Các giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam kể từ khi đổi mới: Sau gần 25 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đãđạt được những thành tựu đáng kể như tăng cường
Trang 1ra soi xét như một cách tìm ra lối thoát để chống suy giảm kinh tế
Trong tình hình như vậy, một thực tế đã và đang diễn ra là cả thế giới, trước hết là cácnền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu đang tìm cách thoát ra khỏi cuộc khủnghoảng mang tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triểnmới, khác trước Đặc biệt là Mỹ đã có sự thay đổi phương châm mang tính chiến lược,
từ nhập khẩu và tiêu dùng, sang xuất khẩu và tiết kiệm Trong bối cảnh đó, rõ ràngViệt Nam đang ở vào tình thế vừa phải thích nghi với bối cảnh thế giới mới đang cạnhtranh quyết liệt hơn so với trước, vừa phải tự mình tìm con đường phù hợp hơn đểchuyển sang một giai đoạn phát triển mới để có thể đứng vững và tiếp tục phát triển đilên Vậy Việt Nam lựa chọn mô hình nào cho sự tăng trưởng kinh tế trong thời giantới?
Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần xây dựng mô hình tăng trưởng kinh
tế ở Việt nam ngày càng tốt hơn, góp phần xây dựng đất nước
3 Phạm vi nghiên cứu:
Tiểu luận chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các vấn đề sau:
- Các giai đoạn phát triển kinh tế của Việt Nam kể từ khi đổi mới
- Những thành tựu và hạn chế của nền kinh tế Việt Nam từ khi đổi mới
- Các lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế
- Nhận diện mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay
Trang 24 Đối tượng nghiên cứu:
Nhận diện và đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu của tiểu luận là tổng hợp, kế thừa lý luận về các mô hìnhtăng trưởng kinh tế của các nhà kinh tế học trên thế giới
Tiểu luận sử dụng các phương pháp thống kê, diễn dịch và qui nạp:
- Phương pháp thống kê: dùng để thu thập số liệu về tình hình tăng trưởng kinh tế củaViệt Nam qua các thời kỳ, những thành tựu và hạn chế của nền kinh tế Việt Nam trongthời gian qua
- Phương pháp diễn dịch: dựa trên số liệu thống kê thu thập được, tiểu luận phân tích
và nhận diện mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
- Phương pháp qui nạp: trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế của Việt Nam, tiểu luận
sẽ đưa ra nhận định về mô hình tăng trưởng kinh tế mà Việt Nam hiện đang vận dụng,
từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá và kiến nghị để lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tếphù hợp với thực trạng phát triển của Việt Nam hiện nay
6 Bố cục của tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận được trình bày trong ba chương với các nộidung cơ bản như sau:
- Chương 1: Tổng quan nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trong chương này, tiểu luận khái quát lại các giai đoạn phát triển của nền kinh tế ViệtNam kể từ khi đổi mới, đồng thời nêu lên những thành tựu và hạn chế của nền kinh tếViệt Nam trong thời gian qua
- Chương 2: Nhận diện mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay
Nội dung chính của chương này là nêu lên cơ sở lý luận về các mô hình kinh tế, từ đónhận diện và đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
- Chương 3: Nhận xét, đánh giá và kiến nghị
Chương 3 của tiểu luận sẽ đưa ra nhận xét, đánh giá về mô hình tăng trưởng kinh tếhiện tại của Việt Nam Kiến nghị về một mô hình kinh tế khác phù hợp với thực trạngphát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI1.1 Các giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam kể từ khi đổi mới:
Sau gần 25 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đãđạt được những thành tựu đáng kể như tăng cường cơ sở vật chất và tạo tiền đề chogiai đoạn phát triển mới công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta rakhỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nướccông nghiệp theo hướng hiện đại
Trong gần 25 năm qua, nét nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởngthấp, tích lũy phần lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước
có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Việt Nam đã tạo được khả năng tích lũy đểđầu tư cho phát triển và cải thiện đời sống của người dân Tổng tích lũy tăng từ 9,5 –11,3 %/năm tuỳ giai đoạn Nhưng cơ bản, chúng ta đã đổi mới được cơ chế quản lý,nhờ đổi mới mà Việt Nam từng bước xây dựng được vai trò vị trí của mình trong hộinhập khu vực và quốc tế Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát
là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lầnđầu tiên, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 đượchoàn thành và hoàn thành vượt mức Đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
-1.1.1 Giai đoạn 1986 - 1990: Giai đoạn đầu đổi mới:
Giai đoạn này chủ yếu là đổi mới cơ chế quản lý Trong thời gian này đã ban hànhnhiều nghị quyết và quyết định của Đảng và Chính phủ nhằm cải cách cơ chế quản lýkinh tế, chính sách tiền tệ, chính sách nông nghiệp Tuy nhiên trong những năm đầucủa kế hoạch 5 năm này cơ chế cũ chưa mất đi, cơ chế mới chưa hình thành nên đổimới chưa có hiệu quả đáng kể Trung bình trong 5 năm, tổng sản phẩm trong nướctăng 4,8 %/năm
Trang 4Hình 1 Tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 1986-1990
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới.
Thành công của những năm đổi mới 1986 - 1990 là sản xuất được phục hồi, kinh tếtăng trưởng, lạm phát bị đẩy lùi Điều quan trọng hơn là đã chuyển đổi cơ bản cơ chếquản lý cũ sang cơ chế quản lý mới Thành công này càng có ý nghĩa hơn bởi đổi mớiđược thực hiện trước khi các nước Đông Ấu và Liên Xô cũ bị khủng hoảng toàn diện
1.1.2 Giai đoạn 1991 - 1995: Đổi mới đạt kết quả quan trọng:
Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1991 đã đưa ra chiến lược "Ổn định
và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000" đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụcho kế hoạch 5 năm 1991-1995 Khó khăn lớn lúc này là nền kinh tế vẫn bị bao vây,cấm vận trong bối cảnh các nước Đông Ấu và các nước thuộc Liên Xô (cũ) rơi vàokhủng hoảng trầm trọng Tổng mức lưu chuyển ngoại thương của Việt Nam với khuvực này giảm sút đột ngột, năm 1991 chỉ bằng 15,1% năm 1990 Song, thuận lợi lúcnày là đổi mới đã phát huy tác dụng, các cơ sở kinh tế thích nghi dần với cơ chế quản
lý mới
Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởngtương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình quân năm tăng 8,2% Đất nước thoátkhỏi khủng hoảng kinh tế, cả nước bắt đầu giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước
Trang 51.1.3 Giai đoạn 1996 - 2000: là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước:
Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1996) đã đưa ra mục tiêuphấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam "trở thành một nước công nghiệp, có cơ sở vậtchất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốcphòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh."
Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọngxảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Đứng trước thực trạng
đó thì Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước7%/năm
1.1.4 Giai đoạn 2001 - 2005: Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên tục:
GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theogiá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng,tương đương với 640 USD Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm
2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê và hạt điều, thứ 4 vềcao su, thứ nhất về hạt tiêu
Bảng 1 Khối lượng xuất khẩu một số mặt hàng nông nghiệp năm 2005
Mặt hàng Khối lượng xuất khẩu, nghìn
Trang 6Nhờ những chuyển hướng nhanh, quyết liệt trong chính sách của Chính phủ Việt Nam(đặc biệt là các quyết sách tại thời điểm tháng 3 và tháng 11/2008), Việt Nam đã vàđang vượt qua hai cú sốc là kinh tế tăng trưởng quá nóng (từ cuối 2007 tăng trưởngnóng khiến lạm phát tăng tốc, bong bóng bất động sản, thâm hụt thương mại tăng) vàkhủng hoảng kinh tế toàn cầu.
1.2 Những thành tựu và hạn chế:
1.2.1 Một số thành tựu của nền kinh tế nước ta hiện nay:
Kinh tế Việt Nam 25 năm qua đạt được nhiều thành tựu to lớn:
Một là, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng
nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dânkhông ngừng được cải thiện
Hai là, thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần.
+ Kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã, đã được đổi mới từng bước theo LuậtHợp tác xã và các chính sách của Đảng và Nhà nước
+ Kinh tế tư nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhândân, nhất là từ sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000
+ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng có bước phát triển quan trọng
Ba là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành.
Nền kinh tế nhiều thành phần theo chủ trương của Đảng và được quy định trong Hiếnpháp 1992 đã được cụ thể hóa bằng các luật, pháp lệnh Với Luật Doanh nghiệp,quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp 1992 quy định đã thực sự đi vào cuộc sống.Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế, Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư nướcngoài, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước đã tạo khung pháp lý ban đầu cho các yếu
tố thị trường hình thành và vận hành từng bước
Bốn là, cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
+ Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư có nhiều tiến bộ Tỷ lệ tiết kiệm trong nước so vớiGDP tăng khá nhanh; nguồn vốn tích lũy trong nước đã được khai thác tốt hơn, chiếmtrên 60% tổng vốn đầu tư Mặt khác, cũng huy động được nhiều vốn bên ngoài cho
Trang 7đầu tư phát triển Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm Trong nội bộ ngành nôngnghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các sảnphẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu Cácngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đờisống
+ Về cơ cấu các vùng kinh tế: có sự chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh
và quan tâm hỗ trợ các vùng còn có nhiều khó khăn
+ Về cơ cấu lao động: có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong sảnxuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ
Hình 2 Tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDP.
Năm là, đạt được những kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Việt Nam đã tham gia hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế trên các cấp độ và trong các lĩnhvực kinh tế then chốt Đặc biệt là, nước ta đã tham gia Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN) và WTO, đã không ngừng mở rộng các quan hệ kinh tế songphương, tiểu vùng, vùng, liên vùng và tiến tới tham gia liên kết kinh tế toàn cầu
Mặc dù, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế trong những năm qua,nhưng trong vài năm gần đây, trước những tác động mạnh mẽ của khủng hoảng kinh tếthế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng đáng kể: tốc độ tăng trưởng kinh tếbình quân cả năm 2008 chỉ đạt 6,2%, trong khi mục tiêu đề ra từ đầu năm là 8,5% -9% Sang năm 2009, quý I năm 2009 chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 3,1%, nghĩa là bằng42% so với tốc độ tăng trưởng kinh tế cùng kỳ năm 2008
Bảng 2 So sánh GDP mục tiêu và GDP thực tế đạt được giai đoạn 2006 - 2010
Trang 8Thực tế 8,2 8,44 6,2 5,2 (Q.III)7,18
1.2.2 Những hạn chế trong mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay:
- Chất lượng tăng trưởng của nước ta ngày càng thấp Chất lượng tăng trưởng thể hiện
ở chỉ số ICOR và sự gia tăng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ở các vùng miền trong
cả nước Xét về chỉ số ICOR, nhiều số liệu đã tính toán cho thấy: năm 2006 là khoảng
5, năm 2007 là hơn 5,2, năm 2008 là gần 7 và năm 2009 là 8, trong khi ở các nướctrong khu vực, kể cả Trung Quốc, thì trong cùng thời gian chỉ số này đều dưới 4.Những con số này cho thấy nguy cơ là tăng trưởng kinh tế ở nước ta đắt hơn nhiều lần
so với các nước và đang có xu hướng ngày càng đắt thêm lên Hiệu quả sử dụng vốnthấp Một thực tế nữa là tuy đứng vào hàng đầu của các quốc gia xuất khẩu gạo, nhưngchất lượng gạo xuất khẩu vẫn chưa có tính cạnh tranh cao như gạo của Thái Lan Vìthế, nông dân vẫn còn nghèo, thu nhập thấp và không ổn định
Bảng 3. So sánh ICOR của Việt Nam và Trung Quốc qua một số năm.
- Chất lượng đời sống xã hội tăng chậm và có xu hướng suy giảm thể hiện trong cáclĩnh vực giáo dục, y tế, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội đã đếnmức báo động và đang có xu hướng tăng cao
- Thu chi ngân sách nhà nước (NSNN) ngày càng thâm hụt lớn Thu chi NSNN là chỉtiêu tổng hợp phản ánh chất lượng và sự bền vững của mô hình tăng trưởng kinh tế.Thâm hụt Ngân sách ở nước ta từ năm 2000 đến nay trung bình là trên 5% GDP/năm,năm 2009 là gần 7% và dự kiến năm 2010 chưa xuống dưới 6,5% Nợ Chính phủ đãlên tới khoảng 40% GDP Một đặc điểm nổi lên trong thu, chi NSNN là trong suốt 25năm đổi mới vừa qua, thu NSNN năm nào cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra,
số thu năm sau đều tăng cao so số thu năm trước, có năm tăng tới gần 30% như năm
Trang 9- Với mô hình tăng trưởng hiện nay thì càng tăng trưởng thì lại càng có nhiều ách tắc
và mất cân đối lớn Những ách tắc lớn nhất là hạ tầng cơ sở yếu kém chưa tạo thuậnlợi cho đầu tư phát triển, nguồn nhân lực đông đảo nhưng kỹ năng, tay nghề kém,không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển trước mắt và lâu dài; thể chế kinh tế cònnhiều yếu kém, chưa tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư
CHƯƠNG 2
NHẬN DIỆN MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY2.1 Cơ sở lý luận về mô hình kinh tế:
2.1.1 Các lý luận về mô hình kinh tế:
Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học đã dùng các môhình kinh tế sau:
Trang 10Mô hình David Ricardo (1772-1823): với luận điểm cơ bản là đất đai sản xuất nông
nghiệp (R, Resources) là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Nhưng đất sản xuất lại cógiới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợinhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thựcphẩm cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuậncủa nhà tư bản công nghiệp giảm Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tưdẫn đến tăng trưởng Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợinhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăngtrưởng kinh tế Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình nàykhông giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng
Mô hình hai khu vực: tăng trưởng kinh tế dựa vào sự tăng trưởng hai khu vực nông
nghiệp và công nhiệp trong đó chú trọng yếu tố chính là lao động (L labor), yếu tốtăng năng suất do đầu tư và khoa học kỹ thuật tác động lên hai khu vực kinh tế Tiêubiểu cho mô hình hai khu vực là mô hình Lewis, Tân cổ điển và Harry T Oshima
Mô hình Harrod-Domar: nguồn gốc tăng trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K,
capital) đưa vào sản xuất tăng lên
Mô hình Robert Solow (1956): với luận điểm cơ bản là việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn,
mức sản lượng cao hơn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (tăngtrưởng kinh tế bằng không (0))
Mô hình Kaldor: tăng trưởng kinh tế phụ thuộc phát triển kỹ thuật hoặc trình độ công
nghệ
Mô hình Sung Sang Park: nguồn gốc tăng trưởng là tăng cường vốn đầu tư quốc gia
cho đầu tư con người
Mô hình Tân cổ điển: nguồn gốc của tăng trưởng tùy thuộc vào cách thức kết hợp hai
yếu tố đầu vào vốn(K) và lao động (L)
Trước Keynes, kinh tế học cổ điển và tân cổ điển không phân biệt rành mạch tăngtrưởng kinh tế với phát triển kinh tế Hơn nữa, ngoại trừ Schumpeter, các trường pháitrên đều không coi trọng vai trò của tiến bộ kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế
Trang 11Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô Keynes tiêu biểu là mô hìnhHarrod-Domar Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản: (1) giá cả cứng nhắc, và
trưởng kinh tế là do lượng vốn (yếu tố K, capital) đưa vào sản xuất tăng lên Từ đó, họsuy luận ra được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng màchuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngày càng không cânbằng (mất ổn định kinh tế)
Trong khi đó, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình dựa trên
hệ giả thiết mà hai giả thiết căn bản là: (1) giá cả linh hoạt, và (2) nền kinh tế ở trạngthái toàn dụng lao động Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy, khi nền kinh tếđang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng khôngcân bằng thì đó chỉ là nhất thời, và nó sẽ mau chóng trở về trạng thái cân bằng
2.1.2 Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế:
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đangphát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triển kinh tếphải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là nguồnnhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗiquốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng
Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật
của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết cácyếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượnđược nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máymóc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đahiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt.Thực tế nghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II chothấy mặc dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chấtlượng cao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ lànước Đức, "một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giới lầnthứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại Vớinhững kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945 Nếu không có
số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thời hậu chiến"
Trang 12Nguồn tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài
nguyên quan trọng nhất là đất đai, khóang sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồnnước Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có nhữngnước được thiên nhiên ưu đãi một trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập
mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên
như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ tập trung sản xuất các sản phẩm cóhàm lượng lao động, tư bản, công nghệ cao nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trênthế giới về quy mô
Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người lao
động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi laođộng) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa
là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài
cao và bền vững Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư
thương mại phát triển Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần
do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điệnquốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không phải là sự
sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản, ngược lại, nó làquá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phépcùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trìnhsản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay
công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiếnnhư vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất Tuy nhiên, thay đổi công nghệkhông chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển và ứng dụngmột cách nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chếcho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứngđáng
Trang 132.2 Nhận diện mô hình Kinh tế Việt Nam hiện nay:
Phát triển kinh tế luôn là vấn đề quan trọng và cần thiết của mỗi quốc gia trong cácgiai đoạn phát triển đất nước trong cả thời bình cũng như thời chiến Tuy nhiên, cáchlựa chọn đường lối, mô hình kinh tế như thế nào để đạt được tốc độ tăng trưởng caonhất của mỗi quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào những điều kiện tự nhiên, xã hội vàlợi thế về các nguồn lực của mỗi quốc gia Các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh,Pháp… có một trình độ khoa học kỹ thuật cao, có nền công nghiệp phát triển, họ thúcđẩy sự phát triển kinh tế bằng việc đầu tư chuyên sâu vào các lĩnh vực công nghệ hiệnđại, phát minh sáng chế máy móc thiết bị cho các ngành nghề khác Các quốc gia cólợi thế về các sản phẩm nông nghiệp như Việt Nam, Thái Lan … thì có thể tăng trưởngkinh tế bằng việc thúc đẩy việc đầu tư phát triển các hàng nông sản, làm đa dạng, tăngchất lượng cũng như số lượng các hàng hóa nông sản
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010 đã xác định rõ mô hìnhphát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay là “Phát triển toàn diện” Theo đó, tăngtrưởng kinh tế được giải quyết đồng thời với tiến bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu
và trong toàn tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện điều đó, Nhà nước đãđưa ra nhiều quyết sách quan trọng như: đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, khuyếnkhích đầu tư nước ngoài, sử dụng kết hợp phương thức phân phối theo chức năng vớiphân phối theo thu nhập, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia Tổchức kinh tế theo không gian, một chính sách quan trọng của Nhà nước ta là hìnhthành và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm với tư cách là những hạt nhân tạo độnglực tăng trưởng nhanh, đồng thời là những điểm tựa lan tỏa tích cực cho toàn nền kinh
tế về kinh tế - xã hội Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, mô hình tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam đã thể hiện đúng quan điểm phát triển nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tích đầy ấn tượng vềtăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, nhìn lại những thành quả mà
chúng ta đã làm được trong thời gian qua có thể khẳng định một điều là: “Mô hình
tăng trưởng kinh tế mà Việt Nam đang áp dụng hiện nay không phải là mô hình Phát triển toàn diện mà thực chất là mô hình phát triển theo chiều rộng”
Tại sao chúng ta có thể khẳng định mô hình tăng trưởng kinh tế mà Việt Nam hiệnđang áp dụng là mô hình phát triển theo chiều rộng mà không phải là phát triển toàndiện? Chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là “Phát triển toàn diện”?