Khái niệm Lý luận hình thái kinh tế - xã hội hình thái KT-XH Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất đị
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển, xã hội đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử nốitiếp nhau đi từ thấp đến cao Dù ở thời đại nào, cũng có những mối quan hệ xãhội của con người Theo Marx, cách thức mà con người có quan hệ xã hội vớinhau được gọi là tổ hợp lực lượng và quan hệ sản xuất, được gắn kết cùng nhautheo những cách thức cần thiết và cụ thể nào đó; con người cần phải tiêu dùng
để tồn tại nhưng để tiêu dùng thì con người phải sản xuất và trong quá trình sảnxuất họ cần thiết phải tham gia vào các quan hệ mà chúng tồn tại độc lập với ýchí của họ Càng phát triển lên cao, cách thức sản xuất của con người càng đượcđổi mới: kỹ thuật sản xuất được cải tiến, năng suất lao động tăng cao, mối quan
hệ giữa con người với con người dần dần thay đổi Chủ nghĩa khoa học duy vậtlịch sử gọi cách thức sản xuất với nội dung trên là phương thức sản xuất.Phương thức sản xuất cùng với kiểu quan hệ sản xuất đặc trựng cho cơ sở kinh
tế xã hội và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên cơ sở đó gọi làhình thái kinh tế xã hội Lý luận hình thái kinh tế xã hội là lý luận cơ bản và giữvai trò hết sức quan trọng trong chủ nghĩa duy vật lịch sử do K Marx xây dựngnên Nhờ có lý luận hình thái kinh tế xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử xã hộihọc, K Marx đó chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển
xã hội, chỉ ra được bản chất của từng chế độ xã hội
Việt Nam, từ một nước có nền kinh tế thuần nông lạc hậu; với mongmuốn thoát khỏi nghèo nàn và nhanh chóng trở thành một nước phát triển thìnhất thiết phải tìm được con đường triển nhanh, mạnh toàn diện và đẩy mạnh
“công nghiệp hóa, hiện đại hóa” là nhiệm vụ trung tâm như một cuộc cách mạngsâu sắc và toàn diện trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội; và cơ sở lý luậnsâu xa của việc đẩy mạnh “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” là lý luận hình tháikinh tế xã hội của học thuyết Marx
Xuất phát từ thực tiễn đó, để góp phần làm rõ hơn về lý luận hình tháikinh tế xã hội áp dụng vào thực tiễn phát triển của đất nước trong thời đại hiện
Trang 2nay; nhóm tác giả xin có một vài phân tích để hiểu thêm về học thuyết khoa học
về lý luận hình thái kinh tế xã hội của Marx và vận dụng trong phát triển đấtnước giai đoạn hiện nay
Nội dung tiểu luận ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có 2 phần chính:
Phần 1: Những vấn đề chung về Lý luận Hình thái kinh tế - xã hội
1 Khái niệm Lý luận Hình thái kinh tế - xã hội
2 Tiền đề xây dựng lý luận hình thái kinh tế - xã hội
3 Nội dung của Lý luận hình thái kinh tế - xã hội
4 Tính khoa học và vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế
-xã hội của Mác
5 Phân tích lý luận hình thái kinh tế xã hội – những quan điểm của Mác và
Lê Nin về chủ nghĩa xã hội
Phần 2: Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội trong điều kiện Việt Nam
I VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KT-XH TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Tính tất yếu của việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam1.3 Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
II XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM – NHỮNG KẾT QUẢ VÀ ĐỊNH HƯỚNG
2.1 Những kết quả đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam
2.2 Những định hướng về con đường phát triển đất nước trong thời kỳ mới
Trang 3PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÝ LUẬN HÌNH THÁI
KINH TẾ - XÃ HỘI
1 Khái niệm Lý luận hình thái kinh tế - xã hội (hình thái KT-XH)
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
Hình thái KT-XH là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong
đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượngtầng Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫnnhau, thống nhất với nhau Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuậtcủa mỗi hình thái kinh tế - xã hội Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có lựclượng sản xuất khác nhau Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuấtquyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái KT-XH
2 Tiền đề xây dựng lý luận hình thái kinh tế - xã hội
Sản xuất vật chất - cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người Sảnxuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bảnthân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫnnhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.Theo Ph.Ăngghen, "điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hộiloài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sảnxuất"(1)
Trang 4Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không thỏa mãn vớinhững cái đã có sẵn trong giới tự nhiên, mà luôn luôn tiến hành sản xuất vật chấtnhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phú, đadạng của con người Việc sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt là yêu cầu khách quancủa đời sống xã hội Bằng việc "sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình,như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình"(2)
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển củamình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đời sống xã hội Tất cảcác quan hệ xã hội về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, v.v đều hình thành, biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất Khái quát lịch sử phát triểncủa nhân loại, C.Mác đã kết luận: "Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vậtchất trực tiếp tạo ra một cơ sở, chínhtừ đó mà người ta phát triển các thể chế nhànước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôngiáo của con người ta"(3)
Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biến đổi tựnhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình Sản xuất vật chấtkhông ngừng phát triển Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biếnđổi, phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyết định phát triển xã hội từ thấpđến cao Chính vì vậy, phải tìm cơ sở sâu xa của các hiện tượng xã hội ở trongnền sản xuất vật chất của xã hội
3 Nội dung của Lý luận hình thái kinh tế - xã hội
3.1 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
3.1.1 Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
a Phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuấtvật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người
Trang 5Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đờisống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau của cácphương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người
từ thấp đến cao
b Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiêntrong quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của conngười trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất bao gồmngười lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết làcông cụ lao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tưliệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lựclượng sản xuất
3.1.2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biệnchứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động, pháttriển xã hội
Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể
hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó
Trang 6Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng
sản xuất Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất
mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là "hình thức phát
triển" của lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một
trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở
thành "xiềng xích" của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất pháttriển Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đếnthay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độphát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tụcphát triển
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, quan hệ sảnxuất lỗi thời, lạc hậu hoặc "tiên tiến" hơn một cách giả tạo so với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quyluật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất vớiquan hệ sản xuất không phải giản đơn Nó phải thông qua nhận thức và hoạtđộng cải tạo xã hội của con người Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấutranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại
Trang 7Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, quachế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xãhội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong
đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất là quy luật cơ bản nhất
3.2 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng
3.2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trìnhsản xuất tạo thành quan hệ vật chất của xã hội Trên cơ sở quan hệ sản xuất hìnhthành nên các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội Hai mặt đó của đờisống xã hội được khái quát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xãhội
C.Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tếcủa xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầngpháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ
sở hiện thực đó"(6)
- Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ
cấu kinh tế của một xã hội nhất định
- Kiến trúc thượng tầng: Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm
chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cùng vớinhững thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoànthể xã hội, v.v được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định
3.2.2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
a) Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội,
chúng thống nhất biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyếtđịnh đối với kiến trúc thượng tầng
- Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với
nó Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết
Trang 8định Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn tronglĩnh vực chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tư tưởng là biểuhiện những đối kháng trong đời sống kinh tế Tất cả các yếu tố của kiến trúcthượng tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo, v.v đều trực tiếphay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định.
- Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thayđổi theo C.Mác viết: "Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng
đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng"(1)
Quá trình đó diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh
tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trongbản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội
Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn
ra rất phức tạp Trong đó có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổinhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp luật, v.v Trong kiến trúc thượng tầng, có những yếu tố thay đổi chậm như tôn giáo, nghệthuật, v.v hoặc có những yếu tố vẫn được kế thừa trong xã hội mới Trong xãhội có giai cấp, sự thay đổi đó phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cáchmạng xã hội
b Tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến cơ
sở hạ tầng Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thứctác động khác nhau Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố có tác độngmạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng vì đó là bộ máy bạo lực tập trung của giai cấpthống trị về kinh tế Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạođức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cũng đều tác động đến cơ sở hạ tầng, nhưngchúng đều bị nhà nước, pháp luật chi phối
Trong mỗi chế độ xã hội, sự tác động của các bộ phận của kiến trúcthượng tầng không phải bao giờ cũng theo một xu hướng Chức năng xã hội cơbản của kiến trúc thượng tầng thống trị là xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở
Trang 9hạ tầng đã sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độkinh tế đó Một giai cấp chỉ có thể giữ vững được sự thống trị về kinh tế chừngnào xác lập và củng cố được sự thống trị về chính trị, tư tưởng.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theohai chiều Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tếkhách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác độngngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội
Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh
tế, nhưng không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội.Xét đến cùng, nhân tố kinh tế đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượngtầng Nếu kiến trúc thượng tầng kìm hãm phát triển kinh tế thì sớm hay muộn,bằng cách này hay cách khác, kiến trúc thượng tầng cũ sẽ được thay thế bằngkiến trúc thượng tầng mới tiến bộ để thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển
3.3 Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử
-tự nhiên
Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nốitiếp nhau Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách quancủa xã hội, C.Mác đã đi đến kết luận: "Sự phát triển của những hình thái kinh tế
- xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"(1) Hình thái kinh tế - xã hội là một hệthống, trong đó, các mặt không ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành cácquy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội Đó là quy luật về sự phùhợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật
cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác.Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế - xãhội vận động phát triển từ thấp đến cao Nguồn gốc sâu xa của sự vận động pháttriển của xã hội là ở sự phát triển của lực lượng sản xuất Chính sự phát triển củalực lượng sản xuất đã quyết định, làm thay đổi quan hệ sản xuất Đến lượt mình,quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi theo, và do
đó mà hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội
Trang 10mới cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình đó diễn ra một cách khách quan chứ khôngphải theo ý muốn chủ quan V.I Lênin viết: "Chỉ có đem quy những quan hệ sảnxuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ
sở vững chắc đểquan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quátrình lịch sử - tự nhiên"(2)
Con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các quyluật chung, mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, về chính trị, vềtruyền thống văn hóa, về điều kiện quốc tế v.v Chính vì vậy, lịch sử phát triểncủa nhân loại hết sức phong phú, đa dạng Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêngtrong lịch sử phát triển của mình Có những dân tộc lần lượt trải qua các hìnhthái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao; nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua mộthay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó Tuy nhiên, việc bỏ qua đó cũngdiễn ra theo một quá trình lịch sử - tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủquan
Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng nhữngdiễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trongnhững điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định
4 Tính khoa học và vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế
- xã hội của Mác
Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm giữ vai trò thống trị trong khoa học xã hội
Sự ra đời học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã đưa lại cho khoa học xã hộimột phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học Đó là:
Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuấtquyết định các mặt của đời sống xã hội Cho nên, không thể xuất phát từ ý thức,
tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng trong đờisống xã hội mà phải xuất phát từ phương thức sản xuất Xã hội không phải là sựkết hợp một cách ngẫu nhiên, máy móc giữa các cá nhân, mà là một cơ thể sốngsinh động, các mặt thống nhất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.Trong đó, quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội
Trang 11khác, là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội Điều đó cho thấy,muốn nhận thức đúng đời sống xã hội, phải phân tích một cách sâu sắc các mặtcủa đời sống xã hội và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng Đặc biệt phải đi sâuphân tích về quan hệ sản xuất thì mới có thể hiểu một cách đúng đắn về đời sống
xã hội Chính quan hệ sản xuất cũng là tiêu chuẩn khách quan để phân kỳ lịch sửmột cách đúng đắn, khoa học
Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên, tức diễn ra theo các quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủquan Cho nên, muốn nhận thức đúng đời sống xã hội phải đi sâu nghiên cứu cácquy luật vận động phát triển của xã hội V.I Lênin viết: "Xã hội là một cơ thểsống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thànhmột cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hộinhư thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phântích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hộinhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hìnhthái xã hội đó"(1)
Kể từ khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác ra đời cho đếnnay, loài người đã có những bước phát triển hết sức to lớn về mọi mặt, nhưnghọc thuyết đó vẫn nguyên giá trị Nó vẫn là phương pháp thực sự khoa học đểnhận thức một cách đúng đắn về đời sống xã hội Đương nhiên, học thuyết đó
"không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra mộtphương pháp duy nhất khoa học để giải thích lịch sử"(2)
Gần đây, trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, cónhững quan điểm đi đến phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và đòiphải thay thế bằng cách tiếp cận văn minh Cách tiếp cận này phân chia lịch sửphát triển nhân loại thành văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, vănminh hậu công nghiệp (hay văn minh tin học, văn minh trí tuệ) Thực chất đây làphân chia dựa vào các trình độ phát triển kinh tế, dựa vào trình độ khoa học vàcông nghệ Rõ ràng, cách tiếp cận này không thể thay thế được học thuyết hình
Trang 12thái kinh tế - xã hội, nó không vạch ra mối quan hệ giữa các mặt trong đời sống
xã hội và các quy luật vận động, phát triển của xã hội từ thấp đến cao
Vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế - xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội ra đời là một cuộc cách mạng trongtoàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội lần đầu tiên cung cấp những tiêuchuẩn thực sự duy vật, khoa học cho việc phân kỳ lịch sử, giúp con người hiểuđược lôgíc khách quan của quá trình tiến hoá xã hội
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vạch ra nguồn gốc, động lực bêntrong của sự phát triển xã hội, nguyên nhân và cơ sở của sự xuất hiện và biến đổicủa các hiện tượng xã hội đã biến xã hội học thành một khoa học thực sự, khắcphục mọi quan điểm duy tâm về lịch sử
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là công cụ lý luận giúp chúng ta nhậnthức những quy luật phổ biến đang tác động và chi phối sự vận động của xã hội;
vũ trang cho chúng ta phương pháp khoa học để nghiên cứu xã hội; Là cơ sở lýluận của việc hoạch định các đường lối cách mạng của các Đảng Cộng sản
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội ngày nay vẫn còn nguyên giá trị, cầnphê phán các quan điểm sai lầm khác
5 Phân tích lý luận hình thái kinh tế xã hội – những quan điểm của Mác và
Lê Nin về chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội (CNXH) theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là
giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa CNXH tiến bộ,
ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó về các đặc trưng chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội nhằm giải phóng con người khỏi mọi tình trạng áp bức, bóc lột, bấtcông Để xây dựng CNXH, những người cộng sản phải hình dung, phác thảo rađược những đường nét cơ bản nhất của mô hình CNXH (mà chúng ta gọi đó lànhững “đặc trưng”) Nếu không phác thảo được mô hình, những đường nét cơbản thì rất khó định hướng để xây dựng CNXH và biến nó trở thành hiện thực.Hơn nữa, những đặc trưng thể hiện mô hình đó phải phù hợp với quy luật phát
Trang 13triển của lịch sử xã hội loài người, phản ánh được nét đặc sắc của truyền thốngdân tộc và xu thế phát triển của thời đại Đây là đòi hỏi tất yếu nhưng rất khókhăn đối với các Đảng Cộng sản trong quá trình lãnh đạo xây dựng CNXH.+) Đặc trưng của CNXH:
Mặc dù khi dự báo về những đặc trưng của xã hội XHCN, những nhà sáng lậpchủ nghĩa Mác - Lênin không coi đó là mô hình bất biến, song, các ông đã hìnhdung và phác thảo về CNXH - một chế độ xã hội ưu việt và tiến bộ hơn với cácchế độ xã hội trước đó thể hiện trên một số nét cơ bản như sau:
- Mục tiêu cao nhất của CNXH là giải phóng con người khỏi mọi ách bóc lột vềkinh tế và nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện
- Cơ sở vật chất của CNXH được tạo ra bởi một lực lượng sản suất tiên tiến,hiện đại
- CNXH là từng bước xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độcông hữu về tư liệu sản xuất
- CNXH tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao dộng mới với năng suất cao
- CNXH thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động
- Nhà nước trong CNXH là nhà nước dân chủ kiểu mới, thể hiện bản chất giaicấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động
- Trong xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), các quan hệ giai cấp - dân tộc - quốc
tế được giải quyết phù hợp, kết hợp lợi ích giai cấp - dân tộc với chủ nghĩa quốc
tế trong sáng
+)Quan điểm của Mác về CNXH:
- Chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản thông qua cách mạng vô sản là mộttất yếu khách quan
- Cách mạng vô sản nổ ra với nguyên nhân là do mâu thuẩn trong lòng chế độ xãhội tư bản
- Giai cấp công nhân mang sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa thay vào đó phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa
Mác xác định đây là học thuyết "mở", sẽ có các chi tiết nhỏ không còn phù hợp
Trang 14trong tương lai cần điều chỉnh, bổ sung và phát triển.
+) Những bổ sung của Lênin về CNXH:
- Xác định thời cơ ra đời của Đảng cộng sản Khẳng định cách mạng nổ rakhông chỉ trong lòng xã hội tư bản phát triển cao mà còn tại các nước chế độ tưbản phát triển trong giai đoạn trung bình
- Cụ thể hóa các mối quan hệ giữa chính trị - kinh tế sau thời điểm cách mạngtháng 10 (năm 1917) thắng lợi và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thựctại Liên bang Xô Viết
+) Quan điểm của Mác- Lênin về thời kì quá độ lên CNXH
- Quan niệm của C.Mác về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộngsản phải trải qua thời kỳ quá độ với ý nghĩa:
1/ quá độ trực tiếp từ các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao
2/quá độ với nghĩa rộng nhất từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, khôngcòn khác biệt giai cấp, không còn nhà nước
3/bản chất của thời kỳ quá độ là quá độ chính trị
- Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác về hình thái kinh tế-xã hội, V.ILênin nhấn mạnh trong thời kỳ lịch sử nhất định- giai đoạn đầu- chủ nghĩa xãhội còn nhiều đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trên hai lĩnh vực cơ bản của xã hội
là chính trị và kinh tế Về kinh tế, “trong thời gian nhất định, dưới chế độ cộngsản, không những vẫn còn pháp quyền tư sản mà vẫn còn nhà nước kiểu tư sảnnhưng không có giai cấp tư sản” Về khoa học, kinh tế, giáo dục, Lênin đã viết:giai cấp vô sản phải bằng con đường học tập “học nữa, học mãi” và học các kỹ
sư, các chuyên gia tư sản về cách tổ chức, quản lý, để xây dựng thành công chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, Ph Ăngghen và người kế tục sự nghiệpcủa các ông là V.I Lênin, thì chủ nghĩa xã hội được phát triển từ chủ nghĩa tưbản và trải qua một thời kỳ quá độ, xét về mặt kinh tế còn đan xen giữa chủnghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, trong đó, một số loại hình sở hữu tư bản vẫncòn cơ sở để tồn tại V.I Lênin đã từng nhấn mạnh, chủ nghĩa xã hội không phải
Trang 15là một xã hội từ trên trời rơi xuống, mà được sinh ra từ chính chủ nghĩa tư bản.Việc chủ nghĩa xã hội phát triển kinh tế thị trường với sự đa dạng hóa các loạihình sở hữu, chính là những bước trung gian và quá độ để tiến tới một nền kinh
tế của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trong hiện thực
Trang 16PHẦN II VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
I VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KT-XH TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Tính tất yếu của việc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm 1954
ở miền bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước, sau khi cuộc cách mạng dântộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành thắng lợi, đất nước đã hòan thành thắng lợi,đất nước đã hòa bình thống nhất quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọiquốc gia xây dựng chủ nghĩa xã hội, dù điểm xuất phát ở trình độ phát triển caohay thấp
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử Bởi vì:
Một là, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử và phù hợp với lý luận hình thái kinh tế-xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin Theo đó, loài người đã phát triển qua các hình thái kinh
tế- xã hội: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa
Sự biến đổi của các hình thái kinh tế- xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên và hìnhthái kinh tế- xã hội sau cao hơn, tiến bộ hơn hình thái kinh tế- xã hội trước nó
Sự biến đổi của các hình thái kinh tế- xã hội nói trên đều tuân theo quy luật quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất
Hai là, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với xu thế của thời đại Cho dù ngày nay, chủ nghĩa tư bản đang nắm nhiều ưu thế về vốn,
khoa học, công nghệ và thị trường, đang cố gắng điều chỉnh trong chừng mựcnhất định quan hệ sản xuất để thích nghi với tình hình mới, nhưng không vượt ra
Trang 17khỏi những mâu thuẫn vốn có của nó, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã hộihóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bảnchủ nghĩa về tư liệu sản xuất Mâu thuẫn này không những không dịu đi màngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượngsản xuất và xã hội hóa lao động làm cho các tiền đề vật chất, kinh tế, xã hộingày càng chín muồi cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của xã hộimới - chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người.Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xãhội.
Ba là, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với
xu thế của thời đại, mà còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh ở Việt Nam Cách
mạng dân tộc, dân chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa Cuộc cáchmạng dân tộc, dân chủ trước hết là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, dânchủ đồng thời nó là tiền đề để “ làm cho nhân dân lao động thoát nạn bầncùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no, và sống một đờihạnh phúc”, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh” Vì vậy, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp tục hợplôgíc cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, làm cho cách mạng dân tộc, dân chủđược thực hiện triệt để
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi quốc gia đi lênchủ nghĩa xã hội, nhưng nó lại có đặc điểm riêng đối với mỗi quốc gia ; do điềukiện xuất phát riêng của mỗi quốc gia quy định Trước đây, miền Bắc nước tabước vào thời kỳ quá độ với “đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạchậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tưbản chủ nghĩa” Khi cả nước thống nhất cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặcđiểm trên vẫn còn tồn tại Phân tích rõ hơn thực trạng kinh tế, chính trị của đấtnước, trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng
Trang 18sản xuất rất thấp Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lạicòn nặng nề Những tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều Các thế lực thù địchthường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội và nền độc lập của nhân dân ta”
Bốn là, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội là phù hợp với nguyện vọng của toàn thể quần chúng nhân dân.
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trên cơ sở vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê Nin trong điều kiệnlịch sử cụ thể của Việt Nam, ngay từ những năm đầu mới thành lập, trong những
văn kiện đầu tiên, Đảng ta đã xác định con đường: “chủ trương là tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Đó là mục
đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam
Trải qua hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Namvẫn luôn kiên định mục tiêu và con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội Liên tục trong 3 Cương lĩnh về cách mạng dân tộc dân chủ và 1Cương lĩnh về thời kỳ đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã luôn đượcĐảng ta khẳng định
Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10/1930 tiếptục bổ sung và phát triển quan điểm của bản luận cương tháng 2/1930, xác định:
“Tính chất cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền tiến lên
cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa…”
Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 02/1951 đã bổ sung,hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng
Bước vào thời kỳ Đổi mới, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 đã tổngkết hơn 60 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nêu 6 đặc trưng cơ bản
của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đó là xã hội "do nhân dân lao động làm
chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm
Trang 19theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới" Bản cương lĩnh chính trị năm 1991 đã phác
hoạ ra mô hình xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, đồng thời đã pháchoạ ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trong thời kỳ mới, với những điều kiện và hoàn cảnh mới, tại Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) Bản cương lĩnh đã xác định: “Xã hội
xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;
- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sảnxuất tiến bộ phù hợp;
- Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúpnhau cùng phát triển;
- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”
1.3 Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được xác định trongcác văn kiện chính trị của Đảng, về mục tiêu đó là: “Dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh”; về con đường, bao gồm các đặc trưng sau:
1.3.1 Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Xã hội phát triển dần dần từ thấp đến cao qua 5 hình thái kinh tế xã hội vàtất yếu từ hình thái KTXH tư bản chủ nghĩa chuyển lên hình thái KTXH xã hộichủ nghĩa Lê Nin phát hiện ra quy luật sự phát triển không đồng đều của chủ
Trang 20nghĩa tư bản, từ đó đi đến kết luận mới về cách mạng vô sản và sự thắng lợi củacủa CNXH CNXH có thể thắng lợi ở một số ít nước TBCN Từ thực tế Cáchmạng tháng 10 Nga thắng lợi, nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới ra đời tạimột nước TBCN còn kém phát triển, sản xuất nhỏ, quan hệ gia trưởng, Lê Nin
đã đưa ra lý luận sáng tạo về 02 con đường quá độ đi lên XHCN:
1/ Quá độ trực tiếp lên CNXH, đây là con đường đi lên CNXH của các nước tưbản phát triển
2/ Quá độ đi lên CNXH thông qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ.Đây là con đường tiến lên CNXH đối với các nước lạc hậu, kinh tế kém pháttriển
Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nước phong kiến nghèo nàn, lạchậu trải qua bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, do vậy, sau Cách mạng tháng 8năm 1945, Đảng ta xác định đường quá độ tiến lên CNXH không qua phát triểnTBCN đó là sự vận dụng đúng quy luật phát triển các hình thái KTXH
Trong lúc CNXH khủng hoảng dẫn đến sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu,chúng ta cần có sự nhận định và vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê ninmột cách sáng tạo Đảng ta đã khẳng định độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xãhội, đó là quy luật phát triển của Cách mạng Việt Nam, là sự vận dụng phù hợpvới điều kiện cụ thể của Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, mặc dù CNXH bị khủng hoảng và sụp đổ nhưng đó chỉ là sự
sụp đổ về mô hình XHCN tập trung, quan liêu, bao cấp, chứ không phải CNXHvới tính cách là một xã hội cao hơn CNTB Chủ nghĩa tư bản mặc dù chưa hếtvai trò lịch sử và đang đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là khoa học và côngnghệ, nhưng những thành tựu CNTB tạo ra, đến lượt nó lại trở thành cái phủđịnh chủ nghĩa tư bản và thay thế nó bằng xã hội khác cao hơn – chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa cộng sản Vì vậy lựa chọn con đường phát triển chủ nghĩa xãhội là phù hợp xu hướng thời đại
Thứ 2, độc lập dân tộc gắn với CNXH là con đường mà Đảng và Bác đã
lựa chọn Với thử thách của thời gian, con đường đó từng bước đã hiện thực hoá
Trang 21trên đất nước Việt Nam Tuy còn gặp nhiều khó khăn, trắc trở nhưng con đường
đó đã từng bước mang lại thành tựu kinh tế, văn hoá, xã hội và trở thành cuộcsống hiện thực của chúng ta hôm nay Đại đa số nhân dân ta vẫn tin tưởng vàochủ nghĩa xã hội, đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta
Văn kiện đại hội Đảng lần IX của Đảng đã chỉ rõ: “Con đường đi lên củanước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúcthượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhânloại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại
Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biếnđổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phứctạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường,nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Trong các lĩnh vựccủa đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”
Nhận thức này là kết quả của sự đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội, vềmối quan hệ giữa CNXH và CNTB Tư duy cũ hiểu sự ra đời của CNXH là kếtquả của sự phủ định triệt để CNTB, từ đó có lúc, có nơi cho rằng cái gì càng xavới CNTB thì càng gần với CNXH, tư duy mới phân biệt sự khác nhau về chấtgiữa CNXH và CNTB nhưng đặt CNXH và CNTB vào lịch trình chung của sựtiến hoá nhân loại qua năm hình thái kinh tế – xã hội để xác định vị trí củaCNTB như là một giai đoạn phát triển cao của văn minh nhân loại và là nấcthang cận kề để loài người bước sang nấc thang cao hơn là CNXH
Việt Nam ta càng cần kế thừa tiếp thu những thành tựu mà nhân loại đãđạt được dưới chế độ tư bản, bởi vì: Chúng ta đi lên từ một nước nghèo nàn lạchậu, chậm phát triển, bằng “ con đường rút ngắn” đi lên CNXH tất yếu nước taphải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài trong đó có xen kẽ “những mảnh củachủ nghĩa xã hội” với những mảnh của “chủ nghĩa tư bản” Trang thái xen kẽ đólàm cho các yếu tố của CNXH và các yếu tố của CNTB vừa đấu tranh vừa
Trang 22chung sống hoà bình vừa bài trừ, vừa nương tựa vào nhau Chúng ta bỏ qua chế
độ TBCN nhưng không thể bỏ qua quá trình phát triển có tính quy luật từ sảnxuất nhỏ lên sản xuất lớn mà CNTB từng trải qua, đó là: sản xuất hàng hoá, tiếnhành cách mạng kỹ thuật- theo nhu cầu phát triển biện chứng của kỹ thuật tronghiệp tác giản đơn, công trường thủ công, đại công nghiệp cơ khí-để chuyển laođộng thủ công thành lao động sử dụng máy móc, mở rộng giao lưu trong nước
và quốc tế, khắc phục tâm lý sản xuất nhỏ và tư tưởng phong kiến Một mặtchúng ta bỏ qua chế độ TBCN nhưng phải kế thừa những thành tựu tiến bộ màloài người tạo ra trong chế độ TBCN, đó là bỏ qua địa vị thống trị của quan hệsản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng chúng ta cần biết chọn lọc, sửdụng thành quả văn minh của CNTB như là các thành tựu khoa học kỹ thuật,công nghệ, văn hoá xã hội với nhà nước XHCN và chủ thể là nhân dân lao động
1.3.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, CNH-HĐH được coi là nhiệm vụ trung
tâm của thời kỳ quá độ
Mỗi hình thái kinh tế xã hội có một cơ sở vật chất tương ứng, cơ sở vậtchất của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sảnxuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xãhội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội
Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là một nền công nghiệp lớn hiện đại,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hoá cao dựa trên trình độ khoa họccông nghệ hiện đại Trong thời kỳ quá độ việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
Trang 23thuật CNXH là tất yếu khách quan và được thực hiện thông qua công nghiệphoá, hiện đại hoá.
Việt Nam đi lên CNXH từ một nước sản xuất nhỏ, lao động thủ công,chưa có nền đại công nghiệp Vì vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá để nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cao cho chủ nghĩa xãhội Đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã
hội của nước ta Đại hội Đảng lần IX cũng chỉ ra: “Con đường công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh trên thế giới sự pháttriển như vũ bão của khoa học công nghệ, khi nền khoa học kỹ thuật trên thếgiới phát triển mạnh mẽ, đặc biệt công nghệ thông tin và công nghệ sinh học,phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để có thể ứng dụng ngàycàng nhiều hơn các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại để tạo ra sự biến đổi
về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sức chế ngự của con ngườivới tự nhiên, tăng trưởng và phát triển kinh tế, từ đó ổn định , nâng cao đời sốngnhân dân, tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố vai trò kinh tế của nhà nước,tăng cường an ninh quốc phòng và xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ
Chúng ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấuđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Thực hiện thắng lợicông nghiệp hoá, hiện đại hoá là một nhân tố quyết định sự thắng lợi của sựnghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam
1.3.3 Kết hợp giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trong thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Lịch sử phát triển của loài người là sự đấu tranh thay thế lẫn nhau của cácchế độ xã hội, xã hội sau cao hơn xã hội trước Sự thay thế các hình thái xã hộinày là tất yếu do sự tác động và chi phối của các quy luật kinh tế và xã hội Cácnhà nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị học cũng như nhiều môn khoa học
kinh tế khác đã có chung nhận xét: qui luật "quan hệ sản xuất phải phù hợp với
Trang 24trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất" là qui luật chi phối toàn bộ hệ
thống xã hội từ trước tới nay Nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, do đó nghiên cứu qui luật này không những làmnền tảng để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta mà cònlàm tiền đề cho sự dự đoán xu thế phát triển của thế giới để từ đó đề ra nhữngbiện pháp và quyết sách hợp lý
Biểu hiện vận dụng của quy luật kinh tế luật quan hệ sản xuất phù hợp vớitính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong quá trình CNH- HĐH ở nước
ta được thể hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau:
1.3.3.1 Phát triển quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN – xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần
Đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười đã khẳng định: “nếu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ mới thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”.
Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một hướng
đi phù hợp Hướng đi đó xuất phát từ trình độ và tính chất của lực lượng sảnxuất nước ta hiện nay vừa thấp vừa không đồng đều nên không thể nóng vộinhất loạt xây dựng quan hệ sản xuất một thành phần kinh tế dựa trên cơ sở chế
độ công hữu XHCN về tư liệu sản xuất như trước đại hội VI Làm như vậy làđẩy quan hệ sản xuất đi quá xa so với trình độ lực lượng sản xuất mà không khaithác hết những tiềm năng kinh tế của các tác nhân kinh tế Xây nền kinh tế nhiềuthành phần đã khơi dậy tiềm năng của sản xuất, xây dựng năng lực sáng tạo, chủđộng của các chủ thể lao động trong sản xuất kinh doanh thúc đầy sản xuất pháttriển
Thực tiễn mấy năm qua cho thấy, chính sách kinh tế nhiều thành phần đã gópphần giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, góp phần tạo ra Vì vậy, Đại
hội VIII khẳng định: “tiếp tục thực hiện nhất quán lâu dài chính sách này,
khuyến khích mọi doanh nghiệp và cá nhân trong nước khai thác tiềm năng ra
Trang 25sức đầu tư phát triển ” Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước
ta hiện nay, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần tồn tại mộtcách khách quan và là những bộ phận cần thiết của nền kinh tế trong thời kỳ quá
độ Trong khi thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, một mặt chúng tacần phải thoát ra khỏi sự trói buộc của tư duy cũ, những nhận thức không đúngtrước đây đối với các thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân nhà nước trongquá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ đó chủ động tháo gỡ những vướng mắcchủ động hướng dẫn các thành phần kinh tế này phát triển đúng hướng
1.3.3.2 Phát triển quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất theo định hướng XHCN - Thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu
Quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước đi lên CNXH Đảng ta đã rút ranhững kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng: một trong những nguyên nhân làm
cho sản xuất chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là “không
nắm vững quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất’’ Từ đó, Đảng đã rút ra kinh nghiệm vận dụng quy luật bằng
cách gắn cách mạng quan hệ sản xuất với cách mạng khoa khọc kỹ thuật, chútrọng việc tổ chức lại nền sản xuất xã hội để xác định những hình thức và bướcthích hợp
Đảng nhận thức rằng: sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất không bao giờ là sự phù hợp tuyệt đối, không có mâu thuẫn, không thayđổi Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất không bao giờ là sựphù hợp chung mà bao giờ cũng tồn tại dưới những hình thức cụ thể, thích ứngvới những đặc điểm nhất định với trình độ nào đó của lực lượng sản xuất Trongthời kỳ quá độ đi lên CNXH thực hiện CNH- HĐH, nền kinh tế nước ta khôngcòn là nền kinh tế tư bản, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế XHCN Bởivậy công cuộc cải tạo XHCN phải chú ý đến đặc điểm của sự tồn tại khách quancủa nền kinh tế nhiều thành phần Trong cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựngquan hệ sản xuất mới, đại hội VI đã nhấn mạnh là phải giải quyết đồng bộ ba