1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính

46 627 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Khoa Học Kinh Tế
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tranh cãi này, mà tiêu biểu là Alfaro-Ozcan 2008 nghiên cứu thực nghiệm trên dữ liệu 72 quốc gia trên thế giới cho rằng chỉ có những quốc gia có thị trường tài chính phát triển mới

Trang 1

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12

1 GIỚI THIỆU 12

2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 13

3 DỮ LIỆU 19

4 PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 22

5 KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ LỤC A ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN 33

PHỤ LỤC B DỮ LIỆU 1990-2010 34

PHỤ LỤC C TÍNH TOÁN MỨC ĐỘ TFP THEO MÔ HÌNH SOLOW 35

PHỤ LỤC D KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH GRANGER 36

Bảng 1 Mô tả dữ diệu 37

Bảng 2 Hệ số tương quan giữa các biến 38

Bảng 3 Tăng trưởng, FDI và thị trường tài chính 39

Bảng 4 Tăng trưởng, FDI, thị trường tài chính, đầu tư và các tương tác khác 40

Bảng 5 Đầu tư, FDI và thị trường tài chính 41

Bảng 6 Vốn nhân lực, FDI và thị trường tài chính 42

Bảng 7 Năng suất các nhân tố tổng hợp, FDI và thị trường tài chính 43

Trang 4

395 000 000 USD) và ổn định tăng với mức 4% đến năm 2008, sau đó tạo sự đột biến năm 2008 với hơn 9 tỷ USD mà Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng nhanh vượt bậc trong những thập niên trở lại đây1.Tuy nhiên, một số tranh cãi vẫn cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung không có mối quan hệ sâu sắc với dòng vốn FDI đi vào trong nước Những tranh cãi này, mà tiêu biểu là Alfaro-Ozcan (2008) nghiên cứu thực nghiệm trên dữ liệu 72 quốc gia trên thế giới cho rằng chỉ có những quốc gia có thị trường tài chính phát triển mới tận dụng được hết những thuận lợi từ dòng vốn FDI để thúc đẩy tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp Nghiên cứu mới đây nhất ở Việt Nam của Hang (2010) lại chỉ ra rằng dòng vốn FDI ở Việt Nam có tác động thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ nhưng chỉ thông qua việc gia tăng lượng vốn trong nền kinh tế chứ không làm gia tăng năng suất lao động và vốn nhân lực thông qua đổi mới công nghệ, hay nói cách khác không giúp gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp Cũng theo Alfaro và Ozcan (2008), chỉ

1 Theo thống kê của World Bank, Việt Nam có mức tăng trưởng vượt bậc từ 3.81% năm 1985 đến 9.54% năm 1995 sau đó giảm dần và ổn định từ mức 6.78% năm 2010

Trang 5

có con đường tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất của nhân tố tổng hợp mới giúp quốc gia tăng trưởng bền vững, những quốc gia nhận đầu tư FDI và tăng trưởng thông qua gia tăng nhân tố tổng hợp gồm nguồn lực vốn và nhân lực thì dẫn tới tăng trưởng không bền vững vì sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình Vấn đề đặt ra ở đây là nếu nhìn từ góc nhìn hẹp thì Việt Nam vẫn hiện đang tăng trưởng dựa trên nguồn vốn FDI, vậy thị trường tài chính của Việt Nam có đủ mạnh để giúp cho nền kinh tế hấp thụ tốt nguồn vốn FDI to lớn và để thúc đẩy tăng trưởng? Và liệu FDI giúp Việt Nam tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp hay thông qua gia tăng nhân tố tổng hợp vốn tài chính và vốn nhân lực? Với mục tiêu làm rõ hai vấn đề trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính”

2 Xác định vấn đề nghiên cứu

Về mặt lý luận, thông qua những nghiên cứu trước đây trên thế giới, chúng tôi tập trung phân tích rõ mối liên hệ giữa FDI với tăng trưởng kinh tế: liệu sự gia tăng trong tốc độ tăng trưởng đến từ việc gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp, hay từ gia tăng các nhân tố tổng hợp? Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đánh giá lại vai trò của thị trường tài chính trong việc hấp thụ FDI và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới

Về mặt thực nghiệm, chúng tôi tiến hành hồi quy dữ liệu Việt Nam từ 1990 đến 2010 để thấy rõ được vai trò của thị trường tài chính trong việc thu hút lượng FDI và là chất xúc tác thúc phát triển kinh tế Chúng tôi cũng tiến hành hồi quy để xem xét liệu rằng tăng trưởng của Việt Nam đạt được nhờ vào sự gia tăng trong nhân tố tổng hợp hay gia tăng trong năng suất các nhân tố tổng hợp Cụ thể chúng tôi tiến hành hồi quy xác định rõ mối quan hệ giữa FDI với vốn tài chính và vốn nhân lực và tác động của FDI lên năng suất các nhân tố tổng hợp TFP trong đó xem xét tác động khi có sự hiện diện của tương tác giữa FDI và độ sâu thị trường tài chính

3 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu

Trang 6

 Mối quan hệ giữa độ sâu thị trường tài chính và dòng FDI đi vào một quốc gia? Liệu một thị trường tài chính phát triển có giúp cho quốc gia đó thu hút một lượng

FDI lớn hơn không?

 Vai trò của thị trường tài chính trong việc hấp thụ các hiệu ứng tràn của nền kinh tế được tạo ra từ việc đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia thông qua FDI? Liệu một thị trường tài chính phát triển tạo ra các hiệu ứng tràn lớn hơn và giúp cho nền kinh

tế hấp thụ chúng tốt hơn?

 Xem xét trong sự tương tác với thị trường tài chính, và không tương tác với thị trường tài chính, FDI có giúp đẩy tăng trưởng ở các quốc gia nhận đầu tư không? Hay nó tạo ra các hiệu ứng xấu kiềm hãm tăng trưởng thông qua việc chèn ép các doanh nghiệp nội địa

 Xem xét trong sự tương tác với thị trường tài chính, FDI có tác động như thế nào lên những nhân tố tổng hợp như vốn tài chính và vốn nhân lực? Cụ thể, FDI có giúp tăng tổng lượng vốn đầu tư nội địa và nâng cao trình độ của người lao động không?

 FDI liệu có giúp gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp hay không nếu xem xét trong tương tác với thị trường tài chính và không có sự tương tác này?

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp định tính, định lượng, thống kê

và hồi quy phân tích để làm rõ những vấn đề nêu trên

Về dữ liệu định lượng, dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy từ nguồn World Bank (WB)

và đã được đối chiếu với số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam, trong trường hợp số liệu có mâu thuẫn, số liệu từ Tổng cục thống kê được ưu tiên sử dụng Chuỗi quan sát kéo dài từ năm 1990 đến năm 2010 Trong trường hợp chuỗi dữ liệu bị thiếu một năm nào đó, chúng tôi sử dụng phương pháp bình quân để điều chỉnh sót biến Phương pháp này cho phép dữ liệu điều chỉnh mới không làm ảnh hưởng đến tính trọng yếu và độ tin cậy của kết quả mô hình

Trang 7

Về công cụ, nghiên cứu này sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) và phần mềm thống kê Eviews 5.0 để tiến hành phân tích và hồi quy dữ liệu

5 Nội dung nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi trình bày các nội dung nghiên cứu sau:

 Tóm lược bài nghiên cứu

 Tóm lược lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

 Mô tả dữ liệu, thực hiện xử lý số liệu và hồi quy mô hình

 Phân tích kết quả thực nghiệm của mô hình

 Kết luận và hướng nghiên cứu mở rộng

Cụ thể chúng tôi đã nghiên cứu các nội dung nêu trên như sau:

Với tính chất tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế của nền tế thế giới hiện nay thì dòng vốn quốc tế đang ngày càng lưu chuyển mạnh mẽ với một lưu lượng và tốc độ ngày càng cao giữa các quốc gia Hiện tại các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển đang tích cực thay đổi thể chế và mở cửa để thu hút tối đa dòng vốn quốc tế này, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển ở Châu Á Nhưng tại sao lại có một làn sóng mở cửa đón dòng vốn FDI rộng khắp trên toàn thế giới như vậy? Câu trả lời chính là những lợi ích phụ trội vượt trội mà dòng vốn này đem lại cho quốc gia nhận đầu tư Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thông qua đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia ngoài việc mang đến nguồn vốn cho nước nhận đầu tư, còn mang đến những quy trình khoa học công nghệ sản xuất mới, những quy trình kinh doanh mới hiệu quả cao, các quy trình quảng cáo tiếp thị mới, giúp nâng cao trình độ quản lý của bộ phận quản lý và tay nghề cũng như trình độ chuyên môn của người lao động ở nước nhận đầu tư Tuy nhiên, tác động của FDI lên tăng trưởng vẫn còn là một bài toán khó đối với các nhà kinh tế học Nghiên cứu ở nhiều quốc gia cho thấy FDI có thể làm trì trệ nền kinh tế thông qua việc kiềm hãm sản xuất của một số ngành thay vì thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng tại quốc gia đó Bên cạnh đó, vai trò của thị trường tài chính phát triển trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế hấp thụ FDI còn

là một vấn đề gây nhiều tranh cãi Và cuối cùng, những nhân tố nghiên cứu về vấn đềnnhân tố tổng hợp hay năng suất của nhân tố tổng hợp mới là kênh dẫn truyền mà qua

Trang 8

đó FDI tác động lên tăng trưởng đã đưa ra những kết quả không thống nhất Để tìm lời giải cho những vấn đề nêu trên, nghiên cứu này xem xét tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thông qua kênh dẫn truyền

là thị trường tài chính bằng việc xác định xem những ảnh hưởng này bắt nguồn các nhân

tố tổng hợp2 hay từ năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)3 Chúng tôi cũng xem xét những tương tác của thị trường tài chính và FDI có tác động như thế nào lên tăng trưởng, các nhân tố tổng hợp – bao gồm vốn nhân lực và vốn tài chính, và năng suất của nhân tố tổng hợp

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có phân tích và tổng hợp những nghiên cứu gần đây trên thế giới về 3 vấn đề nêu trên Đối với vấn đề thứ nhất, có hai quan điểm rõ ràng của các nhà kinh tế học về vấn đề này, quan điểm thứ nhất mà đại diện là Alfaro và Ozcan (2008) cho rằng những tác động tổng quan của FDI lên tổng sản lượng và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là không rõ ràng và không có tính trọng yếu Bên cạnh đó, cũng

có nhiều nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm đều ủng hộ quan điểm này Ngược lại, Zareen, Muhamad và Imran (2011), đại diện cho quan điểm còn lại, bằng việc sử dụng dữ liệu cho 50 quốc gia Châu Á từ 2001- 2008, các ông đã đưa ra kết luận rằng FDI có mối quan hệ thuận chiều nhưng không bền vững với tăng trưởng, tuy nhiên FDI vẫn là nhân tố then chốt tạo sự tăng trưởng vượt bậc của một số nước có thị trường tài chính khá phát triển ở Châu Á như Trung Quốc, Singapor, Ấn Độ, Hàn Quốc Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu khác chủ yếu ở châu Á như Hang (2010) cũng ủng hộ cho quan điểm này Nghiên cứu của Hằng với dữ liệu của 61 tỉnh thành ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-

2006 đã đưa ra kết luận rằng FDI là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển ở Việt Nam

2

Nhân tố tổng hợp – Factor accumulation được hiểu là một sự gia tăng về số lượng của bốn nhân tố đầu vào cơ bản

để sản xuất hàng hóa và dịch vụ bao gồm vốn, nhân lực, tài nguyên và thể chế Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ xem xét nhân tố tổng hợp bao gồm vốn tài chính và vốn nhân lực

3

Năng suất nhân tố tổng hợp được định nghĩa theo Lipsey và Carlaw (2001) là chỉ tiêu phản ánh mức độ hiệu quả và chuyên sâu khi sử dụng các nhân tố đầu vào để tạo ra phần gia tăng vượt trội trong sản lượng đầu ra Nói cách khác TFP phản ảnh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động (các nhân tố hữu hình),và hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên Năng suất nhân tố tổng hợp chỉ tăng lên nhờ vào tác động của các nhân tố

vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân, Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp phản ánh tốc độ tiến bộ khoa học công nghệ là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh sự nhanh, chậm của tiến bộ khoa học công nghệ trong một thời gian nhất định

Trang 9

Vấn đề thứ hai của bài nghiên cứu là vai trò của thị trường tài chính trong quá trình hấp thụ FDI của một quốc gia FDI có tác động khác nhau đến tăng trưởng của những quốc gia khác nhau liệu có phải do chất lượng của kênh dẫn truyền FDI ở mỗi quốc gia khác nhau? Tầm quan trọng của một thị trường tài chính phát triển đối với sự phát triển kinh tế

đã được nhận ra và thảo luận trong nhiều bài nghiên cứu như cũng đã nêu phía trên Alfaro

và các đồng sự (2000-2008), Zareen (2011) Phần lớn các nghiên cứu gần đây đều thống nhất rằng sự phát triển của thị trường vốn là “ điều kiện cần và đủ” thúc đẩy sự “tiếp thu

và ứng dụng những khoa học kỹ thuật thực tiễn tiên tiến nhất và phát triển trong thực tế” Nói cách khác thì sự hạn chế trong việc gia nhập thị trường tín dụng đã cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp nội địa Nếu những tập đoàn đa quốc gia đang họat động trong quốc gia đó muốn chuyển giao khoa học công nghệ- một trong những nhân tố tạo nên hiệu ứng tràn công nghệ - mà thiếu vắng một thị trường tài chính phát triển thì các doanh nghiệp nội địa không có đủ nguồn lực tài chính để tiếp cận và áp dụng những công nghệ sản xuất quản lý tiên tiến được chuyển giao Chính điều này sẽ làm hạn chế những lợi ích trước mắt và tiềm tàng mà quốc gia đó có thể đạt được từ nguồn FDI

Vấn đề thứ ba cần lưu tâm là việc đầu tư trực tiếp vào một quốc gia sẽ giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng năng suất nhân tố tổng hợp hay gia tăng nhân tố tổng hợp Năng suất nhân tố tổng hợp là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân

tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân, Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp phản ánh tốc độ tiến bộ khoa học công nghệ là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh sự nhanh, chậm của tiến bộ khoa học công nghệ trong một thời gian nhất định Sự thật là hầu hết các quốc gia nhận nguồn vốn FDI, đều mong muốn nhận được những lợi ích đi kèm với chuyển giao nguồn vốn từ hiệu ứng tràn do FDI tạo ra như chuyển giao công nghệ kỹ thuật, kiến thức và đào tạo nguồn nhân lực Những hiệu ứng này có thể xảy ra thông qua việc chuyển giao kỹ thuật, giới thiệu quy trình kỹ thuật mới, kỹ năng quản lý, đào tạo nguồn nhân lực giúp nâng cao năng suất của các doanh nghiệp nội địa nhờ vào liên kết với tập đoàn đa quốc gia Chính những hiệu ứng tràn về công nghệ, trình độ lao động này góp phần nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp Bên cạnh đó, các quốc gia cũng mong chờ nguồn vốn đầu tư

Trang 10

nước ngoài thông qua hoạt động đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia sẽ đóng góp vào nhân tố tổng hợp FDI đầu tư vào một quốc gia ngoài việc đóng góp trực tiếp vào vốn vật chất/ tài chính, nó còn giúp thu hút đầu tư từ tiết kiệm nội địa, giúp gia tăng vốn đầu tư nội địa Bên cạnh đó, FDI đóng góp vào vốn nhân lực thông qua việc đào tạo làm tăng kỹ năng của người lao động, gia tăng số lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn Một số nghiên cứu gần đây, tiêu biểu là Alfaro và Ozcan (2008), đã thống nhất rằng FDI giúp nâng cao công nghệ của quốc gia nhận đầu tư, nâng cao tay nghề và kỹ năng của lao động

từ đó gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác động của FDI lên năng suất nhân tố tổng hợp còn cho những kết luận trái chiều cho rằng FDI không làm gia tăng năng suất của nhân tố tổng hợp Ví dụ, khi nghiên cứu dữ liệu ở Venezuela, Aitken và Harison (1999) đã chỉ ra rằng tác động ròng của FDI lên năng suất nhân tố tổng hợp – năng suất sản xuất ở Venuezuela là khá nhỏ, đầu tư nước ngoài giúp gia tăng năng lực sản suất của những doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp nhận được nguồn vốn đầu tư này trong khi lại làm giảm năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nội địa Những nghiên cứu nội bộ ở các quốc gia được tiến hành bởi Borensztein, De Grgorio và Lee (1998) và Carkovic và Levine (2005) sử dụng hồi quy tốc độ tăng trưởng của các quốc gia, cung cấp bằng chứng chứng tỏ rằng FDI là một biến ngoại sinh có tác động tích cực lên nền kinh tế Những bằng chứng thực nghiệm ở tầm vi mô thì đưa ra những kết luận chung chung và mơ hồ, mặc dù kết luận là khá bi quan và đồng nhất ở các nước đang phát triển Gorg và Greenaway (2004) khẳng định rằng những doanh nghiệp nước ngoài

và các công ty nước ngoài có tác động xấu lên những công ty nội địa, làm giảm năng lực sản xuất của các công ty nội địa

Để làm rõ ba vấn đề trên với điều kiện của thị trường Việt Nam, chúng tôi tiến hành hồi quy mô hình với dữ liệu được thu thập từ 1990 đến 2010 thuộc bốn nhóm nhân tố chính sau: nhóm nhân tố FDI và tăng trưởng, nhóm nhân tố mức độ phát triển của thị trường tài chính, nhóm biến nhân tố tổng hợp và năng suất nhân tố tổng hợp và nhóm nhân tố thể

chế Trong đó, chúng tôi xem xét các biến thể hiện độ sâu của thị trường tài chính Cụ thể,

biến tín dụng ngân hàng (BANKCR) được tính bằng khoản tín dụng đến khu vực tư nhân trên GDP, mà nguồn gốc của những khoản tín dụng này là từ tiền gửi tiết kiệm của khu vực tư nhân Biến này thể hiện rõ vai trò của thị trường tài chính là kênh dẫn truyền

Trang 11

những tác động của hiệu ứng tràn từ đầu tư của tập đoàn đa quốc gia vào nền kinh tế Thị trường tài chính là nguồn cung cấp vốn cho những doanh nghiệp nội địa để có thể tận dụng được tất cả những lợi ích mà FDI mang lại từ hiệu ứng tràn qua áp dụng những chuyển giao khoa học công nghệ, kiến thức và trình độ nhân lực vào sản xuất Biến tín dụng khu vực tư nhân (PrivCr) được tính bằng tổng các khoản tín dụng đến khu vực tư nhân từ các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển và ngân hàng Trung ương tính trên GDP Biến này thể hiện độ lớn của các khoản tín dụng cho khu vực tư nhân để thúc đẩy bộ phận doanh nghiệp trong nước phát triển để hưởng những thuận lợi từ hiệu ứng tràn do FDI tạo ra

Để xem xét được liệu FDI có tác động lên tăng trưởng thông qua TFP hay thông qua sự tích lũy các nhân tố và vai trò của thị trường tài chính trong các kênh dẫn truyền, yêu cầu

sử dụng chỉ số tăng trưởng TFP như là một biến độc lập Bên cạnh đó chúng tôi cũng xem xét tác động của FDI lên các nhân tố tổng hợp, trong đó chỉ xét hai yếu tố đơn giản nhất là

vốn tài chính và vốn nhân lực Biến vốn tài chính (Invest - Gross domestic investment):

thể hiện tác động của FDI làm gia tăng đầu tư trong nước được tính bằng sự tăng lên trong tổng tài sản cố định hình thành trong nước và tăng lên trong hàng tồn kho

Biến nguồn nhân lực (HK) được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai theo Beng, Fischer và Dornhusch (1995) Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng biến đại diện HK như là số sinh viên vào đại học trên tổng số dân số, biến này thể hiện trình độ của lực lượng lao động của một quốc gia Biến năng suất nhân tố tổng hợp (TFPGR – Total factor productivity growth rate) thể hiện tăng trưởng của năng suất của các nhân tố sản xuất tổng hợp trong nền kinh

tế bao gồm năng suất sử dụng vốn, năng suất sử dụng lao động và năng suất sử dụng nguồn tài nguyên

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng công cụ Eview 5.0 để hồi quy kết quả các mô hình cần khảo sát Trong mô hình (1) chúng tôi thể hiện tác động của sự tương tác giữa FDI với độ sâu thị trường tài chính lên tăng trưởng của một quốc gia thông qua biến tương tác 𝐹𝐷𝐼

𝐺𝐷𝑃𝑖 ∗ 𝐹𝐼𝑁𝐴𝑁𝐶𝐸𝑖 thể hiện mức độ tương tác của FDI với độ sâu thị trường tài chính

Trang 12

Bên cạnh đó chúng tôi hồi quy kết quả mô hình (2) thể hiện tác động của FDI và sự tương tác của FDI với độ sâu thị trường tài chính lên tổng vốn đầu tư nội địa

Để kiểm nghiệm vai trò của FDI và thị trường tài chính trong việc làm gia tăng nhân tố tổng hợp trong nền kinh tế Việt Nam, nghiên cứu này tiến hành hồi quy sử dụng biến nguồn nhân lực như một biến phụ thuộc theo hồi quy sau:

(3) 𝐻𝐾𝑖 = 𝛼 + 𝛽1 𝐹𝐷𝐼

𝐺𝐷𝑃𝑖 + 𝛽2 𝐹𝐼𝑁𝐴𝑁𝐶𝐸𝑖 + 𝛽3 𝐹𝐷𝐼

𝐺𝐷𝑃𝑖∗ 𝐹𝐼𝑁𝐴𝑁𝐶𝐸𝑖 + 𝑋𝑖 + 𝜖𝑖

Kết quả mô hình (3) thể hiện ở bảng 6 cho ta thấy thấy FDI và độ sâu thị trường tài chính

ở Việt Nam có tác động không đáng kể lên tăng trưởng vốn nhân lực

Cuối cùng bài nghiên cứu tiến hành hồi quy với biến năng suất các nhân tố tổng hợp (TFPGr) để thấy được liệu rằng trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam thì FDI thông qua mức độ phát triển của thị trường tài chính có giúp tăng trưởng thông qua gia tăng trong năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) hay không theo mô hình hồi quy sau:

(4) 𝑇𝐹𝑃𝑔𝑟𝑜𝑤𝑡ℎ𝑖 = 𝛼 + 𝛽1 𝐹𝐷𝐼

𝐺𝐷𝑃 𝑖 + 𝛽2 𝐹𝐼𝑁𝐴𝑁𝐶𝐸𝑖 + 𝛽3 𝐹𝐷𝐼

𝐺𝐷𝑃 𝑖 ∗ 𝐹𝐼𝑁𝐴𝑁𝐶𝐸𝑖 + 𝑋𝑖 + 𝜖𝑖

Trang 13

Trong đó TFP Growth thể hiện cho tốc độ gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp với giả định thành phần phần trăm của lao động không đồi, dữ liệu này được tính dựa theo phương pháp hàm sản xuất Cobb-Doulag dựa theo bài nghiên cứu của Bernake và Gurkaynak (2001) với số liệu lực lượng lao động và tổng vốn đầu tư của Việt Nam trong

giai đoạn 1990-2010 Kết quả hồi quy của mô hình này trong bảng 7 cho thấy xét trong tương quan với độ sâu thị trường tài chính thì FDI và vốn nhân lực đều không có tác động đáng kể lên năng suất nhân tố tổng hợp Điều này cho thấy năng suất nhân tố tổng hợp không là kênh chính mà qua đó FDI thúc đẩy tăng trưởng ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu thực tế ở Việt Nam cho thấy rằng FDI không có tác động riêng lẻ đến tăng trưởng mà nó chỉ có tác động thật sự đáng kể nếu xét trong mối quan hệ tương tác với độ sâu của thị trường tài chính Tương tự, sự phát triển của thị trường tài chính đóng vai trò như là kênh dẫn truyền của FDI làm gia tăng tổng đầu tư nội địa và phát triển nguồn vốn nhân lực Thực tế ở Việt Nam lại cho thấy FDI không phải là yếu tố chính thúc đẩy năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế - đây là một kết luận phù hợp với những nghiên cứu gần đây đối với thị trường các nước mới nổi

6 Ý nghĩa khoa học của công trình

Về mặt lý thuyết, bài nghiên cứu này đã hệ thống và phân tích được mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng xem xét trong mối tương tác với độ sâu của thị trường tài chính Bên cạnh đó chúng tôi cũng hệ thống lại tác động của FDI lên các nhân tố tổng hợp và năng suất các nhân tố tổng hợp của một quốc gia thông qua tổng hợp một số nghiên cứu khoa học của các nhà kinh tế trên thế giới

Về mặt thực tiễn, chúng tôi đã đi sâu phân tích và hồi quy tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong đó có xem xét đến tác động tương tác của độ sâu thị trường tài chính và FDI lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam Hơn nữa, chúng tôi tiến hành hồi quy để xem xét tác động của FDI lên các nhân tố tổng hợp – vốn tài chính và vốn nhân lực, tác động của FDI lên năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) để biết FDI giúp Việt Nam tăng trưởng theo con đường nào Từ đó, các nhà hoạch định chính sách sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn về tác động và con đường tác động của FDI lên tăng trưởng từ đó

Trang 14

hoạch định một chính sách phát triển hợp lý giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững

7 Hướng phát triển của đề tài

Trong một phạm vi nào đó thì đề tài của chúng tôi còn chưa hoàn thiện và còn nhiều thiếu sót Ví dụ, trong nghiên cứu này chúng tôi chưa xem xét hết tác động của các nhân tố phản ánh độ sâu thị trường tài chính như nhân tố tỷ số tổng tài sản ngân hàng của Ngân hàng thương mại trên tài sản Ngân hàng Nhà nước Bên cạnh đó, trong quá trình tính toán nhân tố tổng hợp chúng tôi chưa xem xét được sự tăng lên về lượng của nhân tố tài nguyên và thể chế Vì vậy, kết quả hồi quy không thể hiện toàn diện tác động của FDI và vai trò của thị trường tài chính tăng trưởng thông qua sự tăng lên của nhân tố tổng hợp hay năng suất nhân tố tổng hợp Trong tương lai gần việc mở rộng đưa các biến về độ sâu thị trường tài chính và nhân tố tổng hợp vào mô hình và xem xét tác động của nhân tố thể chế là một hướng tiếp cận mới của đề tài

Trang 15

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 GIỚI THIỆU

Với tính chất tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế của nền tế thế giới hiện nay thì dòng vốn quốc tế đang ngày càng lưu chuyển mạnh mẽ với một lưu lượng và tốc độ ngày càng cao giữa các quốc gia Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thông qua đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia ngoài việc mang đến nguồn vốn cho nước nhận đầu tư, còn mang đến những quy trình khoa học công nghệ sản xuất mới, những quy trình kinh doanh mới hiệu quả cao, các quy trình quảng cáo tiếp thị mới, giúp nâng cao trình độ quản lý của bộ phận quản lý và tay nghề cũng như trình độ chuyên môn của người lao động ở nước nhận đầu tư Hiện tại các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển đang tích cực thay đổi thể chế và mở cửa để thu hút tối đa dòng vốn quốc tế này, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển ở Châu Á Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng quốc tế trên Những nhà nghiên cứu đưa ra lập luận rằng nhờ sự tăng lên đột biến của dòng vốn FDI từ giai đoạn 1986 (40 000USD) đến 1996 (2 395 000 000 USD) và ổn định tăng với mức 4% đến năm 2008, sau đó tạo sự đột biến năm 2008 với hơn 9 tỷ USD mà Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng nhanh vượt bậc trong những thập niên trở lại đây4.Tuy nhiên, một

số tranh cãi vẫn cho rằng nguổn gốc của tăng trưởng ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung không có nguồn gốc/ mối quan hệ sâu sắc với dòng vốn FDI đi vào trong nước Những tranh cãi này, mà tiêu biểu là Alfaro-Ozcan (2008) nghiên cứu thực nghiệm trên dữ liệu 72 quốc gia trên thế giới cho rằng chỉ có những quốc gia có thị trường tài chính phát triển mới tận dụng được hết những thuận lợi từ dòng vốn FDI để thúc đẩy tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp Nghiên cứu mới đây nhất ở Việt Nam của Hang (2010) lại chỉ ra rằng dòng vốn FDI ở Việt Nam có tác động thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ nhưng chỉ thông qua việc gia tăng lượng vốn trong nền kinh tế chứ không làm gia tăng năng suất lao động và vốn nhân lực thông qua đổi mới công nghệ, hay nói cách khác không giúp gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp Cũng theo Alfaro và Ozcan (2008), chỉ có con đường tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất của nhân tố tổng hợp mới giúp quốc gia tăng trưởng bền vững, những quốc gia nhận

4 Theo thống kê của World Bank, Việt Nam có mức tăng trưởng vượt bậc từ 3.81% năm 1985 đến 9.54% năm 1995 sau đó giảm dần và ổn định từ mức 6.78% năm 2010

Trang 16

đầu tư FDI và tăng trưởng thông qua gia tăng nhân tố tổng hợp gồm nguồn lực vốn và nhân lực thì dẫn tới tăng trưởng không bền vững vì sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình Vấn đề đặt ra ở đây là nếu nhìn từ góc nhìn hẹp thì Việt Nam vẫn hiện đang tăng trưởng dựa trên nguồn vốn FDI, vậy thị trường tài chính của Việt Nam có đủ mạnh để giúp cho nền kinh tế hấp thụ tốt nguồn vốn FDI to lớn và để thúc đẩy tăng trưởng? Và liệu FDI giúp Việt Nam tăng trưởng thông qua gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp hay thông qua gia tăng nhân tố tổng hợp vốn tài chính và vốn nhân lực? Bài nghiên cứu này tập trung làm rõ mối liên hệ giữa FDI với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: liệu sự gia tăng trong tốc độ tăng trưởng đến từ việc gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp, hay từ gia tăng các nhân tố tổng hợp? Đồng thời, bài nghiên cứu cũng đánh giá lại vai trò của thị trường tài chính trong việc hấp thụ FDI và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng

Nội dung còn lại của bài nghiên cứu được chia làm bốn phần sau đây:

Phần 2: Tóm lược lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về ba vấn đề nêu trên

Phần 3: Mô tả dữ liệu, thực hiện xử lý số liệu và hồi quy mô hình

Phần 4: Phân tích kết quả thực nghiệm của mô hình

Phần 5: Kết luận và hướng nghiên cứu mở rộng

2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

FDI có những tác động khác nhau lên từng quốc gia Do mỗi quốc gia lại có một tình hình phát triển của thị trường tài chính khác nhau cùng với sự khác biệt trong những nhân tố về nguồn nhân lực, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, dẫn đến hạn chế trong việc hấp thụ nguồn FDI của từng quốc gia và tác động của FDI lên sự phát triển của nền kinh tế cũng khác nhau giữa các quốc gia Phần tiếp theo đây của bài nghiên cứu tập trung giới thiệu những nghiên cứu nền tảng của các nhà kinh tế học quốc tế và trong nước về ba vấn

đề chính sau đây: mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng; tiếp theo là sự gia tăng trong tốc

độ tăng trưởng có nguồn gốc từ FDI sẽ đến từ việc gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp, hay từ gia tăng các nhân tố tổng hợp và cuối cùng là làm rõ vai trò của thị trường tài chính trong việc hấp thụ FDI của một quốc gia

Trang 17

Thứ nhất, mối quan hệ giữa dòng vốn FDI và tăng trưởng, liệu dòng vốn FDI có giúp thúc đẩy tăng trưởng hay không Những nghiên cứu lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm đưa ra những kết luận mâu thuẫn nhau về tác động của FDI lên tăng trưởng kinh

tế Tiêu biểu cho những nghiên cứu về mặt lý thuyết FDI và tăng trưởng là nghiên cứu của Kose (2006) và Gorg - Greenwood (2004) Kose (2006) kết luận rằng trên góc độ lý thuyết kinh tế vĩ mô thì các dòng vốn quốc tế có rất ít tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế, nhưng ông cũng thấy rằng yếu tố thể chế - đặc biệt là sự phát triển tài chính - đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI Gorg và Greenwood (2004) tiến hành những phân tích lý thuyết lại đưa ra kết luận rằng FDI hầu như tạo ra những tác động tiêu cực cho tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, những nghiên cứu thực nghiệm lại đưa ra nhiều kết luận trái ngược nhau về mối quan hệ giữa FDI và GDP Đầu tiên là một số nghiên cứu kết luận rằng FDI không có mối quan hệ rõ ràng và bền vững với tăng trưởng Lipsey (2002) thông qua những phân tích thực nghiệm ở tầm vĩ mô, đã chỉ ra rằng không

có một mối quan hệ bền vững giữa mức độ của dòng vốn FDI với GDP hay tăng trưởng Ông cũng cho rằng cần thêm nhiều nghiên cứu trong những điều kiện khác nhau về việc liệu FDI có tạo ra “hiệu ứng tràn”5-spillover effects- cho nền kinh tế hay không Hanson (2001) đã tiến hành những nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra bằng chứng cho thấy FDI đã không tạo những tác động rõ ràng thúc đẩy nền kinh tế phát triển Blomstrom và Kokko (2003) thì cho rằng FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế thông qua những hiệu ứng tràn do sự hoạt động của các tập đoàn đa quốc gia Ngoài ra, trong nghiên cứu thực nghiệm trên 72 quốc gia, Alfaro và Ozcan (2008) cũng đưa ra nhận định rằng những tác động tổng quan của FDI lên tổng sản lượng và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là không rõ ràng và không có tính trọng yếu

Cũng với những nghiên cứu ở tầm vĩ mô, những lý thuyết kinh tế đưa ra bằng chứng rằng FDI không tạo ra tác động ngoại sinh tích cực lên tăng trưởng kinh tế mà chỉ tác động tích cực lên điều kiện, môi trường và chính sách của nước sở tại, đáng chú ý như: môi trường

5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có thể tạo ra những chuyễn biến tích cực cho quốc gia nhâ ̣n đầu tư thông qua những kênh dẫn truyền tràn (spillover channel ) như thông qua chuyễn giao công nghê ̣ , chuyễn giao kĩ năng của người lao đô ̣ng, hành vi của cá nhân khi quan sát kinh nghiệm, quan hê ̣ đối tác giữa các doanh n ghiê ̣p trong nước và các tập đoàn đa quốc gia theo Blomstrom (1989).

Trang 18

thể chế theo Balasubramanayam và cộng sự (1996); nguồn nhân lực theo Borensztein và cộng sự (1998); thị trường tài chính, cấu trúc thị trường của quốc gia sở tại theo ACKS - Alfaro, Chanda, Kalemli Ozcan và Sakey (2004-2006); đặc điểm vùng theo Alfaro- Chartlon (2007) Liệu có phải chăng những tác động tích cực của FDI chỉ bao gồm những nhân tố nêu trên ở những điều kiện kinh tế nhất định và một số môi trường nhất định? Vậy qua kênh dẫn truyền nào mà FDI có thể đóng góp tích cực vào hiệu ứng tràn ở các quốc gia? Một số những nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành tìm kiếm sự hiện diện của những nhân tố ngoại sinh mà họ chưa nhận diện được nhưng có ảnh hưởng lên kênh dẫn truyền FDI Họ tập trung vào tìm kiếm những bằng chứng trực tiếp của những nhân tố ngoại sinh có tác động qua lại với nhau, chẳng hạn như sự xuất hiện của các tập đoàn đa quốc gia ở một quốc gia hay một vùng và sự gia tăng năng suất của các doanh nghiệp địa phương hay khu vực dịch vụ, phân phối và tiêu dùng của địa phương đó

Quan điểm thứ hai trong dòng tranh luận trên là FDI có quan hệ thuận với tăng trưởng, FDI giúp thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ ở các quốc gia nhận đầu tư Những nghiên cứu thực nghiệm đã đưa ra kết luận chung rằng FDI tạo ra những tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Một trong nghiên cứu gần đây nhất ở các nước Châu Á, trong năm 2011 của Zareen, Muhamad và Imran(2011) sử dụng dữ liệu cho 50 quốc gia Châu Á từ 2001- 2008, các ông đã đưa ra kết luận rằng FDI có mối quan hệ thuận chiều nhưng không bền vững với tăng trưởng, tuy nhiên FDI vẫn là nhân tố then chốt tạo sự tăng trưởng vượt bậc của một số nước có thị trường tài chính khá phát triển ở Châu Á như Trung Quốc, Singapor, Ấn Độ, Hàn Quốc… Hang (2010) với những nghiên cứu trên dữ liệu của 61 tỉnh thành ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2006 đã đưa ra kết luận rằng FDI là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển ở Việt Nam, tuy nhiên tăng trưởng này có nguồn gốc chủ yếu từ việc tăng nguồn vốn, không có nguồn gốc từ tăng trưởng trong nhân lực hay công nghệ, không có nguồn gốc từ gia tăng năng suất nhân tố tổng hợp Bài nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ giữa FDI và GDP nhằm hiểu rõ FDI đóng vai trò gì trong quá trình tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian từ 1990 đến 2010

Trang 19

Vấn đề kế tiếp mà bài nghiên cứu này muốn đề cập là vai trò của thị trường tài chính trong quá trình hấp thụ FDI của một quốc gia FDI có tác động khác nhau đến tăng trưởng của những quốc gia khác nhau liệu có phải do chất lượng của kênh dẫn truyền FDI ở mỗi quốc gia khác nhau? Tầm quan trọng của một thị trường tài chính phát triển đối với sự phát triển kinh tế đã được nhận ra và thảo luận trong nhiều bài nghiên cứu như cũng đã nêu phía trên Alfaro và các đồng sự (2000-2008), Zareen (2011) Và các nhà kinh tế học

đã chứng minh rằng một thị trường tài chính phát triển, bằng cách giảm chi phí giao dịch

và giảm bất cân xứng thông tin đã đảm bảo rằng vốn sẽ được phân phối vào những dự án của các lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi cao nhất và vì thế thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hơn thế nữa, theo McKinnon (1973) khẳng định rằng sự phát triển của thị trường vốn là “ điều kiện cần và đủ” thúc đẩy sự “tiếp thu và ứng dụng những khoa học kỹ thuật thực tiễn tiên tiến nhất và phát triển trong thực tế” Nói cách khác thì sự hạn chế trong việc gia nhập thị trường tín dụng đã cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp nội địa Nếu những tập đoàn đa quốc gia đang họat động trong quốc gia đó muốn chuyển giao khoa học công nghệ- một trong những nhân tố tạo nên hiệu ứng tràn công nghệ- mà thiếu vắng một thị trường tài chính phát triển thì các doanh nghiệp nội địa không có đủ nguồn lực tài chính

để tiếp cận và áp dụng những công nghệ sản xuất quản lý tiên tiến được chuyển giao Chính điều này sẽ làm hạn chế những lợi ích trước mắt và tiềm tàng mà quốc gia đó có thể đạt được từ nguồn FDI Những bài nghiên cứu trong giai đoạn từ năm năm 2004 -

2008 của ACKS, và nghiên cứu gần đây nhất năm 2008 của Alfaro và Ozcan (2008) dựa trên dữ liệu của 72 quốc gia từ 1975-1995, đã làm rõ hơn vấn đề này Các ông đưa ra kết luận thống nhất rằng thị trường tài chính phát triển, đặc biệt là sự phát triển đầy đủ các chức năng của các định chế tài chính trong thị trường đó, đóng vai trò là một kênh dẫn truyền quan trọng của FDI Các ông cũng nhấn mạnh rằng nếu thị trường và các định chế tài chính kém phát triển sẽ giới hạn khả năng của nền kinh tế trong việc tận dụng những tác động hiệu ứng tràn của FDI như đã lấy ví dụ ở trên Trong bài nghiên cứu của Zareen, Muhamad và Imran (2011) cũng đưa ra kết luận chung rằng chỉ có những đất nước có thị trường tài chính phát triển mới có khả năng hấp thụ tốt FDI để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Trang 20

Vấn đề thứ ba cần lưu tâm là việc đầu tư trực tiếp vào một quốc gia sẽ giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng năng suất nhân tố tổng hợp hay gia tăng nhân tố tổng hợp Năng suất nhân tố tổng hợp là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân

tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân, Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp phản ánh tốc độ tiến bộ khoa học công nghệ là chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh sự nhanh, chậm của tiến bộ khoa học công nghệ trong một thời gian nhất định Sự thật là hầu hết các quốc gia nhận nguồn vốn FDI, đều mong muốn nhận được những lợi ích đi kèm với chuyển giao nguồn vốn từ hiệu ứng tràn do FDI tạo ra như chuyển giao công nghệ kỹ thuật, kiến thức và đào tạo nguồn nhân lực Những hiệu ứng này có thể xảy ra thông qua việc chuyển giao kỹ thuật, giới thiệu quy trình kỹ thuật mới, kỹ năng quản lý, đào tạo nguồn nhân lực giúp nâng cao năng suất của các doanh nghiệp nội địa nhờ vào liên kết với tập đoàn đa quốc gia Chính những hiệu ứng tràn về công nghệ, trình độ lao động này góp phần nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp Bên cạnh đó, các quốc gia cũng mong chờ nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia sẽ đóng góp vào nhân tố tổng hợp FDI đầu tư vào một quốc gia ngoài việc đóng góp trực tiếp vào vốn vật chất/ tài chính, nó còn giúp thu hút đầu tư từ tiết kiệm nội địa, giúp gia tăng vốn đầu tư nội địa Bên cạnh đó, FDI đóng góp vào vốn nhân lực thông qua việc đào tạo làm tăng kỹ năng của người lao động, gia tăng số lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn

Đề cập tới vấn đề nhân tố tổng hợp – năng suất của nhân tố tổng hợp, Graham và Krugman (1991), Kindleberge (1969) and Lepsey (2002) chỉ ra rằng một trong những thất bại của các nhà đầu tư nước ngoài là do họ hướng đến việc đầu tư vốn thông qua mua cổ phần của những công ty nội địa, việc này đơn giản chỉ làm gia tăng nguồn vốn tài chính, một trong các nhân tố tổng hợp, bản thân năng suất nhân tố tổng hợp không thay đổi gì Thay vào đó, họ nên chuyển giao hoàn toàn vốn đầu tư vào một quốc gia thông qua nắm quyền điều hành một công ty nội địa Thông qua việc nắm quyền điều hành một công ty nội địa có tiềm năng, bên cạnh quyết định về mặt tài chính, họ có thể quyết định thay đổi công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực,… từ đó giúp nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm công ty và nâng cao giá trị công ty mà họ đang

Trang 21

sở hữu Việc đầu tư thông qua nắm quyền điều hành này không những có lợi cho những nhà đầu tư nước ngoài mà còn mang đến nhiều lợi ích cho nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư, nó không những trực tiếp làm gia tăng nhân tố tổng hợp là nguồn vốn và lao động

mà còn giúp gia tăng năng suất của nhân tố tổng hợp, trong đó gia tăng hiệu suất sử dụng vốn và trình độ nguồn lao động của một quốc gia thông qua đổi mới công nghệ cho quốc gia đó Một ví dụ minh họa rõ mối quan hệ giữa FDI và nhân tố tổng hợp là khi các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một quốc gia họ không những mang đến nguồn lực tài chính cho quốc gia đó mà họ đã có những nỗ lực không ngừng trong việc giáo dục đào tạo lực lượng lao động tại các quốc gia mà các tập đoàn này đặt nhà máy, công ty con Các tập đoàn đa quốc gia thường cung cấp nhiều khóa đào tạo kỹ thuật cho công nhân và nhà quản lý hơn là các công ty nội địa Những tập đoàn đa quốc gia này còn tham gia vào các

tổ chức giáo dục đào tạo hay các học viện ở nước sở tại nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công việc Ví dụ, Intel ở Costa Rica và Shell-BP ở Nigeria đã đóng góp rất nhiều về công nghệ, chương trình giảng dạy cũng như tài chính cho các trường đại học ở đây Ở Singapore, Hội đồng phát triển kinh tế cũng phối hợp với các tập đoàn đa quốc gia

để xây dựng các trung tâm và học viện đào tạo nhân lực nguồn cho họ Tuy nhiên, những phân tích thực nghiệm dữ liệu bảng (panel data) của Velde và Zenogiani (2007) khẳng định rằng FDI giúp nâng cao việc phát triển kỹ năng nhưng chỉ ở những quốc gia mà chính phủ có sự đầu tư giáo dục khá tốt

Bên cạnh đó, những nghiên cứu về tác động của FDI lên năng suất nhân tố tổng hợp còn cho những kết luận trái chiều cho rằng FDI không làm gia tăng năng suất của nhân tố tổng hợp Ví dụ, khi nghiên cứu dữ liệu ở Venezuela, Aitken và Harison (1999) đã chỉ ra rằng tác động ròng của FDI lên năng suất nhân tố tổng hợp – năng suất sản xuất ở Venuezuela

là khá nhỏ, đầu tư nước ngoài giúp gia tăng năng lực sản suất của những doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp nhận được nguồn vốn đầu tư này trong khi lại làm giảm năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nội địa Những nghiên cứu nội bộ ở các quốc gia được tiến hành bởi Borensztein, De Grgorio và Lee (1998) và Carkovic và Levine (2005)

sử dụng hồi quy tốc độ tăng trưởng của các quốc gia, cung cấp bằng chứng chứng tỏ rằng FDI là một biến ngoại sinh có tác động tích cực lên nền kinh tế Những bằng chứng thực nghiệm ở tầm vi mô thì đưa ra những kết luận chung chung và mơ hồ, mặc dù kết luận là

Trang 22

khá bi quan và đồng nhất ở các nước đang phát triển Gorg và Greenaway(2004) khẳng định rằng những doanh nghiệp nước ngoài và các công ty nước ngoài có tác động xấu lên những công ty nội địa, làm giảm năng lực sản xuất của các công ty nội địa

Sau khi hệ thống lại những tranh luận xoay quanh ba vấn đề trên, bài nghiên cứu này tập trung làm rõ thực tế tình hình đầu tư FDI ở Việt Nam có tác động mạnh mẽ và tích cực tới tăng trưởng thông qua gia tăng trong năng suất nhân tố tổng hợp hay thông qua nhân tố tổng hợp hay không Chúng tôi cũng muốn xác định rõ mối quan hệ của thị trường tài chính trong việc hấp thụ FDI trong điều kiện thị trường Việt Nam

3 DỮ LIỆU

Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy từ nguồn World Bank (WB) và đã được đối chiếu với số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam, trong trường hợp số liệu có mâu thuẫn, số liệu từ Tổng cục thống kê được ưu tiên sử dụng Chuỗi quan sát kéo dài từ năm 1990 đến năm 2010 Nghiên cứu này sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) và phần mềm thống kê Eviews 5.0 để tiến hành phân tích và hồi quy dữ liệu Trong trường hợp chuỗi dữ liệu bị thiếu một năm nào đó, chúng tôi sử dụng phương pháp bình quân để điều chỉnh sót biến Phương pháp này cho phép dữ liệu điều chỉnh mới không làm ảnh hưởng đến tính trọng yếu và độ tin cậy của kết quả mô hình

Chúng tôi liệt kê và định nghĩa tất cả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu này ở Phụ lục

A và dữ liệu của các biến từ 1990-2010 được trình bày trong Phụ lục B Riêng trong phần này, chúng tôi chỉ tập trung trình bày bốn biến/nhóm biến quan trọng nhất: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam (Growth), mức độ phát triển của thị trường tài chính (FINANCE), tốc độ tăng trưởng nhân tố tổng hợp (TFP)

FDI và tăng trưởng

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment): Biến đầu tư trực tiếp

nước ngoài trong bài nghiên cứu, được đo lường tỷ lệ FDI ròng trên GDI của nền kinh tế, thể hiện độ lớn của FDI so với GDP Theo báo cáo của WB, dòng FDI ròng được đo lường bằng dòng vốn đầu tư ròng đạt được mức tỉ suất sinh lợi cao và ổn định (10% hoặc

Trang 23

cao hơn tỷ suất sinh lợi đòi hỏi) vào một công ty hoạt động trong nền kinh tế bên ngoài quốc gia của nhà đầu tư Nó là tổng của vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, vốn dài hạn và vốn ngắn hạn được thể hiện ở cán cân thanh toán FDI gộp thể hiện tổng của giá trị tuyệt đối của dòng vốn vào trừ dòng vốn ra của đầu tư nước ngoài giai đoạn trước đó Mô hình của chúng tôi tập trung vào dòng vốn đi vào một quốc gia nên chúng tôi dùng dữ liệu FDI ròng cho mô hình này

Tăng trưởng kinh tế - Growth: trong bài nghiên cứu này được đại diện bằng biến tăng

trưởng thu nhập trên đầu người (GDP per capita growth rates) tính theo giá cố định (USD) vào thời điểm năm 2000

Mức độ phát triển của thị trường tài chính (FINANCE)

Để đo lường mức độ phát triển của thị trường tài chính theo lượng và chất chúng tôi sử dụng ba biến cơ bản sau để đại diện cho mức độ phát triển của thị trường tài chính Các biến này cũng được sử dụng trong các bài nghiên cứu của Alfaro-Ozcan (2008), King và Levine (1993a,b), Levine và Zervos (1998) và Lebine (2000)

Biến tổng nợ thanh khoản của thị trường tài chính (Liquidity– Liquid liabilities of the financial system) là thước đo thể hiện cơ cấu tài sản của bộ phận ngân hàng và tín dụng tư

nhân trên GDP, được tính bằng tổng tiền mặt và các khoản nợ có sinh lãi tại các chế định tài chính và phi tài chính trên cho GDP Biến tổng nợ thanh khoản của thị trường tài chính cung cấp một thước đo rộng nhất của khu vực tài chính bao gồm 3 loại trung gian tài chính: ngân hàng trung ương, tiền gửi ngân hàng và các định chế tài chính khác mà không phân biệt sự khác nhau về sở hữu giữa các chế định tài chính

Biến tín dụng ngân hàng (BANKCR) được tính bằng khoản tín dụng đến khu vực tư nhân

trên GDP, mà nguồn gốc của những khoản tín dụng này là từ tiền gửi tiết kiệm của khu vực tư nhân Biến này thể hiện rõ vai trò của thị trường tài chính là kênh dẫn truyền những tác động của hiệu ứng tràn từ đầu tư của tập đoàn đa quốc gia vào nền kinh tế Thị trường tài chính là nguồn cung cấp vốn cho những doanh nghiệp nội địa để có thể tận dụng được tất cả những lợi ích mà FDI mang lại từ hiệu ứng tràn qua áp dụng những chuyển giao khoa học công nghệ, kiến thức và trình độ nhân lực vào sản xuất

Biến tín dụng khu vực tư nhân (PrivCr) được tính bằng tổng các khoản tín dụng đến khu

vực tư nhân từ các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển và ngân hàng Trung ương

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mô tả dữ diệu - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính
Bảng 1. Mô tả dữ diệu (Trang 40)
Bảng 2. Hệ số tương quan giữa các biến - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính
Bảng 2. Hệ số tương quan giữa các biến (Trang 41)
Bảng 4. Tăng trưởng, FDI, thị trường tài chính, đầu tư và các tương tác khác - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính
Bảng 4. Tăng trưởng, FDI, thị trường tài chính, đầu tư và các tương tác khác (Trang 43)
Bảng 5. Đầu tư, FDI và thị trường tài chính - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính
Bảng 5. Đầu tư, FDI và thị trường tài chính (Trang 44)
Bảng 6. Vốn nhân lực, FDI và thị trường tài chính - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính
Bảng 6. Vốn nhân lực, FDI và thị trường tài chính (Trang 45)
Bảng 7. Năng suất các nhân tố tổng hợp, FDI và thị trường tài chính - Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế việt nam thông qua kênh dẫn truyền thị trường tài chính
Bảng 7. Năng suất các nhân tố tổng hợp, FDI và thị trường tài chính (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w