1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ bảo vệ môi TRƯỜNG

26 1,6K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Chính Sách Thuế Bảo Vệ Môi Trường
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Kiều
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Trường học Trường đại học Kinh tế TP. HCM
Chuyên ngành Kinh tế môi trường
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 478,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiếtkiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN

Đề tài:

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

HVTH : NGUYỄN THỊ THANH KIỀU

LỚP : CAO HỌC NH ĐÊM 6 – K20

MỤC LỤC

HCM, Tháng 8/2012

Trang 2

A Mở đầu 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

B Nội dung 4

Chương I: Cơ sở lý luận 4

1 Định nghĩa thuế bảo vệ môi trường 4

2 Tại sao đánh thuế bảo vệ môi trường? 4

3 Tác dụng của thuế bảo vệ môi trường 4

Chương II: Đánh giá thực trạng của chính sách thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam .7

1 Cơ sở pháp lý của thuế bảo vệ môi trường 7

2 Đối tượng nộp thuế bảo vệ môi trường 8

3 Phương pháp tính thuế bảo vệ môi trường 10

4 Tác dụng của thuế bảo vệ môi trường 12

5 Những tồn tại trong chính sách thuế bảo vệ môi trường 13

Chương III: Kiến nghị 18

1 Dựa trên các kinh nghiệm các nước 18

2 Dựa trên thực tiễn thực hiện ở Việt Nam 21

C Kết luận 24

D Tài liệu tham khảo 25

Trang 3

A Mở đầu

A Lí do chọn đề tài :

Trong thời gian qua, tăng trưởng kinh tế, quá trình công nghiệp hóa và phát triển đôthị tăng nhanh đã tác động xấu đến môi trường sinh thái như sự gia tăng phát thải nước thảicông nghiệp, nước thải sinh hoạt; gia tăng số lượng chất thải rắn trong sinh hoạt và trongcông nghiệp; gia tăng phát thải các chất gây ô nhiễm không khí từ cả quá trình sản xuất côngnghiệp và sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm; ô nhiễm ngày càng gia tăng cả trên mặt đất,trong lòng đất, nước và trong không khí

Có thể thấy, hiện trạng môi trường tiếp tục xuống cấp nêu trên là những thách thứcnghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam trong thời gian tới Nếukhông kịp thời có các giải pháp giảm dần lượng phát thải chất độc hại thì nguy cơ ô nhiễm sẽngày càng gia tăng

Việc đánh thuế bảo vệ môi trường góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhânđối với môi trường Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sảnphẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chếtiêu dùng sản phẩm (xăng, dầu, than, ) Từ đó, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu

tư, sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiếtkiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảmthiểu ô nhiễm và suy thoái về môi trường Hơn nữa, thuế mang lại nguồn thu nhất định chongân sách để đầu tư cải tạo môi trường Thay đổi nhận thức của người dân về về vai trò củamôi trường là mục tiêu lớn nhất mà các chính sách hướng tới

Ở nước ta, chính sách thuế bảo vệ môi trường gồm các chính sách phí và thuế liênquan đến môi trường Đặc biệt là Luật thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực ngày 01/01/2012.Đây là luật thuế còn khá mới mẻ ở nước ta và thời gian đi vào đời sống chưa tròn một năm

Do đó, bên cạnh những hiệu quả ban đầu được mong chờ, những tồn tại, bất cập dần bộc lộ

Do việc đánh thuế bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng trong cả nhận thức lẫntăng trưởng nên cần thiết có các nghiên cứu về chính sách thuế bảo vệ môi trường để cungcấp cái nhìn tổng quát và theo sát hoạt động của chính sách thuế bảo vệ môi trường trong đờisống Đó là lí do tôi chọn đề tài Phân tích chính sách thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Trang 4

B Mục tiêu của đề tài

Đề tài nhằm trả lời 3 câu hỏi sau đây:

 Tại sao cần đánh thuế bảo vệ môi trường?

 Ở Việt Nam, việc đánh thuế bảo vệ môi trường được thực hiện như thế nào?

 Làm cách nào để hoàn thiện chính sách thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam?

Để trả lời các câu hỏi trên, bài viết đi vào tìm hiểu cơ sở lý luận về chính sách thuế bảo vệmôi trường theo quan điểm của các nhà kinh tế, phân tích thực trạng chính sách thuế bảo vệmôi trường tại Việt Nam và đưa ra các kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế trong việcthực thi chính sách

C Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phân tích và tổng hợp:

 Phân tích tình hình thực hiện chính sách thuế bảo vệ môi trường dựa trên các tìnhhuống phát sinh và phân tích nội hàm của chính sách thuế này

 Tổng hợp các vấn đề tồn tại trong việc thực thi chính sách thuế nhằm đưa ra cái nhìntoàn diện trong việc hoàn thiện chính sách và tham khảo được kinh nghiệm từ cácnước trên thế giới

D Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về chính sách thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam Trong khuônkhổ bài viết này, tôi chủ yếu đi vào phân tích việc thực thi Luật thuế bảo vệ môi trường doQuốc hội ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng củaphát triển bền vững và có hiệu lực cao nhất trong các quy định về môi trường Do còn khámới mẻ nên khi đi vào đời sống, luật thuế này đã bộc lộ không ít bất cập cần nhanh chóng bổsung, điều chỉnh để hoàn thiện hơn

Trang 5

B Nội dung

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Định nghĩa thuế bảo vệ môi trường

Tên gọi: OECD gọi là thuế môi trường, ở Việt Nam gọi là thuế bảo vệ môi trườngTheo OECD, thuế môi trường là loại thuế mà cơ sở thuế của nó là các nhóm sản phẩm

tự nhiên gây tác động tiêu cực đến môi trường Bốn loại thuế trong thuế môi trường gồm thuếnăng lượng, thuế giao thông, thuế ô nhiễm và thuế tài nguyên

Thuế môi trường là một loại công cụ kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề về môitrường

Theo Luật Thuế bảo vệ môi trường của Quốc hội Việt Nam định nghĩa thì Thuế bảo

vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (khi sử dụng gây tác độngxấu đến môi trường)

2 Tại sao đánh thuế bảo vệ môi trường ?

2.1 Bởi vì thuế bảo vệ môi trường mang đến những ưu đãi làm giảm gánh nặng môi trường và giữ gìn môi trường

Bằng việc thay đổi hành vi, tạo ra ý thức bảo vệ môi trường (ví dụ như các hoạt độngtác động xấu đến môi trường sẽ bị đánh thuế, còn các hoạt động góp phần bảo vệ môi trường

sẽ được giảm thuế), thuế bảo vệ môi trường mang đến những ưu đãi cho doanh nghiệp và cánhân nhằm hợp nhất yếu tố môi trường trong các hoạt động kinh tế và tối thiểu hóa những tácđộng tiêu cực đến môi trường

2.2 Bởi vì thuế bảo vệ môi trường tạo ra nguồn thu ngân sách có thể được dùng để thực hiện các dự án bảo vệ môi trường hoặc cắt giảm các loại thuế khác

Nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường có thể dùng để giữ gìn môi trường hoặc cácphúc lợi khác Ngoài ra, nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường có thể dùng để cắt giảm cácloại thuế khác như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tiền bảo hiểm xãhội

Nhìn chung, thông qua đánh thuế bảo vệ môi trường, người tiêu dùng cũng như cácdoanh nghiệp có thể linh hoạt hơn trong việc giảm bớt ảnh hưởng từ hoạt động của bản thânlên môi trường

Nói cách khác, đánh thuế nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm góp phần thay đổinhận thức của con người đối với môi trường, tạo thêm nguồn lực để khôi phục môi trườngsinh thái

3 Tác dụng của thuế bảo vệ môi trường

Trang 6

Thuế bảo vệ môi trường là thuế Pigou đánh trên việc làm ô nhiễm môi trường Loạithuế này giúp đem lại các quyết định thích hợp về môi trường bằng cách tăng các chi phí liênquan đến đầu vào và đầu ra có thể gây ô nhiễm Vì thế, điều chỉnh các ngoại tác tiêu cực gây

ô nhiễm môi trường Các nhà kinh tế tranh luận rằng số tiền thu thuế ô nhiễm là một công cụhiều quả để đạt đến các mục tiêu về môi trường (ví dụ như Baumol và Oates, 1988)

Đánh thuế trên đầu ra sẽ làm tăng giá sản phẩm, giảm mức tiêu dùng hoặc chuyểnsang tiêu dùng các mặt hàng không gây ô nhiễm Mức tác động nay của thuế phụ thuộc vào

độ co giãn của cầu theo giá của các hàng hóa gây ô nhiễm và tính sẵn có của các hàng hóathay thế khác

Đánh thuế trên đầu vào có thể làm tăng giá từng phần hoặc toàn phần của thành phẩm,tùy thuộc vào độ co giãn của cung và cầu Nếu mở rộng sản xuất, các nhà sản xuất có thể chịugánh nặng thuế, do đó họ có thể chuyển sang sử dụng các mặt hàng không gây ô nhiễm

Sự cải tiến công nghệ giúp giảm bớt việc sử dụng các sản phẩm đầu vào gây ô nhiễmcũng như tăng cường sử dụng các mặt hàng không gây ô nhiễm

3.1 Liệu có hay không sự gia tăng nguồn thu thuế? Khả năng về đánh thuế trùng?

Nếu thuế bảo vệ môi trường được thiết kế không nhằm mục đích tạo nguồn thu thuế,thì sẽ có sự giảm sút tương ứng các loại thuế thông thường Vì các loại thuế thông thườnggây ra sự bóp méo, tổn thất xã hội của thuế do đó cũng giảm theo Các ý tưởng về giả thuyếttránh đánh trùng thuế cho rằng việc sử dụng thuế bảo vệ môi trường có thể làm giảm sự bópméo của thuế và cải thiện phúc lợi mà không làm giảm các lợi ích môi trường (theo Oates,1991; Pearce, 1991; Bovenberg và de Mooij,1994)

Ngoài ra, nguồn thu thuế bảo vệ môi trường có thể giúp tài trợ cho việc cung cấp hànghóa công, đặc biệt hàng hóa công liên quan đến môi trường Chi phí xã hội biên là tỉ số giữamức giá ngầm của thuế và mức ô nhiễm trung bình của lợi ích xã hội biên

Lundholm (2005) chỉ ra rằng theo quan điểm của thuế tối ưu, lợi ích xã hội ròng làcần thiết và điều kiện hiệu quả của các dự án cần bỏ qua phân tích lợi ích – chi phí Theoquan điểm không quan tâm thuế tối ưu, nếu thuế quá thấp, lợi ích xã hội ròng là cần thiếtnhưng không mang tính hiệu quả Theo phân tích, hàng hóa công về môi trường trong phúclợi xã hội không bao gồm thuế bảo vệ môi trường và hàm chi phí của thuế Nếu ngược lại,điều này có thể dẫn đến kết quả là, nếu tăng cung cấp hàng hóa công về môi trường có thểtăng quy mô của khu vực công tính trên GDP và giảm mức tổn thất xã hội của việc tài trợ chohàng hóa này bằng thuế bảo vệ môi trường cũng như các loại thuế không liên quan đến môi

Trang 7

trường Nó giúp làm giảm nhu cầu về hàng hóa công không liên quan đến môi trường (ví dụnhư giảm nhu cầu về hàng hóa công về chăm sóc sức khỏe hay bảo dưỡng đường sá)

Nhìn chung, các nghiên cứu đều hàm ý rằng việc thu thuế bảo vệ môi trường có thểlàm gia tăng nguồn thu và do đó, làm tăng việc cung cấp các hàng hóa công về môi trường

Cả các kinh nghiệm thực tiễn lẫn các mô hình mô phỏng đều chỉ ra rằng thuế bảo vệmôi trường có thể giúp giảm ô nhiễm môi trường

Việc đánh thuế bảo vệ môi trường góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhânđối với môi trường Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sảnphẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chếtiêu dùng sản phẩm (xăng, dầu, than, ) Từ đó, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu

tư, sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân

3.3 Sự kết hợp giữa thuế bảo vệ môi trường và các trợ cấp về môi trường

Nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường nên được sử dụng thế nào? Có các lựa chọnrằng nguồn thu này nên cộng vào chung nguồn thu của chính phủ hoặc tách riêng ra chỉ dùngcho các hoạt động liên quan đến môi trường

Nếu thuế bảo vệ môi trường là một loại thuế thì nó nên được dùng riêng cho một khuvực hoặc ngành công nghiệp bị thu thuế Trong khu vực này, thuế này cần được phân bổ chocác hoạt động bảo vệ môi trường

Tại một số nước, nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường được đưa vào Ngân sách Nhànước như tất cả các khoản thuế khác Từ nguồn Ngân sách Nhà nước mới phân bổ theo cáccấp từ Trung ương đến địa phương để chi vào các công việc như: Đảm bảo an sinh xã hội,xây dựng cơ sở hạ tầng và trong đó có bảo vệ môi trường Tuy nhiên, việc chi sẽ được tínhtoán, cân đối dựa trên số thu để đảm bảo đúng mục đích

Trang 8

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI

VIỆT NAM

1 Cơ sở pháp lý của thuế bảo vệ môi trường

 Trước khi Luật thuế bảo vệ môi trường ra đời:

Các văn bản pháp lý liên quan đến các khoản phí bảo vệ môi trường như:

 Thông tư liên tịch số 107 ngày 26/07/2010, từ 01/06/2010 về phí bảo vệ môi trường đốivới nước thải với mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải gây nên, sử dụngnguồn nước sạch một cách tiết kiệm và hiệu quả

 Nghị định 174/2007/NĐ-CP - Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được thực hiện

từ năm 2007, phí thu đối với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải

ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác Ngoài phí bảo vệmôi trường đối với chất thải rắn, hiện nay còn đang áp dụng thu “phí vệ sinh” là khoản thunhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lýrác thải tại địa phương

 Nghị định số 74/2011/NĐ-CP quy định chi tiết về phí bảo vệ môi trường đối với khai tháckhoáng sản Đối tượng chịu thuế đối với khai thác khoáng sản theo quy định là dầu thô,khí thiên nhiên, khí than, khoáng sản kim loại và khoáng sản không kim loại Người nộpphí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là các tổ chức, cá nhân khai thác cácloại khoáng sản

 Nghị định số 78/2000/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2000 về phí xăng dầu đang thu đốivới xăng các loại, dầu diesel, dầu hoả, dầu mazút, dầu mỡ nhờn Số thu từ phí xăng dầuđược phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.Các chính sách phí hiện hành đang áp dụng vào các nguồn gây ô nhiễm, (đánh vàocác chất gây ô nhiễm thải ra môi trường nước, đất, không khí) nhằm mục đích thúc đẩy cácđối tượng gây ô nhiễm phải giảm thiểu khối lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và đónggóp một phần tài chính vào việc xử lý ô nhiễm môi trường do các chất thải gây ra

Trang 9

này nhằm hạn chế việc đầu tư, sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây tác động xấu đếnmôi trường.

 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008: Luậtthuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành qui định ưu đãi thuế suất 10% cho suốt đời dự ánđối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường; miễn thuế tối đa không quá

4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 9 năm tiếp theo đối với các doanhnghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực môi trường

 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11ngày 14 tháng 06 năm 2005: Quiđịnh ưu đãi miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ, vật liệu

sử dụng trực tiếp trong việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quantrắc và phân tích môi trường; sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Sau khi có Luật Thuế bảo vệ môi trường

 Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 được thông qua ngày 15 tháng 11 năm

2010 và có hiệu lực ngày 01/01/2012, quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng khôngchịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo

vệ môi trường Đây là cơ sở pháp lý quan trọng của phát triển bền vững và có hiệu lực caonhất trong các quy định về môi trường

 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường

 Thông tư 152/2011/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 11 tháng 11 năm 2011 hướngdẫn Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường

2 Đối tượng nộp thuế bảo vệ môi trường

Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoáthuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường

Trang 10

Về đối tượng chịu thuế, Luật thuế bảo vệ môi trường quy định 08 nhóm hàng hoá vàodiện chịu thuế bảo vệ môi trường trong đó đáng chú ý tới 5 nhóm sau:

Nhóm 1: Xăng dầu (Xăng các loại, nhiên liệu bay, diesel, dầu hoả, dầu mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn)

Đây là các sản phẩm có chứa một số chất hoá học như chì, lưu huỳnh, ngay cả khichưa sử dụngcácchất chứa trong các loại xăng dầu đã phát thải ra môi trường và gây ảnhhưởng xấu đến môi trường Xăng dầu có phạm vi sử dụng rộng rãi, với lượng lớn đến 15 triệutấn/năm, nên nguy cơ ô nhiễm môi trường cũng diễn ra trên diện rộng

Việc đưa các sản phẩm xăng dầu vào đối tượng chịu thuế nhằm mục tiêu khuyếnkhích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu

Nhóm 2: Than đá

Khi than được sử dụng cho mục đích đốt cháy sẽ thải ra môi trường các loại khí như

CO2, SO2 đều là các khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người Phạm vi sử dụng thancũng rộng khắp và với khối lượng gần 30 triệu tấn/năm

Việc đưa than vào đối tượng chịu thuế cũng nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụngnăng lượng tiết kiệm, hiệu quả; giảm sự phụ thuộc vào năng lượng có nguồn gốc hoá thạch,khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo

Nhóm 3: Dung dịch hydrro-chloro-fluoro-carbon (Dung dịch HCFC)

Chất HCFC được sử dụng trong một số lĩnh vực công nghiệp như: làm lạnh, điều hoàkhông khí… Sự phát thải chất HCFC vào khí quyển, làm ô nhiễm bầu không khí, là nguyênnhân chính làm suy giảm tầng ôzôn và gây hiệu ứng nhà kính Nước ta đã tham gia ký kếtNghị định thư Montreal về hạn chế sử dụng các chất làm suy giảm tầng ôzôn Theo đó, cácnước đang phát triển (trong đó có nước ta) sẽ phải loại trừ hoàn toàn việc sử dụng HCFC vàonăm 2030 Mức tăng trưởng của ngành công nghiệp làm lạnh và điều hoà không khí vớilượng tiêu thụ các chất HCFC tăng nhanh liên tục sẽ đặt ra nhiều thách thức cho tiến trìnhloại trừ HCFC ở nước ta Việc đưa chất HCFC vào đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường sẽgóp phần vào việc thực hiện cam kết Nghị định thư Montreal ở Việt nam, khuyến khíchdoanh nghiệp giảm dần sử dụng HCFC bằng việc chuyển đổi công nghệ sản xuất

Trang 11

Nhóm 4: Túi ni lông thuộc diện chịu thuế

Túi nhựa xốp phải trải qua thời gian rất lâu để phân hủy, có thể tới hàng trăm nămhoặc không thể tự phân hủy được Túi nhựa xốp thải bỏ sau khi sử dụng sẽ tích tụ trong đất,suy thoái môi trường đất.Khi bị phân hủy thì còn sinh ra các chất làm đất bị trơ, không giữđược độ ẩm và dinh dưỡng cho cây trồng.Việc sử dụng và xả thải túi nhựa xốp sau khi sửdụng diễn ra khắp mọi nơi từ thành thị đến nông thôn và gây ô nhiễm môi trường lớn, trêndiện rộng

Việc đưa túi nhựa xốp vào đối tượng chịu thuế nhằm mục tiêu nâng cao ý thức bảo vệmôi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi hành vi của người tiêu dùng trong việc

sử dụng túi nhựa xốp, khuyến khích sản xuất các sản phẩm thay thế thân thiện hơn với môitrường

Nhóm 5: Thuốc diệt cỏ, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho, thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng

Đây là những hợp chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp từ các chất hóahọc được dùng để phòng trừ dịch hại trên cây trồng và bảo quản nông sản.Hiện nay, việc sửdụng đúng cách, đúng liều lượng thuốc bảo vệ thực vật chưa được quan tâm do giá của nhiềuloại còn tượng đối rẻ so với giá nông sản Những hành vi sử dụng không đúng cách, khôngđúng liều lượng hóa chất bảo vệ thực vật có thể ảnh hưởng tới môi trường theo rất nhiềucách, ví dụ như các hoá chất lơ lửng trong không khí khi phun thuốc hay tồn tại trong các loạithực phẩm, trong nước, đất Việc đưa hoá chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụngvào đối tượng chịu thuế nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng, khuyến khích họ thayđổi thói quen sử dụng lạm dụng, giảm thiểu những tác hại xấu của hoá chất bảo vệ thựcvật đối với môi trường

3 Phương pháp tính thuế bảo vệ môi trường

Thuế bảo vệ môi trường phải nộp được tính theo công thức sau:

Thuế bảo vệ môi

trường phải nộp =

Số lượng đơn vị hànghoá tính thuế x

Mức thuế tuyệt đối trên mộtđơn vị hàng hoá

Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối

3.1 Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:

Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hànghóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo

Trang 12

Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhậpkhẩu.

Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch vànhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờngốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi,tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế củahàng hoá tương ứng

3.2 Mức thuế tuyệt đối

III Dung dịch Hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC) kg 4.000

V Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng kg 500

VI Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng kg 1.000

VII Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử

VIII Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng kg 1.000

4 Tác dụng của thuế bảo vệ môi trường

4.1 Tích cực:

4.1.1 Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, tỏ rõ quan điểm của Chính phủ trong việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và giữ gìn, bảo tồn môi trường sống

Trang 13

Theo đó, Việt Nam có thể phát triển kinh tế song song với bảo vệ môi trường màkhông nhất thiết phải hi sinh một trong hai mục tiêu này.Đánh thuế đối với những sản phẩmgây ô nhiễm môi trường là cơ hội để các doanh nghiệp sử dụng những sản phẩm có độ pháttán ra môi trường kém, phát triển các nguồn năng lượng và hóa chất thân thiện với môitrường Điều quan trọng là phải có một hệ thống thuế minh bạch để người dân thấy đượcquyền lợi từ việc thu thuế bảo vệ môi trường đối với cộng đồng.

Theo Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường Phạm Khôi Nguyên, để đối phó với tìnhtrạng ô nhiễm nặng nề hiện nay, Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp như tăng số tiền xửphạt những đối tượng gây ô nhiễm từ mức cao nhất là 70 triệu lên 500 triệu đồng, tới đây sẽkhởi tố một số vụ điển hình… Và một trong những biện pháp mạnh chính là đánh thuế Điềunày tỏ rõ quan điểm của Chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề môi trường một cách triệt

để và tạo sự lan tỏa trong cộng đồng

4.1.2 Tạo nguồn thu ngân sách

Thuế và phí là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, chiếm hơn 95% tổngnguồn thu, trong đó, các khoản thuế, phí liên quan đến bảo vệ môi trường chiếm tỷ trọngkhông nhiều Phí có tỷ trọng cao nhất là phí xăng dầu, trong năm 2010, khoản thu phí xăngdầu tại Việt Nam trên 10.500 tỷ, và năm 2011 dự kiến số phí thu được từ xăng dầu là 12.000

tỷ đồng Thuế đánh vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường giúp giảm tác động vào môitrường, hạn chế những hành vi không tốt đối với môi trường, nhằm nâng cao ý thức bảo vệmôi trường của toàn xã hội

Với khung thuế nêu trên, dự kiến số thu thuế bảo vệ môi trường thu được theo mứcthuế tối thiểu khung khoảng 14.300 tỷ đồng/năm, với mức thu tối đa khung khoảng 57.000 tỷđồng/năm (Năm 2009, số thu phí bảo vệ môi trường và phí xăng dầu khoảng 11.000 tỷ đồng)

Ngày đăng: 24/12/2013, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w