Đồng thời, nó dẫnđến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong hiệp định đối vớinhững vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp nhiềukhó khăn.Trê
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU:
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang là xu thế chung của thế giới Tiến trình hội nhập và sự tham gia chính thức của Việt Nam vào WTO từ một năm nay mang lại những cơ hội và những thách thức mà các doanh nghiệp (DN) phải vượt qua Các DN cần phải có những chiến lược phù hợp để thích nghi với môi trường kinh doanh mới, đáp ứng những đòi hỏi của cạnh tranh
Theo các nghiên cứu, việc hội nhập WTO có khả năng ảnh hưởng đến hoạtđộng XNK của quốc gia Sẽ có những cơ hội lớn hơn cho hàng hóa Việt Nam thâmnhập và mở rộng thị trường ở nước ngoài Việc cắt giảm hàng rào thuế quan theoWTO và thực thi các thủ tục theo WTO, nhập khẩu (NK) của Việt Nam sẽ giatăng Quá trình hội nhập quốc tế và WTO sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ và toàn diện đốivới các địa phương và vùng lãnh thổ trên nhiều lĩnh vực Hội nhập WTO là cơ hộithuận lợi góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy cải cách và tăng trưởngkinh tế Mỗi một địa phương hay vùng lãnh thổ biết tận dụng tốt những cơ hội sẽ
có nhiều điều kiện để phát triển Bên cạnh những thuận lợi trên, việc gia nhậpWTO còn tạo ra nhiểu sự cạnh tranh giữa nền kinh tế trong và ngòai nước Sự cạnhtranh này đến từ các sản phẩm NK, các nhà đầu tư nước ngoài Họ tin rằng nếukhông tự đổi mới và nâng cao khả năng cạnh tranh thì có khả năng sẽ mất thịtrường trong nước trước sự xâm nhập của các sản phẩm từ các nước trong khu vựcASEAN và từ các quốc gia phát triển khác
Trong một chừng mực nhất định, một vài rào cản mới, tinh vi hơn xuất hiện vàđược sử dụng rộng rãi bởi các quốc gia như thuế chống phá giá, các phòng vệ đặcbiệt, những qui định kỹ thuật chặt chẽ hơn, chuẩn mực về vệ sinh, môi trường, laođộng, trách nhiệm xã hội… ra đời
Trang 2Vì những lí do nêu trên nên nhóm chúng tôi đã quyết định đi sâu và tìm hiểuvấn đề này Là những nhà kinh tế tương lai, việc hiểu kỹ những thuận lợi và khókhăn của nền kinh tế Việt Nam là một vấn đề cấp thiết…
Trang 3Nội Dung:
CHƯƠNG I:
GIỚI THIỆU VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
1 Khái niệm:
Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization - WTO) là tổ chức quốc
tế có trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định thương mạigiữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại Hoạt động củaWTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự
do thương mại Mọi thành viên của WTO được yêu cầu phải cấp cho những thànhviên khác những ưu đãi nhất định trong thương mại, ví dụ (với một số ngoại lệ)những sự nhượng bộ về thương mại được cấp bởi một thành viên của WTO chomột quốc gia khác thì cũng phải cấp cho mọi thành viên của WTO
2 Chức năng:
WTO có 6 chức năng hoạt động chính:
Quản lý việc thực hiện các hiệp ước của WTO
Diễn đàn đàm phán về thương mại
Giải quyết các tranh chấp về thương mại
Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia
Trang 4Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển
Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
3 Đàm phán và các phương hướng giải quyết các tranh chấp:
Phần lớn các quyết định của WTO đều dựa trên cơ sở đàm phán và đồngthuận Mỗi thành viên của WTO có một phiếu bầu có giá trị ngang nhau Nguyêntắc đồng thuận có ưu điểm là nó khuyến khích nỗ lực tìm ra một quyết định khả dĩnhất được tất cả các thành viên chấp nhận Nhược điểm của nó là tiêu tốn nhiềuthời gian và nguồn lực để có được một quyết định đồng thuận Đồng thời, nó dẫnđến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong hiệp định đối vớinhững vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp nhiềukhó khăn.Trên thực tế, đàm phán của WTO diễn ra không phải qua sự nhất trí củatất cả các thành viên, mà qua một quá trình đàm phán không chính thức giữa nhữngnhóm nước
Giải quyết tranh chấp
Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt độngnhư một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đếnviệc áp dụng quy định của WTO Không giống như các tổ chức quốc tế khác,WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các quyết định của mình thông quaviệc cho phép áp dụng trừng phạt thương mại đối với thành viên không tuân thủtheo phán quyết của WTO.Một nước thành viên có thể kiện lên Cơ quan Giải quyếtTranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành viên khác đã vi phạmquy định của WTO
Trang 54.Cơ cấu tổ chức
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, ủy ban của WTO,ngoại trừ CCơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp và các Ủy ban đặc thù
Trang 6CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
I Tình hình kinh tế Việt Nam thời kỳ 1976-1982:
Giai đoạn năm 1976 -1982
Đó là giai đoạn đánh dấu sự thay đổi về chính trị trong lịch sử Việt Nam khi mànước nhà thống nhất đổi tên thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam RaHiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam được quyết định tạiĐại hội Đại biểu toàn quốcnăm 1976
Trong đó xác định rõ đường lối kinh tế chủ đạo của Việt Nam từ thời kỳ này làcông nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội
chủnghĩa của nhân dân lao động (gồm công nhân, nông dân tập thể, trí thức xãhộichủ nghĩa và lao động khác),xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủnghĩa, xoá bỏchế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu
- Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển,
Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốcdoanh giữvai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được pháttriển ưu tiên, nông dân ởNam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyếnkhích tham gia sản xuất tập thể,
- Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất
Trang 7Hội nhập kinh tế thông qua triển khai các hiệp định hợp tác với các nước xã hộichủ nghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế từ năm 1978
Do sản xuất kém phát triển, hàng hóa không đủ, nên việc phân phối bịkiểm soátbằng chế độ tem phiếu Chế độ phân phối này chấm dứt vào năm1994 khi chínhsách tiền tệ hóa được hoàn tất
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân trong đó có cả “do khuyết điểm, sai lầmcủa các
cơ quan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạovà quản lý kinh
tế, quản lý xã hội” dẫn tới "chủ quan, nóng vội, đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêucủa kế hoạch nhà nước quá cao so với khả năng, nhữngchủ trương sản xuất, xâydựng, phân phối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng,dẫn đến lãng phí lớn về sứcngười, sức của; rất bảo thủ, trì trệ trong việcchấp hành đường lối của Đảng vànhiều nghị quyết của Trung ương, trong việc đánh giá và vận dụng những khả năng
về nhiều mặt của đất nước kéo dài cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với cách kếhoạch hóa gò bó, cứng nhắc, không đề cao trách nhiệm và mở rộng quyền chủđộng cho cơ sở, địaphương và ngành, và cũng không tập trung thích đáng nhữngvấn đề mà Trung ương cần và phải quản lý duy trì quá lâu một số chính sách kinhtếkhông còn thích hợp, cản trở sản xuất và không phát huy nhiệt tình cáchmạng vàsức lao động sáng tạo của những người lao động chưa nhạy béntrước nhữngchuyển biến của tình hình, thiếu những biện pháp có hiệu quả".Hậu quả nghiêmtrọng phải kể hai cuộc đổi tiền năm 1975 (do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thựchiện) và đổi tiền năm 1978 trên toàn quốc để thựcthi "đánh tư sản mại bản", tiêudiệt tiết kiệm vốn liếng của người dân và làmxáo trộn kinh tế trầm trọng
Trang 8sẽ tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp và coi nông nghiệp là mặt trận hàngđầu, đẩy mạnh sản xuất hàngtiêu dùng, và kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàngtiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý, tăngcường phân cấp cho địa phương trong công tác sản xuất và quản lý sản xuất.
Kinh tế quốc doanh vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, kinh tế gia đình đượckhuyếnkhích Thị trường không có tổ chức bị quản lý chặt chẽ
Tuy nhiên, thời kỳ 1981-1985 kinh tế Việt Nam đã không thực hiện đượcmục tiêu
đã đề ra trong nghị quyết đại hội V là cơ bản ổn định tình hình kinhtế-xã hội, ổnđịnh đời sống nhân dân Sai lầm về tổng điều chỉnh giá-lương-tiền cuối năm 1985
đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới.Nền kinh tế-xã hội lâm vàokhủng hoảng trầm trọng.Siêu lạm phát xuất hiện và kéo dài
Giai đoạn 1986-1990
Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinhtế lớn: lương thực - thựcphẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Các hìnhthức ngăn sông cấm chợ, chia cắtthị trường được xóa bỏ dần, kế hoạch kinhtế của nhà nước được thực hiện trên cơ
Trang 9sở hạch toán Đặc biệt,các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể đượcthừa nhận và bắt đầu đượctạo điều kiện hoạt động Nền kinh tế dần dần được thịtrường hóa Song Đảng chủ trương và thực hiện kinh tế quốc doanh là chủ đạo, chiphối cácthành phần kinh tế khác Cơ chế quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnhhànhchính dần dần giảm đi
Kinh tế Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt Từ chỗ phải nhậpkhẩulương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và cònxuất khẩu gạo.Khoán 10 được triển khai từ năm 1988 trên quy mô toànquốc càng khuyến khíchnông dân sản xuất lúa gạo Hàng hóa, nhất là hàngtiêu dùng, nhiều hơn và đa dạnghơn
Xuất khẩu tăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm Từ năm 1989, Việt Nam bắt đầuxuất khẩu dầu thô, đemlại nguồn thu xuất khẩu lớn Lạm phát được kiềm chế dầndần
Giai đoạn 1991- 1992
Tháng 6 năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII, tại đây một văn kiện quan trọng đã ra đời, đó là"Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội".Cương lĩnh này sau đóliên tục được bổ sung và điều chỉnh trong các kỳ họp của Ban Chấp hành trungương Đảng và Đại hội Đại biểu toàn quốc tiếptheo Cương lĩnh này và các văn kiện
có tính chất sửa đổi nó tuyên bố rằngnhiệm vụ trung tâm của xây dựng cơ sở vậtchất của chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam là: “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa”,“gắn liền với phát triểnmột nền nông nghiệp toàn diện” Các văn kiện này nêuphương hướng: "thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự
đa dạng về hìnhthức sở hữu Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
Trang 10định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhànước" và "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Giai đoạn 1993-1997:
Đây là thời kỳ kinh tế Việt Nam kiềm chế thành công lạm phát đồng thời lại tăngtrưởng nhanh chóng Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2 năm 1998-1999.Tuy bắt đầu tăng tốc dần từ năm 2000, nhưng nền kinh tế có lúc rơi vào tình trạnggiảm phát và thiểu phát Các năm 2007-2008, lạm phát tăng tốc và hàng năm đều ởmức 2 chữ số
Từ những năm sau đó tốc độ lạm phát của Việt nam cứ tăng dần theo cấp số nhân,nền kinh tế chưa thực sự ổn định luôn luôn chịu tác động từ nền kinh tế thế giới.Hoạt động công thương nghiệp chủ yếu gói gọn trong khu vực, chưa thực sự vươn
xa Đòi hỏi nền kinh tế cần có một sự đổi mới, thay đổi để bắt kịp những phát triểnnhanh chóng của thế giới Và khi đó việc gia nhập WTO là cánh cửa phù hợp nhấtcho sự thay đổi đó
II Những thay đổi khi gia nhập WTO của Việt Nam:
Việc hội nhập WTO có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động XNK của nướcta6 Sẽ có những cơ hội lớn hơn cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập và mở rộng thịtrường ở nước ngoài Việc cắt giảm hàng rào thuế quan theo WTO và thực thi cácthủ tục theo WTO, nhập khẩu (NK) của Việt Nam sẽ gia tăng
Quá trình hội nhập quốc tế và WTO sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ và toàn diện đối vớicác địa phương và vùng lãnh thổ trên nhiều lĩnh vực Hội nhập WTO là cơ hộithuận lợi góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy cải cách và tăng trưởng
Trang 11kinh tế Mỗi một địa phương hay vùng lãnh thổ biết tận dụng tốt những cơ hội sẽ
có nhiều điều kiện để phát triển
1/ Nhận thức của DN về những ảnh hưởng của việc hôi nhập WTO của
Việt Nam
Ngay sau khi Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt Namtham gia khu vực mậu dịch tự do các nước ASEAN (AFTA) và Chính Phủ ViệtNam đàm phán gia nhập WTO, lãnh đạo của các DN và các bên quan tâm đã nhậnthức một cách sâu sắc rằng họ không chỉ nhận được những cơ hội mà còn phải đốimặt với những thách thức Việc cải tổ theo WTO đã hình thành nhiều DN tham giavào hoạt động XNK và các DN sẽ được đối xử bình đẳng hơn Họ cũng nhận thứcđược rằng các rào cản thuế quan và phi thuế quan sẽ giảm hoặc sẽ bị loại bỏ
Họ nhận ra rằng việc hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội và sự thuận lợi hơntrong tiếp cận thị trường thế giới Tuy nhiên, họ cũng thừa nhận cạnh tranh trên thịtrường nội địa cũng sẽ khắc nghiệt hơn Sự cạnh tranh này đến từ các sản phẩm
NK, các nhà đầu tư nước ngoài Họ tin rằng nếu không tự đổi mới và nâng cao khảnăng cạnh tranh thì có khả năng sẽ mất thị trường trong nước trước sự xâm nhậpcủa các sản phẩm từ các nước trong khu vực ASEAN và từ các quốc gia phát triểnkhác
Trong một chừng mực nhất định, một vài rào cản mới, tinh vi hơn xuất hiện vàđược sử dụng rộng rãi bởi các quốc gia như thuế chống phá giá, các phòng vệ đặcbiệt, những qui định kỹ thuật chặt chẽ hơn, chuẩn mực về vệ sinh, môi trường, laođộng, trách nhiệm xã hội…
2/ Những sự chuẩn bị cụ thể của các công ty trước và sau khi Việt Nam
gia nhập WTO
Trang 12Để đối phó với cạnh tranh toàn cầu và những thách thức khi Việt Nam hội nhậpkinh tế quốc tế và gia nhập WTO, lãnh đạo của các DN đã có những chiến lượcphù hợp, tạo ra những bước thay đổi quan trọng trong định hướng phát triển
- Cổ phần hóa các DN và huy động vốn
Thông qua cổ phần hóa, các DN tái cấu trúc lại nguồn vốn kinh doanh, cải thiệnkết quả kinh doanh, nâng cao trách nhiệm trong quản lý hoạt động kinh doanh.Ngoài ra, các DN cố gắng huy động nguồn vốn phục vụ đổi mới công nghệ, pháttriển sản xuất, quảng bá thương hiệu
- Tái cấu trúc DN
Đi đôi với quá trình cổ phần hóa, các DN cũng thực hiện tổ chức lại các phòngban, sắp xếp lại lực lượng lao động, tinh giảm lao động dôi dư, đào tạo và bồidưỡng đội ngũ lao động Tổng số lao động giảm nhưng tỷ lệ lao động có trình độtăng lên làm cho năng suất lao động tăng
- Đầu tư và đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm mới
Trong thời gian qua, các DN đã thực hiện nhiều dự án đầu tư máy móc thiết bị, đổimới công nghệ, thực hiện nhiều cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩmnhằm gia tăng giá trị bổ sung cho các sản phẩm XK, đứng vững trên thị trường vàtạo ra lợi thế cạnh tranh Trình độ công nghệ tại các DN đang dần được cải thiệnđáng kể so với trước đây để đáp ứng nhu cầu mới Ngoài ra, các DN còn chú trọngứng dụng công nghệ thông tin nhằm tăng hiệu quả quản lý của mình
- Đảm bảo chất lượng
Trang 13Các DN đã quan tâm hơn đến các tiêu chuẩn chất lượng như ISO 9001, ISO 14000,
SA 8000 và các chứng nhận môi trường khác để nâng cao khả năng cạnh tranh củamình, đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của các thị trường lớn trong WTO như
EU, Mỹ, Nhật Bản…
- Chiến lược marketing
Các DN có khuynh hướng biến đổi DN theo hướng đa ngành nghề dựa trên từ nănglực cốt lõi của mình Họ đã xác định lại danh mục mặt hàng kinh doanh, loại bỏcác sản phẩm không còn đủ khả năng cạnh tranh hiệu quả, cố gắng cũng cố thịtrường nội địa thông qua phát triển mạng lưới phân phối, quan tâm đến dịch vụ saubán, thực hiện marketing quan hệ với các nhà cung cấp, các nhà phân phối vàkhách hàng Bên cạnh đó, các DN nỗ lực tìm kiếm thị trường mới cho XK và cóchiến lược đẩy mạnh XK, vươn ra thị trường thế giới Trên hết, các DN chú trọngtạo dựng thương hiệu cho các sản phẩm của mình
3/ Kết quả kinh doanh
Mặc dù gặp nhiều khó khăn xuất phát từ những biến động trong nền kinh tế trongthời gian gần đây nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN đạt kết quảkhá tốt về nhiều mặt sau một năm Việt Nam gia nhập WTO
Nhìn chung, hoạt động XK của các DN đạt kết quả cao Nhiều sản phẩm của các
DN đáp ứng được những tiêu chuẩn của các thị trường XK Có DN đã có thêmnhững thị trường mới và những khách hàng mới
Số lượng DN đăng ký mới có tham gia vào hoạt động XK trong năm là 11 DN.Trong đó có 01 DN xuất khẩu thủy sản và 10 DN XK hàng dệt may Sự gia tăng số
Trang 14lượng DN cũng phần nào lý giải được sự gia tăng trong kim ngạch XK các mặthàng thủy sản và dệt may so với năm 2006
Kim ngạch XK thủy sản tăng lên chủ yếu không phải do những khách hàng mới
mà do các khách hàng truyền thống trước đây đã nhập khẩu nhiều hơn Những DNdệt may mới thành lập đều là những DN có quy mô nhỏ số lượng đơn hàng ít vàchủ yếu thực hiện việc gia công lại cho các DN lớn đã có truyền thống thâm nhậpthị trường nước ngoài Điều này cho thấy rằng sau một năm gia nhập đã có nhiều
cơ hội XK hơn cho những đơn vị XK hàng dệt may có những mối quan hệ thịtrường truyền thống
Các hoạt động NK cũng được thúc đẩy do các cam kết của Việt Nam giảm dầnthuế nhập khẩu theo các cam kết WTO Tuy nhiên, do việc loại bỏ những ưu đãicủa Chính phủ, nhiều khó khăn đặt ra cho các DN kinh doanh NK Việc giảm hoặcloại bỏ các hàng rào thuế quan cho một vài loại hàng hóa như hàng điện tử, hànggia dụng, việc hủy bỏ các giới hạn có liên quan quyền kinh doanh đã làm gia tăngcạnh tranh NK Vì vậy áp lực cạnh tranh nội địa đang dần tăng Hoạt động kinhdoanh của một vài DN bị ảnh hưởng đáng kể do sự cạnh tranh Doanh thu NK cókhuynh hướng giảm
Một điểm yếu của các DN Đà Nẵng là mặc dầu đã được trao quyền kinh doanhXNK với tất cả các DN nhưng chuyển biến về kinh doanh XNK vẫn còn rất chậm,chưa có sự thay đổi đột phá
4/ Những thuận lợi, khó khăn đối với các DN trong thời gian qua
a Những thuận lợi
Trang 15- Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ cao, nhu cầu thị trường về nhiềumặt hàng tăng nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN đẩy mạnh đầu tư, tăngqui mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Việc Việt Nam gia nhập WTO tạo điều kiện thuận lợi cho các DN thâm nhập thịtrường nước ngoài
- Cải cách thủ tục hành chính đã tạo thuận lợi cho hoạt động của các DN
- Việc cổ phần hóa DN tạo điều kiện thuận lợi để các DN tinh giảm, sắp xếp lại laođộng, kiên toàn bộ máy quản lý, nâng cao ý thức của đội ngũ cán bộ công nhânviên Việc công khai, minh bạch kết quả sản xuất kinh doanh trước các cổ đông vàcác nhà đầu tư đã tạo động lực lớn trong quá trình triển khai các chiến lược sảnxuất kinh doanh của các DN, nâng cao được giá trị thương hiệu trên thị trườngtrong và ngoài nước
- Các DN khá am hiểu thị trường trong nước và có mạng lưới các nhà cung cấp vàphân phối sản phẩm rộng khắp nên nguồn nguyên liệu ổn định và việc tiêu thụ sảnphẩm trên thị trường trong nước ổn định