1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận về phương thức sản xuất với các đột phá chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở việt nam từ 2010 2020

94 823 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về phương thức sản xuất với các đột phá chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở việt nam từ 2010 đến 2020
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 138,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mâu thuẫnnày sớm muộn cũng sẽ giải quyết nhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lậpquan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Quy luật về sự phù của quan

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có phương thức sản xuất đặc thù của nó Và

sự thay thế của các phương thức sản xuất khác nhau chính là cơ sở của sự thaythế của các hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau Sự thay thế của một hình tháikinh - tế xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác thường được thực hiệnthông qua một cuộc cách mạng xã hội Nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng

đó chính là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Mâu thuẫnnày sớm muộn cũng sẽ giải quyết nhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lậpquan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Quy luật về sự phù của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất đã chỉ ra rằng, sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thànhquan hệ sản xuất, các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữa quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ đem lại những phương thức liênkết có hiệu quả giữa người lao động và tư liệu sản xuất, thúc đẩy sản xuất pháttriển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xã hội ổn định

Muốn phát triển sản xuất ở nước ta hiện nay, chúng ta không chỉ phát triểnlực lượng sản xuất, phát triển sức sản xuất mà phải xây dựng, hoàn thiện từngbước quan hệ sản xuất “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuấthiện đại và quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp” [14, tr.70] Đây là nền tảng lýluận khoa học được Đảng và Nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo và trí tuệvào khai thác mọi tiềm năng nội lực và ngoại lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội,phát triển xã hội một cách toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội - văn hóatrở thành động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướctrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã không ngừng vận dụng và phát triển lýluận về phương thức sản xuất vào thực tiễn xây dựng đất nước và đã đem lại

Trang 2

những thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội Hiện nay, đứng trước xu thế của thế giới là toàn cầu hóa, hợp táchóa, khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ, làm bộc lộ mâu thuẫn giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất Đây là mâu thuẫn nội tại bên trong của quá trình pháttriển, chính vì vậy mà chúng ta không ngừng cải cách kinh tế để tìm ra bước điphù hợp để đáp ứng nhu cầu của lực lượng sản xuất trong thời đại ngày nay.

Đứng trước những thách thức và cơ hội đó, Đảng ta đã đưa ra những kếsách quan trọng để nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong những nămtiếp theo Phải tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ với chất lượng và hiệu quảcao hơn, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tếtri thức, phát triển nền kinh tế thị trường gắn với công bằng xã hội, xây dựng mộtnền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đảm bảo vững chắc an ninh quốc phòng,chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã vạch ra các đột phá chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 đó là:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọngtâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính

Thứ hai, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chấtlượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốcdân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoahọc, công nghệ

Thứ ba, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trìnhhiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với ba đột phá chiến lược đã thể hiệnđược Đảng ta đã có tầm nhìn chiến lược trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản củacách mạng Việt Nam đồng thời khẳng định và kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, phấn đấu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Toàn Đảng,toàn dân phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi

Trang 3

mới tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theohướng hiện đại.

Từ lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Lý luận về phương thứcsản xuất với các đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ

2010 - 2020” làm luận văn Thạc sĩ Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu và tính mới của đề tài.

Cho đến nay, đã có nhiều công trình bàn về lý luận về phương thức sảnxuất, trong đó có một số công trình liên quan trực tiếp đến đề tài như sau:

“Để cho khoa học nhanh chóng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ở nước ta” của GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn (Tạp chí Triết học số 2 - 1994);

“Toàn cầu hóa kinh tế và nền kinh tế tri thức” của PGS.TS Hoàng Chí Bảo (Tạp chí Triết học, số 6 - 2001); “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức” của TS Nguyễn Văn Sơn (Tạp chí Triết học, số 9 (196), tháng 9 - 2007); “Xây dựng và phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Triết học, số 6 - 2008); “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thừa Thiên Huế (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Ngọc bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Huế, 2008); “Phát triển giáo dục và đào tạo - một động lực

để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay” của TS Nguyễn Văn Hòa (Tạp chí Triết học số 4 - 2009); “Một số rào cản đối với việc phát huy tính sáng tạo của con người Việt Nam trong yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS.TS Nguyễn Văn Hòa (Tạp chí Triết học số 2 - 2010); “Mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, với xây dựng hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” của GS.TS Nguyễn Hùng Hậu (Kỷ yếu hội thảo, tháng 8 - 2011); “Quan điểm của Đại hội XI về xây

Trang 4

dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của GS.TS Đỗ Thế Tùng (Kỷ yếu hội thảo, tháng 8 - 2011); “Quan điểm đại hội XI của Đảng về phát triển kinh tế thị trường ở nước ta” của PGS.TS Lưu Đạt Thuyết (Tạp chí Lý luận Chính trị (8 - 2011); “Vị trí, vai trò của tri thức trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh thần Đại hội XI của Đảng” của PGS.TS Nguyễn Khánh Bật (Tạp chí Cộng sản, số 828 (tháng 10 - 2011); “Về khái niệm lực lượng sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất” của Thạc sĩ Nguyễn Đức Luận (Tạp chí Triết học số11 - 2011); “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay” (Luận văn Thạc sĩ của Đoàn Thị Cẩm Vân, bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Huế năm 2011); “Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam” của Nguyễn Hồng Sơn (Tạp chí Cộng sản, số 830 (tháng

12 - 2011); “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” của GS.TS Nguyễn Phú Trọng (Nxb Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2011); “Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khoa học - công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Nguyễn Quân (Tạp chí Cộng sản, số 836, (tháng 6 - 2012); “Hình thành nền giáo dục nhân văn - công nghệ, thực học, thực nghiệp, phát triển giá trị từ người học” của GS.TS Phạm Minh Hạc (Tạp chí Cộng sản, số 838, (tháng 8 - 2012);

“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển bền vững Việt Nam” của GS.TS Chu Văn Cấp (Tạp chí Cộng sản, số 839, (tháng 9 - 2012);

“Xác định đúng mục tiêu giáo dục để thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” của Nguyễn Minh Thuyết, Hoàng Hoà Bình (Tạp chí Cộng sản, số 839, (tháng 9 - 2012); “Phát triển nguồn nhân lực:Cần sự gắn kết trong chiến lược quy hoạch và chính sách” của PGS.TS Nguyễn Cúc (Tạp chí Cộng sản, số 69, (tháng 9 - 2012); “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục,

Trang 5

đào tạo theo nghị quyết đại hội XI của Đảng” của PGS.TS Nguyễn Duy Bắc (Tạp chí Cộng sản số 840, (tháng 10 - 2012); “Bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI” của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng (Tạp chí

Lý luận Chính trị, số 1 - 2012)

Những công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những khía cạnh khácnhau của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấtcũng như vai trò cơ sở lý luận của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thực tiễn đổi mới của đấtnước, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn liền với nền kinh tế trithức Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các tác phẩm, công trình khoahọc trên, đề tài “Lý luận về phương thức sản xuất với các đột phá chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ 2010 - 2020” sẽ làm sáng tỏ, hoàn chỉnhhơn những vấn đề cơ bản trong quá trình thực hiện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục đích của luận văn là phân tích làm rõ lý luận về phương thức sản xuất

là cơ sở khoa học để Đảng ta vạch ra và tổ chức thực hiện thắng lợi các đột pháchiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ 2010 - 2020 Để đạt đượcmục đích này, nhiệm vụ của luận văn sẽ là:

- Phân tích và làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phươngthức sản xuất

- Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất là cơ sở lý luận khoa học để thực hiện thắng lợi các đột phá chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ 2010 - 2020

- Làm rõ những định hướng và giải pháp để đẩy mạnh quá trình thực hiệncác đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam từ 2010 - 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định đối tượng và phạm vinghiên cứu:

Trang 6

Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất với các đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xãhội ở Việt Nam từ 2010 - 2020.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, những quan điểm cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhànước về quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất, về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường,

về đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với nền kinh tế trithức, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, về đổi mới hệ thống chính trị,phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa, về nguồn lực con người Trong đó xác định ba khâu đột phá: Hoànthiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môitrường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính Phát triển nhanh nguồnnhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát triển và ứngdụng khoa học và công nghệ Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ vớicông trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị Đó lànhững chiến lược cơ bản tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại

Phương pháp duy vật với phương pháp duy vật lịch sử cũng như vận dụngtổng hợp các nguyên tắc, phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, kết hợpcác phương pháp lôgíc và lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê…nhằmlàm sáng tỏ lý luận về phương thức sản xuất là cơ sở khoa học trong quá trìnhthực hiện các khâu đột phá chiến lược ở Việt Nam từ 2010 - 2020

6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài.

Từ lý luận về phương thức sản xuất luận văn sẽ làm rõ những căn cứ khoahọc và thực tiễn trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã

Trang 7

hội ở Việt Nam từ 2010 - 2020; đưa ra những định hướng và giải pháp nhằmthực hiện thắng lợi các đột phá chiến lược đó.

7 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm có 2 chương 6 tiết

Trang 8

CHƯƠNG 1 PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT VỚI CÁC ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA

TỪ 2010 - 2020

1.1 Phương thức sản xuất và quy luật vận động của nó.

1.1.1 Khái niệm phương thức sản xuất.

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, sản xuất vật chất là quátrình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để cải biếncác dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãm nhucầu tồn tại, phát triển của con người Sản xuất vật chất là lực lượng chủ yếu và làđộng lực cơ bản thúc đẩy lịch sử phát triển, xã hội tiến lên, là cơ sở của sự tồntại, phát triển của con người và xã hội loài người Xã hội không thể thỏa mãnnhu cầu của mình bằng cái có sẵn trong giới tự nhiên, để duy trì đời sống củamình con người phải tiến hành sản xuất của cải vật chất Chính trong quá trìnhnày con người đã từng bước làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và biến đổichính bản thân mình Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biến đổi,phát triển các mặt của đời sống xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng xãhội người ta thường bắt đầu từ việc nghiên cứu cách thức sản xuất ra của cải vậtchất của xã hội thích ứng với nó trong giai đoạn đó

Với tính cách là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thứcsản xuất là cách thức mà con người làm ra của cải vật chất trong một giai đoạnlịch sử nhất định, theo cách đó con người có những quan hệ nhất định với tựnhiên và với nhau trong sản xuất

Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển của các phươngthức sản xuất kế tiếp nhau Sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là

sự thay đổi có tính chất cách mạng Lịch sử đã chứng tỏ rằng, sản xuất của xãhội không ngừng phát triển từ thấp đến cao, từ trình độ sản xuất này đến trình độ

Trang 9

sản xuất khác Vì vậy, mỗi khi sản xuất phát triển đến một giai đoạn mới làmcho cách thức sản xuất của con người cũng biến đổi cùng với sự biến đổi to lớn

về trình độ của người lao động và công cụ sản xuất Phương thức sản xuất vừa làhạt nhân, vừa là nhân tố quyết định tính chất, kết cấu của xã hội, quyết định sựvận động, phát triển của xã hội Do đó mà ta có thể dựa vào phương thức đặctrưng của mỗi thời đại lịch sử để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau, hiểuthời đại kinh tế đó thuộc về hình thái kinh tế - xã hội nào C.Mác viết: “Nhữngthời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗchúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [39, tr.269].Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở trình độnhất định và quan hệ sản xuất tương ứng, sự vận động, phát triển của phươngthức sản xuất do tác động qua lại một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất.

Lực lượng sản xuất là toàn bộ các lực lượng được con người sử dụng trongquá trình sản xuất ra của cải vật chất Nó bao gồm người lao động với một thểlực, tri thức, kỷ năng lao động nhất định và tư liệu sản xuất trước hết là công cụlao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người kết hợp với tưliệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành lực lượng sản xuất Lựclượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quátrình sản xuất Nó thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quátrình sản xuất ra của cải vật chất để bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển củacon người và xã hội loài người

Theo C.Mác, ngoài bản thân sự lao động thì còn những yếu tố giản đơn củalao động, con người không thể thực hiện được quá trình sản xuất vật chất nếukhông có một dây chuyền sản xuất Đó là sự liên kết, thống nhất hữu cơ giữangười lao động với một thể lực, tri thức, kỹ năng lao động nhất định và đốitượng lao động, tư liệu lao động - những yếu tố tạo thành tư liệu sản xuất Có

Trang 10

nghĩa là để tiến hành sản xuất vật chất, con người không chỉ cần đến những sứcmạnh vốn có thuộc về thân thể họ, sức mạnh của cái đầu, cái chân, cái tay màcòn cần những vật để dẫn truyền hoạt động của họ đến đối tượng lao động, cần

“Con người sử dụng những thuộc tính cơ học, lý học, hóa học của các vật, để tùytheo mục đích của mình, dùng những vật đó với tư cách là những công cụ tácđộng vào các vật khác” [39, tr.268]

Tóm lại, lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động vớitrình độ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất và thói quen lao động Tư liệu sảnxuất được cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tượng lao động và tư liệu lao động.Đối tượng lao động là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình sản xuấtvật chất, đó là một bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tácđộng vào bằng công cụ lao động nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Đốitượng lao động có hai loại, loại thứ nhất là những cái mà tự nhiên dâng hiến chocon người, những loại đã có sẵn trong tự nhiên như các khoáng sản, đất, đá, thủysản Đây là đối tượng lao động liên quan đến các nghành công nghiệp khaikhoáng Loại thứ hai, là đã qua chế biến, nghĩa là đã có sự tác động của lao độngtrước đó như sợi, dệt, bông Loại này là đối tượng của các nghành công nghiệpchế biến

Tư liệu lao động “là một vật, hay là toàn bộ những vật mà con người đặt ởgiữa họ và đối tượng lao động, và được họ dùng làm vật truyền dẫn hoạt độngcủa họ vào đối tượng ấy” [39, tr.268] Theo C.Mác, “nhờ những tư liệu lao động,

sự hoạt động của con người làm cho đối tượng lao động phải biến đổi theo mộtmục đích đã định trước” [39, tr.271] Theo nghĩa này thì tư liệu được coi là vậtdẫn truyền hoạt động của người lao động vào đối tượng lao động Đối tượng laođộng và tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuấthợp thành tư liệu sản xuất Tư liệu lao động gồm bộ phận trực tiếp tác động vàođối tượng lao động theo mục đích của con người, tức là công cụ lao động, nhưcác máy móc để sản xuất, và bộ phận trực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản

Trang 11

xuất như nhà kho, sân bay, đường xa, phương tiện giao thông Trong tư liệu laođộng, công cụ lao động là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai tròquyết định trong tư liệu sản xuất, nó chính là tiêu chí cơ bản thể hiện trình độchinh phục tự nhiên của con người Không có công cụ lao động con người khôngthể tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, ngược lại, tư liệulao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động khi chúngkết hợp với lao động sống.

Công cụ lao động với nhiệm vụ là dẫn truyền sự tác động của con người vớiđối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất Do vậy, công cụ lao động là chỉ số

để hiển thị mức độ văn minh của loài người và khả năng chinh phục tự nhiên, làdấu hiệu vạch rõ những quan hệ xã hội trong đó lao động được tiến hành Không

có công cụ lao động con người không thể tác động vào tự nhiên để tạo ra của cảivật chất cho xã hội, ngược lại, tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cựccải biến đối tượng lao động khi chúng kết hợp với lao động sống

Trong tư liệu sản xuất, còn có một bộ phận là vật chuyễn dẫn, là nhữngđiều kiện sản xuất chung được gọi là kết cấu hạ tầng (như đường sá, cầu cống,bến bãi, nhà kho, thông tin ) Trong quá trình phát triển, hệ thống kết cấu hạtầng ngày trở nên quan trọng và có vai trò quyết định đối với toàn bộ quá trìnhsản xuất và sức sản xuất của nền sản xuất xã hội

Kết cấu hạ tầng là đường dẫn của sự phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện

để phân bổ lực lượng sản xuất, thúc đẩy lưu thông hàng hóa Một hệ thống kếtcấu hạ tầng phát triển đồng bộ sẽ mở rộng không gian phát triển, kết nối cácvùng kinh tế, làm tăng tính hiệu quả nhờ quy mô Trong những năm qua, chúng

ta đã huy động nhiều nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần quantrọng vào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo trên các vùng miền củađất nước Đại hội XI đã chỉ rõ: “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ vớimột số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thịlớn” [29, tr.95]

Trang 12

Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngàycàng to lớn Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nó vừa lànghành sản xuất riêng, vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sảnxuất, thẩm thấu vào cả những yếu tố của quan hệ sản xuất, nâng cao trình độngười lao động, cải tiến công cụ lao động, cải tạo đối tượng lao động và phươngtiện sản xuất Có thể nói: Khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lựclượng sản xuất hiện đại.

Trong điều kiện hiện nay, khi mà cuộc cách mạng khoa học và công nghệphát triển như vũ bão trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế Tri thức khoa học ngàycàng được vật chất hóa đã trở thành các yếu tố của lực lượng sản xuất, được kếttinh vào mọi yếu tố của lực lượng sản xuất Đại hội XI Đảng đã chỉ rõ: “Pháttriển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình pháttriển nhanh và bền vững” [14, tr 132]

Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, các yếu tố của lực lượng sảnxuất không tách rời nhau, chúng có quan hệ tác động hỗ trợ nhau để cùng tồn tại

và phát triển Cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh vàsáng chế kỹ thuật của con người công cụ lao động không ngừng được cải tiến vàhoàn thiện Công cụ lao động là hiện thực hóa tư duy của con người, kinhnghiệm và kỹ năng của người lao động nó biến đổi theo cùng với sự thay đổi củacông cụ sản xuất Chính sự cải biến và hoàn thiện không ngừng của công cụ laođộng đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu lao động Trong mối quan hệ trên người laođộng luôn giữ vị trí trung tâm và có vai trò quyết định Trong quá trình sản xuấtthì con người là chủ thể tích cực, là yếu tố hàng đầu tạo ra và sử dụng cácphương tiện, công cụ sản xuất tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ranhững vật phẩm vật chất thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội Lênin viết:

“Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người laođộng” [29, tr.430]

Trang 13

Ngày nay, sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng như việc nâng caonăng suất lao động không chỉ dừng lại ở các tham số về số lượng, mà điều quantrọng là ở các tham số về chất lượng Trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtngày càng được đặc trưng bởi sự tương tác nhạy cảm, có hiệu quả và bền chặtcủa con người và tự nhiên Vì vậy, trong lao động sản xuất đòi hỏi con ngườiphát triển cao về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, giàu có về tinh thần, trong sáng

về đạo đức Con người là chủ thể quyết định mọi quá trình vận động và pháttriển lịch sử bởi không có con người, không có quá trình sản xuất và không cólực lượng sản xuất Nguồn nhân lực mà đất nước ta đang hướng tới đó là tổngthể các yếu tố trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc Đồngthời, phát triển lực lượng sản xuất thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước là phát triển nguồn nhân lực - lực lượng sản xuất cơ bản của đất nước, yếu

tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế

Như vậy, lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của toàn bộ quá trình sảnxuất, là năng lực sản xuất của một xã hội, thể hiện năng lực của con người trongviệc tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Suy đến cùng thì

sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định đến sự hình thành, phát triển vàthay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội Từ cơ sở lý luận khoa học đóđến thực tiễn xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh,phồn vinh và hạnh phúc

Nghị quyết XI Đảng ta xác định:

Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượngcao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốcdân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứngdụng khoa học, công nghệ và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng

bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông

và hạ tầng đô thị lớn [27, tr.95]

Trang 14

Đây là hai khâu đột phá chiến lược nhằm phát triển lực lượng sản xuất hiệnđại góp phần xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay.

Trong sự sản xuất ra đời sống của chính mình, con người dù muốn haykhông cũng phải duy trì, thực hiện những quan hệ nhất định với nhau Quan hệgiữa những con người với nhau trong quá trình sản xuất và những quan hệ nàymang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốn của người khác được gọi làquan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người được hình thành mộtcách tất yếu, khách quan trong sản xuất vật chất Đây được coi là quan hệ cơ bảnnhất để quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác Thông qua quan hệ sản xuấtchúng ta có thể phân biệt được các chế độ xã hội trong các nấc thang phát triểncủa lịch sử loài người, bởi mỗi kiểu quan hệ sản xuất chính là biểu hiện bản chấtkinh tế cho một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Thực tế lịch sử đã chứngminh, không có một cá nhân nào có thể tự đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bản thâncũng như không thể lao động một cách độc lập tuyệt đối để sản xuất vật chất màphải liên kết lại với nhau, phân công lao động và trao đổi sản phẩm cho nhau Từ

đó hình thành các quan hệ xã hội, điều chỉnh và chi phối hoạt động, hành vi củacon người, chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộbản chất của mình

Trang 15

C.Mác cho rằng:

Người ta chỉ sản xuất được bằng cách hợp tác với nhau một cách nào

đó và trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được người ta phải

có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, và chỉ có trongphạm vi những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó thì mới có được sựtác động của họ vào giới tự nhiên tức là việc sản xuất [33, tr.552].Quan hệ sản xuất được biểu hiện trên ba mặt đó là: quan hệ sở hữu đối với

tư liệu sản xuất, đây là đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất quy định vị trícủa từng tập đoàn người, từng giai cấp trong hệ thống sản xuất; quan hệ trong tổchức quản lý sản xuất, quy định đến quy mô, tốc độ, hiệu quả và xu hướng củamỗi nền sản xuất; quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động là chất xúc tác,kích thích thúc đẩy hoặc kìm hãm tốc độ của sản xuất Ba yếu tố trên của quan

hệ sản xuất hoạt động trong mối liên hệ và tác động lẫn nhau rất mật thiết, tạothành một cơ cấu, một hệ thống quan hệ sản xuất - quan hệ kinh tế xã hội

Trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan

hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội

Nó quyết định mục đích của sản xuất và toàn bộ cơ chế điều tiết của nền sản xuất

xã hội Trong mối quan hệ giữa quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất với lợiích kinh tế thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất là cái bên trong, được biểuhiện ra bên ngoài thông qua lợi ích Lợi ích kinh tế là biểu hiện gần gũi nhất củaquan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Bởi vì, lợi ích kinh tế của mỗi người,mỗi tập đoàn người, mỗi giai cấp cũng như vai trò của họ trong một hệ thống sảnxuất vật chất được quy định trước hết do mối quan hệ của họ đối với việc chiếmhữu tư liệu sản xuất Trong xã hội, giai cấp nào nắm quyền sở hữu tư liệu sảnxuất chủ yếu, thì giai cấp đó nắm quyền chi phối xã hội đồng thời nắm quyền xãhội và ngược lại giai cấp nào không nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xãhội thì buộc phải bán sức lao động làm thuê Vì thế, vấn đề sở hữu về tư liệu sảnxuất được Đảng ta quan tâm và là vấn đề cơ bản trong đường lối, chính sáchnhằm hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 16

Trong lịch sử loài người đã có hai hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất

đó là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân

Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệusản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng Mọi người bình đẳng vớinhau trong tổ chức lao động và trong phân phối sản phẩm Do tư liệu sản xuất là tàisản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trongđời sống xã hội nói chung, trở thành quan hệ hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau

Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệuchỉ nằm trong tay một số ít người nên của cải không thuộc về số đông mà thuộc

về số ít người đó Các quan hệ xã hội, do vậy trở thành bất bình đẳng, giữa quan

hệ thống trị và bị trị Đối kháng xã hội trong các xã hội tồn tại chế độ tư hữutiềm ẩn khả năng trở thành đối kháng gay gắt Đỉnh cao của loại hình sở hữu này

là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Người sở hữu về tư liệu sản xuất thì khônglao động, còn người lao động thì không được quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và

xã hội vận động trong hai cực đối lập ấy

V.Lênin đã khẳng định:

Để thực sự giải phóng giai cấp công nhân, cần phải có cuộc cách mạng

xã hội, xuất phát một cách tự nhiên từ toàn bộ sự phát triển củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là phải thủ tiêu chế độ tưhữu về tư liệu sản xuất, chuyển các tư liệu đó thành sở hữu công cộng

và thay thế nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa bằng việc tổ chứcsản xuất sản phẩm theo lối xã hội chủ nghĩa do toàn thể xã hội tiếnhành để đảm bảo phúc lợi đầy đủ và sự phát triển tự do và toàn diệncủa tất cả mọi thành viên trong xã hội [30, tr.518]

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và qua thực tiễn đổi mới đấtnước Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh mới (bổ sung, phát triểnnăm 2011); trong đó xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng

có đặc trưng nổi bật về kinh tế là: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực

Trang 17

lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” [14, tr.70] Đâychính là định hướng cơ bản của Đảng về lựa chọn chế độ sở hữu phù hợp vớitình hình đất nước trong giai đoạn hiện nay Đảng đã đưa ra quan điểm: Pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sởhữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phânphối Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chứckinh tế đa dạng ngày càng phát triển.

Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản lýsản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc

độ, hiệu quả và xu hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể Bằng cách nắm bắt cácnhân tố xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vận độngcủa các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng đẩynhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất

Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xu hướngthích ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể Do vậy,việc sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ

hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vươn tới tối ưu Trong trường hợp ngượclại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnhhưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Trong chủ nghĩa xã hội, mọi công dân đều bình đẳng đối với tư liệu sảnxuất, Nhà nước xã hội chủ nghĩa - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, phát huytính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi công dân thực sự thamgia vào quá trình quản lý kinh tế, người lao động được đặt vào trong các mốiquan hệ về sở hữu và quản lý một cách trực tiếp, đồng thời có cơ chế đảm bảohiệu quả quyền lực đó của nhân dân

Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức - quản lý, trong hệ thống các quan hệsản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân

tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế - xã hội

Trang 18

Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lýsản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người, nêncác quan hệ phân phối sản phẩm là “chất xúc tác” của các quá trình kinh tế - xã hội.Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất và có khảnăng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội Cho nên, cần phải có

cơ chế phân phối một cách hợp lý trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần của nước ta hiện nay

Hiện nay, để phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,việc giải quyết tốt quan hệ phân phối, thực hiện đa dạng các loại hình phân phối sẽgiúp chúng ta hoàn thiện được quan hệ sản xuất có tính chất và trình độ phù hợpvới sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại Chúng ta sẽ chuyển từ cơ chếbao cấp sang cơ chế phân phối sản phẩm theo lao động và kết hợp các cách thứcphân phối cũng như thực hiện phân phối ngang bằng thông qua mua - bán, traođổi sản phẩm theo cơ chế cung - cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chũnghĩa “Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh

tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thôngqua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [14, tr.74] Cơ chế phân phối này sẽtạo động lực cho các doanh nghiệp và các chủ thể nâng cao hoạt động sản xuấtkinh doanh thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững

Tóm lại, quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trìnhsản xuất vật chất, quan hệ sản xuất nó bao gồm ba mặt cơ bản: Quan hệ sở hữu

về tư liệu sản xuất; quan hệ tổ chức, quản lý; quan hệ phân phối sản phẩm.Trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định với các quan

hệ khác, quan hệ tổ chức, quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm cũng có sự tácđộng trở lại, chúng có thể củng cố, phát triển quan hệ sở hữu, cũng có thể làmxói mòn, biến dạng quan hệ sở hữu Do đó, không được tuyệt đối hóa một quan

hệ nào mà phải thấy được mối quan hệ biện chứng và tính đồng bộ trong quan hệsản xuất

Trang 19

Hiện nay, nước ta đang tiến hành đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước dưới sự tác động của toàn cầu hóa và hợp tác hóa Điềunày làm lực lượng sản xuất ở nước ta phát triển nhanh chóng tương ứng với bốnthành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế cóvốn đầu tư của nước ngoài), gắn với các trình độ phát triển khác nhau của sảnxuất tất yếu không thể tồn tại một hình thức sở hữu mà phải đa hình thức sở hữu(sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân) Các hình thức sở hữu củanước ta phát triển ngày càng đa dạng đòi hỏi phải có nhiều hình thức tổ chức,quản lý và phân phối khác nhau tùy thuộc vào năng lực, sức lực, trí tuệ của mỗingười Do đó, cần phải điều chỉnh quan hệ tổ chức, quản lý và phân phối sao chophù hợp với quan hệ sở hữu Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượngvật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần

ổn định kinh tế vĩ mô Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân trở thành một trongnhững động lực của nền kinh tế Coi trọng việc khuyến khích kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài phát triển theo quy hoạch Cùng với việc tăng cường vai trò quản

lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, phải luôn tôn trọng và phát huy đầy đủ vaitrò của các chủ thể kinh doanh Chú trọng bảo đảm sự công bằng trong quan hệphân phối, nhằm tạo động lực cho sự phát triển của các thành phần kinh tế

Tóm lại, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, hai mặt có quan hệ biệnchứng hợp thành phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là sự thống nhấtgiữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.Trong đó lực lượng sản xuất quyết định khả năng sản sinh khối lượng và chấtlượng của cải ảnh hưởng đến đời sống chung của nhân loại, còn quan hệ sản xuấtlại quyết định đến mức sống của từng giai cấp, tầng lớp trong xã hội

1.1.2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất.

1.1.2.1 Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất.

Thực tế lịch sử cho thấy, tất cả các hình thái kinh tế - xã hội không tự mất

đi, không ai có thể làm cho nó mất đi khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến

Trang 20

một mức độ nhất định Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đếncao là do việc giải quyết những nhiệm vụ, yêu cầu và những xung đột nảy sinhtrong mỗi giai đoạn phát triển lịch sử - xã hội cụ thể nhất định Muốn có mộtquan hệ sản xuất tiên tiến, thì phải ra sức phát triển lực lượng sản xuất bằng mọicách, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất,tạo mọi điều kiện để giải phóng tối đa sức sản xuất của xã hội Mặt khác, cũngkhông thể thiết lập được quan hệ sản xuất mới cao hơn trong điều kiện lực lượngsản xuất chưa phát triển Ph.Ănghen viết: “Giai cấp tư sản không thể biến những

tư liệu sản xuất có hạn ấy thành những lực lượng sản xuất hùng mạnh mà khôngbiến chúng từ chỗ là những tư liệu sản xuất do cá nhân sử dụng thành những tưliệu sản xuất xã hội chỉ có thể được sử dụng bởi một số đông người” [35, tr.373]

Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lựclượng sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ tinhxảo và hiện đại của công cụ sản xuất; trình độ chuyên môn; nghiệp vụ và kỹnăng, kỹ xảo của người lao động; trình độ phân công lao động xã hội, tổ chứcquản lý sản xuất và quy mô của nền sản xuất Trình độ phát triển của lực lượngsản xuất càng cao thì chuyên môn hóa và phân công lao động càng sâu C.Mácnói: “Trình độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc biểu hiện lộ ra rõnhất ở trình độ phát triển của phân công lao động” [40, tr.30] Phân công laođộng xã hội nó gắn liền chặt chẽ với công cụ sản xuất, khi nền sản xuất mới xuấthiện thì phân công lao động xã hội cũng phải đạt đến trình độ của nền sản xuất

ấy Như vậy, lực lượng sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử có tính chất và trình độkhác nhau, nhưng không thể tách rời với trình độ khoa học, công nghệ ngày cànghiện đại

Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sảnxuất Khái niệm tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất

và sức lao động Khi công cụ sản xuất như: búa, rìu, cày, cuốc được sử dụngbởi từng cá nhân riêng biệt để sản xuất ra một sản phẩm cho xã hội, không cầnđến lao động của nhiều người thì lực lượng sản xuất có tính chất cá thể Như

Trang 21

vậy, khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triểnthì lực lượng sản xuất có trình độ cá nhân Khi máy móc ra đời, lực lượng sảnxuất đạt tới trình độ cơ khí hóa, hiện đại hóa, phân công lao động phát triển thìlực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa.

Có thể nói rằng, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã đưa văn minhnhân loại quá độ sang một giai đoạn phát triển mới về chất, đã tác động sâu sắcđến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, đưa con người tiến vào thời đạimới - thời đại của nền kinh tế tri thức Chính vì lẽ đó mà xây dựng nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

và đa dạng các loại hình sở hữu, sử dụng và nắm bắt mọi nguồn lực trong nước

và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật thực hiện được mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là chiến lược mang tínhcấp thiết của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

1.1.2.2 Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất.

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản cấu thành phươngthức sản xuất Trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất,còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó Nội dung luôn quy định nhữnghình thức cụ thể của chúng Vì vậy, trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định mà trước hết

là công cụ lao động Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao độngnặng nhọc, con người không ngừng cải biến và chế tạo công cụ sản xuất mới.Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ, tri thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹthuật và kỹ năng của người lao động ngày càng phát triển Vì thế mà lực lượngsản xuất không ngừng biến đổi và phát triển

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất cũnghình thành và biến đổi theo cho phù hợp trình độ của lực lượng sản xuất Lựclượng sản xuất là yếu tố thường xuyên biến đổi còn quan hệ sản xuất lại ổn định

Trang 22

chậm biến đổi Sự phát triển đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ.Khi lực lượng sản xuất sẽ tiến lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không cònphù hợp với nó thì tất yếu sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa hai mặt của phương thứcsản xuất Sự phát triển khách quan đó sẽ dẫn đến sự ra đời của một kiểu quan hệsản xuất mới thay thế cho kiểu quan hệ sản xuất cũ phù hợp trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Sự xóa bỏquan hệ sản xuất cũ, thay thế bằng phương thức sản xuất mới chính là sự thaythay thế của một phương thức mới đối với một phương thức sản xuất cũ, lạc hậu.C.Mác đã viết:

Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuấtvật chất của xã hội, mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay -đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫnvới những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sảnxuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượngsản xuất, những quan hệ ấy trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất.Khi đó bắt đầu thời đại của cuộc cách mạng xã hội [34, tr 15]

1.1.2.3 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất.

Mặc dù bị chi phối bởi lực lượng sản xuất nhưng với tư cách là hình thức,quan hệ sản xuất cũng có tác động nhất định trở lại đối với lực lượng sản xuất.Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nó sẽ mở đường cho lựclượng sản xuất phát triển, sự phù hợp này được xét từ lực lượng sản xuất, phảilấy lực lượng sản xuất làm chuẩn Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độcủa lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hìnhthức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất Nghĩa là trạng thái mà ở đó cácyếu tố cấu thành quan hệ sản xuất “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuấtphát triển Trong trạng thái phù hợp, cả ba mặt của quan hệ sản xuất đạt tới thíchứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện tối ưu cho việc

Trang 23

sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư liệu sản xuất Với trạng thái phù hợp nhưvậy, lực lượng sản xuất sẽ có thể phát triển hết khả năng của nó.

C.Mác viết:

Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sảnxuất Do đó có được những lực lượng sản xuất mới loài người thay đổiphương thức sản xuất của mình và do đó thay đổi phương thức sảnxuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả các quan hệ

xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnhchúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bảncông nghiệp [32, tr.380]

Đến khi lực lượng sản xuất phát triển đến một mức nào đó thì quan hệ sảnxuất không còn phù hợp với nó nữa, mâu thuẫn giữa chúng trở nên gay gắt Khimâu thuẫn đến cực điểm, tất yếu dẫn tới đòi hỏi phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thiếtlập quan hệ sản xuất mới phù hợp với nó Quan hệ sản xuất mới lại thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển và giữa chúng lại nảy sinh mâu thuẫn Để rồi đến mộtlúc nào đó quan hệ sản xuất mới lại bị thay thế bằng một quan hệ sản xuất khác

Cứ như vậy, tình trạng phù hợp - không phù hợp - rồi lại phù hợp đan xen nhau,chuyển hoá lẫn nhau diễn ra trong suốt quá trình vận động, biến đổi, tác độngqua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lượngsản xuất đối với quan hệ sản xuất, song cũng chỉ rõ quan hệ sản xuất bao giờcũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất từ đó hình thành một

hệ thống các yếu tố thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.Lực lượng sản xuất chỉ phát triển ngày càng mạnh mẽ, hoàn thiện hơn khi cómột quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của nó Biện chứng giữa lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất là cơ sở lý luận cho công cuộc đổi mới đất nước

Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với nềnkinh tế tri thức bên cạnh phát triển lực lượng sản xuất hiện đại thì phải cũng cố

Trang 24

và hoàn thiện được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Muốn vậy, thì phải “hoànthiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạolập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính” [14, tr.106] để xâydựng được quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển gópphần xây dựng nền kinh tế nước ta Đây là đột phá chiến lược thứ nhất mà Đảng

ta đã xác định trong Đại hội XI

Để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, chúng ta không chỉ đơnthuần là phát triển kinh tế dựa trên những yếu tố nội tại cấu thành nên lực lượngsản xuất như tư liệu sản xuất và người lao động mà chúng ta phải giải quyết mộtcách động bộ hợp lý các vấn đề như đổi mới công tác quản lý kinh tế, chính sáchtiền lương, giải quyết việc làm và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nâng caochất lượng lao động thông qua giáo dục và đào tạo, nâng cấp, xây dựng hệ thốngkết cấu hạ tầng đồng bộ để tạo được sự liên kết giữa các vùng miềm góp phầnthúc đẩy kinh tế ở các vùng khó khăn để đưa nền kinh tế phát triển mạnh vàgiảm được sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Phải tận dụngđược mọi nguồn lực tạo được sức mạnh nội lực bên trong của đất nước Hơnnữa, phải tạo mọi điều kiện để thu hút được các nguồn vốn từ nước ngoài,chuyển giao khoa học, công nghệ, đưa khoa học, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất.Nghị quyết XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ những điểm nghẽn vànhững đột phá tương ứng trên ba bình diện: Thể chế, nguồn nhân lực và kết cấu

hạ tầng Tháo gở mọi rào cản để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ có tínhcạnh tranh cao trở thành thách thức kinh tế lớn nhất đối với nước ta trong thờigian tới

1.2 Sự phát triển của phương thức sản xuất trong điều kiện hiện nay

1.2.1 Sự phát triển của phương thức sản xuất trong điều kiện toàn cầu hóa 1.2.1.1 Toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa kinh tế là kết quả tất yếu của quá trình xã hội hoá sản xuất,của tốc độ phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sự thúc đẩy của

Trang 25

khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nó là kết quả tất yếu của sự phát triểnsâu rộng nền kinh tế thị trường trên phạm vi toàn thế giới, sự gia tăng phân cônglao động quốc tế, sự mở rộng hơn nữa trong không gian và thời gian các mốiquan hệ giao lưu phổ biến của loài người và sự hiện diện nóng bỏng của nhữngvấn đề toàn cầu cấp bách Toàn cầu hóa là một trong những xu thế lịch sử tất yếu

do quy luật phát triển của lực lượng sản xuất chi phối Vì vậy, nó mang tính chấtkhách quan không bị chi phối bởi một cá nhân hay một quốc gia nào

Các nước tư bản phát triển nắm trong tay quyền lực kinh tế và khoa họccông nghệ cao, đó là lá bài mà các nước tư bản sử dụng trong “xâm lấn khắptoàn cầu” và “bóp nặn thị trường thế giới” trong quá trình toàn cầu hoá Điều nàykhiến cho cả quá trình sản xuất lẫn quá trình tiêu thụ sản phẩm ở tất cả các nướcđều “mang tính chất thế giới” Không chỉ thế, toàn cầu hóa do chủ nghĩa tư bảnchủ động tạo ra và nắm quyền khống chế, chi phối, còn khiến cho tình trạng côlập, tự cung tự cấp ở các quốc gia dân tộc bị thay thế một cách tất yếu Vậy, toàncầu hóa, mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế, trong quan niệm của các nhà sánglập chủ nghĩa Mác là tự do hóa kinh tế, mà trước hết là tự do hóa thương mại,đầu tư, tài chính…, là bước nhảy vọt mới về chất của quá trình quốc tế hóa kinh

tế, là sự chuyển hóa nền kinh tế thế giới thành nền kinh tế toàn cầu, phù hợp vớitrình độ mới của lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và sự xã hội hóa củalịch sử loài người Đây là xu thế phát triển tất yếu của thời đại không thể khácđược Chỉ có những quốc gia nào nắm xu thế này, biết tận dụng cơ hội, vượt quathách thức mới đứng vững và phát triển Cự tuyệt hay khước từ toàn cầu hoákinh tế tức là tự gạt mình ra ngoài lề của sự phát triển

Qua con đường đầu tư, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, các cường quốc tưbản không chỉ thu lợi do bán các thiết bị công nghệ lạc hậu và gây ô nhiễm màcòn khống chế nhiều huyết mạch kinh tế quan trọng của các nước đang pháttriển Còn các nước đang phát triển, do áp lực bức bách của nhu cầu cải thiện đờisống kinh tế, đã dễ dàng chấp nhận “chào đón” bất kỳ sự cải tiến kỹ thuật, côngnghệ nào, bất kỳ nguồn vốn tư bản nào Sự đơn giản dễ dãi này, mặc dù trước

Trang 26

mắt có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song rất có thể phải trả giá đắt bởi cáchậu quả kinh tế xã hội khó lường Do vậy, lựa chọn kỹ thuật, công nghệ, cơ cấukinh tế, mô hình kinh tế - xã hội đang đặt ra những tiêu chuẩn phức tạp hơn để

có thể tận dụng mọi cơ hội phát triển cho cả ngày mai, không chỉ vì những cáilợi tức thời trước mắt

Việt Nam là một nước đang phát triển, toàn cầu hóa sẽ đem lại cho ta nhiều

cơ hội để phát triển, nhưng cũng đem lại nguy cơ tụt hậu xa hơn và có thể trởthành “bãi rác công nghiệp” Vì vậy, chúng ta phải tính toán kỹ cách thức hộinhập, mở cửa sao cho không chệch hướng xã hội chủ nghĩa Phải bảo đảm sựđồng bộ giữa tiến trình cải cách trong nước và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,vừa tích cực đẩy mạnh nhập kinh tế quốc tế, vừa chủ động khắc phục những yếukém của nền kinh tế trong nước là định hướng phát triển toàn diện quan trọng.Đổi mới, hội nhập, mở cửa với mục đích giải phóng lực lượng sản xuất, thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống nhân dân và xâydựng cơ sở vật chất cho xã hội

Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan không thể đảo ngược và đã giànhđược những thành quả hết sức to lớn làm cho các yếu tố của sản xuất được nângcao Tuy nhiên toàn cầu hóa cũng như con dao hai lưỡi đối với sự phát triển lựclượng sản xuất của mỗi quốc gia Do đó, cự tuyệt toàn cầu hoá, ngỡ rằng có thểđóng cửa tự lực tự cường, nhưng sự thật lại bị mặt tiêu cực của toàn cầu hoá vàhội nhập kinh tế quốc tế chi phối, mà tự tước của mình điều kiện và khả năngchống trả

1.2.1.2 Việt Nam trên con đường hội nhập toàn cầu hóa quốc tế

Trong nền kinh tế toàn cầu, quốc gia dân tộc có chủ quyền không còn làchủ thể duy nhất có vai trò chế định chính sách kinh tế mà là sự tồn tại đồng thờicác chế định khác nhau Vì vậy, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tếtrong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan còn đòihỏi chúng ta phải thực hiện nhất quán phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa

Trang 27

các quan hệ kinh Đây chính là cơ sở để Đảng ta chủ trương chủ động và tích cựchội nhập quốc tế (toàn cầu hóa) để tham gia vào dây chuyền sản xuất, phân phốitoàn cầu, tạo động lực để phát triển kinh tế - xã hội.

Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trên con đường hội nhập kinh

tế quốc tế.

 Cơ hội và thuận lợi

Thứ nhất, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn

cầu hoá mở ra khả năng cho nước ta tham gia nhanh và hiệu quả vào hệ thốngphân công lao động quốc tế, tận dụng mọi nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển

Do vậy, chúng ta có cơ hội thuận lợi đẩy nhanh quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh

tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và rút ngắn thời gian vật chất của công cuộccông nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các yếu tố như nguồn vốn, công nghệ sảnxuất tiên tiến và khoa học quản lý hiện đại có sự lưu chuyển tự do nhanh chóng,cho nên các nước đều có khả năng tiếp cận, sử dụng với mức độ khác nhau.Cùng với dòng chảy khổng lồ về vốn, hàng loạt các hoạt động chuyển giao côngnghệ sản xuất và khoa học quản lý tiên tiến được thực hiện, góp phần hữu hiệuvào sự lan toả rộng rãi của các làn sóng tăng trưởng hiện đại

Thứ hai, trên lĩnh vực kinh tế, tiến trình hội nhập của nước ta ngày càng sâu

rộng thì càng đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật theo thông lệ quốc tế,thực hiện công khai, minh bạch các thiết chế quản lý làm cho môi trường kinhdoanh của nước ta ngày càng được cải thiện Đây là tiền đề rất quan trọng đểphát huy tiềm năng của mọi thành phần kinh tế trong nước, là cơ hội để tăngcường thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm tốc độ tăng trưởng bền vững hơn vàrút ngắn khoảng cách phát triển

Thứ ba, quá trình hội nhập quốc tế làm cho các nước ngày càng phụ thuộc

lẫn nhau Đây là cơ hội tích cực để có thể loại bỏ các biểu hiện của ý đồ thiết lậpmối quan hệ một chiều chứa đựng sự áp đặt, chi phối của các cường quốc đối với

Trang 28

đông đảo các quốc gia dân tộc khác trên thế giới, thúc đẩy sự hình thành một trật

tự thế giới mới với cơ chế sinh hoạt quốc tế dân chủ, công bằng, bình đẳng hơn

Thứ tư, hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập kinh tế quốc tế, cũng thúc

đẩy mạnh mẽ các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức quốc tế, tăng cường sựhiểu biết, tin cậy lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc Dưới ảnh hưởng đó,tri thức loài người, kết tinh cô đọng ở các phát minh, sáng chế khoa học, kỹthuật, công nghệ , được phổ biến rộng rãi toàn thế giới, tạo động lực cho sựbùng nổ trí tuệ nhân loại Tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta tạo ra cơ hộithuận lợi để chúng ta chia sẻ lợi ích do toàn cầu hoá đưa lại, đồng thời đóng gópthiết thực vào tiến trình phát triển hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, dân chủhoá các sinh hoạt quốc tế, tham gia đấu tranh thiết lập trật tự kinh tế quốc tếcông bằng hơn, hợp lý hơn

Trước hết, bước vào toàn cầu kinh tế quốc tế nguy cơ lớn nhất đặt ra đối

với Việt Nam là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế Đại hội XI của Đảng đã xácđịnh: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vàtrên thế giới vẫn còn tồn tại” [14, tr.29] Xét về mặt cơ cấu của nền kinh tế, ViệtNam vẫn là nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn Sựchuyển dịch lao động từ nông nghiệp và nông thôn sang các ngành nghề kháccòn rất khó khăn Tỷ trọng lĩnh vực dịch vụ có phần chững lại, tỷ lệ lao độngđược đào tạo và lao động có trình độ cao còn rất thấp Người lao động có trình

độ cao chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn Do đó, sự phát triển công nghiệp ởcác vùng sâu, vùng xa đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, những tiềm năng củacác thành phần kinh tế chưa được phát huy hết Các thành phần kinh tế có cơ sở

Trang 29

phát triển mạnh mẽ, nhưng sự cạnh tranh giữa chúng có phần quyết liệt hơn.Chính sự cạnh tranh đó đã làm cho nhiều cơ sở sản xuất, nhiều doanh nghiệp bịphá sản, nhiều cơ sở sản xuất phải tiến hành tinh giản biên chế Đây là vấn đềquan trọng và đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi Đảng ta phải có chính sách đúngđắn để lãnh đạo con tàu kinh tế chạy đúng đường ray của chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, quá trình hội nhập quốc tế đặt nước ta trước nguy cơ bị các giá trị

ngoại lai (trong đó có lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền), nhất là các giá trịvăn hoá phương Tây xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản sắc văn hoá dân tộc Toàncầu hóa vừa có khả năng giao lưu rộng mở, vừa có nguy cơ bị nghèo văn hoá rấtnghiêm trọng

Thứ ba, trên lĩnh vực chính trị, tiến trình hội nhập quốc tế ở nước ta cũng

đang đối diện trước thách thức của một số nguy cơ đe doạ độc lập dân tộc, chủquyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Đã xuất hiện những mưu đồ lấy sự phụ thuộclẫn nhau giữa các nước để hạ thấp chủ quyền quốc gia; lấy một thị trường khôngbiên giới để phủ nhận tính bất khả xâm phạm của toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.Hội nhập quốc tế đối với nước ta rõ ràng không thể tách rời cuộc đấu tranhchống diễn biến hoà bình của các thế lực chống đối trên nhiều lĩnh vực

Toàn cầu hóa được coi là tất yếu khách quan của nền văn minh hiện đại, làcầu nối mang tính chất toàn cầu giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới, điều nàyđòi hỏi các quốc gia, dân tộc không thế tách biệt, cô lập khỏi cộng đồng thế giới,bởi tự tách mình khỏi dòng tiến trình kinh tế toàn cầu, hay bị phong tỏa cấm vậnthì quốc gia, dân tộc đó sẽ không đứng vững được trước quá trình toàn cầu sôiđộng như hiện nay Đứng trước xu thế toàn cầu hóa với những diễn biến phướctạp như hiện nay, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta vừa mềm dẻo, linh hoạt và cứngrắn trong từng chiến lược, sách lược với phương châm vừa có hợp tác, vừa cóđấu tranh củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đốitác chiến lược trong quá trình hội nhập nhằm “khai thác có hiệu quả các cơ hội

và giảm tối đa những thách thức, rủi ro” [13, tr.114]

Trang 30

Chính quá trình toàn cầu hóa đã tạo cơ hội cho chúng ta tiếp cận được nhữngkhoa học công nghệ hiện đại và tinh vi Bằng những sản phẩm của công nghệ mới

mà chúng ta giảm bớt sản xuất nguyên liệu thu bằng cách tiến hành chế biến tại chổvới năng suất cao hơn và tiết kiệm được nguồn nhiên liệu Tuy nhiên, các nước pháttriển với lợi thế là nắm trong tay về khoa học, kỹ thuật hiện đại với sức mạnh tàichính luôn có âm mưu bành trướng thị trường ra thế giới Vì vậy, chúng ta bên cạnhthực hiện luật chơi của kinh tế thị trường vừa giữ vững định hướng kinh tế thịtrường xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại

và quan hệ sản xuất tương ứng với thực hiện đột phá chiến lược “hoàn thiện thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trườngcạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính” [14, tr.106 ]

Toàn cầu hóa sẽ làm cho con người năng động hơn, sáng tạo hơn trong việctiếp thu học hỏi những tinh hoa văn hóa của thế giới, mặt khác, chính quá trình hộinhập cũng kéo theo sự du nhập của của văn hóa nước ngoài sẽ làm biến dạng nềnvăn hóa Việt Nam qua nghìn năm văn hiến Vì vậy, để tranh thủ được cơ hội, vượtqua những thách thức của toàn cầu hóa, việc chuẩn bị và bồi dưỡng con người vềmọi mặt trong quá trình hội nhập là hết sức quan trọng Thông qua giáo dục, đàotạo nguồn nhân lực vừa có tay nghề cao, nắm bắt được tri thức về khoa học, kỹthuật, công nghệ nhằm tạo ra khả năng thích ứng và tiếp nhận công nghệ vừa giáodục về truyền thống văn hóa của dân tộc, giáo dục ý thức, trách nhiệm công dân,trách nhiệm với Tổ quốc nhằm phát huy và khơi dậy tinh thần dân tộc ViệtNam Đại hội XI đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dântrí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triểnđất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam” [14, tr.77]

1.2.2 Sự phát triển của phương thức sản xuất trong điều kiện khoa học

và công nghệ phát triển mạnh mẽ.

1.2.2.1 Khái niệm về khoa học, công nghệ

Khoa học là một khái niệm thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: khoa học

là một hình thái ý thức xã hội, là một công cụ nhận thức; khoa học là quá trìnhhoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về thế giới với chức năng

Trang 31

làm cho con người nắm được những quy luật của hiện thực khách quan, ngàycàng làm chủ được những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hội…, tuy nhiên,định nghĩa cho rằng khoa học là một hệ thống chỉnh thể các tri thức của tiếntrình lịch sử xã hội được coi là định nghĩa đầy đủ nhất dưới góc độ lịch sử pháttriển của khoa học.

Công nghệ luôn được hiểu theo một nghĩa rộng là sự ứng dụng các tri thứckhoa học vào giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn Như vậy, công nghệ là một sảnphẩm do con người tạo ra làm công cụ để sản xuất ra của cải vật chất

Ngày nay, công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phần cứng vàphần mềm Phần cứng thể hiện kỹ thuật của phương pháp sản xuất nó gồm cácphương tiện sản xuất và máy móc thiết bị Phần mềm bao gồm ba thành phần:thứ nhất, là thành phần con người với những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,tay nghề, thói quen trong lao động; thứ hai là thành phần thông tin gồm các bíquyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế và thành phần cuối cùng làthành phần tổ chức thể hiện trong việc bố trí sắp xếp, điều phối và quản lý

Trong bốn bộ phận cấu thành cơ bản của công nghệ thì con người đóng vaitrò chủ đạo trong quá trình vận hành và phân bổ công nghệ, nhờ vậy mà chúng ta

sử dụng tốt hơn các nguồn lực công nghệ Con người là ngọn nguồn của mọisáng tạo, bằng tri thức, kinh nghiệm con người có thể sáng tạo và sử dụng cóhiệu quả những thành tựu của khoa học và công nghệ Trí tuệ của con ngườingày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ nhất đối với sự tiến bộ và pháttriển của xã hội Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ pháttriển mạnh mẽ thì đầu tư vào con người, cũng như đầu tư vào giáo dục sẽ manglại nguồn lợi lớn nhất Đại hội XI của Đảng xác định: “Phát triển nhanh nguồnnhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới cănbản, toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lựcvới phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [27, tr.95]

Trang 32

Kỹ thuật và công nghệ là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoahọc của con người để sáng tạo, cải biến các công cụ, phương tiện phục vụ chohoạt động sản xuất và các hoạt động khác của xã hội Ở đây, chúng ta cần phânbiệt “công nghệ” và “kỹ thuật” Kỹ thuật là tổng hợp các tư liệu vật chất nhưcông cụ lao động, năng lượng, vật liệu do con người sáng tạo ra và sử dụng trongquá trình lao động để cải tạo ra của cải vật chất cho xã hội Với ý nghĩa đó thì kỹthuật chủ yếu là phần cứng, còn công nghệ được coi là sự năng động trong nhậnthức của con người để cải tiến quy trình sản xuất, đặc biệt là chuyển giao khoahọc, công nghệ vào quy trình sản xuất.

Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì dứt khoát phải gắn liềnvới kỹ thuật và công nghệ Song như thế chưa đủ, khoa học còn phải được ngườilao động tiếp thu vận dụng để nâng cao kỹ năng, kỹ xảo lao động, phát triển tưduy tinh tế nhanh nhạy, trau dồi đạo đức, lối sống, mới có thể trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp và mạnh mẽ Ph.Ăngghen viết: “Kỹ thuật phụ thuộcmạnh mẽ vào tình trạng khoa học, khoa học phụ thuộc vào đòi hỏi của kỹ thuậtlại còn mạnh hơn Nếu xã hội có yêu cầu về kỹ thuật thì nó sẽ giúp cho khoa họctiến lên phía trước hơn mười trường đại học” [39, tr.788]

Người lao động là chủ thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật Do đó họkhông thể sử dụng được các phương tiện hiện đại để lao động tốt nếu có trình

độ học vấn thấp không được đào tạo một cách khoa học Người lao động cầnđược trang bị kỹ năng lao động, sự hiểu biết về trình độ khoa học công nghệ,đây là kiện kiện thiết yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển khoa học vàcông nghệ Tại đại hội XI, Đảng ta lại khẳng định nhân tố con người là mộttrong năm quan điểm phát triển: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố conngười; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự pháttriển” [3, tr.73], đồng thời cũng là 1 trong 12 định hướng phát triển kinh tế - xãhội: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanhgiáo dục và đào tạo” [3, tr.90] Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực là trách

Trang 33

nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các nghành, của toàn xã hội Bởi lẽcon người được coi là yếu tố quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã tạo điều kiện tiết kiệm tàinguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội Cho phép chi phối tương đối cácphương tiện sản xuất để cùng tạo ra cùng một khối lượng hàng hoá tiêu dùng.Kết quả là kéo theo sự thay đổi cơ cấu của nền sản xuất xã hội, làm thay đổi tậngốc lực lượng sản xuất mà khoa học công nghệ là yếu tố hàng đầu Cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động sâu sắc mọi lĩnh vực của đờisống xã hội loài người, đưa con người tiến vào thời đại mới - thời đại của nềnkinh tế tri thức.

1.2.2.2 Vai trò của khoa học và công nghệ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay.

Khoa học, công nghệ đã tạo ra sự phát triển mới của lực lượng sản xuất,trong lao động sản xuất ra của cải, con người phải nắm bắt và nhận thức đượcđối tượng lao động và công cụ lao động để dùng những tri thức đó tạo ra vậtchất, những tri thức về xã hội sẽ giúp cho con người phát triển quan hệ sản xuấtphù hợp với lực lượng sản xuất tạo ra một phương thức sản xuất hiện đại Bằngtri thức con người có thể vận hành tốt và thích nghi những trang thiết bị hiện đại,tiên tiến trong sản xuất Mặt khác, thiết bị hiện đại, tinh vi không ngừng biến đổingày càng hiện đại đòi hỏi con người không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức,

kỹ năng lao động để khỏi bị đào thải trong quá trình phát triển của xã hội Vìvậy, mà chất lượng đội ngũ lao động ngày được nâng cao và hoàn thiện Với tưcách là một yếu tố của lực lượng sản xuất, tri thức khoa học có vai trò quan trọngmang tính quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Ngoài ra, trithức khoa học còn có vai trò trong việc hoàn thiện quan hệ sản xuất để phù hợpvới sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại, đó là hoàn thiện cơ chế tổ chức,quản lý sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu phát triển kinh tế bền vững

Trang 34

Cuộc cách mạng khoa khọc và công nghệ hiện nay đã tác động và làm biếnđổi mạnh mẽ lao động xã hội theo hướng tăng tỷ trọng của lao động trí tuệ, giảmbớt các hoạt động chân tay, làm cho lao động trí tuệ trở thành hoạt động cơ bảncủa con người Trình độ dân trí cao sẽ là nền tảng để phát huy cao độ năng lựcnội sinh về khoa học và công nghệ của tất cả mọi người trong hoạt động sángtạo Chính vì lẽ đó mà việc tạo ra một đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ có đủtrình độ để quản lý Nhà nước, tổ chức quản lý nền sản xuất và áp dụng đượcnhững thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vào sản xuất là một việc hết sứcquan trọng và cấp thiết của chúng ta hiện nay Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diệnnền giáo dục quốc dân để phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhânlực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, vừa là yêu cầu cấp bách là nhiệm

vụ lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Đại hội XI củaĐảng đã khẳng định: “Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việcphát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng caonăng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinhtế” [14, tr.78]

1.2.3 Sự phát triển của phương thức sản xuất trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức.

1.2.3.1 Khái niệm xã hội thông tin và kinh tế tri thức.

Bước sang thế kỷ XXI, xã hội loài người đang trong thời kỳ quá độ nhanhchóng từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin lấy tin tức làm chủ đạo, thôngtin đang trở thành nhân tố có tính chất quyết định thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển Đây là một cuộc cách mạng vĩ đại trong sự nghiệp phát triển của xãhội loài người, là một bước chuyển biến theo sau cuộc cách mạng khoa học côngnghệ, nó tuyên bố thời đại bùng nổ thời đại thông tin Thông tin hóa là một cuộccách mạng sâu sắc chưa từng có trong lịch sử đối với phương thức giao lưu vàphương thức sản xuất của loài người, trở thành biểu tượng mới nhất của tính hiện

Trang 35

đại, nó có thể đem lại năng suất và chất lượng lao động trong các quá trình sảnxuất phi vật chất.

Sự bùng nổ công nghệ thông tin đã liên kết mọi quốc gia lại với nhau trongmối quan hệ hữu cơ hai bên cùng có lợi, tri thức và trí tuệ của con người trởthành một vũ khí mang tính chiến lược trong phát triển nền kinh tế công nghiệp.Tri thức được kết tinh trong sản phẩm và được vật chất hóa trong sản xuất, trongkinh doanh và trong hoạt động kinh tế nói chung Nền kinh tế tri thức dĩ nhiênvẫn là nền kinh tế hàng hóa, tuân theo quy luật giá trị và vận hành theo cơ chế thịtrường trong đó tri thức là yếu tố cốt lỏi mang tính chất quyết định và trở thànhyếu tố quyết định đối với sự phát triển sản xuất

Ngay từ khi xuất hiện nền kinh tế tri thức, có rất nhiều quan điểm khácnhau về khái niệm “kinh tế tri thức” Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế(OEDC) đưa ra định nghĩa: “Kinh tế tri thức là kinh tế trong đó có sản sinh racông nghệ, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sựphát triển kinh tế, tạo ra nhiều của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống” Ngânhàng Thế giới (WBI) cho rằng: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa vào trithức như là động lực chính cho sự tăng trưởng kinh tế Đó là nền kinh tế trong

đó tri thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy pháttriển” [54, tr.152]

Kinh tế tri thức, có thể nói, đó là tính chất và trình độ phát triển trí tuệ rấtcao của kinh tế, là nấc thang phát triển mới chưa từng có trong lịch sử phát triểnlực lượng sản xuất Kinh tế tri thức là đặc trưng tổ chức, hoạt động, quản lý kinh

tế dựa trên tri thức và trí tuệ hoá trong điều kiện xã hội thông tin, tận dụng tối đathành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

Nền kinh tế tri thức đã thực sự trở thành mục tiêu then chốt trong chiếnlược phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia Kinh tế tri thức lấy công nghệ

kỹ thuật cao làm lực lượng sản xuất thứ nhất, lấy trí lực (năng lực trí tuệ) làm

Trang 36

chỗ dựa chủ yếu Kinh tế tri thức là kinh tế thúc đẩy điều hòa giữa con người vàthiên nhiên trong phát triển kinh tế bền vững.

1.2.3.2 Nền kinh tế tri thức gắn liền với quá trình công nghiệp hóa hiện, đại hóa trong nền kinh tế Việt Nam.

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức khiến việc phát triển môhình công nghiệp hóa dựa vào khai thác tài nguyên và lao động rẽ trở nên lỗithời không còn phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nhưhiện nay Nó đã làm thay đổi căn bản trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy

sự chuyển dịch căn bản lợi thế từ đất đai, tài nguyên (lợi thế trong nền nôngnghiệp) và vốn, tài chính (lợi thế trong nền công nghiệp) sang trí tuệ của conngười (lợi thế trong nền kinh tế tri thức) Vì vậy, kinh tế tri thức là sự phát triểntất yếu tiếp theo của quá trình hiện đại hóa đất nước, là sản phẩm của sự pháttriển khách quan của lực lượng sản xuất cùng với hoàn thiện quan hệ sản xuấtphù hợp tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa phải gắn liền với nền kinh tế tri thức Đó là đòi hỏi tất yếukhách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay [18, tr.3].Trong nền kinh tế tri thức, lao động trí óc là nguồn gốc quan trọng của sựphát triển sản xuất và thành quả của nó - tri thức - trở thành hạt nhân cho sự pháttriển kinh tế và giàu có của xã hội Tri thức đã vượt qua các nhân tố sản xuấttruyền thống là vốn và sức lao động để trở thành nhân tố quan trọng nhất đónggóp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của mỗi quốc gia

Xét về mặt lực lượng sản xuất, trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành

nhân tố sản xuất quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất Vai trò chủ đạocủa lao động cơ bắp trong quá trình sản xuất từng bước được thay thế bằng laođộng trí tuệ, yếu tố trí tuệ quan trọng hơn yếu tố vật liệu tự nhiên trong tư liệusản xuất; lao động quản lý dần dần chiếm ưu thế so với lao động sản xuất trựctiếp [41, tr.22 - 23]

Trang 37

Về mặt quan hệ sản xuất, sở hữu trong nền kinh tế tri thức trước hết và chủ

yếu là sở hữu trí tuệ Trong nền kinh tế đó, tri thức, trí tuệ là nguồn lực cơ bản nhấtcủa quốc gia Ai nắm được tri thức, có khả năng điều tiết, chi phối nó, kẻ đó có sứcmạnh chi phối sự phát triển xã hội theo mục tiêu và lợi ích của mình [41, tr.24]

Để hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức, việc tiếp cận và hội nhậpvào nền kinh tế tri thức của thế giới được xem như là khởi động tiên quyết đầutiên, đồng thời phải tạo lập cơ sở trong nước để có thể tiếp nhận, chuyển tải, chia

sẽ những yếu tố của kinh tế tri thức và tự phát triển kinh tế tri thức của chínhmình Đây là cơ hội của những cho những nước đang phát triển trong đó có ViệtNam trong việc mở cửa tri thức và ý tưởng của các nước phát triển bằng nănglực bắt chước và hấp thụ công nghệ để ứng dụng vào sản xuất vật chất, giảm chiphí sản xuất và đem lại năng suất cao hơn Trong quá trình toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế hiện nay, đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện chính sách mở cửa vàđầu tư cho giáo dục, đào tạo Mở cửa thị trường giúp thúc đẩy quá trình chuyểngiao tri thức, còn nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ giúp nâng cao nănglực hấp thụ tri thức của một quốc gia

Nền kinh tế tri thức mở ra khả năng vượt khỏi đói nghèo trong xã hội, khảnăng với tiến bộ xã hội và phát triển bền vững Nền kinh tế tri thức đã làm biếnđổi sâu sắc về sở hữu phân phối tạo nên sự bình đẳng trong xã hội, góp phầntăng năng suất lao động - một nhân tố quyết định thắng lợi cuối cùng của mộtchế độ xã hội Vì thế, với Việt Nam, “phát triển kinh tế tri thức là cơ hội chưatừng có của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [22, tr.66]

Đất nước ta hiện nay là một đất nước đang phát triển, nền kinh tế đang cònthấp, chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Chúng ta phải thực hiện hai nhiệm vụ lồng ghép nhau đó là chuyển nền kinh tếnông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và chuyển nền kinh tế công nghiệpsang nền kinh tế tri thức Hai nhiệm vụ này cùng hỗ trợ và tương trợ lẫn nhau,thúc đẩy nhau cùng phát triển Cho nên phải nắm bắt các tri thức, công nghệ mớinhất của thời đại, mặt khác phải phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch

Trang 38

vụ dựa vào tri thức và công nghệ, đi thẳng vào những nghành kinh tế dựa vào trithức công nghệ cao.

Đại hội XI của Đảng đã chĩ rõ:

Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoahọc, công nghệ; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ,trước hết là công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ tự động,nâng cao năng lực nghiên cứu - ứng dụng gắn với phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao [14, tr.220]

1.3 Các đột phá chiến lược nhằm phát triển phương thức sản xuất ở nước

ta giai đoạn 2010 -2020

1.3.1 Đột phá chiến lược kinh tế - xã hội nhằm phát triển lực lượng sản xuất 1.3.1.1 Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế, sự bùng nổ công nghệ thông tin cũngnhư hình thành nên nền kinh tế tri thức đã đặt ra một yêu cầu là phải chuyển đổiđổi mới mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người Nềnkinh tế tri thức làm khả năng phát triển đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế môhình kinh tế từ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác các tài nguyên thiênnhiên, nguồn nhân lực rẽ nhưng chất lượng thấp sang sự phát triển dựa vào nhân

tố năng suất tổng hợp bao gồm khả năng áp dụng thành tựu khoa học và côngnghệ, chất lượng nguồn lao động và quản lý hiện đại Chìa khóa để thực hiệnthành công quá trình chuyển đổi đó chính là nguồn nhân lực chất lượng cao.Máy móc không chỉ thay thế lao động cơ bắp mà còn nhân lên sức mạnh trí tuệcon người, lực lượng sản xuất chuyển từ dựa vào vật chất sang dựa nhiều hơnvào trí lực và sức sáng tạo của con người, sức sáng tạo của con người là vô hạn,tài nguyên là hữu hạn Cho nên kinh tế dựa vào tri thức mở ra những triển vọng

to lớn, những khả năng vô hạn của con người, giải quyết những vấn đề cơ bản vàcấp bách mà mình đang phải đối mặt [19, tr.9 - 10]

Trang 39

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, mộtngười lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng vớimột ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹthuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề); có

kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanhchóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vậndụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình laođộng sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu quan trọng nhất có vai tròquan trọng nhất trong ba khâu đột phá chiến lược, có vai trò chi phối các khâuđột phá chiến lược khác bởi những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám là nguồn

nhân lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.Đây là nguồn nhân lực mang tính chiến lược vô hạn nếu chúng ta bồi dưỡng và

sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sởvật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ là những nguồn lực có hạn, chúng sẽ dầndần bị bào mòn nếu chúng ta sử dụng không có hiệu quả Vì vậy, con người với

tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trìnhsản xuất, là trung tâm của nội lực Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lựcchính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết

định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội Từ sửdụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao độngđược đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến,hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quátrình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 40

Thứ ba, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế, là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vàđẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triểnbền vững

Nguồn lực con người được coi là yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất,của sự phát triển của mỗi quốc gia, nếu trước đây chúng ta xem giáo dục là một

bộ phận của kiến trúc thượng tầng thì bây giờ cần phải xem giáo dục là một lựclượng sản xuất xã hội, muốn phát triển kinh tế xã hội thì trước hết phải phát triểnlực lượng sản xuất Vì vậy, Đảng ta đã xây dựng mô hình con người Việt Nam

“phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lựcsáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình,lối sống văn hóa trong gia đình và xã hội” [12, tr.114]

Để thực hiện được mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước cónền công nghiệp phát triển, chuyển sang kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâurộng, đòi hỏi chúng ta phải có đội ngũ lao động chất lượng cao và hùng hậu Conngười không ngừng học tập và lao động để rèn luyện tính độc lập, khả năng nhạybén trong nền kinh tế thị trường Trong bối cảnh đó, giáo dục và đào tạo ở nước

ta phải trở thành nền tảng, thành động lực mạnh mẽ để thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để bồi dưỡng và phát huy nguồn lực conngười Việt Nam, tất yếu phải đổi mới và cải cách giáo dục, phải xây dựng mộtnền giáo dục tiên tiến, dân tộc, độc lập tự chủ, phát huy tính tích cực và năng lựcsáng tạo của con người, kết hợp giá trị nhân văn của dân tộc và nhân loại làmđiểm xuất phát cũng như là mục tiêu giáo dục để tạo lập và phát huy “giá trị bảnthân” của con người Việt Nam hôm nay

Đại hội XI của Đảng xác định:

Ngày đăng: 28/12/2013, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Khoa giáo Trung ương (2001), Triển khai nghị quyết đại hội IX trên lĩnh vực khoa giáo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai nghị quyết đại hội IX trên lĩnh vực khoa giáo
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (Bổ sung, phát triển 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (Bổ sung, phát triển 2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2012, Nxb chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2012
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
17. Phạm Hảo, Phạm Xuân Tiến đồng chủ biên (2004), Toàn cầu hóa kinh tế những cơ hội và thách thức đối với miền Trung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế những cơ hội và thách thức đối với miền Trung
Tác giả: Phạm Hảo, Phạm Xuân Tiến đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
18. Nguyễn Văn Hòa (2009), “Phát triển giáo dục và đòa tạo - một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục và đòa tạo - một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 2009
19. Đặng Hữu (2000),” Phát triển bền vững dựa trên tri thức” Tạp chí Lý luận Chính trị”, (11), tr.9 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lý luận Chính trị”
Tác giả: Đặng Hữu
Năm: 2000
20. Dương Phú Hiệp chủ biên (2010), Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam
Tác giả: Dương Phú Hiệp chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
21. Nguyễn Huy Hiệu (4 - 2011), “Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”, Tạp chí Lý luận Chính trị (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”, "Tạp chí Lý luận Chính trị
22. Trần Ngọc Hiên (2010), “Kinh tế tri thức và thực hiện phát triển kinh tế tri thức ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (814), tr. 62 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức và thực hiện phát triển kinh tế tri thức ở nước ta”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Ngọc Hiên
Năm: 2010
23. Nguyễn Hùng Hậu (8 - 2011), “Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, "Kỷ yếu hội thảo
24. Phạm Minh Hạc (2012), “Hình thành nền giáo dục nhân văn - công nghệ, thực học, thực nghiệp, phát triển giá trị từ người học”, Tạp chí Cộng sản, (838), tr. 61 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành nền giáo dục nhân văn - công nghệ, thực học, thực nghiệp, phát triển giá trị từ người học”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 2012
25. Đặng Mộng Lân (2002), Kinh tế tri thức - Những khái niệm cơ bản và vấn đề cơ bản, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức - Những khái niệm cơ bản và vấn đề cơ bản
Tác giả: Đặng Mộng Lân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2002
26. Nguyễn Đức Luận (2011), “Về khái niệm của lực lượng sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất”, Tạp chí Triết học, số 11(246) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm của lực lượng sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Đức Luận
Năm: 2011
27. Phạm Văn Linh, Nguyễn Tiến Hoàng đồng chủ biên (2012), Những nội dung chủ yếu và mới trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung chủ yếu và mới trong các văn kiện Đại hội XI của Đảng
Tác giả: Phạm Văn Linh, Nguyễn Tiến Hoàng đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
28. Trương Giang Long, Trần Hoàng Ngân, đồng chủ biên (2011), Những vấn đề kinh tế - xã hội trong cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế - xã hội trong cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011)
Tác giả: Trương Giang Long, Trần Hoàng Ngân, đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
31. Nguyễn Thị Tuyết Mai (9 - 2002), “Về chiến lược con người ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoa, hiện đại hoá”, Tạp chí Triết học, số 9 (136), tr.10 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến lược con người ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoa, hiện đại hoá”, "Tạp chí Triết học
32. C.Mác và Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
33. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
34. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Tuyển tập, tập 13, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
35. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w