở thừa nhận hai phạm trù phong cách ngôn ngữ và phong

Trang 18

cách nghệ thuật, đã định nghĩa: “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm

mỹ, chịu sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong một tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” Và khẳng định: “Trong chỉnh thể “nhà văn” (hiểu theo nghĩa là các sáng tác của một nhà văn), cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy”

Thống nhất với quan điểm đó, các tác giả cuốn Lý luận văn học (NXB

Giáo dục,1987) xác định: “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng nghệ thuật

có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú”

Từ những quan niệm về phong cách của các tác giả trong nước và ngoài

nước, chúng tôi cũng đưa ra một quan niệm về phong cách như sau: Phong

cách là một phạm trù thẩm mĩ, một chỉnh thể nghệ thuật, mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Nó bao gồm những đặc điểm cả về nội dung và hình thức, thể hiện sự độc đáo, đặc trưng mang tính thống nhất, ổn định xuyên suốt các sáng tác của mỗi nhà văn

Phong cách nhà văn là một quá trình vận động, phát triển không ngừng qua mỗi giai đoạn sáng tác Mặc dù vậy, cái riêng độc đáo mang tính thẩm mĩ - cốt lõi phong cách, dù ở điều kiện hoàn cảnh nào cũng ổn định, thống nhất

1.1.2 Các bình diện của phong cách

Có bốn kiểu quan niệm khác nhau về các bình diện của phong cách nghệ thuật:

(1) Phong cách chỉ thuần túy là vấn đề kỹ thuật hay cách thức biểu đạt, biểu hiện ở hình thức của tác phẩm

(2) Phong cách chủ yếu và trước hết biểu hiện qua ý thức nghệ thuật, qua cái nhìn, qua cách cảm nhận thế giới độc đáo của nhà văn (phong cách chỉ

Trang 19

(3) Phong cách biểu hiện cả ở nội dung, cả ở hình thức của tác phẩm (4) Phong cách biểu hiện thành những đặc điểm hình thức nhưng những đặc điểm này có nguồn gốc trong ý thức nghệ thuật của nhà văn, tức là hình thức có tính nội dung

Chúng tôi nghiêng theo quan niệm thứ (4): “Tổng thể thẩm mỹ của tất

cả các phương diện và các yếu tố của tác phẩm làm nên một sự đặc sắc nhất định.” Phong cách không phải là một yếu tố mà là một đặc tính của hình thức nghệ thuật, nên nó không bị định vị (chẳng hạn như các yếu tố cốt truyện hay chi tiết nghệ thuật), nó dường như tán phát trong toàn bộ cấu trúc hình thức

Do vậy, nguyên tắc tổ chức của phong cách được thể hiện trong mọi khúc đoạn văn bản, mỗi “điểm” văn bản đều mang trên mình dấu ấn của toàn thể Nhờ đó, ta nhận ra phong cách qua các khúc đoạn riêng lẻ: người đọc thành thạo chỉ cần đọc một đoạn văn nhỏ trong tác phẩm của một nhà văn cũng đủ

tự tin gọi tên tác giả của nó” [Bản dịch của Trịnh Bá Đĩnh, từ cuốn Bách

khoa toàn thư văn học: các khái niệm và thuật ngữ, Viện Thông tin các

khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Moskva, 2001, tr 1031] Theo

đó, phong cách chủ yếu được nhận diện qua các yếu tố hình thức mang tính nội dung Tuy nhiên, phong cách không chỉ là hình thức, nó còn bắt rễ sang bình diện nội dung

Trong luận văn này của mình, chúng tôi tập trung vào những nguyên tắc nghệ thuật, những kiểu lựa chọn riêng trong các yếu tố cấu trúc phong cách (cách xử lí, thế giới hình tượng, cốt truyện và ngôn ngữ…) để gọi tên các phương diện nội dung của phong cách (quan niệm nghệ thuật về con người, xã hội, tư tưởng nghệ thuật ) Chúng tôi cũng luôn ý thức làm rõ sự gắn bó của các thành tố cấu trúc phong cách, các phương diện phong cách với nhau và với chỉnh thể phong cách tác giả

Trang 20

1.2 Văn hóa Nam Bộ và quá trình hình thành phong cách Nguyễn Ngọc Tƣ

Các nhà nghiên cứu văn học theo hướng tiểu sử học mà đại diện tiêu biểu nhất là nhà nghiên cứu Pháp H Taine cho rằng vùng đất với môi trường văn hóa, địa lí, lịch sử của nó có ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính sáng tác văn học của nhà văn Ở ta, Nguyễn Bách Khoa, Trần Thanh Mại và nhiều nhà nghiên cứu khác nữa cũng vận dụng quan điểm này trong nghiên cứu văn của Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương và thu được nhiều kết quả Một số ý kiến có thể cực đoan song ảnh hưởng của vùng văn hóa đến phong cách nhà văn là rõ ràng và được nhiều nhà nghiên cứu cũng như các nhà văn xác nhận

1.2.1 Vùng văn hóa Nam Bộ-một số nét đặc sắc

Mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền khác Cho nên, không ở đâu có nhiều

từ ngữ để chỉ các loại hình và hoạt động sông nước như ở vùng này: sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, ngọn, rọc, tắt, mương, rãnh, ao, hồ, đìa, hào, láng, lung, bưng, biền, đầm, đìa, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, bàu ; nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước nhửng, nước rông, nước rặc, nước lên, nước xuống, nước nhảy, nước chụp, nước rút, nước nổi, nước lụt, nước lềnh, nước cạn, nước xiết, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi Sông nước đã trở thành một yếu tố cấu thành đặc trưng của văn hoá nơi đây

Việc giao thương của vùng cũng mang đặc thù sông nước Từ xưa, các

trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông rạch, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá: Nông Nại Đại phố, Mỹ Tho Đại phố,

Sài Gòn, Cần Thơ Đặc biệt ở miền Tây còn có các chợ nổi mà toàn bộ hoạt

động đều diễn ra trên sông nước Chợ nổi Long Xuyên (An Giang) là nơi hàng trăm ghe xuồng tụ tập để buôn bán hàng hoá nông sản như bánh canh

Trang 21

ngọt, lạt, bánh tầm, bánh bò, hủ tiếu, chè đậu đỏ, cà phê Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) tụ họp hàng trăm ghe từ tờ mờ sáng, bán đủ loại sản phẩm miệt vườn được treo trên một cây sào cắm trước mũi ghe gọi là "cây bẹo" Người mua chỉ cần nhìn vào "cây bẹo" là biết ngay ghe bán thứ gì Tương tự

là chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang) Là nơi

"dân thương hồ" lui tới mưu sinh, chợ nổi đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá rất đặc thù của miền Tây sông nước, và được ngành du lịch khai thác như một sản phẩm du lịch độc đáo dành cho du khách

Chúng ta cũng nói về một thú vui tinh thần rất quen thuộc của người dân Nam Bộ, đó là xem hát bội, sau này với những cách tân được gọi là hát

cải lương Theo cuốn “Cá tính miền Nam” của nhà văn Sơn Nam, “nếu năm

1906 tạm được xem là khởi điểm cho phong trào nói thơ, nói truyện lần hồi lan rộng trong giới bình dân thì đó cũng là năm khởi điểm cho phong trào đờn

ca tài tử” cải lương Đờn ca tài tử đã sống cùng với người dân Nam Bộ hơn một thế kỷ nay và đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân vùng sông nước chín rồng Ta biết ngay chính nhà văn Lý Văn Sâm khi còn trẻ cũng đã từng mơ trở thành một soạn giả, ông cũng đã viết một số vở cải lương và rất thần tượng nhà viết kịch Trần Hữu Trang Cải

lương ngày xưa có Tình anh bán chiếu, Dạ cổ hoài lang, Đời Cô Lựu, …còn

cải lương ngày nay bên cạnh những tích vở cổ thì còn đi vào cả đời sống hàng ngày của người dân với những vấn đề sớm hôm họ phải giải quyết Trong bài

Nhịp sống cải lương Nam Bộ của tác giả Lê Xuân có viết như thế này: “Ở

đồng bằng sông Cửu Long, các thuyền văn hóa, xe lưu động của các đội tuyên truyền văn hóa quận, huyện, phường, xã vẫn tới nhiều địa điểm bến sông, bãi chợ để ca vọng cổ và diễn các vở cải lương ngắn tuyên truyền các ngày lễ lớn hay các cuộc vận động cho một chủ trương, đường lối chính sách nào đó của

Trang 22

Đảng và Nhà nước Chỉ cần ca hai câu vọng cổ là đã tập hợp được rất nhiều quần chúng và sau đó các tuyên truyền viên mới vào cuộc…Tới các điểm du lịch sinh thái ở miệt vườn hay tới các quán ca cổ ở đồng bằng sông Cửu Long

ta sẽ thấy không khí đờn ca tài tử rất sôi nổi và mùi mẫn Về ẩm thực, món ăn Nam Bộ đặc sắc ở chỗ nó được tạo ra, mang sắc thái riêng, hương vị ngọt ngào riêng bởi hơi đất miệt vườn mênh mông, vị ngọt sông rạch ào ạt dâng tràn mùa lũ, khí trời lồng lộng gió biển Tây Nam, cái uy nghi thâm u của lớp lớp rừng già đồi núi nơi đây Đó chính là “nguyên liệu” đầu tiên, chỉ có cho

ẩm thực vùng châu thổ này, nơi đã trở thành “đất lành chim đậu”, mưa thuận

gió hòa, ngày càng trù phú, phồn thịnh: “Ruộng đồng mặc sức chim bay/ Biển

hồ lai láng một bầy cá đua” (Ca dao Nam Bộ)

Ẩm thực Nam Bộ (và Việt Nam) ẩn chứa sức mạnh văn hóa nặng lắm

Nó không chỉ liên kết không gian, thời gian; truyền thống, hiện đại mà cả tâm linh, tư tưởng con người nữa Nói về tính cách cũng như cách đối nhân xử thế của con người, có thể thấy điểm nổi trội nhất của người Nam Bộ là cách suy nghĩ bộc trực, phóng khoáng; lối sống “xả láng sáng về sớm” và luôn “chơi hết mình” vì người khác (Thật ra về những những nét tính cách này của người Nam Bộ, không phải người Việt Nam sống trên các vùng, miền khác không có, nhưng ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến những nét nổi trội và

ưu thế nhất góp phần làm nên cá tính riêng của con người ở mỗi vùng, miền…trên lãnh thổ ta mà thôi) Bên cạnh đó, người Nam Bộ trong suy nghĩ

và lời nói cũng thể hiện một cái gì đó rất bộc trực và thẳng thắn Nói như nhà

văn Sơn Nam đó là “tinh thần phóng khoáng thực tế, ghét những lí luận

quanh co Cứ nói thẳng để xem chuyện đó ra sao Muốn gì thì nói phứt nó ra

Họ ghét những cuộc tranh luận về lí thuyết chính trị hoặc lí thuyết siêu hình,

và có thành kiến cho rằng kẻ dùng quá nhiều lí luận là “lẻo mép”, gian xảo

Trang 23

Họ thích nói chuyện vui, chuyện có đầu có đuôi, những giai thoại khôi hài Nói “lí luận” là “buồn ngủ” Nói chuyện quanh co là kém thành thật” [4]

Người Nam Bộ, vì thế, trong giao tiếp ứng xử có người cho rằng họ nói chuyện có khi “bụm miệng không kịp” vì chuyện gì cũng “huỵt tẹt” cũng

“bốp chát”, “rổn rảng”, “có sao nói vậy”… điều này đã góp phần hình thành nên một thứ ngôn ngữ rất đặc trưng trong giao tiếp, nói năng của người Nam

Bộ Những tính cách này của người Nam Bộ không thể nói là không có ảnh hưởng đến văn Nguyễn Ngọc Tư Cả về nhân vật, giọng văn, ngôn từ…trong truyện Nguyễn Ngọc Tư dễ thấy bóng dáng “tính cách Nam Bộ”

Nguyễn Ngọc Tư, ngay từ những trang viết đầu tiên, người đọc đã cảm nhận được đây là nhà văn có giọng điệu Nam Bộ đặc sệt Có nhà văn đã từng nhận xét: “Văn của Ngọc Tư mang đậm chất Nam Bộ: hồn hậu, hào sảng Văn hóa tiểu vùng khác nhau, thì sản sinh những chất văn khác nhau, sản sinh

ra những tác giả khác nhau Ở Bắc Hà không sinh ra văn của Ngọc Tư được,

mà ở Nam Bộ không thể sinh ra được văn của Y Ban và Tạ Duy Anh được, tôi nghĩ thế.”[32.1] Điều đó có thể lý giải bằng nhiều cách, nhưng có lẽ ngoài việc sử dụng tối đa phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư còn là nhà văn quan tâm đến những vấn đề số phận, con người của vùng đất nông thôn ở Nam Bộ Những câu chuyện của chị kể về những số phận, con người mang đậm chất Mũi Cà Mau, mang một hơi thở, sức sống riêng của mảnh đất địa đầu Tổ quốc

Đọc truyện của chị, người đọc sẽ cảm nhận được chất Nam Bộ thể hiện khái quát ở nhiều phương diện của tác phẩm Đầu tiên là một không gian Nam

Bộ với nhiều loại cây quen thuộc của mảnh đất này: “mắm, đước, sú, vẹt, bần, tra, tràm, choại, quao, ô rô, dừa nước…”; với những vàm, kinh, rạch chằng chịt, mà tên gọi cũng gợi trí tò mò, tìm hiểu ở người đọc: “vàm Cỏ Xước,

Trang 24

Vàm mắm, kinh Cỏ Chác, kinh Mười Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi, Rạch Ráng, Rạch Ruộng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, Lung Lớn, Gò Cây Quao…”; hay những tên ấp, tên làng, tên chợ nhiều chất Nam Bộ: “xóm Xẻo, xóm Rạch, xóm Kinh Cụt, xóm Miễu, chợ Ba Bảy Chín, Cái Nước, Trảng Cò, Đất Cháy, Mút Cà Tha…” Nhân vật trong tác phẩm của chị cũng là những con người Nam Bộ với những cái tên hết sức bình dị, chân chất, đặt tên theo thứ tự, và cách xưng gọi thứ kết hợp với tên: Hai, Ba, Tư, Chín, Út…; Tư Nhớ, Năm Nhỏ, Sáu Đèo…họ mang những tâm tư, nguyện vọng cũng hết sức nhỏ bé, đời thường Đó là những con người sinh sống bằng những ngành nghề cũng gắn liền với quê hương sông nước Nam Bộ, như: nghề sông nước, nghề nuôi vịt chạy đồng, nghề theo gánh hát,… ngoài những ngành nghề truyền thống: làm ruộng, làm rẫy, đan lát…

Như vậy, có thể nói do được sống và lớn lên trên mảnh đất Nam Bộ, những nét tính cách trong văn hóa ứng xử cũng như ngôn ngữ của cha ông đã

ăn sâu vào tiềm thức của Nguyễn Ngọc Tư Vì thế, khi sáng tác, những nét văn

hóa “rặt Nam Bộ” ấy đã đi vào trang viết của chị một cách tự nhiên như một

điều tất yếu không thể nào khác được Nó cũng là một phần làm nên sức hấp dẫn của các tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, tính truyền thống, giản dị, hồn hậu nhưng có bản sắc rất riêng là điều ai cũng thấy ở truyện Nguyễn Ngọc Tư

1.2.2 Trong “đội ngũ” các nhà văn Nam Bộ

Nguyễn Ngọc Tư thuộc vào số các nhà văn Nam Bộ Các sáng tác của

họ hấp dẫn chị, và trong môi trường văn học ấy chị cũng có vị trí riêng của mình Ở đây lướt qua mấy nét về đội ngũ các nhà văn Nam Bộ, các nhà văn thuộc một vùng văn hóa, văn học là những con chim bay ra từ cùng một tổ Ở phần này chúng tôi đề cập đến vài nét của phong cách văn học Nam Bộ tiêu biểu qua Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Quang Sáng và Sơn Nam

Trang 25

Thổ ngơi, mùi vị, cuộc sống, nếp sinh hoạt của vùng đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long là đề tài, là nguồn cảm hứng dường như không bao giờ cạn cho những trang viết của Bình Nguyên Lộc, một nhà văn Nam Bộ

tiêu biểu Ông từng nói: "Văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp với quê hương

và xuất phát từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi với nó " Tình cảm và "lòng

nhớ nhung tha thiết" mà nhà văn nhắc đến ấy còn là nguyên nhân để văn

chương ông hướng đến việc lưu giữ hình ảnh con người và những giá trị văn hoá vùng đồng bằng Nam Bộ trong dòng chảy mải miết của thời gian

Bình Nguyên Lộc hay viết về người nông dân nghèo gắn bó mật thiết

phố, sống đời anh "công chức" hay sống bằng những nghề khác, thì trong

"căn bổn" họ cũng là người dân quê và sẵn sàng về quê như anh Thuần trong truyện “Đất không chết” Bà vợ ông giáo Quyền khi chuyển ra sống ở thành

phố cũng nhớ đất đến mang bệnh và cuối cùng cả nhà phải dời ra ngoại ô để

bà có đất trồng trọt, để đỡ nhớ mùi đất quê hương Người trông coi nghĩa trang thành phố cũng vậy Anh ta chỉ ở lại, không bỏ về quê nữa vì tại đây anh ta có đất để trồng bông vạn thọ, để trồng rau, để bận rộn với công việc

quen thuộc của mình (truyện “Thèm mùi đất”) Còn cha anh Sáu Nhánh (truyện “Phân nửa con người”) dù đã tuổi cao bóng xế vẫn kiên quyết bỏ con

cháu, bỏ cuộc sống trên chiếc ghe thương hồ để lên bờ sống trên đất liền Ông thậm chí còn cho rằng tình nghĩa với đất còn sâu nặng hơn cả tình nghĩa vợ

chồng: "Vợ chồng chỉ ăn ở nhau ba bốn mươi năm là cùng, đất thì nó thấy

mình sinh ra lớn lên, già yếu, rồi nó lại ôm mình khi mình chết Mình cũng thấy nó từ lúc lững chững bước đi cho tới lúc chống gậy mà lê bước "

Trong mối liên hệ với tự nhiên bao gồm đất đai, sông nước, ruộng vườn, cây cỏ, thời tiết nắng mưa , Bình Nguyên Lộc luôn cho rằng đất là tình

Trang 26

yêu sâu nặng nhất của con người Tập quán, nếp sinh hoạt ở một nước nông nghiệp lâu đời dường như đã ăn sâu trong tiềm thức của người dân Tư tưởng

sở hữu đất cùng với những nét tâm lý rất đặc trưng của người nông dân Nam

Bộ được nhà văn phát hiện trong những chi tiết khá thú vị như cảm giác thèm mùi đất, nỗi khát khao được che chở, bảo vệ đất Đất đai, cây cối thật thiêng liêng mà gần gũi với con người Đất quê có khi không nuôi nổi con người nhưng con người vẫn nặng tình với đất Lão Nghiệm, thím Bảy, thằng Ất và những người dân xóm Gò Rái của làng Tân Định nghèo khó trong

truyện “Bám níu” giống như những con cá cố lội ngược dòng nước chỉ để

được ở lại nơi chôn nhau cắt rún Cả một đời cơ cực nhưng lão Nghiệm cho

rằng được sống ở nơi mình sinh ra, lớn lên đã là niềm hạnh phúc: "Cái ngày

mà ông nội tui quyết định ở lại, tui mừng không biết bao nhiêu, tui chạy đi báo tin lành với các bụi tre ở đầu xóm, với con suối cạn ở cuối thôn, và cả ngày ấy, không có gì ăn tui cũng nghe no tới cổ vì sung sướng" Người dân

cần có đất để canh tác nhưng dù luôn mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn thì họ vẫn nghĩ đến việc sống hoà đồng với tự nhiên hơn là chinh phục, thống trị nó Không gian trong truyện Bình Nguyên Lộc thường được trình bày qua góc nhìn văn hoá Ở đó mỗi chi tiết, địa danh đều lưu dấu thời gian và nếp sinh hoạt, tập quán của con người Nụ cười cởi mở và thái độ xuê xoa, giản dị, cũng là cá tính của người Nam Bộ trong nhà văn Bình Nguyên Lộc Ông viết nhiều, viết nhanh về tất cả những gì xảy ra và gần gũi với mình, không cầu kỳ trau chuốt tỉ mỉ cũng không quá hời hợt hay vì ảo tưởng danh vọng

Nói đến nhà văn Nam Bộ hiện đại không thể bỏ qua Nguyễn Quang Sáng, hầu hết các truyện ngắn của ông đều tập trung phản ánh và khám phá về con người Nhưng, Nguyễn Quang Sáng có cách nhìn, cách cảm nhận của riêng ông về con người Đó là, ông thường nhìn nhận con người từ góc độ lịch

Trang 27

đau ở mỗi con người trong cuộc chiến và trong cuộc đời Con người trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng thường rất đa dạng, và một trong những loại nhân vật đó là hình tượng người phụ nữ Hình tượng người phụ nữ hiện lên trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng đầy hấp dẫn và cũng rất đa dạng Đó là những con người thông minh, bản lĩnh, gan dạ và những con người cao đẹp với tâm hồn cao thượng, trong sáng, thuỷ chung Đó là những người phụ nữ luôn sống với phương châm “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Khi đất nước có ngoại xâm, họ không nghĩ rằng, mình là người chân yếu tay mềm, mà với một ý thức trách nhiệm với quốc gia, dân tộc, họ sẵn sàng bỏ lại sau lưng mẹ già, làng quê cùng bao người thân thuộc để dấn thân vào vòng hiểm nguy Có khi họ phải bị tù đày, tra tấn, có lúc họ phải hy sinh Mỗi giọt máu đào của họ đổ xuống cũng nhằm làm cho đất nước hồi sinh và nở hoa Những nét đẹp đó đã được Nguyễn Quang Sáng ghi nhận và thể hiện trong tác phẩm Đặc biệt hình tượng người phụ nữ Nam Bộ hiện lên trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng với những tính cách thật đáng yêu và đáng trân trọng Trong khói lửa chiến tranh, họ đã thể hiện được bản lĩnh, tấm lòng đối với đất nước, với quê hương Họ xông pha vào lửa đạn với tất cả sự gan dạ, bản lĩnh và hết sức thông minh Chính điều đó đã làm nên hình tượng những

người phụ nữ Nam Bộ anh hùng Chị Bảy trong “Người đàn bà Tháp Mười”,

bà mẹ của sáu đứa con, một mình quán xuyến mọi việc trong gia đình để chồng yên tâm thoát ly công tác Những lúc bom đạn, trực thăng càn quét, chị lại nhớ đến chồng, mong chồng trở về bên chị, hòng tiếp sức với chị Nhưng cuối cùng, chính chị phải tự mình cầm súng để chống lại kẻ thù mỗi khi chúng kéo đến Chẳng những thế, chị còn cầm súng đối đầu với địch một cách rất hào hùng Hành động của chị cũng là góp phần bảo vệ quê hương, làng

xóm mình: “Chị Bảy thấy ba chiếc trực thăng đang quây quần bắn vùng cây

ráo, xóm nhà của chị Ba chiếc nó thay phiên nhau rà sát và mỗi lúc một siết

Trang 28

chặt Nghĩ đến con, lòng chị như lửa cháy và mặt chị thì tái lại Môi chị tím bầm hai tay chị nắm chặt và run lên Chẳng biết cách nào chị hét lên:

- Lành bắn nó!”

“- Bắn nó! Bắn nó! Bà con ơi!

Chị cầm nọc cấy đánh phập xuống bờ công sự mà nức nở:

- Trời! Chết hết con tôi rồi! Chị như mất hết bình tĩnh, chị lột khăn ném

đi, đưa tay vò đầu bức tóc, rồi bất thình lình chị quay lại Lành giật lấy cây súng nhẩy lên công sự chạy về nhà Chị không chạy len lỏi qua các hàng cây như những người khác, chị chạy băng qua giữa đồng, chạy tát cả nước Chị vừa chạy vừa bắn, chị bắn không cần ngắm súng, chị cứ hướng về phía trực thăng mà nổ Bắn một phát chị lại hét lên:

- Bắn nó! Bắn nó! Bà con ơi!”

Nhìn chung, hình tượng người phụ nữ Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng rất đa dạng và nhiều màu sắc Họ là những người phụ nữ đảm đang, chung thuỷ đồng thời cũng rất thông minh, gan dạ và đầy bản lĩnh

Họ đã thể hiện được vẻ đẹp nhân văn cao quý của người phụ nữ Nam Bộ

“Họ là những con người có tâm hồn trong sáng, giàu nghị lực, có những tình cảm mạnh mẽ ứng xử trong nhiều thử thách gay cấn”

Trong tác phẩm của mình không chỉ ca ngợi về hình tượng người phụ

nữ mà tình cảm gia đình cũng làm sáng bừng lên những trang văn của ông

Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” người đọc không khỏi xúc động trước

tình cảm cha con của bé Thu Ở đoạn cuối, khi mà bé Thu nhận ra cha, thật khó để phủ nhận bé Thu là đứa bé giàu tình cảm Tình cha con trong Thu giữ gìn bấy lâu nay, giờ trỗi dậy, vào cái giây phút mà cha con phải tạm biệt nhau Khi đến ngày ông Sáu phải đi, con bé cứng cỏi mạnh mẽ ngày hôm nào lại

“như thể bị bỏ rơi”, lúc đứng ở góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi

Trang 29

gia đình, nó cũng muốn chạy lại và ôm hôn cha nó lắm chứ, nhưng lại có cái

gì chặn ngang cổ họng nó, làm nó cứ đứng nguyên ở ấy, ước mong cha nó sẽ nhận ra sự có mặt của nó Và rồi đến khi cha nó chào nó trước khi đi, có cảm giác mọi tình cảm trong lòng bé Thu bỗng trào dâng Nó không nén nổi tình cảm như trước đây nữa, nó bỗng kêu hét lên “Ba…”, vừa kêu vừa chạy xô đến nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ

ba nó, “Nó hôn ba nó cùng khắp Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa” Tiếng kêu “Ba” từ sâu thẳm trái tim bé Thu, tiếng gọi mà ba nó đã dùng mọi cách để ép nó gọi trong mấy ngày qua, tiếng gọi ba gần gũi lần đầu tiên trong đời nó như thể nó là đứa trẻ mới bi bô tập nói, tiếng gọi mà ba nó tha thiết được nghe một lần Bao nhiêu mơ ước, khao khát như muốn vỡ òa ra trong một tiếng gọi cha Tiếng gọi ấy không chỉ khiến ba nó bật khóc mà còn mang một giá trị thiêng liêng với nó Lần đầu tiên nó cảm nhận mơ hồ về niềm sung sướng của một đứa con có cha Dường như bé Thu

đã lớn lên trong đầu óc non nớt của nó Ngòi bút nhà văn khẳng định một nhân vật giàu tình cảm, có cá tính mạnh mẽ, kiên quyết nhưng vẫn hồn nhiên, ngây thơ: Nhân vật bé Thu

Cũng như những nhà văn Nam Bộ khác, Sơn Nam như một con ong rừng chăm chỉ gom từng giọt mật để góp thêm bông hoa, mật ngọt cho văn hóa, cho văn học Việt Nam thêm đa dạng; góp phần làm cho văn hóa, văn học

Nam Bộ một sắc thái riêng không thể nào trộn lẫn Tập truyện “Hương rừng

Cà Mau” (tập 1) được đăng báo đầu những năm thập niên năm mươi và xuất

bản vào năm 1962 Tập truyện viết hay về đất và những con người miệt vườn Nam Bộ Một tập truyện mà hầu như ai cũng yêu thích, nó lôi cuốn độc giả từ đầu đến cuối Tác phẩm không phải là những trang lãng mạn, những câu chuyện tình lâm li bi đát, cũng không đồ sộ nhưng đọc tác phẩm, ta cảm nhận được thế giới riêng của vùng sông nước, cách dựng truyện đơn giản nhưng

Trang 30

hấp dẫn, mỗi truyện có chi tiết rất ấn tượng và thấy cả sức sống mãnh liệt của những người đi mở đất phương Nam, cái cuộc sống nơi đất rừng “sơn lam chướng khí” và thấy cả hào khí của tầng lớp lưu dân trên vùng đất Nam Bộ Nhà văn Nguyễn Trọng Tính từng nói: “Trong số những sáng tác của nhà văn

Sơn Nam thì tôi thích nhất truyện ngắn “Hương rừng Cà Mau”- Đây là tập

truyện ngắn được xếp ở vị trí cao trong số những tác phẩm văn học đặc sắc nhất của nhà văn Nam Bộ Hồi còn nhỏ, tôi đọc tác phẩm của ông là vì mình thích, lớn lên khi bước vào nghiệp của văn chương tôi đọc tác phẩm của Sơn Nam như một cách học làm nghề Tôi học ông cách viết văn, về cách ứng xử của người viết văn Nam Bộ”

Đọc “Hương rừng Cà Mau”, người đọc như được ông đưa về thăm

từng ấp, làng của Nam Bộ Thiên nhiên qua sự khám phá, cảm nhận và phát

hiện trong “Hương rừng Cà Mau” đẹp, bình dị nhưng cũng gắn liền với sự

hoang dã và nhiều hiểm nguy Nó phong phú nhưng vô cùng khắc nghiệt Những rừng tràm thì xanh biếc, hương tràm thoang thoảng, đầy những bất ngờ hấp hẫn và bên dưới thì sấu, cọp, ong, muỗi, rắn, cũng phong phú đa dạng không kém nhưng hễ mà không cẩn thận không biết cách thì có rất nhiều chuyện không may xảy ra Nhà văn Sơn Nam giúp cho chúng ta cảm nhận và thấy được vùng đất mới khai phá được ưu đãi nhiều sản vật, là một nơi giàu

có và phong phú của thiên nhiên Nó mang đặc điểm vùng miền còn hoang sơ nhưng trù phú Một vùng lắm kênh nhiều rạch, một vùng tràm bạt ngàn và vô

số những điều mà tưởng như rất xưa rồi vậy mà nó hiện hữu như mới xảy ra gần đây bởi: sấu, cọp, ong, tràm, ô rô, cóc kèn, hương tràm, mật ong, Điều

đó đã tạo nên nét đẹp của miền Nam xa xưa một thủa nhưng nó không mất đi Thiên nhiên dù còn khắc nghiệt, dữ tợn, hoang dã như những ngày đầu của công cuộc mở đất nhưng bây giờ nó vẫn giữ được nét bình dị, nên thơ bình

Trang 31

yên và mang nét đặc trưng của một vùng sông nước rất gần gũi và rất đẹp trong tâm trí con người

Đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với những người Nam

Bộ đủ các thành phần, hạng người, nghề nghiệp: giàu sang, nghèo hèn, công chức, trí thức, địa chủ, nông dân, thương gia,…Ông am hiểu những nghề có

tính đặc thù gắn với vùng đất như nghề : trị rắn cắn (“Cây huê xà”), bắt sấu

(“Bắt sấu rừng U Minh Hạ”, “Sông Giành Hào”), ăn ong, lấy mật (“Hương rừng”), len trâu (“Mùa len trâu”)…Từ những con người ấy, Sơn Nam giúp ta

hiểu thêm tâm tình, tính cách và nhiều nét đặc trưng của con người Nam Bộ một thuở

Con người Nam Bộ hiện lên trong tác phẩm của Sơn Nam là những người siêng năng, chất phác, hiền lành Họ khai phá vùng đất mới bằng sức lao động dẻo dai, bền bỉ và lòng quyết tâm cao độ Không chỉ thế họ rất dũng cảm đối mặt với những khó khăn và cũng rất thẳng thắn, chung thủy, tình

nghĩa không đổi (“Con bảy đưa đò”, “Hương rừng”, “Tình nghĩa giáo khoa

thư”), hồn nhiên ngây thơ như con Lài và thằng Lợi (“Cây huê xà”), chất

phác, khí khái, trọng tình nghĩa ấy giúp đỡ người khác không vụ lợi cho riêng

mình (“Bắt sấu rừng U Minh Hạ”),…trong nhiều tác phẩm khác Đặc biệt,

điều mà tất cả chúng ta dễ nhận thấy đặc trưng cơ bản của con người Nam Bộ lúc bấy giờ là tình yêu quê hương đất nước Ở đó không phải là những biểu hiện cụ thể lớn lao, sôi nổi mà ẩn sau lời nói, lời tâm sự, lời hát và qua hành động của những con người nông dân miệt vườn mới thấy một khí khái, một

tình yêu nước sâu kín như trong tác phẩm “Đảng cánh buồm đen”, “Người

mù giăng câu”, “Ông già xay lúa”, “Hòn Cỏ Tron”,…

Con người Nam Bộ biểu hiện tình yêu quê hương đất nước của mình từ công cuộc khai phá mở đất, biết sống hòa nhập với thiên nhiên và biết yêu quý hàng xóm, nơi cư ngụ và cao hơn biết yêu ghét, căm thù những gì trái với

Trang 32

đạo lý con người Họ không chỉ căm ghét những hành động làm biếng

(“Đóng gông ông thầy Quýt”), ghét lừa gạt (“Tình nghĩa giáo khoa thư”),

ghét sự ganh tị (“Cây huê xà”),… nhưng cũng trân trọng yêu thương những

con người tài trí, tốt đẹp và hào hiệp với những con người biết cảm thông với

hoạn nạn của người khác, không vì bản thân mình (“Một cuộc biển dâu”,

“Bắt sấu rừng U Minh Hạ”, “Đảng cánh buồm đen”,…) Dù đó không phải

là tất cả những nét đặc trưng của con người Nam Bộ nhưng Sơn Nam đã khái quát những nét đặc trưng cơ bản tính cách của một vùng miền mà không phải nhà văn nào cũng có thể cảm và viết được như thế Nhà văn đã viết lên bằng tất cả sự trân trọng, niềm tin và yêu vào một nét đẹp của con người Nam Bộ

từ xưa đến nay không dễ gì đổi thay

Nguyễn Ngọc Tư đã kế thừa chất văn Nam Bộ, cách nhìn Nam Bộ của các nhà văn ấy một cách tự giác và có khi vô thức, đồng thời chị cũng có đóng góp riêng, tiếp nối cha anh một cách xứng đáng Trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư , việc phản ánh các nếp sinh hoạt , ngôn ngữ, nếp sinh hoạt cũng như tạo ra không gian miệt vườn sông nước với tất cả những đặc trưng riêng như thú mê hát bội của người dân , nếp sống giản dị, mộc mạc không phải là chủ đích của tác giả , và có lẽ thế người viết hẳn cũng không quá cầu kì trong khi miêu tả những chi tiết ấy - điều này khác hẳn với các nhà văn viết theo lối miêu tả phong tục kiểu như S ơn Nam, Nguyễn Tuân, những nhà văn coi phong tục cũng là một trong những nét chính yếu trong tác phẩm của mình Nguyễn Ngọc Tư cũng khác ngay với cây bút miền Nam lớp trước

phẩm văn học Bình Nguyên Lộc khi viết về các địa danh , các món ăn luôn muốn tìm hiểu đến tận ngọn nguồn sự vật Nói về sông ông Lãnh chẳng hạn , ông giúp người đọc biết được ngày trước người tây gọi nó là Rạch Cắc Chú , sau lại có người gọi là Kinh Tàu Hủ và mấy người ghe thương hồ thì gọi là

Trang 33

rạch ông Lãnh hay là sông ông Lãnh Rồi cả khi viết về quà đêm bán trên con sông này với đủ các món như chè đậu , cháo cá , xu xoa mật đường , bột khoai,…ông viết : “Tuy nhiên nên nhớ rằng sự phồn thịnh của Sài Gòn là do người Hoa kiều dựng lên , cách đây một trăm năm và Kinh Tàu Hủ là cái nôi của sự phồn thịnh đó” Rõ ràng, ta không bắt gặp sự cẩn trọng , tỉ mỉ trong phương pháp phản ánh , miêu tả , quan sát của Bình Nguyên Lộc trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư Tuy nhiên , dù không chủ đích “khảo cứu” văn hóa nhưng tất cả những nét đó đều được biểu hiện rất đậm đà, sinh động trong tác phẩm của chị

1.2.3 Quan niệm văn học của Nguyễn Ngọc Tư

Ngọc Tư sinh ra ở một làng quê, nhà nằm ngay trên bờ sông, tiếng tắc rang, tiếng tàu máy đuôi tôm rồi chợ họp trên sông ngày nào cũng nhộn nhịp Mọi âm thanh và nhịp đời của cuộc sống Nam Bộ dội vào văn chị Chị cho rằng: “Sống trong môi trường như thế thì cố tạo cho mình giọng văn rặt những ngôn ngữ “sang trọng” mà làm gì?” Người ta ví chị như cái cây tự nhiên mọc giữa rừng tràm rừng đước Nam Bộ, như gái quê chân đất mộc mạc,

là đặc sản của miền Nam Tuổi thơ của chị đã gắn liền với những dòng sông uốn khúc, rừng đước bạt ngàn, đồng lúa mênh mông Nhà văn Chu Lai còn khẳng định Nguyễn Ngọc Tư là cây viết đặc biệt của miền Tây Nam Bộ, một

ai, độc đáo và cuốn hút, không văn hoa bóng bẩy mà chân thực…Đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư - những ai chưa một lần đặt chân tới vùng đất này đều

có thể khám phá và cảm nhận rất rõ về con người, thiên nhiên nơi đây Với cách viết khéo léo, luôn đan xen cho dù trong một phạm vi hẹp - cuộc sống một gia đình… Người đọc không nhàm chán, có sức hút lạ kỳ ngay từ mạch đầu cho tới khi câu chuyện kết thúc Ấy là cách viết của Nguyễn Ngọc

Tư Nắng gió, sông nước, đất trời, con người là những “mạch nước ngầm”

Trang 34

chảy trong con người chị từ tấm bé Với những câu chuyện kể Nguyễn Ngọc

Tư đã tạo ra những “cơn sốt” trên văn đàn cùng sự nổi tiếng của mình

Nguyễn Ngọc Tư sinh ra và lớn lên tại Cà Mau, ngày còn đi học, chị đã biểu lộ tính cách “mạnh” của mình : Chỉ chơi với đám con trai và học hết lớp

12 trung học phổ thông Chị chưa hề qua một trường lớp viết văn chuyên nghiệp nào, đi học môn văn chỉ đạt loại khá ( theo chị nói không phải là xuất sắc ) Tác phẩm đầu tay - bệ phóng quan trọng cho sự nổi tiếng sau này :

Truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” giải nhất cuộc thi “Văn học Tuổi hai

mươi” năm 2000 do Báo Tuổi Trẻ và Hội Nhà Văn Thành phố tổ chức Đất - Nước - Con Người Cà Mau cùng ông “Trời” như một định mệnh đã gắn chặt như máu thịt trong tâm hồn vốn nhạy cảm của chị Những yếu tố đó, chị viết một cách dễ dàng, viết bất cứ ở đâu bất cứ lúc nào, nó như một mạch nước trong veo luôn chảy để chị viết một mạch không nghỉ (Nguyễn Ngọc Tư cũng không biết tại sao?) Phải chăng là Thiên Bẩm ? Mảnh đất nơi mình sinh ra và trưởng thành như một chất men, chất xúc tác, nghe rõ từng hơi thở, nhịp đập của con tim…cho dù nơi ấy còn thiếu thốn vất vả, nhưng là một gia tài lớn cho những ai biết khai thác nó Và Nguyễn Ngọc Tư đã làm được như vậy! Nguyễn Ngọc Tư (như chị kể) có một cuộc sống bình thường, bình dị: một gia đình nhỏ hạnh phúc với 2 con trai và “ông xã” mà công việc hoàn toàn không liên quan gì tới công việc viết văn của chị… Hàng ngày, dậy sớm làm thức ăn sáng rồi đưa con đi học, ra chợ mua đồ ăn, để như chị nói : “Luôn có cá tươi

về nấu cho lũ trẻ và cả nhà ăn” Chị thực sự ngồi viết từ 10h sáng đến 15h hoặc 16h hàng ngày sau đó làm nghĩa vụ của một người mẹ, người vợ đảm trong gia đình…Cuộc sống luôn tất bật, bận rộn đến với chị Tại Thành phố

Cà Mau, không phải ai cũng nhận ra chị - một nhà văn nổi tiếng Có lần chị nói : “ Ngay cả những người hàng xóm nơi chị ở, có người còn không biết chị

Trang 35

là nhà văn, họ cứ nghĩ chị cũng chỉ là một phụ nữ bình thường như bao người phụ nữ khác : Nội trợ và chăm sóc gia đình, gia đình là thế giới riêng của chị…Nhưng đối với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cho dù thế nào đi chăng nữa những tác phẩm vẫn liên tiếp ra đời giữa : NẮNG - GIÓ - TÌNH ĐẤT - TÌNH NGƯỜI của những “Cánh đồng bất tận”

Nguyễn Ngọc Tư cho tới bây giờ vẫn số ng và làm việc tại Cà Mau Không ít độc giả băn khoăn điều này, tại sao suốt chừng ấy năm chỉ sống tại một vùng đất, có thể cũng có đi đâu đó nhưng rốt cuộc vẫn lại trở về vùng đất

ấy mà Nguyễn Ngọc Tư lại có thể nuôi dưỡng cảm xúc về quê hương của mình phong phú và bền bỉ đến như vậy Có cảm giác mạch nguồn tình cảm của chị với đề tài quê hương chưa bao giờ vơi cạn và mỗi lần viết về một vùng đất cũ với những con người cũ đó ta vẫn thấy chị tìm được các nét mới

và thú vị Cũng là chuyện đời sống của con người vùng miệt vườn thôi, nhưng

rõ ràng con người trong “Ngọn đèn không tắt” , “Nước chảy mây trôi” và

“Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” khác rất nhiều so với con người trong

“Cánh đồng bất tận” Chúng ta hiểu rằng đây là sự đổi mới đầy ý thức của

chị Trong cuộc trò chuyện với phóng viên báo điện tử Vn Express.net ngày 27/09/2005, Nguyễn Ngọc Tư đã nói : “Tôi tự tin vào sự hiểu biết về nông thôn quê hương tôi Bảy năm qua tôi đã viế t về nó với bộ dạng hiền hậu , nghèo khó, đáng thương Bây giờ tôi lại đưa bạn đọc đến một miền quê với những gương mặt khác” Tất nhiên không nhà văn nào không khao khát sự tự làm mới như vậy , nhưng nếu không thật yêu thươn g, không thật gắn bó đến

Nguyễn Ngọc Tư đã tránh được điều đó, bởi tài năng và cũng bởi tình yêu quê hương của chị

Trang 36

Sáng tác đối với chị, như là một nhu cầu bức bách, chị viết văn như để

trả nợ ân tình, chị thổ lộ: “Còn về sáng tác thì cứ lúc nào thấy xúc động, đủ

cảm xúc, có suy nghĩ về cái mình đã trải qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc…tự tử mất thì Tư viết thôi.”(Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: đánh “ùm”

một tiếng mà thôi”, Báo Tuổi trẻ 04/12/2005) Với Nguyễn Ngọc Tư, cảm xúc là khởi nguồn của sáng tạo văn chương Chị hồn nhiên tự nhận “Tôi là

một cây bút nghĩ thế nào, viết thế ấy, nghĩ sao viết vậy” (Trả lời phỏng vấn

trên báo Tiền Phong ngày 31/10/2006) Theo Nguyễn Ngọc Tư, thành thật với cảm xúc của mình, đó chính là cầu nối kì diệu nhất để đến với trái tim người đọc Bởi chính họ là người thẩm định công bằng mọi giá trị của văn chương Với thời gian, Nguyễn Ngọc Tư ngày càng có những “tuyên ngôn” về nghề

với một thái độ “chuyên nghiệp” hơn Chị xác định viết văn là “một lựa chọn

khó, đầy nhọc nhằn, nặng nề, dằn vặt” (Tiền Phong, 21/01/2006) Nguyễn

Ngọc Tư bày tỏ trách nhiệm của nhà văn trong việc lựa chọn đề tài: “Tư chọn

viết những gì mà người đi trước trước không viết thôi Với những gì người đi trước viết rồi, nếu mình đi lại con đường ấy, hoặc mình phải tránh qua một bên, hoặc là mình phải vượt trội hơn Nhưng vượt trội thì khó quá, ví dụ như

để vượt qua Vũ Trọng Phụng thì thôi …đi, Tư không tự làm khó mình mà chọn cái mình làm được” Quan niệm nhẹ nhàng nhưng sáng rõ như thế

chứng tỏ Nguyễn Ngọc Tư không hề cẩu thả trong nghề nghiệp của mình Chị

luôn ý thức về trách nhiệm người cầm bút: “Lúc đầu chỉ viết để giải tỏa cảm

xúc cho nó nhẹ người đi, nhưng sau này thấy cái nghiệp mình đeo đuổi nặng trĩu, đầy nự nần Viết vì mình là Nguyễn Ngọc Tư”

Chị đã thẳng thắn bày tỏ: “Tôi không quan tâm văn mình yếu hay

mạnh, chỉ nghĩ, những trang viết này có làm mình xấu hổ không, có đi vào lòng người không, có khiến người ta nhớ không?” Có thể những điều chị viết

Trang 37

ra thì nhẹ nhàng, mộc mạc, nhưng để thai nghén nó là cả một quá trình lao

tâm khổ tứ cho đến khi kí thác vào trang văn Chúng tôi nghĩ “Cánh đồng bất

tận” ra đời đã trả lời cho những băn khoăn lo ngại trên Những vấn đề nóng

bỏng, những bức bách của nông thôn Nam Bộ, những tâm tư suy nghĩ của người nông dân đều được phản ánh một cách “trần trụi” và chân thực qua trang viết của chị Ngòi bút của chị cùng với những trải nghiệm cá nhân trong cuộc sống đã ngày càng trở nên khốc liệt và nghiệt ngã hơn Song, có bản lĩnh, biết chấp nhận mạo hiểm cũng là một phẩm chất đáng quý và cần thiết đối với người nghệ sĩ Nhưng dù thay đổi chị vẫn giữ được nét rất riêng của mình: lòng nhân ái, sự chân thực và ngôn ngữ văn hóa một vùng đất Nhà văn bộc bạch: “Bao giờ khi bắt tay vào viết, tôi cũng nghĩ thoáng qua tác phẩm mới này ai sẽ khen, và biết cả một vài khuôn mặt những người chê Lần nào cũng nghĩ nhưng lần nào cũng viết như cảm xúc của mình, bởi trước khi viết cho ai đó thì tôi viết cho mình” Chị khá thận trọng khi tuyên bố mình không

cố công tìm hiểu và chiều theo thị hiếu độc giả, bởi chị không dám chắc mình

hiểu đúng độc giả muốn đọc gì, nên “đường ai nấy đi, nếu gặp nhau là tốt”, bởi nhiều khi “Mình không thể hiểu hết bạn đọc, có khi viết xong cái truyện

mà bản thân mình thấy thích lắm nhưng bạn đọc lại chê…Với lại, Tư cũng không có ý tìm hiểu bạn đọc của mình” Theo chị, nhà văn và độc giả đều có

những sở thích riêng, không quá phụ thuộc vào nhau Vì vậy mà Nguyễn Ngọc Tư cố giữ cho mình một thái độ khách quan, một khoảng cách nhất định với thị hiếu độc giả cũng như sự đánh giá của các nhà phê bình Chị cũng cảnh báo nhiều nhà phê bình có sự suy diễn khi họ rút ra những “chân lí” mà chị chưa bao giờ nghĩ tới khi cầm bút

Trang 38

Chương 2 NHÂN VẬT “CON NGƯỜI ĐỜI THƯỜNG” VÀ CÁI NHÌN NHÂN ÁI VỀ CON NGƯỜI CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

Phong cách là sự tổng hợp những nét riêng trong sáng tác của nhà văn

Nó bao gồm cả các yếu tố bút pháp, thi pháp, nhưng các yếu tố bút pháp này lại gắn liền với nhãn giới (quan niệm về thế giới của nhà văn), tức là liên quan đến các yếu tố nội dung Đối với phong cách nhà văn trong thể loại tự sự tìm hiểu phong cách trước hết là chỉ ra cái riêng trong xây dựng nhân vật vì nhân vật là một yếu tố trung tâm của thể loại truyện, nhất là với các truyện viết theo lối truyền thống (tức không phải hậu hiện đại) Truyện của Nguyễn Ngọc Tư

là loại truyện viết theo lối truyền thống như vậy

2.1 Nhân vật văn học

2.1.1 Khái niệm nhân vật văn học

Một tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật Nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là trung tâm mọi sự miêu tả nghệ thuật Nhân vật trong văn học

có thể là con người, con vật, đồ vật Nhân vật có thể có tên hay không có tên Tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật vì đó là hình thức cơ bản mà qua

đó, văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Nhân vật văn học là con người cụ thể

được miêu tả trong các tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như

“thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều [41.162] Cuốn Từ điển

Tiếng Việt cho rằng: Nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu

tả thể hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật [69.705]

Còn theo Giáo trình lý luận văn học thì nhân vật văn học được quan

Trang 39

thể là những sự vật, loài vật khác nhau, ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đó là nhân vật dế mèn, võ sĩ bọ ngựa, con mèo lười trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài; là vầng trăng, là bông hoa hồng trong thơ Hồ Chí Minh, Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ

là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm [36.126]

Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Nhân vật văn học rất phong phú, nó có thể là loài vật, đồ vật…nhưng chủ yếu là con người Sự thể hiện nhân vật cũng ở những hình thức rất đa dạng

Dù nhân vật là thế giới loài người hay loài vật nó đều có vai trò rất quan trọng trong sáng tác của nhà văn, nó làm nên linh hồn của tác phẩm

2.1.2 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học

Một tác phẩm văn học thì không thể không có nhân vật Bởi nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để thể hiện nhận thức về con người cũng như quy luật của cuộc sống Một tác phẩm văn học được đánh giá là có giá trị, có chiều sâu, có sức sống lâu bền khi tác phẩm ấy khắc họa rõ nét, chân thực và sinh động hình tượng nhân vật Chính vì vậy mà người đọc khó có thể quên được hình ảnh một Xuân Tóc Đỏ, một Chí Phèo, một Lão Hạc, Đấy là những điển hình văn học bất hủ

Như vậy, nhân vật văn học thể hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định, là nơi để nhà văn gửi gắm, kí thác tâm tư, ước vọng với những vấn đề triết lý nhân sinh Qua hệ thống nhân vật, người đọc thấy được cách nhìn, cách thể hiện thế giới, tức phong cách nghệ thuật của nhà văn Cùng nói về con người trong xã hội hiện đại, nhà văn Phan Thị Vàng

Trang 40

Anh phơi bầy những bất ổn trong lối sống và chỉ ra những mâu thuẫn trong cuộc đời; Nguyễn Thị Thu Huệ khai thác những mặt trái của con người trong đời sống hiện đại phức tạp, còn Nguyễn Ngọc Tư với một phong cách riêng

đã thể hiện những quan niệm nghệ thuật về con người qua thế giới nhân vật độc đáo của mình

Nhân vật văn học gắn liền với quan niệm nghệ thuật về con người và phương thức xây dựng hình tượng văn học của nhà văn Khảo sát phong cách nhà văn không thể nào bỏ qua quan niệm về con người và cách thức riêng xây dựng nhân vật của nhà văn

2.2 Nguyễn Ngọc Tư với cảm quan đời thường trong xây dựng nhân vật văn học

Gần như hầu hết các nhân vật trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư là những con người lao động bình thường vùng đồng bằng sông Cửu Long Cuộc sống đời thường với những con người lao động bình thường làm nên thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư, có thể gọi là một “cảm quan đời thường” trong văn học Nó là sự tiếp tục truyền thống của Nguyễn Quang Sáng Trở đi trở lại trong các tác phẩm của nhà văn là hai kiểu nhân vật nổi bật: Người nghệ sĩ hát tuồng và người nông dân Nam Bộ

2.2.1 Người nghệ sĩ miệt vườn

Nam Bộ là vùng đất nổi tiếng với đờn ca tài tử, với những gánh hát, những đêm nghe đàn ca bất tận vùng “miệt vườn”, bên những quán nhỏ vùng sông Tiền, sông Hậu Ở đó có những người nghệ sĩ bình dân mà điêu luyện ngón nghề, những công chúng nghệ thuật lúc nào cũng sẵn sàng tham dự “cuộc chơi” nghệ thuật Số phận những người nghệ sĩ bình dân là một đề tài được nhiều nhà văn Nam Bộ quan tâm, xây dựng thành hình tượng nghệ thuật

Ngày đăng: 17/09/2014, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Vàng Anh. Khi người ta trẻ, NXB Hội nhà văn 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi người ta trẻ
Nhà XB: NXB Hội nhà văn 1993
2. Bakhtin. Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ văn hóa Thông tin và Thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
3. Y Ban. Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, NXB Thanh Niên 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ
Nhà XB: NXB Thanh Niên 2005
4. Nguyễn Trọng Bình. Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, www.viet-studies.info ngày 13/09/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
5. Nguyễn Trọng Bình. Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện quan niệm nghệ thuật về con người, www.viet-studies.info Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện quan niệm nghệ thuật về con người
6. Nguyễn Trọng Bình. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa, www.viet-studies.info Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa
7. Nguyễn Trọng Bình. Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự, www.viet-studies.info ngày 26/09/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự
8. Nguyễn Trọng Bình. Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, www.viet-studies.info ngày 23/09/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
9. Nguyễn Minh Châu. Tuyển tập Nguyễn Minh Châu, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Trần Phỏng Diều. Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Tạp chí VNQĐ ra ngày 14/06/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
11. Trần Thị Dung. Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện Cánh đồng bất tận, www.viet-studies.info ngày 25/05/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện Cánh đồng bất tận
12. Trần Hữu Dũng. Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản miền Nam, Báo Diễn đàn, tháng 02/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản miền Nam
13. Nguyễn Đăng Điệp. Văn trẻ có gì mới, Báo Văn Nghệ, số 41, ngày 08/10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Điệp. Văn trẻ có gì mới
14. Nguyễn Thị Hoa. Giọng điệu trần thuật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện “Cánh đồng bất tận”, trên trang cogaiviet.blogs, ngày 06/03/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật của Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện “Cánh đồng bất tận”
15. Nguyễn Thị Thu Huệ. 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Hội nhà văn, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
16. Lê Thanh Huyền. Phong cách nghệ thuật R. Tagore trong truyện ngắn, Luận án tiến sĩ 20/03/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật R. Tagore trong truyện ngắn
17. Nguyễn Thị Thu Huyền. Phong cách văn xuôi Đỗ Chu, Luận văn thạc sĩ, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách văn xuôi Đỗ Chu
18. Trần Ngọc Hiếu. Hiện tượng tác giả “best-seller” trong văn học Việt Nam: trường hợp Nguyễn Ngọc Tư, Tạp chí nghiên cứu văn học.http://www.hieu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng tác giả “best-seller” trong văn học Việt Nam: trường hợp Nguyễn Ngọc Tư
19. Lê Thị Hường. Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay, Tạp chí văn học, số 2 năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay
20. Ngô Thị Diễm Hồng. Đặc điểm truyện ngắn hai cây bút nữ Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn thạc sĩ, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn hai cây bút nữ Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  thống  kê  bước  đầu  những  lớp  từ  gợi  ấn  tượng  về  “văn  hóa  sông  nước” vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư - phong cách truyện ngắn nguyễn ngọc tư
ng thống kê bước đầu những lớp từ gợi ấn tượng về “văn hóa sông nước” vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm