Trải qua thực tiễn 30 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta tổng kết: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” . Như vậy, lại thêm một lần nữa, Đảng ta khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, đây là con đường đầy khó khăn và chưa hề có trong tiền lệ lịch sử. Do tính mới mẻ của nó mà tất yếu sẽ có những hoài nghi vào sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thậm chí có người còn cho rằng con đường đó là không thể thực hiện được. Đặc biệt, từ sau khi CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, lý luận hình thái kinh tế - xã hội (HTKTXH) nói riêng đang bị bôi nhọ, chống phá và công kích gay gắt từ nhiều phía. Các thế lực thù địch (kẻ thù của CNXH) đang lớn tiếng cho rằng lý luận HTKTXH của chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu cần được thay thế bằng một lý luận mới, phù hợp hơn với thời đại hiện nay (thời kỳ ngự trị của khoa học công nghệ). Không những vậy, bằng những hoạt động cụ thể, chúng còn tìm mọi cách xuyên tạc lý luận HTKTXH của chủ nghĩa Mác, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của đảng, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Trong thực tiễn quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam những năm qua, việc nhận thức và vận dụng lý luận HTKTXH của chủ nghĩa Mác - Lênin có thời điểm còn có những sai lầm, khuyết điểm. Có vấn đề nhận thức chưa đúng, thậm chí còn nhận thức sai. Sự vận dụng học thuyết còn mang tính giáo điều, thiếu sáng tạo, không sát với điều kiện hoàn cảnh lịch sử ở Việt Nam. Vì vậy, muốn xây dựng thành công CNXH - sự lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam, nhất thiết phải đổi mới nhận thức và vận dụng sáng tạo lý luận HTKTXH vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Đây là thực sự là nội dung có ý nghĩa rất lớn về cả lý luận và thực tiễn. Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề: “Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng ta trong lựa chọn con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay” làm chủ đề tiểu luận.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải qua thực tiễn 30 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta tổng kết: “Trong quá trình đổi mớiphải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhânloại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”1 Như vậy, lại thêm mộtlần nữa, Đảng ta khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là lựa chọn duy nhấtđúng của cách mạng Việt Nam
Có thể khẳng định rằng, đây là con đường đầy khó khăn và chưa hề có trongtiền lệ lịch sử Do tính mới mẻ của nó mà tất yếu sẽ có những hoài nghi vào sự thắnglợi của cách mạng Việt Nam Thậm chí có người còn cho rằng con đường đó là khôngthể thực hiện được Đặc biệt, từ sau khi CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp
đổ thì chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, lý luận hình thái kinh tế - xã hội (HTKTXH)nói riêng đang bị bôi nhọ, chống phá và công kích gay gắt từ nhiều phía Các thế lựcthù địch (kẻ thù của CNXH) đang lớn tiếng cho rằng lý luận HTKTXH của chủ nghĩaMác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu cần được thay thế bằng một lý luận mới, phù hợp hơnvới thời đại hiện nay (thời kỳ ngự trị của khoa học công nghệ) Không những vậy,bằng những hoạt động cụ thể, chúng còn tìm mọi cách xuyên tạc lý luận HTKTXHcủa chủ nghĩa Mác, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của đảng, chống phá sự nghiệp xâydựng CNXH ở nước ta
Trong thực tiễn quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam những năm qua, việcnhận thức và vận dụng lý luận HTKTXH của chủ nghĩa Mác - Lênin có thời điểm còn
có những sai lầm, khuyết điểm Có vấn đề nhận thức chưa đúng, thậm chí còn nhậnthức sai Sự vận dụng học thuyết còn mang tính giáo điều, thiếu sáng tạo, không sátvới điều kiện hoàn cảnh lịch sử ở Việt Nam Vì vậy, muốn xây dựng thành côngCNXH - sự lựa chọn duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam, nhất thiết phải đổi mớinhận thức và vận dụng sáng tạo lý luận HTKTXH vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.Đây là thực sự là nội dung có ý nghĩa rất lớn về cả lý luận và thực tiễn Do đó, tác giả
lựa chọn vấn đề: “Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự
vận dụng của Đảng ta trong lựa chọn con đường đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay”
làm chủ đề tiểu luận
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng TW Đảng, Hà Nội, 2016,
Tr.69.
Trang 2NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ
XÃ HỘI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1 Phương pháp tiếp cận lịch sử xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trước C.Mác, các nhà triết học thường bàn về xã hội một cách chungchung, trừu tượng Họ chưa có lý luận thực sự khoa học để nhận thức bản chất xãhội và những quy luật khách quan chi phối sự vận động, phát triển của lịch sử xãhội loài người Các nhà triết học duy vật siêu hình do không nhận thức được cácmối quan hệ bản chất trong đời sống xã hội nên họ không tìm ra các quy luật củalịch sử Họ cho rằng, lịch sử vận động, phát triển một cách ngẫu nhiên, hỗn độn.Các nhà triết học duy tâm lại nhìn xã hội trong giới hạn quan hệ tư tưởng, do vậy,
họ đi tìm động lực phát triển xã hội ở nhân tố tinh thần hoặc trong ý thức tư tưởngcủa các vĩ nhân (cá nhân), anh hùng Nhìn chung các nhà triết học trước C.Máckhông nhìn thấy tính lặp lại của các hiện tượng xã hội, từ đó quy khoa học xã hội
về việc miêu tả các hiện tượng xã hội một cách chủ quan
Các nhà triết học tư sản theo “Thuyết kỹ trị” đã tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế
- kỹ thuật, coi yếu tố kinh tế kỹ thuật quyết định sự phát triển của xã hội, xóa nhòa
sự khác biệt về bản chất của các chế độ xã hội “Thuyết hội tụ” lại cho rằng do sựphát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, chế độ TBCN và chế độ XHCN sẽ gặpnhau ở “xã hội hậu công nghiệp”
AlvinTôplơ - nhà tương lai học người Mỹ đã nghiên cứu xã hội hiện đại và
chia lịch sử ra thành “ba làn sóng” tức “ba nền văn minh” lần lượt kế tiếp nhau là
nền văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh tin học Lý luận này
đã tuyệt đối hóa yếu tố lực lượng sản xuất (LLSX) trong sự phát triển xã hội, xemnhẹ yếu tố quan hệ sản xuất (QHSX) và kiến trúc thượng tầng (KTTT) Cách tiếpcận này có giá trị nhất định, nhưng phiến diện và không chỉ ra được nguồn gốc,động lực của sự phát triển của lịch sử xã hội
Những cách phân kỳ như vậy, không đem lại cách nhìn khoa học về một xãhội cụ thể Đến C.Mác, dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết quátrình lịch sử, C.Mác đã nêu ra quan điểm duy vật về lịch sử và hình thành học
Trang 3thuyết về HTKTXH Học thuyết HTKTXH của C.Mác ra đời là một cuộc cáchmạng trong toàn bộ quan niệm về lịch sử xã hội C.Mác đã nhìn thấy động lực củalịch sử không phải do một tinh thần thần bí nào mà do hoạt động thực tiễn của conngười dưới tác động của các quy luật khách quan Học thuyết HTKTXH là một nộidung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin Học thuyết đó vạch ra nhữngquy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội, vạch ra phương pháp luận duy nhấtkhoa học để nhận thức và cải tạo xã hội Đây là cơ sở thế giới quan, phương phápluận chỉ đạo các chính đảng và nhà nước vô sản xác định cương lĩnh, đường lối, chủtrương, chính sách trong xây dựng CNXH
C.Mác đã nghiên cứu xã hội từ nền sản xuất vật chất đi từ nghiên cứu tựnhiên, đem đối lập xã hội với tự nhiên để tìm ra những quy luật tự nhiên, từ đó rút
ra quy luật xã hội Chủ nghĩa Mác - Lê nin đã khẳng định quy luật tự nhiên và quyluật xã hội đều có thuộc tính chung là tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ýmuốn chủ quan của con người, mặc dù quy luật xã hội vận động thông qua hoạtđộng của nhân tố chủ quan là con người nhưng nó vẫn mang nội dung khách quan
C.Mác cho rằng xã hội là một chỉnh thể có hệ thống và cấu trúc, trong mỗigiai đoạn nhất định đều có các yếu tố cơ bản và phổ biến: LLSX; QHSX; cơ sở
hạ tầng (CSHT) hợp thành trên các QHSX và KTTT tương ứng trên CSHT.Trong đó, LLSX là nền tảng vật chất của xã hội, là tiêu chuẩn khách quan đểphân biệt các thời đại kinh tế, là yếu tố xét đến cùng quy định sự phát triển củacác HTKTXH QHSX là quan hệ khách quan cơ bản hình thành trong quá trìnhsản xuất, là quan hệ quyết định chi phối mọi quan hệ xã hội, là tiêu chuẩn đểphân biệt bản chất các xã hội khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử KTTT thể hiện
bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội, do CSHT quyết định, nhưng nó cũng cótính độc lập tương đối tác động trở lại CSHT Sự tác động lẫn nhau của các yếu tốtrong HTKTXH, hình thành hai quy luật cơ bản, đó là quy luật QHSX phù hợpvới trình độ phát triển của LLSX và quy luật CSHT quyết định KTTT Sự tácđộng tổng hợp của hai quy luật ấy là động lực thúc đẩy xã hội phát triển mà suyđến cùng do yếu tố LLSX quyết định
Học thuyết Mác về HTKTXH nhấn mạnh vai trò quyết định, xét đến cùngcủa nhân tố kinh tế, song không bao giờ coi kinh tế là yếu tố quyết định duy nhấttrong lịch sử Ph.Ăngghen viết: “Theo quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyếtđịnh trong lịch sử, xét đến cùng, là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện
Trang 4thực Cả C.Mác lẫn tôi chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế Do đó nếu ai xuyên tạccâu đó khiến cho nó có nghĩa là nhân tố kinh tế quyết định duy nhất thì như vậy họ
đã biến câu đó thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa, tình hình kinh tế là
cơ sở, như mọi yếu tố khác của KTTT cũng đều ảnh hưởng đến quá trình củanhững cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp, lại chiếm ưu thế trongviệc quyết định hình thức của những cuộc đấu tranh đó”2
Khi nghiên cứu QHSX trong mối quan hệ biện chứng với LLSX, C.Máctập trung luận giải toàn diện cả ba mối quan hệ: quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức,quan hệ phân phối Trong đó quan hệ sở hữu về TLSX là quan hệ quyết định chiphối các quan hệ khác Từ đây, C.Mác tìm ra mâu thuẫn kinh tế đó là sự đối lậpgiữa sở hữu và sử dụng dẫn đến mâu thuẫn về mặt xã hội trong xã hội tư bản đó là
kẻ sở hữu TLSX (giai cấp tư sản) thì không sử dụng TLSX, mà người sử dụngTLSX (giai cấp vô sản) thì lại không sở hữu Trong đó, người nào sở hữu TLSXdẫn đến vị trí làm chủ, còn người nào sử dụng TLSX tất yếu rơi vào vị trí làm thuê
Từ đó, nảy sinh ra mâu thuẫn giữa người chủ và người làm thuê, mâu thuẫn giữagiai cấp tư sản và giai cấp vô sản Có thể nói đây là cách luận giải rất khoa học đi
từ tất yếu của các quan hệ kinh tế xã hội, từ mâu thuẫn kinh tế đến mâu thuẫn xãhội, mâu thuẫn giai cấp, đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản.C.Mác coi đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp chủ yếu của sự phát triển xã hộiloài người chuyển từ HTKTXH thấp lên HTKTXH cao hơn
C.Mác không dừng lại khi tiếp cận lịch sử ở đời sống vật chất của xã hội
mà còn nghiên cứu đời sống tinh thần và chính trị từ một lĩnh vực mà C.Mác gọi là
KTTT Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: KTTT là toàn bộ những
quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật v.v và những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội v.v được hình thành trên một CSHT nhất định Nói cách khác, KTTT của xã hội là toàn bộ những
quan điểm tư tưởng của xã hội, những thiết chế tương ứng và cả những quan hệ nộitại của chúng được hình thành trên một CSHT nhất định Theo Ăngghen, vai trò củacác yếu tố trong KTTT rất quan trọng: “Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật,triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật vv là dựa trên sự phát triển kinh tế Nhưngtất cả sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cũng tác động đến cơ sở kinh tế”3
2 C.Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, Tập 6, NXB Sự Thật, H.1984 Tr.726.
3 C.Mác, Ph Ăngghen, Tuyển tập, Tập 4, NXB Sự thật H.1984 Tr.788.
Trang 5C.Mác nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể có cấu trúc, là mộtHTKTXH, cái cơ sở để cắt nghĩa lịch sử Cho nên, xã hội có đời sống vật chất tấtyếu sẽ có đời sống tinh thần của con người Theo C.Mác: “Xã hội là sản phẩm của
sự tác động qua lại giữa những con người”4 Ph.Ăngghen cũng khẳng định: “Trongmỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơcấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trịcủa thời đại và lịch sử của sự phát triển, trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ cóxuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử đó”5 C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ từnhững sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa những quan hệ kinh tế của xã hội tất yếu
sẽ nảy sinh những quan hệ chính trị tinh thần, từ quan hệ trong đời sống kinh tế cóquan hệ với tinh thần, trong xã hội có giai cấp và nhà nước sẽ có quan hệ chính trị.Cho nên, khi nghiên cứu xã hội tất yếu phải nghiên cứu vấn đề chính trị
Ở mỗi chế độ xã hội có trình độ và cơ sở kinh tế nhất định sẽ được xâydựng trên đó một KTTT tương ứng, giai cấp thống trị xã hội sẽ gắn cho xã hội hệ
tư tưởng của mình và tính chất giai cấp được thể hiện rất rõ ở sự đối lập về quanđiểm tư tưởng và cuộc đấu tranh về chính trị tư tưởng của giai cấp đối kháng Giaicấp nào chiếm địa vị thống trị xã hội về kinh tế thì nó cũng chiếm luôn vị trí thốngtrị trong KTTT xã hội
Trong mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT tầng thì CSHT vớitính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội không chỉ sản sinh ra KTTT tươngứng, quy định tính chất mà còn kéo theo sự thay đổi của KTTT khi nó thay đổi.Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT không chỉ thực hiện trong giai đoạnchuyển tiếp có tính chất cách mạng từ xã hội này sang xã hội khác, mà còn đượcthực hiện ngay trong bản thân mỗi một HTKTXH C.Mác nhận định: “Cơ sở kinh
tế thay đổi thì toàn bộ các KTTT đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng”6.Theo C.Mác sự biến đổi của CSHT dẫn đến sự biến đổi của KTTT là cả một quátrình diễn ra hết sức phức tạp Nguyên nhân của quá trình đó xét cho cùng là do sựphát triển của LLSX Tuy nhiên, sự phát triển của LLSX chỉ trực tiếp gây ra sựbiến đổi của CSHT, còn sự biến đổi của CSHT, đến lượt nó - mới làm cho KTTTbiến đổi một cách căn bản
4 C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 27, NXB CTQG H.1996 Tr657.
5 C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 27, NXB CTQG H.1996 Tr.657.
6 C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 13, NXB CTQG H.1993 Tr 15.
Trang 6Chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn nhấn mạnh tính độc lập tương đối củaKTTT, vì KTTT có sự tác động trở lại đối với CSHT Sự phụ thuộc của KTTT vàoCSHT không trực tiếp và không đơn giản, cũng không phải là sản phẩm thụ độngcủa CSHT, mà chúng có khả năng tác động đến CSHT một cách mạnh mẽ Các bộphận của KTTT cũng có tính độc lập, tương đối, cùng tác động đến CSHT, trong
đó nhà nước, đảng phái, hệ tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng Tác động củaKTTT đối với CSHT diễn ra theo hai chiều hướng KTTT tác động cùng chiều với
sự phát triển của CSHT sẽ thúc đẩy CSHT phát triển và nếu tác động ngược chiềuvới sự phát triển của CSHT, của cơ cấu kinh tế nó sẽ kìm hãm sự phát triển củaCSHT, của kinh tế Nghĩa là, khi KTTT phản ánh đúng tính tất yếu kinh tế, các quyluật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển Và ngược lại, khi KTTTkhông phản ánh đúng tính tất yếu kinh tế, các quy luật kinh tế khách quan sẽ kìmhãm sự phát triển của kinh tế và đời sống xã hội
Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT thông qua chức năng xã hội cơbản của nó là xây dựng, bảo vệ và phát triển CSHT hiện tồn, chống lại những lựclượng cản trở, nguy cơ phá hoại sự tồn tại của chế độ kinh tế - xã hội đang tồn tại.Trong đó nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng chi phối, thậm chí trong nhữngtrường hợp nhất định nó quyết định khả năng tác động của các bộ phận khác củaKTTT đến toàn bộ đời sống xã hội nói chung và CSHT nói riêng Tuy nhiên, chủnghĩa duy vật lịch sử cũng không tuyệt đối hoá vai trò của KTTT, của các yếu tốchính trị đến sự phát triển của xã hội mà trong mối quan hệ tác động qua lại đó suycho cùng vẫn là nhân tố kinh tế đóng vai trò quyết định
Như vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã luận giải quy luật vận động đời sốngchính trị của xã hội trên cơ sở đời sống kinh tế, tạo thành điều kiện đủ khi nghiêncứu, tiếp cận lịch sử xã hội Đây là một phương pháp tiếp cận khoa học dựa trên tưduy biện chứng trong luận giải các vấn đề về xã hội Phương pháp tiếp cận lịch sửbằng học thuyết HTKTXH giúp C.Mác nhìn thấy động lực của lịch sử là do hoạtđộng thực tiễn của con người dưới tác động của các quy luật khách quan chứkhông phải một lực lượng siêu nhiên, thần bí nào Xuất phát từ “Cái sự thật hiểnnhiên là trước hết con người cần phải ăn uống, ở và mặc, nghĩa là phải lao động,trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt độngchính trị, tôn giáo, triết học ”7 Chừng nào cái sự thật hiển nhiên đó vẫn tồn tại thìchừng đó quan niệm duy vật về lịch sử vẫn không thể bác bỏ được
7 C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 19, NXB CTQG H.1993 Tr 166.
Trang 7Học thuyết HTKTXH là quan niệm duy vật biện chứng được cụ thể hoátrong việc xem xét đời sống xã hội, trước hết học thuyết này gắn bó hữu cơ vớiviệc mở rộng các nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào sự nhận thứccác hiện tượng xã hội Chính việc mở rộng chủ nghĩa duy vật vào lĩnh vực lịch sử
xã hội đã cho phép vạch ra sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên, sự thống nhấtcủa toàn bộ thế giới vật chất
Trong tất cả mọi quan hệ xã hội, C.Mác đã làm nổi bật những QHSX,những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác Bằng cáchnày, chủ nghĩa duy vật biện chứng cung cấp cho khoa học xã hội một tiêu chuẩnhoàn toàn khách quan để thấy được các quy luật xã hội Do đó, “có thể đem nhữngchế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy nhất
là HTKTXH Chỉ có sự khái quát đó mới cho phép chuyển từ việc mô tả (và từviệc đánh giá theo quan điểm lý tưởng) những hiện tượng xã hội sang việc phântích hiện tượng đó một cách hết sức khoa học”8
Việc xem xét lịch sử loài người theo đúng quan điểm duy vật đã giúp Máctìm ra những nét chung, cơ bản lặp đi lặp lại trong các chế độ xã hội của các nướckhác nhau C.Mác đã chỉ ra rằng: xã hội loài người phải sản xuất để tồn tại vàphương thức sản xuất xuất ra của cải vật chất là cái quyết định các quan hệ chínhtrị và pháp lý hiện hành trong một xã hội nhất định, cũng như quyết định các tràolưu tư tưởng khác nhau của xã hội Giá trị tinh thần đóng một vai trò tích cực trongđời sống xã hội, nhưng xét đến cùng thì nhân tố khách quan quyết định trong lịch
sử vẫn là yếu tố kinh tế
Học thuyết HTKTXH đã khắc phục được quan niệm trừu tượng về xã hội
Nó bác bỏ cách miêu tả một xã hội nói chung, phi lịch sử, không thay đổi về chất
Do việc hình thành học thuyết HTKTXH mà quan điểm phi lịch sử về xã hội đãphải nhường chỗ cho quan điểm lịch sử cụ thể
Học thuyết HTKTXH lần đầu tiên cung cấp cho chúng ta những tiêu chuẩnthực sự duy vật về phân kỳ và cho phép đi sâu vào bản chất của quá trình lịch sử,hiểu được lôgic khách quan của quá trình đó Học thuyết này giúp cho việc hiểu
8 V.I Lênin, Toàn tập, Tập 1, NXB Tiến Bộ, M.1983 Tr 163.
Trang 8được sự vận động của xã hội theo các quy luật khách quan, vạch ra sự thống nhấttrong cái muôn màu muôn vẻ của các sự kiện lịch sử ở các nước khác nhau trongcác thời kỳ khác nhau Chính vì thế mà nó đem lại cho khoa học xã hội sợi dây dẫnđường để phát hiện ra những mối liên hệ nhân quả để giải thích chứ không chỉ mô
tả các sự kiện lịch sử Nó là cơ sở khoa học để tiếp cận đúng khi giải quyết nhữngvấn đề cơ bản của các ngành khoa học xã hội rất đa dạng Bất kỳ một hiện tượng
xã hội nào, từ hiện tượng kinh tế đến hiện tượng tinh thần, đều chỉ có thể hiểu đúngkhi gắn nó với một HTKTXH nhất định
Gần đây, trước những thành tựu kỳ diệu của khoa học và công nghệ, lạitrong điều kiện chế độ XHCN ở nhiều nước bị sụp đổ, khuynh hướng tuyệt đốihoá cách tiếp cận theo nền văn minh tăng lên nhằm hạ thấp, thậm chí loại bỏ cáchtiếp cận HTKTXH Họ cho rằng lý luận về hình thái đang mất đi cả ý nghĩa nhậnthức luận lẫn cơ sở bản thể luận, không thể áp dụng vào bức tranh thế giới hiện đại.Đây là quan điểm sai lầm, bởi học thuyết Mác về HTKTXH đòi hỏi phải phân tích
sự phát triển của các xã hội như một quá trình tổng hợp các nhân tố và các quy luậtkhách quan Còn cách tiếp cận theo các nền văn minh thường chỉ tách ra một vàiđặc trưng để phân biệt nền văn minh này với nền văn minh khác, có khi chỉ là trình
độ của LLSX, hoặc công cụ lao động; có khi là những nét đặc thù về văn hoá, vềcộng đồng chủng tộc, dân tộc, mà bỏ qua QHSX, kết cấu giai cấp xã hội, do đó bỏqua tính chất xã hội của nền văn minh đó
Tóm lại, phương pháp tiếp cận các nền văn minh, hay sự đụng độ của cácnền văn hoá đối với sự phát triển của xã hội tuy có những giá trị nhưng các cáchtiếp cận này thường không chú ý đến bản chất, nguồn gốc, các động lực của sự vậnđộng và phát triển Bỏ qua vai trò của QHSX, mối quan hệ biện chứng giữa lựcLLSX và QHSX, các mối quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp nên không thểđem các phương pháp tiếp cận này thay thế học thuyết Mác về HTKTXH, mà họcthuyết HTKTXH vẫn là quan niệm duy nhất khoa học và cách mạng để phân tíchlịch sử và nhận thức các vấn đề xã hội
2 Sự phát triển của các HTKTXH là một quá trình lịch sử - tự nhiên
Học thuyết HTKTXH không chỉ xác định các yếu tố cấu thành, mà cònxem xét xã hội trong một quá trình biến đổi và phát triển không ngừng Mác viết
“Tôi coi sự phát triển của những HTKTXH là một quá trình lịch sử, tự nhiên”9.Điều này được Lê nin giải thích rõ: “ chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào
9 C.Mác, Ph Ăngghen, Tuyển tập, Tập 23, NXB CTQG H.1993 Tr.21.
Trang 9những QHSX và đem quy những QHSX vào trình độ của những LLSX thì người tamới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những HTKTXH
là một quá trình lịch sử - tự nhiên”10
Mác coi LLSX và QHSX, CSHT và KTTT là những yếu tố hợp thànhkhông thể thiếu được của HTKTXH Đồng thời, ông cũng coi mối quan hệ biệnchứng giữa các yếu tố đó chính là những quy luật phát triển của các HTKTXH với
tư cách là quá trình lịch sử tự nhiên
Trong quan niệm coi sự vận động xã hội như một quá trình lịch sử - tựnhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên những tư tưởng sau đây:
Một là, xã hội vận động theo những quy luật không những phụ thuộc vào ý
thức, ý chí và ý định của con người mà ngược lại còn quyết định cả ý chí, ý thức và
ý định của họ nữa Lịch sử là lịch sử hoạt động của con người theo đuổi mục đíchcủa bản thân mình, nhưng không thể hoạt động tuỳ tiện, mà phải tuân theo nhữngquy luật khách quan Mỗi hình HTKTXH được coi như một cơ thể xã hội, tự pháttriển theo những quy luật vốn có của nó, một cơ thể xã hội riêng biệt có những quyluật riêng về sự ra đời của nó, về hoạt động của nó và bước chuyển của nó lên mộthình thái cao hơn, tức là biến thành một cơ thể xã hội khác
Hai là, các quy luật xã hội mà nói riêng là các quy luật kinh tế, xét về bản
chất thì khác với các quy luật của giới tự nhiên “Mỗi thời kỳ lịch sử đều có nhữngquy luật riêng của nó Một khi cuộc sống đã vượt qua một thời kỳ phát triển nhấtđịnh, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác thì nó cũng bắt đầu bị quy luậtkhác chi phối”11
Ba là, những quy luật của xã hội, như quy luật về sự phù hợp giữa QHSX
với tính chất, trình độ của LLSX, giữa KTTT với CSHT đều thể hiện xu hướngvận động của xã hội xét trong phạm vi rộng và trong thời gian dài, tức là xét dướidạng khái quát, trừu tượng hoá Vì vậy, sự vận động cụ thể của một xã hội cụ thểtrong những thời gian và không gian nhất định thường có những biểu hiện dườngnhư không trùng khớp với quy luật phổ biến Chẳng hạn, Mác đã nhận xét: “Đốivới nghệ thuật những thời kỳ hưng thịnh nhất định của nó hoàn toàn không tươngứng với sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tương ứng với sự pháttriển của cơ sở vật chất của xã hội, cơ sở này dường như cấu thành cái xương sốngcủa tổ chức xã hội khó khăn chỉ là ở chỗ đưa ra được một công thức chung vềmâu thuẫn đó giải thích được những mâu thuẫn đó”12
10 V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 1, NXB Tiến Bộ M.1974 Tr.163.
11 C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 23, NXB CTQG, H.1994, Tr.34.
12 C.Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập 12, NXB CTQG, H.1993, Tr 889 – 890.
Trang 10Như vậy, có thể nói lịch sử là hoạt động của con người theo đuổi mục đíchcủa bản thân mình, nhưng đó không thể là hoạt động tuỳ tiện, mà là hoạt động ýthức hoặc vô thức tuân theo những quy luật khách quan Do đó, lịch sử - tự nhiênnghĩa là quá trình lịch sử nhưng mang tính tự nhiên, tiếp tục lịch sử của giới tựnhiên, vận động theo quy luật và xét đến cùng thì không thể phụ thuộc vào ý muốncon người Chính là dựa vào tư tưởng vĩ đại này, dựa vào những định hình kháchquan của các quan hệ kinh tế - xã hội tạo ra cơ cấu kinh tế của xã hội.
C.Mác đã tách ra các HTKTXH: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,phong kiến và tư bản chủ nghĩa Mỗi HTKTXH đó được coi là một cơ chế tự pháttriển theo những quy luật vốn có của nó, một cơ chế xã hội riêng biệt, có nhữngquy luật riêng về sự ra đời của nó về hoạt động của nó và bước chuyển biến của nólên một hình thức cao hơn, tức là biến thành một cơ chế xã hội khác Sự thay thế
kế tiếp nhau của các HTKTXH: xã hội cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng
xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội chiếm hữu nô lệ được thay thế bằng xã hội phongkiến, xã hội phong kiến được thay thế bằng xã hội tư bản chủ nghĩa tạo nên trụcđường tiến triển trong lịch sử loài người
Khi nghiên cứu các quy luật của sự phát triển xã hội nói chung và nhất làCNTB nói riêng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự đoán sự xuất hiện một HTKTXHmới, xã hội cộng sản chủ nghĩa Theo Mác, sự thay thế một HTKTXH này bằnghình thái HTKTXH được thực hiện thông qua cách mạng xã hội Nguyên nhân sâu
xa của cuộc cách mạng đó là mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX, đặc biệt là khiQHSX trở thành xiềng xích của LLSX Trong thời kỳ cách mạng, cơ sở kinh tếthay đổi thì tất cả KTTT đồ sộ cũng thay đổi theo cho phù hợp Từ những cơ sởkhoa học luận giải như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê nin đã kết luận HTKTXH TBCNnhất định sẽ được thay thế bằng HTKTXH cộng sản chủ nghĩa, và sự thay thế nàycũng là quá trình lịch sử - tự nhiên Sự thay thế được thực hiện thông qua cáchmạng xã hội chủ nghĩa mà hai tiền đề quan trọng nhất của nó là sự phát triển củaLLSX và sự trưởng thành của giai cấp công nhân
Với những đặc điểm như vậy làm cho sự phát triển giữa các quốc giathường diễn ra không đều, kể cả khả năng phát triển bỏ qua một HTKTXH nào đó
Trang 11Cho đến nay, lịch sử nhân loại đã trải qua bốn HTKTXH kế tiếp nhau: Cộng sảnnguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ sangCNXH - giai đoạn đầu của HTKTXH cộng sản chủ nghĩa Song, do đặc điểm vềlịch sử, về không gian, thời gian, không phải quốc gia nào cũng phải trải qua tất cảcác HTKTXH theo một sơ đồ chung Lịch sử cho thấy, có những nước do nhữngđiều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài chi phối đã bỏ qua mộthoặc một vài HTKTXH nào đó trong tiến trình phát triển của mình Chẳng hạn ởmột số nước (I-ta-li-a, Pháp, Tây Ban Nha ), chế độ phong kiến đã bắt đầu hìnhthành trong lòng chế độ chiếm hữu nô lệ; chế độ phong kiến ra đời không phải từchế độ chiếm hữu nô lệ như (Nga, Ba Lan, Đức) Ở Mỹ, CNTB hình thành trongđiều kiện xã hội không trải qua chế độ phong kiến Đây là sự phát triển rút ngắn bỏqua một hoặc vài HTKTXH.
Tất cả sự phát triển tuần tự qua đủ các hình HTKTXH lẫn phát triển rútngắn, bỏ qua một hình thái trong trường hợp nào đó đều là quá trình lịch sử tựnhiên, xét theo những quy luật và những điều kiện cụ thể khách quan quy định.Một số nước không qua hình thái này hay hình thái khác là một sự thật lịch sử và làquá trình lịch sử - tự nhiên đối với quốc gia đó Sở dĩ như vậy là vì sự vận độngcủa xã hội diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia, các vùng Trong lịch sửthường xuất hiện những trung tâm phát triển cao hơn về sản xuất vật chất, về kỹthuật, hay về văn hoá, về chính trị Sự giao lưu, xâm nhập, tác động qua lại vớicác trung tâm đó làm xuất hiện khả năng một số nước đi sau có thể rút ngắn tiếntrình lịch sử mà không lặp đi lặp lại tuần tự các quá trình phát triển của nhân loại
Lê nin viết: “Tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đãkhông loại trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang nhữngđặc điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó”13
C.Mác nêu lên một luận điểm quan trọng: một xã hội, ngay cả khi đã pháthiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó, cũng không thể nào nhảyqua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ những giai đoạn
đó Nhưng nó có thể rút ngắn và làm dịu bớt được những cơn đau đẻ Có quan
13 V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 45, NXB Tiến Bộ, M.1978, Tr 431.
Trang 12điểm dựa vào điểm này đã cho rằng: Mác đã phủ nhận khả năng bỏ qua các giaiđoạn phát triển tự nhiên, do đó cũng phủ nhận con đường phát triển bỏ qua mộtHTKTXH nào đó, điều này hoàn toàn không đúng C.Mác chỉ bác bỏ việc dùng ýchí hoặc sắc lệnh để nhảy qua một giai đoạn phát triển nào đó đang bị quy định bởinhững điều kiện và quy luật khách quan xác định Trái lại, khi đã xuất hiện nhữngđiều kiện khách quan mới thì việc nhảy qua một giai đoạn phát triển nào đó lạiđược đặt ra và có khả năng thực hiện, do đó có thể rút ngắn và làm dịu bớt nhữngcơn đau đẻ.
V.I.Lênin vận dụng quan điểm của C.Mác, nghiên cứu CNTB chuyển sanggiai đoạn đế quốc chủ nghĩa và đã nêu lên khả năng không phải trải qua giai đoạnphát triển TBCN để tiến thẳng lên CNXH ở các nước lạc hậu Nghĩa là trong nhữngđiều kiện nhất định, ở các nước lạc hậu không nhất thiết phải diễn ra một cách tuần
tự như lịch sử ra đời và phát triển của CNTB như các nước tư bản đã từng trải qua.V.I.Lênin viết: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến, các nướclạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô Viết và qua những giai đoạn nhất định tiến tới chủnghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”14
Theo V.I.Lênin, đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc bị áp bức bởi chủnghĩa đế quốc thì sau khi tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến ngaylên làm cách mạng XHCN, không phải trải qua hình thái kinh tế TBCN trongnhững điều kiện cần và đủ: các nước đó phải giành được độc lập dân tộc, thiết lậpchuyên chính về tay công - nông; phải có đảng cộng sản lãnh đạo, lực lượng cáchmạng phát triển dựa trên khối liên minh công - nông vững chắc; hình thái kinh tếTBCN đã trở nên lỗi thời lạc hậu, HTKTXH cộng sản đã xuất hiện trong lịch sử.Theo đó, chủ trương phát triển rút ngắn để đi lên CNXH ở những quốc gia tiền tưbản chủ nghĩa chẳng những không mâu thuẫn với quá trình lịch sử - tự nhiên màcòn là biểu hiện sinh động của quá trình lịch sử tự nhiên ấy Cũng như trong lịch
sử đã từng diễn ra một số nước bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ hay chế độ phongkiến để tiến lên chế độ tư bản chủ nghĩa Chỉ khi nào và chỉ ai chủ trương thực hiện
“rút ngắn” một cách duy ý chí, bất chấp quy luật thì lúc đó mới trở nên đối lập vớiquá trình lịch sử tự nhiên
14 V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 42, NXB Tiến Bộ, M.1979 Tr 266.
Trang 13Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải rõ sự phát triển của xã hội là
sự thay thế các HTKTXH và quá trình thay thế là một quá trình lịch sử - tự nhiên
và chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự mà còn bao hàm cảtrường hợp bỏ qua một HTKTXH nhất định trong những hoàn cảnh kịch sử cụ thểnhất định Do đó, đây là cơ sở phương pháp luận khoa học và cách mạng, cơ sở lýluận, nền tảng tư tưởng cho Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh vànhân dân ta lựa chọn con đường cách mạng của dân tộc mình
II QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Quá độ đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng và hợp quy luật của Việt Nam
Việt Nam lựa chọn mục tiêu CNXH từ rất sớm, mục tiêu này được khẳngđịnh nhất quán trong các thời kỳ cách mạng và đến nay Việt Nam vẫn kiên trì thựchiện mục tiêu đó Sự lựa chọn con đường đi lên CNXH không phải là ngẫu nhiêntuỳ hứng, cũng không phải xuất phát từ mong muốn chủ quan của một số ngườitrong Đảng rồi gán ghép cho toàn dân tộc Đó là kết quả của sự vận dụng các quyluật lịch sử khách quan vào trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, phù hợp với xuthế của thời đại hiện nay
1.1 Lựa chọn con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật phát triển của các HTKTXH
Khi luận giải về sự vận động thay thế nhau của các HTKTXH, C.Mác đãnghiên cứu sâu sắc hình thái đang tồn tại là CNTB và đi đến kết luận sự diệt vongtất yếu của nó và được thay thế bằng một xã hội cao hơn là xã hội cộng sản chủnghĩa mà giai đoạn thấp là CNXH C.Mác đã phân tích kỹ con đường phát triểntuần tự và coi đó là một con đường chung của lịch sử Ông đã giả định ngoài khảnăng đó, sự vận động của lịch sử còn có thể có khả năng thứ hai là phát triển bỏqua CNTB để tiến thẳng lên CNXH ở những nước chậm phát triển Thực tiễn lịch
sử chứng minh đã có nhiều nước bỏ qua phương thức sản xuất nào đó trong quátrình phát triển của mình V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác vàPh.Ăngghen về con đường “phát triển bỏ qua”, đồng thời vận dụng tư tưởng trênvào nước Nga, Người đã cùng với Đảng Cộng sản Nga lãnh đạo cuộc cách mạngXHCN đầu tiên trên thế giới nổ ra thắng lợi Sự tồn tại và phát triển của chế độ XôViết suốt 70 năm trong lịch sử là một minh chứng thuyết phục cho tư tưởng đúngđắn của C.Mác và Ph.Ăngghen
Trang 14VI.Lênin đã chỉ rõ con đường phát triển của những nước còn lạc hậu tớiCNXH có những khác biệt so với những nước đã trải qua CNTB Những nước lạchậu muốn thực hiện được “bỏ qua chủ nghĩa tư bản” để tiến tới CNXH phải có conđường đi đúng đắn, không phải trực tiếp mà là gián tiếp Các nước đó phải trải quanhiều khâu trung gian, quá độ, phải biết lợi dụng khai thác CNTB để rút ngắn quátrình đi lên CNXH Như vậy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã thể hiệnmột tư tưởng nhất quán và ngày càng phong phú đầy đủ hơn về vấn đề bỏ quaCNTB Sự phát triển bỏ qua chế độ TBCN tiến tới CNXH không phải là một hiệntượng trái hoặc nằm ngoài quy luật vận động lịch sử tự nhiên của các HTKTXH
mà là một dạng biểu hiện đặc thù của quy luật đó
Tư tưởng xuyên suốt của con đường phát triển bỏ qua là cần bỏ qua sựthống trị của chủ nghĩa tư bản, bỏ qua những xấu xa lạc hậu của chế độ TBCN, tựgiác định hướng mọi hoạt động của xã hội theo mục tiêu CNXH Để bỏ qua, phải
có đầy đủ các điều kiện khách quan cũng như nhân tố chủ quan Phải có nhữngbước đi phù hợp, mọi sự nôn nóng chủ quan hoặc giản đơn, siêu hình đều cóthể gây nên những hậu quả làm chậm tiến trình phát triển
Sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Đảng, nhà nước vànhân dân ta đó hoàn toàn đúng đắn, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn tin cậy, phùhợp với ước nguyện, khát vọng của nhân dân ta Ngay trong hành trình ra đi tìmđường cứu nước, khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, dưới ánh sáng của cách mạngTháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóngdân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”15 ; “Chỉ
có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức vànhững người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”16 Khi thành lập Đảng Cộng sảnViệt Nam, trong Chánh cương vắn tắt do Người soạn thảo đã chỉ rõ: “làm tư sảndân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”17
Thấm nhuần tư tưởng ấy, Đảng ta đã khẳng định “Cách mạng Việt Nam làmột quá trình cách mạng không ngừng từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên cáchmạng XHCN Và trong quá trình cách mạng, khi cả nước làm một nhiệm vụ chiếnlược hoặc làm hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta luôn luôn giương cao hai ngọn cờđộc lập dân tộc và CNXH Đó là đường lối, là sức mạnh, là nguồn gốc thắng lợicủa cách mạng nước ta.”18