Khái niệm tín dụng: - Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.. Khái niệm:
Trang 1DANH SÁCH NHÓM 4 LỚP NGÂN HÀNG NGÀY 2 KHÓA 21
Trang 2DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TS Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, nhà xuất bản Thống Kê, TPHCM
2007
PGS.TS Trần Huy Hoàng, Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại, nhà xuất bản Lao Động Xã Hội, TPHCM 2011
TS Hồ Diệu, Quản Trị Ngân Hàng, Nhà xuất bản Thống kê, TPHCM 2002
Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành
Chỉ thỉ số 01/CT-NHNN ngày 01/03/2011 do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành
Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 24, 36 năm 2012
Thời báo Ngân hàng, các bài có liên quan năm 2012
Xếp hạng tín dụng nội bộ - thực trạng và giải pháp, Kỷ yếu Hội thảo tháng 9/2012
Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2012 – 2013
Đề án Tái cơ cấu DNNN của Bộ Tài chính, năm 2012
Trang 3HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Phần I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
I Khái niệm tín dụng:
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định
- Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung:
+ Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng
+ Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời
+ Sự chuyện nhượng này có kèm theo chi phí
II Các nghiệp vụ tín dụng:
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng
1 Rủi ro tín dụng:
1.1 Khái niệm:
Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm
cả việc không thanh toán nợ gốc hay lãi khi khoản nợ đến hạn
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của
Tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Trang 4Kết luận: Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ, hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
1.2 Phân loại rủi ro tín dụng:
hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ Trong đó:
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro
có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: là rủi ro
phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay,
Rủi ro tín dụng
Rủi ro lựa chọn Rủi ro bảo đảm Rủi ro nghiệp vụ Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung
Trang 5các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài san đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro
liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỉ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
hình thức của rủi ro tính dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản
lý danh mục cho vay của ngân hàng, chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung Trong đó:
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ
cá yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
+ Rủi ro tập trung: là trường
hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay
Không thu được vốn
Lãi treo phát sinh Nợ quá hạn phát sinh
1.Lãi treo đóng băng
2 Miễn giảm lãi
1 Nợ không có khả năng thu hồi
2 Xóa nợ
Trang 61.4 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng:
a Nguyên nhân:
- Từ phía khách hàng: là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng như: khả năng tự chủ
tài chính kém, năng lực điều hành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả, trình độ quản lý khách hàng yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay kém hiệu quả, ngoài ra cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay ngân hàng
và cá nhân, ngân hàng cho vay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng
+ Năng lực dự báo, phân tích, thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu nhất là đối với các ngành đòi hỏi chuyên môn cao Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay là đúng đắn nhưng thiếu kiểm tra, giám sát sau cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích mà ngân hàng không kịp thời ngân chặn
+ Thiếu thông tin về khách hàng, thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời để xem xét trước khi cấp tín dụng
+ Năng lực và phẩm chất của một số cán bộ tín dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng cũng dẫn đến rủi ro tín dụng
- Nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân ngoài ý muốn của khách hàng và ngân
hàng như: thiên tai, hỏa hoạn, sự thay đổi chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, ngành, hành lang pháp lý chưa phù hợp, biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi làm cho doanh nghiệp lâm vào tình
Trang 7trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được nên dù co thiện chí nhưng vẫn không trả được nợ ngân hàng
b Hậu quả:
- Đối với ngân hàng:
+ Ngân hàng không thu được vốn và lãi cho vay nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi + Không thu được nợ làm cho vòng quay của vốn tín dụng chậm lại làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả và có thể mất khả năng thanh khoản
+ Lòng tin của người gửi tiền và uy tín ngân hàng bị giảm sút
- Đối với nền kinh tế:
+ Hoạt động của ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức, lĩnh vực trong nền kinh tế, vì vậy khi một ngân hàng gặp khó khăn hay bị phá sản, người gửi tiền hoang mang, ồ ạt rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn
+ Ngân hàng gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động doanh nghiệp do không
có tiền trả lương công nhân, mua nguyên vật liệu làm cho giá cả hàng hóa tăng, thất nghiệp, gây mất trật tự xã hội, kinh tế suy thoái Rủi ro tín dụng có thể gây nên khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đế kinh tế khu vực và thế giới
Kết luận: Rủi ro tín dụng của một ngân hàng có thể xảy ra với nhiều mức độ khác nhau,
nhẹ thì ngân hàng bị giảm lợi nhuận do không thu hồi được lãi vay, nặng hơn ngân hàng không thu được vốn lẫn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao làm cho ngân hàng bị lỗ hoặc mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm cho ngân hàng bị phá sản, ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị phải thận trọng và có giải pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng
Phần II Đánh giá quy trình quản lý rủi ro tín dụng
ở các Ngân hàng Thương Mại Việt Nam
I Nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam tăng cao:
Trang 8- Nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng
- Theo quy định của Basel II và III, nợ xấu của ngân hàng không được vượt quá 2% trên tổng dư
nợ Nhưng theo số liệu của Ngân hàng nhà nước (NHNN) công bố thì nợ xấu đang ở mức 8,6%, tương đương với trên 200.000 tỷ đồng, cao hơn khá nhiều so với các quy định của Basel Nguyên nhân tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam cao hơn là do các nguyên nhân sau:
+ Thứ nhất, do ngân hàng vừa thiếu thông tin về doanh nghiệp, thông tin lại không chuẩn xác Điều này gây không ít khó khăn cho ngân hàng trong việc thiết lập quan hệ tín dụng
Ở Việt Nam, trên 90% là DN nhỏ và vừa, không ít DN có báo cáo tài chính không chuẩn xác, lại không qua kiểm toán Ngay cả đối với các DN lớn được kiểm toán thì sự chậm trễ trong công bố báo cáo tài chính cũng như chất lượng kiểm toán chưa cao cũng gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng Vì thế, việc dựa vào một số thông tin đầu vào để cấp tín dụng, đã dẫn đến một số khoản vay vừa ra khỏi ngân hàng đã khó có khả năng thu hồi Đặc biệt, khi ngân hàng và DN lại có mối quan hệ “mật thiết”, phụ thuộc lẫn nhau (sở hữu chéo) thì nguồn lực dễ bị phân bổ sai lệch, bất hợp lý, cho vay bất chấp các quy định
về an toàn vốn, nợ xấu tất yếu sẽ tăng lên
+ Thứ hai, hoạt động thâu tóm, mua bán, sáp nhập, các công ty sân sau, sở hữu chéo trong ngân hàng đã tạo ra những vòng luẩn quẩn của dòng tiền Đây cũng là những hoạt động tiềm ẩn nhiều nợ xấu nhưng rất khó chỉ ra để xử lý, khi tính minh bạch và giải trình còn hạn chế
+ Thứ ba, nợ xấu còn có nguyên nhân sâu xa từ đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ ngân hàng và khách hàng Kinh doanh ngân hàng dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm thì đạo làm nghề ngân hàng không chỉ cần thiết mà còn mang tính bắt buộc Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân mà một số cán bộ ngân hàng đã cấu kết với khách hàng để che giấu sự thật, gian lận, cố ý làm trái quy định của NHNN, của NHTM Mặc dù chưa có số liệu công bố nhưng trong tổng số nợ xấu đó, một tỷ lệ không nhỏ nảy sinh từ vi phạm đạo đức nghề nghiệp
+ Thứ tư là tình trạng gian lận cổ phiếu, đây là tình trạng đã xảy ra không phải hiếm ở nước
ta, những rủi ro này liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng bởi cổ phiếu khống, cổ
Trang 9phiếu định giá quá cao, giao dịch mua bán giả tạo, sử dụng cổ phiếu để vay vốn của chính ngân hàng, hoặc làm vốn điều lệ ngân hàng tăng lên một cách giả tạo trên cơ sở đó tạo nguồn vốn để cho vay, hay áp dụng giới hạn tối đa vốn vay cho một nhóm khách hàng Trường hợp này đã từng xảy ra phổ biến ở nhiều ngân hàng thương mại cổ phần
II Những nỗ lực nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại:
1 Hoạt động của các ngân hàng thương mại:
Trong thời gian gần đây, đã có một sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình cấp tín dụng của một số ngân hàng Việt Nam Giờ đây, đến một số ngân hàng (Vietcombank, ACB…), chúng ta không còn thấy Phòng tín dụng, là bộ phận trước đây tiếp xúc khách hàng và tiến hành thẩm định hồ sơ vay vốn để xem xét quyết định cho vay Chúng ta sẽ được làm quen với một khái niệm mới là Phòng Quan hệ khách hàng, là đầu mối tiếp xúc và tiếp nhận đầy đủ các yêu cầu của khách hàng để các bộ phận chức năng xem xét phê duyệt
Những thay đổi cơ bản trong mô hình quản lý rủi ro tín dụng đang được các ngân hàng này
áp dụng là:
- Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng từ Hội sở chính đến các chi nhánh với sự phân cấp
rõ ràng về mức phán quyết, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, đồng thời xây dựng các chính sách quản lý rủi ro tín dụng, chính sách phân bổ tín dụng, chính sách khách hàng, xây dựng danh mục đầu tư …
- Chuyển đổi mô hình quản lý theo chiều ngang sang mô hình theo chiều dọc Theo mô hình này, các nghiệp vụ kinh doanh chính, trong đó có hoạt động cấp tín dụng, được quản lý tập trung tại Hội sở chính, các chi nhánh chủ yếu làm chức năng bán hàng
- Phân tách bộ phận tín dụng thành các bộ phận chuyên môn khác nhau như quan hệ khách hàng (tập trung chủ yếu vào hoạt động tiếp thị, tiếp xúc khách hàng, khởi tạo tín dụng), bộ phận quản lý rủi ro tín dụng (thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và ra các ý kiến về cấp tín dụng cũng như giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộ phận quan hệ khách hàng), bộ phận tác nghiệp (thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệ thống máy tính và quản lý khoản vay…) Các ngân hàng thương mại cổ phần như ACB, VIB, VPB, SCB… đã và đang tiến hành quá trình cơ cấu lại bộ máy kinh doanh tín dụng theo hướng này để phân định rõ chức năng đề xuất và thẩm định tín dụng nhằm đảm bảo tính khách quan trong hoạt động cấp tín
Trang 10dụng Với sự tư vấn của Ngân hàng ING (Hà Lan), Vietcombank đã triển khai mô hình quản
lý tín dụng mới trong toàn hệ thống từ tháng 7/2006 Các ngân hàng thương mại quốc doanh khác như BIDV, Vietinbank cũng đang tiến hành chuyển đổi theo mô hình này
- Thành lập ban kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ: nhiều ngân hàng đã thành lập ban kiểm soát nội bộ trực thuộc hội đồng quản trị và Ban kiểm soát trực thuộc ban điều hành có tổ chức chuyên trách từ hội sở chính đến các chi nhánh
Kiểm toán nội bộ có các nhiệm vụ:
+ Kiểm toán hoạt động, nhằm đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động của tổ chức + Kiểm toán tuân thủ, đó là việc giám sát quá trình chấp hành pháp luật, quy định nộibộ tại các đơn vị thành viên
+ Kiểm toán báo cáo tài chính, bao gồm kiểm toán bảng cân đối kế toán kiểm toán báo cáo hoạt động kinh động, kiểm toán báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của mỗi TCTD cũng như các đơn vị thành viên,
do dó kiểm toán hoạt động tín dụng trở thành công việc chủ yếu của bộ phận kiểm toán được tiến hàng một hoặc nhiều lần trong năm
Song thực tiễn xảy ra rủi ro lớn nhỏ ở các TCTD trong thời gian qua có thể khẳng định kiểm toán nội bộ chưa phát huy được vai trò của mình, cũng như chưa hoàn thành được vai trò của mình Ở nhiều TCTD, nhất là các TCTD cổ phần chỉ mang tính hình thức, bị
vô hiệu hóa hoặc là do trình độ non kém hoặc do tiêu cực
- Thực hiện chấm điểm và xếp hạng tín dụng: xếp hạng tín dụng nội bộ tại các NHTM đã đạt được một số kết quả, giúp các ngân hàng có thể quản trị rủi ro tốt hơn, tránh và phát hiện sớm các khoản tín dụng xấu, các khoản tín dụng có vấn đề Tuy nhiên, để có thể kiểm soát rủi ro tín dụng một cách có hiệu quả, hiện vẫn còn không ít những trở ngại Trong đó, thách thức lớn nhất đối với các NHTM hiện nay chính là việc thu thập và phân loại thông tin chính xác, chi tiết về người vay, về các đặc điểm của các loại hình rủi ro (loại sản phẩm/ngành kinh tế/khu vực địa lý khác nhau…) và kết quả của đầu tư tín dụng vào các loại hình rủi ro đó
- Thành lập những công ty định giá tài sản độc lập tránh tình trạng nhân viên tín dụng định giá tài sản quá cao ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ, Ví dụ như Ngân hàng Á Châu thành lập Công ty
Trang 11TNHH MTV Thẩm Định Địa Ốc Á Châu vào năm 2006, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam thành lập Công ty CP Bất Động Sản Exim
2 Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước:
Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra một số quy định nhằm hạn chế và khắc phục nợ xấu của ngân hàng thương mại:
- Ngân hàng nhà nước đã ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21-1-2013về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro… của các tổ chức tín dụng (TCTD) thay thế cho Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và một số văn bản khác Thông tư này được đánh giá sẽ khiến các TCTD công bố tỷ lệ nợ xấu cao hơn trước đây, làm căn cứ cho việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhiều hơn Thông tư 02 có một số tiêu chí khắt khe hơn trong việc phân loại nợ:
+ Thứ nhất, các khoản nợ bị gia hạn nợ lần đầu sẽ được đưa vào nợ nhóm 3 thuộc nhóm nợ xấu, thay vì nếu gia hạn nợ trong thời hạn vẫn được xếp vào nhóm 2 theo Quyết định 493 + Thứ hai, nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng cũng được đưa vào nhóm nợ xấu
+ Thứ ba, ngoài các tiêu chí để phân loại nợ từ đặc tính khả năng trả nợ của khách hàng, điểm mới được đánh giá khá khắc nghiệt là xem xét hoạt động cấp tín dụng cho những đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng hoặc cấp tín dụng có điều kiện theo Luật Các TCTD sửa đổi 2010 Chẳng hạn nếu như trước đây trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM, việc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng bị hạn chế tín dụng diễn ra rất thường xuyên thì nay được đưa vào nhóm 3, “nợ dưới tiêu chuẩn” trong nhóm chỉ tiêu nợ xấu
+ Thứ tư, hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu của các TCTD hoặc các công ty con của TCTD này để góp vốn vào TCTD khác trong hệ thống các NHTM cũng là những khoản cho vay được liệt kê vào nhóm nợ xấu Quy định này xếp các khoản tín dụng theo kiểu đầu tư chéo lẫn nhau sẽ bị hạn chế khi liệt kê vào nhóm nợ xấu mà quy định trước đây không đề cập đến
+ Thứ 5, nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết mà TCTD đang nắm quyền kiểm soát không vượt quá tỷ lệ quy định