Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các nhân tố có ảnh hởng đến tăng tr-ởng kinh tế ở nớc ta nhng chủ yếu các nhà nghiên cứu quan tâm đến nhân tốcung đầu vào của quá trình tăng trởng nh nhâ
Trang 1Lời mở đầu
Tăng trởng kinh tế là một yêu cầu quan trọng của đời sống kinh tế - xãhội Hiện nay, cuộc chạy đua phát triển kinh tế và tạo ra những điều kiện đểnền kinh tế tăng trởng nhanh, bền vững đang trở thành mối quan tâm hàng đầucủa các quốc gia trên thế giới
Đối với các nớc đang phát triển, tăng trởng kinh tế luôn là mục tiêumang tính chiến lợc toàn diện của đờng lối, chính sách phát triển kinh tế – xãhội - vấn đề đặt ra nh một đòi hỏi sống còn của một đất nớc Tăng trởng kinh
tế với nhịp độ cao sẽ giúp cho các nớc đang phát triển giảm bớt khoảng cáchvới các nớc phát triển đồng thời góp phần giải quyết các vấn đề xã hội để đạt
đợc sự phát triển kinh tế và ổn định đất nớc
Đối với Việt Nam, quá trình toàn cầu hóa gia tăng mạnh mẽ trongnhững năm gần đây đã tác động sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam theo hớngchủ yếu là chuyển nền kinh tế nớc ta sang kinh tế thị trờng, mở cửa hội nhậpkinh tế khu vực và thế giới Việc thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế - xã hộibắt đầu từ Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (12-1986) đã mở rathời kỳ mới của phát triển kinh tế - xã hội Chặng đờng đổi mới 17 năm qua(1986-2002), nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những thành tựu to lớn, nổi bậtnhất là đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài từ cuối nhữngnăm 70; kinh tế tăng trởng với nhịp độ cao và liên tục; đời sống nhân dân từngbớc đợc cải thiện Tuy nhiên, sau 17 năm đổi mới đến nay, nền kinh tế nớc tavẫn còn ở trong tình trạng kém phát triển về nhiều mặt Chính vì vậy, chúng tacần tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế nhằm đa nớc ta bắt kịp các n-
ớc trong khu vực và trên thế giới
Để đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế phải xác định đợc các nhân tố
có ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế, từ đó có các chính sách, biện pháp tác
động phù hợp vào các nhân tố quyết định tăng trởng kinh tế Do vậy, việcnghiên cứu các nhân tố ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế có ý nghĩa rất quantrọng Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các nhân tố có ảnh hởng đến tăng tr-ởng kinh tế ở nớc ta nhng chủ yếu các nhà nghiên cứu quan tâm đến nhân tốcung (đầu vào) của quá trình tăng trởng nh nhân tố vốn, lao động, công nghệ;nhng xét trong ngắn hạn thì các nhân tố cầu lại có tác động mạnh mẽ đến tăng
Trang 2trởng kinh tế vì khi có cầu sẽ kích thích sản xuất để đáp ứng nhu cầu từ đó tạo
ra động lực cho sự tăng trởng kinh tế Nh vậy, để phân tích tăng trởng kinh tếthì việc nghiên cứu ảnh hởng của các nhân tố cầu đến tăng trởng kinh tế là rấtcần thiết
Nh chúng ta đã biết, mô hình tăng trởng kinh tế là một cách phát biểu
về mối liên hệ giữa các biến số kinh tế nhằm phác họa những mối quan hệnhân quả giữa các biến số trọng yếu thực tại để hiểu biết sâu sắc hơn về sự vận
động của nền kinh tế Điều quan tâm và có ý nghĩa nhất khi nghiên cứu môhình tăng trởng kinh tế là phải nắm đợc nhân tố quan trọng nhất trong số cácnhân tố quan trọng có ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế để từ đó tìm ra hớngtác động, khâu đột phá cho một quá trình tăng trởng kinh tế
Việc sử dụng các công cụ mô hình toán kinh tế và kỹ thuật phân tích sốliệu, tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề trên sẽ có ý nghĩa tích cực trong việcphân tích, đánh giá và nhận thức đầy đủ hơn về mô hình tăng trởng kinh tế ởViệt Nam trong thời gian qua để từ đó lựa chọn đợc mô hình tăng trởng kinh
tế phù hợp với điều kiện mọi mặt hiện nay góp phần lập kế hoạch phát triểnkinh tế đất nớc trong thời gian sắp tới
Trong thời gian thực tập tại Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân - Bộ Kếhoạch và Đầu t, nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề và đợc sự hớng dẫn, chỉbảo tận tình của thầy giáo: PGS.TS Nguyễn Quang Dong cùng với cán bộ h-ớng dẫn tại cơ quan thực tập: TS Lê Việt Đức đã tạo điều kiện cho em chọn
và nghiên cứu đề tài:
Các nhân tố ảnh h
“Các nhân tố ảnh h ởng đến tăng trởng kinh tế Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Bố cục của luận văn gồm 2 chơng lớn là:
Ch
ơng I: Khái quát nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
(1986-2002) và một số nhân tố cơ bản ảnh hởng đến tăng trởng kinhtế
Trang 3tốt nghiệp nh em, nên những thiếu sót trong luận văn này là không thể tránhkhỏi.
Em kính mong nhận đợc sự chỉ bảo, góp ý quý báu của các thầy, côgiáo và bạn đọc để bài viết đạt đợc chất lợng tốt hơn
Em xin trân trọng cảm ơn !
Sinh viênNguyễn Thị Kim Nhung
Trang 4Chơng I Khái quát nền kinh tế Việt Nam trong Thời kỳ đổi mới (1986-2002) và một số nhân tố cơ bản
ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế.
I Khái quát nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
từ năm 1986 đến nay
1 Sự phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua.
Từ thập niên 80, nền kinh tế Việt Nam đã bắt đầu có những đổi mớitrong nông nghiệp bằng những giải pháp khoán hộ, rồi đến những thay đổitrong chính sách giá - lơng - tiền, trong kế hoạch hoá Nhng những biện pháp
đổi mới trong thời kỳ này về cơ bản vẫn trong khuôn khổ của một nền kinh tế
kế hoạch tập trung Đến năm 1986, Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ
VI mới chính thức khẳng định phải xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, chuyểnsang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN
Từ đó quá trình đổi mới cũng đợc thúc đẩy theo các hớng: bỏ dần các chỉ tiêu
kế hoạch pháp lệnh, mở rộng quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp nhà
n-ớc, nới rộng phạm vi của các giá cả thị trờng, … Song phải từ năm 1989, công Song phải từ năm 1989, côngcuộc đổi mới kinh tế mới thực sự theo định hớng thị trờng, nền kinh tế ViệtNam đã chính thức chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang pháttriển kinh tế thị trờng và đây cũng là quá trình Việt Nam chuyển từ một nềnkinh tế đóng, chỉ quan hệ buôn bán với qui mô nhỏ theo kiểu hàng đổi hàng,với một số ít các nớc XHCN Đông Âu và Liên Xô cũ, sang một nền kinh tế
mở cửa và hội nhập, với số lợng bạn hàng ngày càng đa dạng và buôn bán dựatrên đồng tiền chuyển đổi Đến nay quá trình này vẫn đang tiếp diễn và pháttriển Chính trong quá trình này, nền kinh tế Việt Nam không chỉ có nhữngthay đổi lớn lao về lợng mà còn có những thay đổi cơ bản về chất
1.1 Thành tựu đạt đợc.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam trong 17 năm qua đã đạt đợc nhữngthành tựu to lớn có ý nghĩa quan trọng Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nớc(GDP) bình quân thời kỳ 1986-1990 là 4,45%; thời kỳ 1991-1996 là 8,38%;thời kỳ 1997-2002 là 6,57% Lạm phát giảm từ 774,6% năm 1986 xuống67,4% năm 1990; 12,7% năm 1995; -0,6% năm 2000; 4% năm 2002 Giá trị
đồng tiền Việt Nam ổn định trong suốt thập niên 90 tạo điều kiện cho các
Trang 5ngành, doanh nghiệp và hộ gia đình yên tâm đầu t mở rộng sản xuất, làm giầuchính đáng Năm 2001 là năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm 2001-2005, đồngthời cũng là năm tạo tiền đề vật chất và tinh thần triển khai thực hiện chiến lợcphát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 nên ngay từ đầu Chính phủ vàcác cấp, các ngành đã tích cực triển khai nhiều biện pháp cụ thể Nhờ vậy, tìnhhình kinh tế - xã hội năm 2001 đã diễn biến theo chiều hớng tích cực Tổngsản phẩm trong nớc năm 2001 tăng 6,89% so với năm 2000 và năm 2002 tăng7,04% so với năm 2001.
Qua những năm đổi mới, các ngành kinh tế đều khởi sắc và tăng trởngkhá:
Trong công nghiệp, Theo quyết định 217/HĐBT trao quyền tự chủ sảnxuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, thực hiện hạch toán kinh tế, lấy thu bùchi, xóa dần bao cấp, giảm bớt các chỉ tiêu pháp lệnh, khuyến khích các thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh mở rộng sản xuất để thu hút vốn đầu t pháttriển công nghiệp Nhờ đó, sản xuất công nghiệp liên tục phát triển ổn định vàtăng trởng với nhịp độ cao, bình quân thời kỳ 1991-1995 tốc độ tăng trởng giátrị sản xuất công nghiệp đạt 13,7%/năm; bình quân thời kỳ 1996-2000 đạt13,2%; năm 2001 tăng 14,2%, ớc tính năm 2002 giá trị sản xuất công nghiệptăng 14,5% so với năm 2001 Không chỉ tăng trởng cao mà trong sản xuấtcông nghiệp những năm cuối cùng của thập kỷ 90 đã xuất hiện xu hớng đangành, đa sản phẩm với sự tham gia của các thành phần kinh tế quốc doanh,ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI),trong đó doanh nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo
Thành tựu nổi bật và to lớn nhất của nông nghiệp trong những năm đổimới vừa qua là đã giải quyết vững chắc vấn đề lơng thực, đảm bảo an ninh l-
ơng thực quốc gia, biến Việt Nam từ một nớc thiếu lơng thực triền miên thànhnớc xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới liên tục từ năm 1989 đến nay Sản xuấtlơng thực tăng liên tục từ năm 1988 theo hớng năm sau cao hơn năm trớc vớitốc độ nhanh và khá vững Mỗi năm sản lợng lơng thực tăng 5% (1,3 triệu tấn)cao hơn tốc độ tăng dân số (1,8%) nên lơng thực bình quân nhân khẩu/nămcũng tăng dần: từ 280 kg năm 1987 lên 324 kg năm 1990; 372 kg năm 1995;
436 kg năm 2001 và 456 kg năm 2002 (nguồn số liệu trong niên giám thốngkê)
Trang 6Thị trờng hàng hoá và dịch vụ có khởi sắc trên phạm vi cả nớc, sức muacủa xã hội ngày càng tăng: năm 2000 đạt 200 nghìn tỷ đồng, tăng 94% so vớinăm 1995 (tính theo giá cố định năm 1994).
Hoạt động kinh tế đối ngoại có nhiều chuyển biến tích cực và ngàycàng khởi sắc, nhất là những năm gần đây Nếu kim ngạch xuất khẩu thời kỳ1981-1985 đạt bình quân 570 triệu USD/năm thì đến thời kỳ 1986-1990 đãtăng bình quân 1370 triệu USD/năm; 3401 triệu USD/năm thời kỳ 1991-1995
và 5646 triệu USD/năm thời kỳ 1996-2000 Riêng năm 1999, đạt 11,523 tỷUSD; năm 2000 đạt trên 14 tỷ USD; năm 2001 đạt trên 15 tỷ USD, tăng 4,5%
so với năm 2000 và năm 2002 ớc tính đạt 16,7 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm
2001, cao hơn hẳn tốc độ tăng 4,5% của năm 2001 (Nguồn số liệu trong niêngiám thống kê các năm) Đến nay, nớc ta đã có quan hệ thơng mại với trên
150 quốc gia và vùng lãnh thổ Nhiều hàng hoá mang nhãn hiệu “Các nhân tố ảnh hmade in ViệtNam” đã có mặt trên thị trờng thế giới với số lợng ngày càng nhiều, chủngloại phong phú và chất lợng ngày càng tiến bộ
Hoạt động đầu t nớc ngoài bắt đầu sôi động từ năm 1988 với 37 dự án
và 371,8 triệu USD vốn đầu t; 288,4 triệu USD vốn pháp định Năm thu hútvốn đầu t nớc ngoài nhiều nhất là năm 1996 với 8497,3 triệu USD, 325 dự án
Đến cuối năm 2000, cả nớc có khoảng 3000 dự án của 700 doanh nghiệpthuộc 62 nớc và vùng lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký là 36 tỷ USD, vốn thựchiện 16,89 tỷ USD (cha tính liên doanh dầu khí Việt Xô) Khu vực kinh tế cóvốn đầu t nớc ngoài đã nộp ngân sách 1,52 tỷ USD, tạo ra hơn 21,6 tỷ USDhàng hoá xuất nhập khẩu, giải quyết việc làm cho 32 vạn lao động trực tiếp vàhơn 1 triệu lao động gián tiếp, nhất là trong ngành xây dựng Nguồn vốn FDIcùng với nguồn vốn tài trợ ODA đã giải ngân 7 tỷ USD và đã trở thành nguồnvốn lớn của nền kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển và tăng trởng ổn định củacác ngành sản xuất và dịch vụ Năm 1999, khu vực FDI đã tạo ra 10,7% GDP;25% giá trị xuất khẩu, góp phần quan trọng để phát huy nội lực của toàn nềnkinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia trong điều kiện hợp pháp và mở cửa
Các ngành dịch vụ nh thơng mại, khách sạn, du lịch, vận tải, vv… Song phải từ năm 1989, công ớc tr
đây cha đợc coi trọng đúng mức, đến những năm 90 đã dần dần đợc mở mang
và phát triển
Trang 7Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch tích cực Từ năm 1986 đến năm
2002, tỷ trọng nông - lâm - thuỷ sản trong GDP đã giảm từ 38,06% xuống22,99% trong khi tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ đã tăng trởng tơng ứng
từ 28,88% lên 38,55% và từ 33,06% lên 38,46% Sự hình thành và phát triểncủa 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền Bắc, Trung, Nam và 68 khu côngnghiệp, khu chế xuất đã là những mô hình mới và là điểm sáng trong bứctranh kinh tế nớc ta, góp phần quan trọng thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trởng vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tiến bộ
Sản xuất phát triển, giá cả hàng hoá và dịch vụ ổn định nên đời sốngdân c ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung đều đợc cải thiện Do thu nhậptăng nên tỷ lệ hộ nghèo ở nớc ta theo chuẩn của Ngân hàng thế giới đã giảm từ37% năm 1998 xuống còn 32,5% đầu năm 2002, trong đó nghèo lơng thựcthực phẩm giảm từ 15% xuống còn 13,2% Với kết quả này, trong báo cáomới đây của mình, chơng trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã xếp ViệtNam vào những quốc gia dẫn đầu các nớc đang phát triển về thành tích xoá
đói giảm nghèo
2000 đến nay tốc độ tăng GDP đã liên tục phục hồi, đến năm 2002 đạt 7,04%.Khu vực kinh tế nhà nớc tăng trởng không ổn định và có xu hớng chậm dần.Tốc độ tăng GDP của khu vực này năm 1995 là 9,4% đến năm 1999 đã giảmmạnh còn 2,6% và đến năm 2001 lại tăng phục hồi đạt 7,8% tăng 0,1% so vớinăm 2000 Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài cũng tăng chậm: đạt tốc độtăng GDP 15% năm 1995; 17,6% năm 1999 nhng đến năm 2000 đã giảm còn11,4% và năm 2001 lại tiếp tục giảm xuống còn 7,5% Ngợc lại khu vực kinh
tế t nhân lại có xu hớng tăng lên với tốc độ tăng GDP năm 1999 là 3,2% thì
Trang 8năm 2000 đã tăng lên 8,1% và năm 2001 đạt 12,9% (Nguồn số liệu trong niêngiám thống kê qua các năm).
Thứ hai: Sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ nói chung còn thấp,cha đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng trong nớc và xuất khẩu Nguyên nhân chủyếu là do máy móc thiết bị cũ, tốc độ đổi mới chậm, việc đa tiến bộ kỹ thuậtmới vào sản xuất cha đồng bộ Các doanh nghiệp và ngời lao động chỉ mớiquan tâm nhiều đến các chỉ tiêu số lợng, cha chú ý đến chất lợng và giá cả.Theo đánh giá của BMI về độ rủi ro của Việt Nam: thâm hụt tài khoản vãnglai của Việt Nam đang tăng lên, điều đó có nghĩa là điểm xếp hạng kinh tếngắn hạn của Việt Nam tụt từ 49 xuống 48 xếp thứ 64 trong khu vực châu á,
điểm xếp hạng về môi trờng kinh doanh của Việt Nam đạt 35,3 đứng thứ 77 sovới các nớc trong khu vực châu á
Mặt khác, đầu ra của nhiều sản phẩm công, nông nghiệp không ổn định,tình trạng tồn đọng nhiều hàng hoá diễn ra khá phổ biến, rõ nhất là xi măng,sắt thép, giấy, đờng, gạo, cà phê, rau quả và gần đây là hàng điện tử, ô tô, xegắn máy (lắp ráp), tình hình tơng tự cũng diễn ra đối với các ngành dịch vụ,
du lịch nên tiềm năng cha đợc khai thác hợp lý
Thứ ba: Xu hớng giảm phát xuất hiện và kéo dài trong nhiều năm gần
đây, nhất là 3 năm cuối cùng của thập niên 90 Nếu nh 10 năm đầu của sựnghiệp đổi mới (1986-1995) kiềm chế lạm phát là một thành tựu nổi bật củanền kinh tế nớc ta: chỉ số lạm phát từ 774,6% năm 1986 giảm xuống còn67,4% năm 1990 và 12,7% năm 1995, thì từ năm 1999 đến năm 2001 lại xuấthiện xu hớng giảm phát đáng lo ngại: chỉ số lạm phát của năm 1999 là 0,1%;năm 2000 giảm xuống đến -0,6%; năm 2001 tăng nhích lên đến 0,8% và năm
2002 đạt 4% Xu hớng này thể hiện rõ nét nhất trong những loại hàng hoá nhlơng thực, thực phẩm làm cho thu nhập của nông dân và sức mua ở thị trờngnông thôn giảm sút một cách tơng đối Đối với nớc ta, gần 88% dân số sống ởnông thôn thì xu hớng trên đây là rất đáng lo ngại và trở thành những yếu tốhạn chế tốc độ tăng trởng kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng
Thứ t: Tình trạng lao động thừa, việc làm thiếu vẫn còn phổ biến ở cảhai khu vực thành thị và nông thôn, chất lợng lao động thấp Tỷ lệ thất nghiệpcủa lao động thành thị trong độ tuổi đã tăng từ 5,88% năm 1996 lên 7,4% năm1999; 6,44% năm 2000 và năm 2002 là 6,01% giảm 0,27% so với năm 2001
Trang 9ở khu vực nông thôn tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn năm 2002 là75,3% tăng 0,9% so với năm 2001, do đó có gần 30% thời gian lao động thiếuviệc làm, số lao động d dôi hàng năm lên tới 7 - 8 triệu ngời, trong khi đó qũy
đất nông nghiệp bình quân đầu ngời giảm dần do quá trình đô thị hóa, côngnghiệp hóa và tốc độ tăng tự nhiên của dân số còn cao, ngành nghề dịch vụphi nông nghiệp phát triển chậm Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến xu hớngphát triển các tệ nạn xã hội và di dân tự do ở nhiều vùng, địa phơng Phân tầng
về đời sống và thu nhập giữa nông thôn với thành thị và phân hóa giầu nghèotrong nội bộ dân c ngày càng có xu hớng doãng ra: thu nhập bình quân đầungời một tháng ở nông thôn là 141100 đồng năm 1994; đến năm 1999 tănglên là 225000 đồng; trong khi đó ở thành thị, thu nhập bình quân đầu ngời mộttháng đạt 359700 đồng năm 1994 và đến năm 1999 đã tăng lên 832500 đồng(số liệu từ niên giám thống kê)
Thứ năm: Môi trờng sinh thái có chiều hớng suy giảm trong quá trìnhphát triển kinh tế bao gồm cả môi trờng không khí, đất, nớc, rừng, biển, sôngngòi ở cả thành thị và nông thôn Cùng với quá trình đô thị hóa, công nghiệphóa và hóa học hóa, nhiều loại rác và chất thải công nghiệp chứa chất độc hạicho sức khoẻ con ngời tăng lên đều đợc xả trực tiếp vào môi trờng Nguyênnhân trớc hết là do Luật bảo vệ môi trờng cha thực sự đi vào cuộc sống, nhiềungành, địa phơng và hộ gia đình cha quan tâm đến yếu tố môi trờng trong pháttriển sản xuất và tăng trởng kinh tế; các doanh nghiệp và ngời sản xuất chỉquan tâm đến lợi ích trớc mắt về kinh tế, ít quan tâm đến lợi ích lâu dài về mặtxã hội, môi trờng và nhất là sức khỏe cộng đồng
Những yếu tố hạn chế trên đây tuy còn nhiều, song không phải là cơbản Đó chỉ là những vấp váp khó có thể tránh khỏi của một nớc tiến hànhcông nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện điểm xuất phát thấp, ảnh h-ởng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung còn nặng nề Tuy nhiên, so với nhữngthành tựu to lớn và quan trọng đã đạt đợc, những yếu kém trên đây chỉ là thứyếu và hoàn toàn có thể khắc phục hoặc hạn chế bằng hệ thống các giải pháptích cực và đồng bộ của các ngành, các cấp từ Trung ơng đến địa phơng, theophơng châm tiếp tục đổi mới toàn diện và sâu sắc các chính sách vĩ mô củanhà nớc, đi đôi với việc phát triển nội lực của mọi thành phần kinh tế vì mụctiêu “Các nhân tố ảnh hdân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Trang 10Tóm lại, sự phát triển kinh tế - xã hội nớc ta trong những năm đổi mới
vừa qua đã đạt đợc những thành tựu quan trọng và tích lũy đợc nhiều kinhnghiệm qúy báu, đặc biệt với tiềm năng trí tuệ và sáng tạo to lớn của con ngờiViệt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể tin tởng rằng tơng lai phát triển kinh tế -xã hội của nớc nhà trong thế kỷ XXI là sáng sủa và Việt Nam có nhiều khảnăng cơ bản trở thành một nớc công nghiệp vào năm 2020
2 Đóng góp của các nhân tố tiêu dùng, đầu t, xuất nhập khẩu vào tăng trởng kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
2.1 Bản chất của tăng trởng kinh tế.
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều hớng tới mục tiêu phấn đấu cho
sự tiến bộ của quốc gia mình Trong đó tăng trởng kinh tế là một trong những
điều kiện cần thiết nhất để đạt đợc sự tiến bộ đó Vậy tăng trởng kinh tế là gì?Khái niệm tăng trởng nói chung đợc dùng để chỉ sự lớn lên, tăng thêm về quymô của một hiện tợng hay một “Các nhân tố ảnh hhệ thống” nào đó Có thể hiểu tăng trởng kinh
tế theo nghĩa rộng là sự tăng thêm (gia tăng) về quy mô sản lợng của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả đợc tạo ra bởi tất cả các hoạt
động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế Theo ý nghĩa đó, tăng trởng kinh
Tuy nhiên, tăng trởng kinh tế là vấn đề đợc xét trong dài hạn Do đó cácnhà kinh tế thờng cho rằng: tăng trởng kinh tế chính là sự gia tăng của sản l-ợng tiềm năng Theo quan điểm này, chỉ trên cơ sở tăng thêm đợc năng lựcsản xuất thì nền kinh tế mới có thể sản xuất đợc mức sản lợng cao hơn so vớitrớc
Đối với các nớc đang phát triển, thông thờng, các nguồn lực sẵn có còncha đợc sử dụng một cách tối u do trình độ quản lý yếu kém và do méo mótrong cơ chế thị trờng,… Song phải từ năm 1989, công Chính vì vậy, để đạt đợc mục tiêu tăng trởng kinh tế,
Trang 11các nớc đang phát triển cần phải sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn
có đồng thời phải sử dụng thêm các nguồn lực mới nh thu hút thêm vốn đầu tnớc ngoài, nhập công nghệ mới cho quá trình sản xuất,… Song phải từ năm 1989, công từ bên ngoài
Nh vậy, sử dụng tối u các nguồn lực hiện có cũng nh các nguồn lựcmới có ý nghĩa quan trọng để đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế nhất làtrong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới thực hiện công nghiệp hóa và hộinhập với thế giới
Có nhiều chỉ tiêu đo lờng sự tăng trởng nhng trong khuôn khổ của đề tài
em dùng chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nớc (GDP) GDP là chỉ tiêu tổng hợpphản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh của nềnkinh tế trong một thời kỳ nhất định (thờng là 1 năm) Nó chính là toàn bộ sảnphẩm và dịch vụ mới đợc tạo ra trong năm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Để đánh giá tăng trởng kinh tế có thể đánh giá cả về mặt tuyệt đối lẫn tơng
đối
Về mặt tuyệt đối, mức tăng trởng kinh tế đợc xác định bằng hiệu số(mức chênh lệch) về giá trị tổng sản phẩm trong nớc của nền kinh tế của nămsau so với năm trớc
Về mặt tơng đối, tốc độ tăng trởng kinh tế (tỷ lệ tăng trởng kinh tế) đợc
đo bằng tỷ lệ giữa mức tăng trởng kinh tế năm nay và giá trị tổng sản phẩmtrong nớc của nền kinh tế ở năm trớc
Nguồn số liệu: Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2002-2003.
Đồ thị 1: Tỷ lệ tăng tr ởng GDP qua các năm (%)
9.54 9.34
8.15 5.76 4.77 6.79 6.89
7.04 8.83
8.08 8.70 5.81 5.09 4.68
6.01 3.63 2.84
Trang 12Đánh giá quá trình tăng trởng kinh tế ở nớc ta trong thời kỳ đổi mớithông qua chỉ tiêu tỷ lệ tăng trởng GDP đợc thể hiện trên đồ thị 1.
Nhìn vào đồ thị 1, có thể thấy trong mỗi giai đoạn, tỷ lệ tăng trởng GDP
đều có xu hớng tăng, giảm rất rõ rệt, không có độ dao động lớn so với xu thế:nếu nh tỷ lệ tăng trởng GDP năm 1986 chỉ là 2,84%; năm 1988: 6,01%; năm1989: 4,68% thì đến năm 1992 tăng lên tới 8,7%; tốc độ tăng trởng GDP bìnhquân thời kỳ 1991-1995 đạt 8,18%/năm, cao nhất kể từ trớc tới nay; đáng tiếc
là sau đỉnh cao năm 1995 đạt 9,54%, từ năm 1996, tỷ lệ tăng trởng GDP đãliên tục giảm sút đến mức thấp nhất là 4,77% năm 1999 , từ năm 2000 đếnnay con số này đã tăng phục hồi và đạt 7,04% năm 2002
Nhìn chung nền kinh tế nớc ta, sau những khó khăn trong giai đoạn1989-1990 do tác động đồng thời của nhiều yếu tố, trong đó đáng kể nhất làhậu quả kéo dài của nhiều cuộc khủng hoảng lạm phát - phá giá thời kỳ 1985-
1988 và cắt giảm viện trợ của khối Liên Xô cũ, từ năm 1991, nhất là từ năm
1992 đến năm 1995-5996, nền kinh tế Việt Nam đã thực sự đi vào qũy đạophát triển theo kinh tế thị trờng và đạt đợc tỷ lệ tăng trởng ngày càng cao; tiếp
đến là chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á năm1997-1998 nên tăng trởng GDP đã giảm liên tục, đến năm 1999 tỷ lệ này chỉcòn xấp xỉ mức tăng của năm 1989; sau đó từ năm 2000 đến nay, do có cácchính sách điều chỉnh vĩ mô của nhà nớc tỷ lệ này đã phục hồi trở lại Do xuthế phát triển khá ổn định nên có thể đa ra giả thuyết là quá trình tăng trởngkinh tế nớc ta trong khoảng gần 2 thập kỷ gần đây mang tính chất cơ cấu chứkhông phải chỉ là tình thế tạm thời
Xu hớng biến động của quá trình tăng trởng GDP không chỉ diễn ratrong toàn nền kinh tế mà còn diễn ra ở cấp các ngành kinh tế vĩ mô Bảng 1 là
số liệu về tốc độ tăng GDP phân theo ngành kinh tế và cơ cấu GDP của ViệtNam qua các năm
Bảng 1: Tốc độ tăng và cơ cấu GDP (%)Năm Tốc độ tăng GDP (giá so sánh ) Cơ cấu GDP ( giá thực tế )
Trang 13số
lâm nghiệp- thuỷ sản
Nông-Công nghiệp – xây dựng
Dịch vụ
Tổng số
lâm nghiệp- thuỷ sản
Nông-Công nghiệp – xây dựng
Dịch vụ
Đồ thị 2 cho thấy, trong giai đoạn 1986-1990, tỷ lệ tăng trởng giá trị giatăng của nông nghiệp (bao gồm cả nông-lâm nghiệp-thủy sản) và tăng trởngchung của toàn nền kinh tế không diễn ra cùng xu thế; trong giai đoạn 1990-
1998, tỷ lệ tăng trởng chung của toàn nền kinh tế với tỷ lệ tăng trởng giá trịgia tăng của nông nghiệp có mối quan hệ khá chặt, riêng năm 1992, do sảnxuất nông nghiệp có bớc tăng trởng đột biến so với xu thế chung của thời kỳ1989-1995 (nhờ thời tiết thuận lợi) nên tỷ lệ tăng trởng chung của toàn nềnkinh tế cũng tăng đột biến theo, nhng mức độ đột biến của toàn nền kinh tếthấp hơn do sự phát triển chậm lại của khu vực dịch vụ; tuy nhiên, trong cácnăm 1999-2002 tiến triển của nông nghiệp đã không cùng xu thế với tiến triểnchung của toàn nền kinh tế tơng tự nh giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới
Đối với ngành công nghiệp (kể cả xây dựng), đồ thị 2 cho thấy, xu thếtăng, giảm giá trị gia tăng của công nghiệp rất rõ rệt: trong giai đoạn đầu củathời kỳ đổi mới, tăng trởng GDP của công nghiệp liên tục giảm đến mức thấpnhất –2,59% vào năm 1989; từ năm 1990 đến nay nhìn chung tiến triển củacông nghiệp rất tơng đồng với tiến triển chung của toàn nền kinh tế; đặc biệt
là từ sau mức tăng trởng âm năm 1989, tỷ lệ tăng trởng giá trị gia tăng của
Trang 14công nghiệp đợc phục hồi rất nhanh trong giai đoạn đầu thập kỷ 90 và lên đến
đỉnh cao nhất vào năm 1996 Nguyên nhân chính có đợc kết quả này là do sảnxuất công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào khối lợng vốn đầu t trong khi tốc độtăng trởng vốn đầu t trong công nghiệp tăng lên rất nhanh trong nửa đầu thậpniên 90 và đầu t vào công nghiệp có ảnh hởng tới sản xuất của ngành với thờigian trễ khoảng từ 1 đến 2 năm
Khu vực dịch vụ cũng có bớc phát triển tơng tự nh các ngành nôngnghiệp và công nghiệp Tuy nhiên, nh đồ thị 2 đã chỉ ra, tỷ lệ tăng trởng giá trịgia tăng của dịch vụ có xu hớng tăng mạnh, năm 1989 có biến động nhỏ rồilại tăng lên đạt mức cao nhất là 10,19% vào năm 1990 sau đó tỷ lệ này đã liêntục đợc duy trì ở mức khá cao trong suốt thời kỳ từ năm 1991 đến năm 1996
Tỷ lệ tăng trởng giá trị gia tăng của dịch vụ đã đạt đợc mức đặc biệt cao ngaytrong giai đoạn đầu cải cách chủ yếu là nhờ cải cách đã cho phép tự do hóakhu vực dịch vụ, phát triển mạnh khu vực kinh tế thị trờng, tạo ra nhiều cơ hộicho dịch vụ phát triển trong khi cạnh tranh của nớc ngoài đối với hoạt độngcủa khu vực này hầu nh không có Trong những năm tiếp theo biến động củakhu vực dịch vụ không khác gì so với biến động chung của toàn nền kinh tế
Trang 15Nh vậy, quá trình tăng trởng của toàn nền kinh tế nớc ta nói chung và
của các ngành sản xuất gộp nói riêng trong thời kỳ đổi mới diễn ra khá ổn
định và đã tạo ra những thay đổi đáng kể về mặt cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quátrình công nghiệp hóa đất nớc Đồ thị 2 cho thấy, tỷ lệ tăng trởng của toàn nềnkinh tế phục hồi từ năm 2000 đến nay là dựa trên sự phục hồi sản xuất côngnghiệp và đặc biệt là dịch vụ, những biến động gần đây càng cho thấy tăng tr-ởng chung của toàn kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tăng trởng của hai khu vựcnày
2.2 Tính các chỉ tiêu đóng góp vào quá trình tăng trởng kinh tế.
Để phân tích quá trình tăng trởng kinh tế cũng nh phân tích sự đóng gópcủa các nhân tố vào qúa trình tăng trởng kinh tế nớc ta trong thời kỳ đổi mới,nhất là trong những năm gần đây, có thể đi theo tiếp cận tiêu dùng trong cân
đối tài khoản quốc gia Theo cách tiếp cận này, tổng cung bao gồm sản xuấttrong nớc phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng (GDP) và nhập khẩu hàng hóa vàdịch vụ; tổng cầu bao gồm cầu trong nớc và cầu xuất khẩu, trong đó cầu trongnớc bao gồm 3 bộ phận cấu thành là tiêu dùng cuối cùng của dân c, tiêu dùngcuối cùng của Chính phủ và tích luỹ tài sản (đầu t) Nếu dự trữ không đổi, giả
Trang 16sử là bằng không thì tổng cung sẽ luôn bằng tổng cầu, từ đó ta có quan hệ
đồng nhất thức sau:
GDP + M = C + I +X Hoặc GDP = C +I +X - M
Trong đó GDP là tổng sản phẩm trong nớc; C là tiêu dùng cuối cùngbao gồm tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng Chính phủ; I là tích luỹ tài sản hay
đầu t; X là xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; M là nhập khẩu hàng hóa và dịchvụ
Cân bằng trên đợc thực hiện đồng thời theo giá hiện hành và giá so sánh(giá cố định) Trong bài viết này sử dụng giá cố định năm 1994 để phân tích
và trong quá trình tính toán thờng có những điểm cha khớp nhau nên có thể cónhững sai số nhất định
Bảng 2 trình bầy những số liệu cơ bản của bảng cân đối nguồn - sửdụng GDP từ năm 1986 đến năm 2002 theo giá cố định năm 1994 và đónggóp của từng yếu tố thành phần tới tỷ lệ tăng trởng GDP hàng năm Trongbảng có 3 khối chỉ tiêu đợc tính toán nh sau:
- Các chỉ tiêu trong khối: “Các nhân tố ảnh hTốc độ tăng trởng hàng năm của các nhântố” đợc tính theo công thức:
*100
)1(
)1()(
t Y
t Y t Y
Với Y là từng chỉ tiêu tơng ứng trong bảng Ví dụ Y có thể là GDP, tiêudùng, tích lũy, xuất khẩu, nhập khẩu,… Song phải từ năm 1989, công và t là chỉ số thời gian
- Các chỉ tiêu trong khối: “Các nhân tố ảnh hĐóng góp vào tăng trởng GDP (tỷ lệ tuyệt
đối)” đợc tính theo công thức:
* 100
) 1 (
) 1 ( )
t Y t Y
Trong đó GDP 1) là giá trị tổng sản phẩm trong nớc thời kỳ (năm) 1) và Y cũng tơng ứng với từng chỉ tiêu trong bảng
Trang 17(t-Các chỉ tiêu trong khối: “(t-Các nhân tố ảnh hĐóng góp vào tăng trởng GDP (Tỷ lệ tơng đối,
% của tỷ lệ tăng trởng GDP)” đợc tính theo công thức:
* 100 ( )
) 1 (
) 1 ( )
t GDP
t Y t
Trang 192.3 Các nhân tố đóng góp vào tăng trởng kinh tế ở Việt Nam
2.3.1 Nhân tố tiêu dùng.
Nh chúng ta đã biết, sản xuất là hoạt động có mục đích của con ngờinhằm tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cuốicùng của toàn xã hội và đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, nhng trong ngắn hạn cácnhân tố đầu vào của quá trình sản xuất nh vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuậtkhông thể thay đổi đợc nhanh chóng trong khi những biến động của cầu lại có
ảnh hởng rất lớn tới điều chỉnh sản xuất và tạo ra quá trình ổn định kinh tế vĩmô, do vậy các chính sách tác động vào cầu đợc coi là những chính sách điềuchỉnh ngắn hạn Những năm gần đây các nhân tố cầu ngày càng đóng vai tròquan trọng đối với tăng trởng kinh tế Việt Nam
ở Việt Nam, tiêu dùng là thành phần quan trọng nhất trong tổng cầu vì
nó luôn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, tuy nhiên vai trò của tiêu dùng cũng đãgiảm dần trong giai đoạn đổi mới: từ chỗ chiếm tỷ trọng 80,5% trong tổng cầunăm 1986, đến năm 1990 đã giảm xuống còn 70,2%, năm 1995 còn chiếm56% và đến năm 2002 chỉ còn 44,4%; ngợc lại vai trò của xuất khẩu lại tănglên mạnh mẽ: năm 1986 xuất khẩu chiếm tỷ trọng 7,5% trong tổng cầu, đếnnăm 1990 nó đã chiếm đến 17,8% và nó liên tục tăng lên đạt tỷ trọng 25,2%
và 35,4% tơng ứng với năm 1995 và năm 2002; phần còn lại trong tổng cầu lànhân tố đầu t cũng chiếm tỷ trọng ngày càng cao tơng ứng với các năm làchiếm 12%; 12%;18,8% và 20,2% (nguồn số liệu tính toán từ bảng 2)
Nhìn vào chỉ tiêu tốc độ tăng trởng hàng năm của các nhân tố ta thấy tỷ
lệ tăng trởng của tổng tiêu dùng xã hội từ năm 1987-1993 tơng đối thấp: trungbình khoảng 3,6%/năm nhng thời kỳ 1994-1996 tỷ lệ này tăng lên rất nhanh
và đạt tốc độ tăng trởng cao nhất là 8,92% vào năm 1996 Tuy nhiên từ năm
1997 lại có xu hớng giảm mạnh: tỷ lệ tăng trởng của tổng tiêu dùng xã hội chỉcòn 1,79% vào năm 1999, thấp hơn cả trớc năm 1993 và 3 năm gần đây đãphục hồi trở lại đạt tốc độ tăng là 7% năm 2002
Về mặt cơ cấu thì đáng chú ý là tốc độ tăng trởng tiêu dùng của Chínhphủ liên tục tăng cao hơn hẳn so với tốc độ tăng trởng tiêu dùng của dân ctrong suốt thời kỳ 1987-1995 làm cho tỷ trọng tiêu dùng của Chính phủ liêntục tăng nhanh, nhng từ năm 1996 xu hớng hoàn toàn đảo ngợc: tốc độ tăng tr-
Trang 20ởng tiêu dùng dân c lại cao hơn tốc độ tăng trởng tiêu dùng chính phủ, đặcbiệt năm 1999 tiêu dùng Chính phủ lại giảm so với năm 1998 tức là tỷ lệ tăngtrởng âm: -5,7% và sau đó vai trò của tiêu dùng Chính phủ lại tăng lên mạnh
mẽ trong 3 năm 2000-2002 đạt tốc độ tăng trung bình 5,7%/năm Năm 2002,tiêu dùng của dân c đã có bớc phát triển đầy ấn tợng với tỷ lệ tăng trởng đạt7,17% tăng 2,76% so với tỷ lệ tăng của năm 2001 là 4,41% Sự bùng nổ củatiêu dùng dân c vừa qua là do nhiều nguyên nhân trong đó quan trọng nhất cóthể kể đến là thu nhập của các tầng lớp dân c đều tăng lên và tỷ lệ thất nghiệpgiảm xuống đặc biệt là thu nhập của khu vực dân c ở nông thôn đã tăng lên rõrệt nhờ sản xuất nông sản đợc mùa và giá nông sản tăng rất mạnh Đồng thời,với việc thực hiện chính sách kinh tế mở rộng đã làm cho chi tiêu của Chínhphủ tăng mạnh trong mấy năm gần đây
Tóm lại, ở vào giai đoạn đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế nớc ta
nhìn chung là tổng cung thấp hơn tổng cầu nên khi tăng cung sẽ làm tăng thunhập từ đó sẽ kích thích tiêu dùng và làm tăng tổng cầu, góp phần quan trọngvào quá trình tăng trởng kinh tế Đến giai đoạn sau thì tổng cầu lại thấp hơn sovới tổng cung, nền kinh tế bị d thừa công suất (tỷ lệ sử dụng công suất máymóc thiết bị thấp) Từ đó nhờ vào việc thực hiện chính sách kích cầu củaChính phủ, sản xuất đã phát triển và thúc đẩy tăng trởng kinh tế
2.3.2 Nhân tố đầu t.
Đầu t là nhân tố đóng vai trò rất quan trọng đến quá trình tăng trởng kinh
tế vì xét về dài hạn thì đầu t là nhân tố chính để tạo ra quá trình tăng trởng Từnăm 1986 đến nay, nền kinh tế nớc ta do có những thay đổi về chính sách và cơchế đầu t nên đã tạo đợc môi trờng ngày càng lành mạnh hơn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh, từng bớc đa nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chếkinh tế thị trờng, từ đó khuyến khích các nhà đầu t trong và ngoài nớc bỏ vốn ra
đầu t phát triển đất nớc Thời kỳ 1986-1990 tốc độ tăng trởng đầu t chỉ đạt bìnhquân là 8,7%/năm; đến nửa đầu thập niên 90 tỷ lệ này đã tăng lên đạt trung bình18%/năm; nhờ đó đã làm cho tốc độ tăng trởng GDP tăng rất cao, đạt trung bình8,2%/năm Sau đó do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á năm1997-1998, tốc độ tăng trởng đầu t giảm xuống chỉ đạt 1,2% năm 1999 Từ năm
2000 đến nay tốc độ tăng trởng đầu t đã tăng trở lại và đạt bình quân 10,5%/năm(nguồn số liệu tính toán từ bảng 2)
Trang 21Điểm đặc biệt của đầu t là: đầu t không chỉ là nhân tố cung (đầu vào)của quá trình sản xuất mà còn là nhân tố cầu (đầu ra) do đó trong những nămcung vợt cầu gần đây thì tăng trởng đầu t cũng là một biện pháp kích cầu quantrọng đóng góp vào quá trình phục hồi tỷ lệ tăng trởng kinh tế cao cho nềnkinh tế nớc ta.
Phân tích sâu hơn đối với nhân tố đầu t qua đồ thị 3 cho thấy, vốn đầu t
đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhng tổng vốn đầu t toàn xã hội phụthuộc quá nhiều vào đầu t nớc ngoài và nguồn vốn đầu t huy động cha đợc hợp
lý vì tỷ trọng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã tăng lên rất nhanh trong thời kỳ1990-1996, có lúc chiếm tới xấp xỉ 1/3 tổng nguồn vốn đầu t của nền kinh tế(năm 1995 vốn đầu t nớc ngoài là 22000 tỷ đồng chiếm 30,4% trong cơ cấutổng vốn đầu t phát triển toàn xã hội) trong khi đó tỷ trọng vốn của khu vực tnhân và dân c lại liên tục giảm trong suốt thời gian qua mà đây chính là nguồnvốn có hiệu quả kinh tế cao nhất và là nguồn vốn nội lực quan trọng nhất củaViệt Nam
Đồ thị 3: Cơ cấu vốn đầu t phát triển toàn xã hội
Nguồn số liệu: Bảng 3
Tuy nhiên, mấy năm gần đây vốn đầu t phát triển chủ yếu từ khu vựckinh tế nhà nớc còn khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài đã giảm đi nhiều:năm 2002, tỷ trọng vốn đóng góp của khu vực nhà nớc là 56,2%, khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh đóng góp 25,3% còn khu vực kinh tế có vốn đầu t nớcngoài chỉ đóng góp 18,5% trong tổng vốn đầu t toàn xã hội
Bảng 3: Vốn đầu t phát triển phân theo thành phần kinh tếNăm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Tổng số (tỷ đồng) 72447,0 87394,0 108370,0 117134,0 131170,9 145333,0 163500,0 183800,0
19%
Vốn NN Vốn NQD Vốn DTNN
Trang 22Nguồn số liệu: Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2002-2003.
Tóm lại, đầu t là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên
tỷ lệ tăng trởng kinh tế cao của Việt Nam trong những năm đổi mới bắt đầu từnăm 1986 đến nay Đối với nền kinh tế Việt Nam, vốn đầu t với vai trò là nhân
tố cung, tạo ra cơ sở vật chất và cung cấp các đầu vào không thể thiếu trongmọi quá trình sản xuất; với vai trò là nhân tố cầu, tiêu thụ đầu ra của quá trìnhtăng trởng Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi xẩy ra hiện tợng cung lớnhơn cầu, thông qua mua sắm máy móc, thiết bị, vật liệu xây dựng,… Song phải từ năm 1989, công phục vụcho quá trình sản xuất, hoạt động đầu t đã tích cực tham gia kích cầu nội địa,
mở ra thị trờng cho các ngành kinh tế khác phát triển, từ đó hỗ trợ tích cực vàoquá trình phục hồi tăng trởng kinh tế Do khả năng tác động hai mặt của mình,
đầu t đã chứng tỏ đợc vai trò quan trọng của mình đóng góp cho tăng trởngkinh tế Việt Nam
2.3.3 Nhân tố xuất, nhập khẩu.
Về xuất khẩu, cũng nh đầu t, xuất khẩu là một trong hai nhân tố quan
trọng nhất tạo ra bớc phát triển kinh tế nhanh chóng trong thời kỳ đổi mới Từkhi đất nớc ta thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế (1989)thì xuất khẩu của nớc ta đã tăng lên rất nhanh Nếu nh năm 1985 tổng giá trịxuất khẩu chỉ đạt 698,5 triệu USD và năm 1988 đạt 1038,4 triệu USD thì sangnăm 1989 đã tăng vọt lên 1946 triệu USD, rồi đạt đến 5448,3 triệu USD vàonăm 1995 và đạt 16706 triệu USD vào năm 2002 Với tốc độ tăng trởng xuấtkhẩu bình quân thời kỳ 1985-1988 đạt 12,5%/năm, thời kỳ 1989-1995 tỷ lệnày đã tăng lên đạt trung bình 29,6%/năm và đạt 17,9%/năm thời kỳ 1996-
2002 Ta thấy rằng dờng nh tỷ lệ này có quan hệ cùng chiều với tốc độ tăng
Trang 23tr-ởng kinh tế: trong những năm nền kinh tế tăng trtr-ởng nhanh thì tỷ lệ tăng trtr-ởngxuất khẩu cũng rất cao và ngợc lại.
Mặt khác, quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu trong nền kinh tếcũng diễn ra rất nhanh với xu hớng là tỷ trọng hàng xuất khẩu công nghiệptrong tổng giá trị xuất khẩu đã liên tục tăng lên rất nhanh Ngợc lại, tỷ trọngxuất khẩu hàng nông, lâm, hải sản đều có xu hớng giảm đáng kể chứng tỏxuất khẩu hàng công nghiệp đang ngày càng trở nên quan trọng đối với nềnkinh tế nớc ta Ngay trong nội bộ ngành công nghiệp cũng có sự biến động rấtmạnh mẽ về cơ cấu xuất khẩu trong thời kỳ đổi mới vừa qua Trớc năm 1989,
tỷ trọng hàng công nghiệp nặng trong tổng giá trị xuất khẩu của công nghiệprất thấp vì khi đó cha có xuất khẩu dầu mỏ, đại bộ phận hàng công nghiệpxuất khẩu là sản phẩm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp Trong cácnăm 1990-1992, do mất thị trờng truyền thống ở Đông Âu nên xuất khẩu hàngcông nghiệp nhẹ giảm sút rất nhanh trong khi xuất khẩu hàng công nghiệpnặng lại tăng vọt nhờ vai trò của dầu thô Do vậy, tỷ trọng xuất khẩu côngnghiệp nặng trong tổng giá trị xuất khẩu toàn nền kinh tế tăng vọt từ 25,7%năm 1990 lên 37% năm 1992 trong khi tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm côngnghiệp nhẹ giảm từ 26,4% năm 1990 xuống 13,5% năm 1992 Từ năm 1993
đến năm 1998 tình hình lại hoàn toàn đảo ngợc: tỷ trọng xuất khẩu côngnghiệp nhẹ tăng lên tới 36,6% năm 1998 còn tỷ trọng xuất khẩu công nghiệpnặng giảm xuống còn 27,9% Nhng từ năm 1999 đến nay lại có một bớc thay
đổi theo hớng ngợc lại (nguồn số liệu từ niên giám thống kê)
Cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Đông á năm 1997-1998 đã tạo ra áplực mạnh mẽ tới hoạt động xuất khẩu và cán cân vãng lai của Việt Nam (65%kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1996-2002 của Việt Nam đợc thực hiện tại thị tr-ờng khu vực Châu á) làm cho xuất khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăntrong những năm gần đây Một mặt, khủng hoảng Châu á làm giảm cầu nhậpkhẩu hàng Việt Nam của các nớc có liên quan trong khu vực, đồng thời các
đồng tiền Châu á đã bị phá giá mạnh trong khi tỷ giá đồng Việt Nam ít thay
đổi làm cho sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam giảm đáng kể vàcòn làm giảm giá nhiều mặt hãng xuất khẩu của Việt Nam Mặt khác, cònphải kể đến một số nguyên nhân có tính chất cơ cấu làm cho xuất khẩu củaViệt Nam kém cạnh tranh đó là hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu còn lànguyên liệu thô hoặc sơ chế, có giá trị gia tăng thấp và phụ thuộc rất lớn vào
Trang 24giá cả trên thị trờng quốc tế; công nghiệp chế biến cha có khả năng cạnh tranhcao trên trờng quốc tế do hạn chế về quy mô, công nghệ lạc hậu tạo ra nhữngsản phẩm có chất lợng thấp nhng giá thành lại cao… Song phải từ năm 1989, công
Bảng 4: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt NamNăm Xuất khẩu
(triệu USD )
Tốc độ tăng (%)
Nhập khẩu (triệu USD )
Tốc độ tăng (%)
Nhập siêu (triệu USD)
Tốc độ tăng GDP (%)
Nguồn số liệu: Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2002-2003.
Về nhập khẩu, ta thấy rằng tỷ lệ tăng trởng nhập khẩu có quan hệ chặt
chẽ với tỷ lệ tăng trởng xuất khẩu trừ năm 1989: khi tỷ lệ tăng trởng xuất khẩurất cao thì tỷ lệ tăng trởng nhập khẩu lại âm Hiện tợng nhập khẩu giảm độtngột đạt -69% đợc lý giải là do sự kiện cắt giảm viện trợ của khối Liên Xô cũ.Thời kỳ 1993-1996 sau khi tỷ lệ tăng trởng nhập khẩu tăng lên trung bình45%/năm thì đã giảm xuống còn 4,0% năm 1997; năm 1998 còn -0,8% và chỉtăng 2,1% năm 1999 Riêng năm 2000 tốc độ này đã tăng vọt lên 33,2% đểthực hiện chính sách kích cầu sau đó lại giảm đột ngột xuống còn 3,4% vànăm 2002 tỷ lệ này lại tăng lên đến 22,1% (nguồn số liệu tính toán từ bảng 4
và số liệu trong niên giám thống kê)
Trang 25Minh họa sự biến động của tỷ lệ tăng trởng xuất, nhập khẩu và GDP đợcthể hiện trên đồ thị 4 Qua đồ thị 4 ta thấy rõ hơn là 3 đờng tốc độ tăng trởngxuất, nhập khẩu và GDP có quan hệ khá chặt chẽ với nhau vì 3 đờng này tơng
đối sát nhau ngoại trừ năm 1989
Nguồn số liệu: Bảng 4
Trong đó: REX: Tốc độ tăng trởng xuất khẩu (%)
RIM: Tốc độ tăng trởng nhập khẩu (%)RGDP: Tốc độ tăng trởng GDP (%)
Tóm lại, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng gia tăng mạnh mẽ thì
hoạt động thơng mại quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng đóng góp choquá trình tăng trởng kinh tế Tuy nhiên hoạt động xuất, nhập khẩu trongnhững năm gần đây tăng trởng chậm đáng kể do môi trờng quốc tế đầy biến
động và sức cạnh tranh của hàng trong nớc giảm sút làm ảnh hởng tiêu cực
đến quá trình tăng trởng
2.3.4 Phân tích tổng hợp các nhân tố đóng góp vào quá trình tăng trởng kinh
tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Thông qua các số liệu tính toán đợc trong bảng 2, trớc hết ta xét các chỉtiêu trong khối: “Các nhân tố ảnh hĐóng góp vào tăng trởng GDP (tỷ lệ tuyệt đối)” cho thấy:năm 2002 tốc độ tăng GDP đạt 7,04% trong đó tổng cầu nội địa làm GDP tăng8,37%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ làm GDP tăng 4,87% nhng nhập khẩulại làm GDP giảm mạnh 6,72%; tính chung xuất khẩu ròng đã làm GDP giảm
Đồ thị 4: Tốc độ tăng tr ởng xuất, nhập khẩu
và GDP (%)
-80 -60 -40 -20 0 20 40 60 80 100
1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002
Năm
%
Trang 261,85% Nh vậy nguyên nhân chính của tăng trởng kinh tế năm 2002 hoàn toànnhờ vào tăng cầu nội địa; nếu không có đóng góp âm của nhân tố bên ngoàithì tốc độ tăng trởng GDP còn đạt đợc cao hơn Phân tích chi tiết hơn cho thấytổng cầu nội địa làm GDP tăng 8,37% là do có đóng góp 5,03% của tăng tiêudùng và 3,34% của tăng tích lũy, tức là đóng góp của nhân tố tiêu dùng caohơn nhân tố tích luỹ Tuy nhiên, trong phần đóng góp 5,03% của tiêu dùng thìriêng tiêu dùng cá nhân đã làm GDP tăng 4,67% trong khi tiêu dùng củaChính phủ chỉ làm GDP tăng 0,36% Nh vậy trong đóng góp của tiêu dùng,vai trò của tiêu dùng cá nhân chiếm tỷ trọng gần nh tuyệt đối còn vai trò củatiêu dùng Chính phủ thì không đáng kể Tiếp đến, xem xét các chỉ tiêu trongkhối “Các nhân tố ảnh hđóng góp vào tăng trởng GDP (tỷ lệ tơng đối, % của tỷ lệ tăng trởngGDP)’’, cho thấy tỷ lệ tăng trởng kinh tế năm 2002 hoàn toàn nhờ vào tăngtổng cầu nội địa (118,79%) trong đó hai nhóm nhân tố nội địa chính là tiêudùng cá nhân và tích lũy tài sản (66,29% và 47,42%), tiêu dùng Chính phủ chỉtạo ra 5,08% của tỷ lệ tăng trởng GDP chung là 7,04% Khu vực xuất nhậpkhẩu đã đóng góp âm cho tỷ lệ tăng trởng GDP (-26,25%), mặc dù xuất khẩu
đã có đóng góp lớn (69,11%) vào tỷ lệ tăng trởng GDP chung nhng nhập khẩulại tạo ra -95,36% tỷ lệ tăng trởng GDP
Phân tích cho cả thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, có thể đa ra một
số nhận xét nh sau:
- Trớc năm 1988, tăng trởng kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào cầu nội
địa, vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu rất thấp: trong khi tổng cầu nội địatạo ra 143,12% tỷ lệ tăng GDP (tơng ứng với 5,2% trong số 3,63%) thì xuấtkhẩu chỉ tạo ra 21,7% và nhập khẩu giảm 103,23% làm cho đóng góp chungcủa khu vực kinh tế đối ngoại vào tỷ lệ tăng trởng GDP là âm: -81,53% Việcthực hiện tăng trởng chủ yếu dựa vào cầu nội địa là do có nguồn viện trợ dồidào của khối Liên Xô cũ Phân tích sâu hơn cho thấy: năm 1987, đóng gópquan trọng nhất trong tổng cầu nội địa là nhân tố tích lũy tài sản tạo đợc93,8% tỷ lệ tăng trởng GDP; tiếp đến là tiêu dùng cá nhân: 35,48%; cuối cùngmới là tiêu dùng chính phủ: 13,84%
- Từ năm 1988, khi quan hệ kinh tế đối ngoại đợc mở rộng thì vai tròcủa nhân tố bên ngoài đã tăng lên rất mạnh: trong khi cầu nôi địa chỉ tạo ra73,32% tỷ lệ tăng trởng GDP so với mức 143,12% năm 1987, thì khu vực kinh
Trang 27tế đối ngoại đã có mức đóng góp dơng là 14,81% Tình hình diễn biến tơng tự
đến năm 1992: cầu nội địa liên tục tạo ra khoảng 63 – 83,52% tỷ lệ tăng tr ởng GDP (trung bình đạt 76%/năm) và còn lại là đóng góp của khu vực ngoạithơng Trong thời kỳ 1988-1992, do bị cắt viện trợ từ khối Liên Xô cũ, ViệtNam đã buộc phải chuyển sang phát triển dựa đồng thời vào cầu trong nớc vàcầu nớc ngoài Đối với cầu trong nớc trong thời kỳ này, vai trò quan trọngnhất tạo ra tỷ lệ tăng trởng GDP thuộc về tiêu dùng cá nhân; tiếp đến là tiêudùng Chính phủ và sau cùng mới đến tích luỹ tài sản Nh vậy quan hệ thứ tựnày khác với giai đoạn trớc cải cách
Năm 1993 đánh dấu một sự thay đổi lớn về chiến lợc tăng trởng kinh
tế Các số liệu trong bảng 2 chỉ ra trong thời kỳ 1993-1998, Việt Nam đã trởlại phát triển dựa hoàn toàn vào cầu nội địa, tỷ trọng đóng góp chung của khuvực kinh tế đối ngoại vào tăng trởng GDP liên tục âm trừ năm 1997 khi ViệtNam chịu ảnh hởng của khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực Châu á: khuvực này đã tạo ra 13,95% tỷ lệ tăng trởng GDP, tính trung bình cho cả thời kỳnày là -18,4%; ngợc lại, đóng góp của nhân tố cầu trong nớc đã tăng lên rấtmạnh: trung bình đạt tới 115,4% Nh vậy, không những toàn bộ tăng trởngkinh tế là do cầu nội địa tạo ra mà nó còn bù đắp lại phần giảm tăng trởng donhập khẩu quá nhiều Phân tích chi tiết hơn cho thấy thời kỳ này, tích luỹ tàisản (đầu t) lại trở thành nhân tố quan trọng nhất tạo ra quá trình tăng trởng(đóng góp trung bình tới 54,3%/năm) trong khi tiêu dùng cá nhân bị đẩyxuống (đóng góp 53,8%/năm) và nhân tố tiêu dùng Chính phủ vẫn là nhân tố
có đóng góp ít nhất (7,3%/năm) Chiến lợc tăng trởng trong thời kỳ này đợcthực hiện nhờ có luồng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ dồi dào dựa trên nhữngnguồn thu ngoại tệ rất lớn gồm xuất khẩu dầu mỏ, kiều hối, viện trợ ODA và
đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) tăng nhanh Tuy nhiên, lý thuyết về cán cânthanh toán quốc tế cho rằng một quá trình phát triển mà dựa hoàn toàn vàotăng trởng cầu nội địa nh vậy sẽ không thể phát triển bền vững
- Thâm hụt ngoại thơng và cán cân thanh toán quốc tế lên đến đỉnh
điểm năm 1995-1996 đã buộc Việt Nam phải điều chỉnh chính sách phát triểnkinh tế từ năm 1997-1998 và quá trình này đợc đẩy nhanh nhờ tác động củacuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ Châu á Kết quả là năm 1999, đóng gópcủa khu vực xuất nhập khẩu vào tăng trởng kinh tế đã tăng mạnh: nếu nh tỷ lệtăng trởng GDP năm 1999 là 4,77% thì riêng khu vực xuất nhập khẩu đã tạo ra
Trang 283,01% chiếm 63,15% tỷ lệ tăng trởng trong khi đó cầu trong nớc chỉ tạo ra1,77% (chiếm 37,05%) Nhng từ năm 2000 đến nay tình thế lại đảo ngợc với
sự đóng góp mạnh mẽ hơn của tổng cầu nội điạ vào tỷ lệ tăng trởng GDP sovới khu vực xuất nhập khẩu Đặc biệt, vai trò của cầu nội địa tăng vọt trongnăm 2000 là do nhân tố tích luỹ tài sản để đầu t (tạo ra 44,07%tỷ lệ tăng GDP)còn tiêu dùng cá nhân chỉ tạo ra 31,3% nhng đến năm 2002 thì tiêu dùng cánhân lại có đóng góp mạnh hơn (tạo ra 66,29%tỷ lệ tăng GDP); tích luỹ tàisản chỉ tạo ra 47,42%
Tóm lại , vai trò của các nhân tố đóng góp cho quá trình tăng trởng kinh
tế nớc ta đã có nhiều thay đổi lớn trong thời kỳ đổi mới Nếu nh trong thời kỳ
đầu cải cách (1988-1992), tiêu dùng nội địa và khu vực kinh tế đối ngoại đều
đóng vai trò quan trọng đối với quá trình tăng trởng thì trong thời kỳ tăng ởng cao (1993-1998), nhân tố cơ bản tạo ra quá trình tăng trởng lại là cầu nội
tr-địa mà chủ yếu là đầu t (trong đó vai trò của vốn đầu t nớc ngoài rất lớn) vàtiêu dùng cá nhân; ngợc lại khu vực kinh tế đối ngoại đã có đóng góp âm tới
tỷ lệ tăng trởng trong thời kỳ này Riêng năm 1999, vai trò của khu vực kinh
tế đối ngoại tăng lên rõ rệt trong khi vai trò của cầu nội địa lại giảm và từ năm
2000 đến nay tình thế lại diễn ra tơng tự nh thời kỳ 1993-1998
II Các nhân tố ảnh hởng đến tăng trởng kinh tế
1 Các lý thuyết chính xác định các nhân tố ảnh hởng đến quá trình tăng trởng kinh tế.
Nh chúng ta đã biết, các mô hình tăng trởng kinh tế đều có mục đíchgiải thích nguồn gốc của sự tăng trởng, nó thể hiện mối quan hệ giữa các yếu
tố sản xuất (đầu vào) đợc sử dụng với mức sản lợng đầu ra (mức tăng trởng)
Có thể kể đến 3 dòng lý thuyết chính là tân cổ điển, Keynes và tân Keynes vàtăng trởng nội sinh Theo các cách tiếp cận khác nhau, họ đã đa ra một số môhình tăng trởng kinh tế dới đây đợc các nớc đang phát triển quan tâm
1.1 Lý thuyết tăng trởng tân cổ điển.
Cuối thế kỷ XIX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ của khoahọc kỹ thuật, hàng loạt phát minh khoa học và nguồn tài nguyên đã đợc khaithác để phục vụ cho quá trình sản xuất và thời kỳ này đợc coi là điểm mốc
đánh dấu cho sự ra đời của trờng phái tân cổ điển
Trang 29Lý thuyết cổ điển đợc xây dựng trên cơ sở giả định rằng nền kinh tếluôn đạt tới trạng thái cân bằng trong điều kiện toàn dụng lao động, do đó quátrình tăng trởng kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào tích luỹ vốn và gia tăng lực l-ợng lao động Học thuyết Keynes sơ khai lại cho rằng cần phải có những điềukiện nhất định thì mới có toàn dụng lao động chứ không phải đạt đợc mộtcách tự nhiên, tuy nhiên những phân tích của Keynes chỉ nhằm vào những
điều kiện toàn dụng lao động trong ngắn hạn Để xem xét các nhân tố tạo raquá trình tăng trởng bền vững, các nhà kinh tế tân cổ điển, mở đầu là RoyHarrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã đa ra một phơng pháp tiếp cận mới
Vào giữa thế kỷ XX, trong khi các nhà kinh tế cổ điển chỉ xem xét duynhất khía cạnh cung của vốn đầu t và Keynes chỉ tập trung vào khía cạnh cầutrong bối cảnh ngắn hạn, thì Harrod và Domar xem xét đồng thời 2 khía cạnhcung và cầu của quá trình đầu t Theo quan điểm của 2 ông, trờng phái Keyneskhông thể phân tích đợc quá trình tăng trởng cân bằng dài hạn vì đặt thấp vaitrò của nhân tố vốn trong khi trên thực tế, đầu t có tác động hai mặt rất rõ nétcả về phía cung và phía cầu: về phía cung, đầu t là nhân tố đầu vào quan trọngcủa quá trình sản xuất, làm tăng khối lợng tài sản cố định từ đó làm tăng nănglực sản xuất của nền kinh tế; về phía cầu, đầu t sẽ làm tăng thu nhập vàkhuyến khích tiêu dùng do đó sẽ làm tăng cầu và kích thích sản xuất Nếu đầu
t vừa làm tăng năng lực sản xuất, vừa làm tăng thu nhập thì nó sẽ làm tăng cảhai vế trong phơng trình cân bằng và tạo ra tỷ lệ tăng trởng cần thiết Đặc biệt,
2 ông cho rằng đầu t ròng trong bất kỳ thời kỳ nào cũng ngang bằng tiết kiệmròng; thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng sẽ đợc chuyển thành tiết kiệm và đợc
đa vào đầu t, sau quá trình này tổng cung và tổng cầu sẽ tự động cân bằng
Xét phía cung của đầu t, Harrod-Domar cho rằng năng lực sản xuất củanền kinh tế phụ thuộc vào đầu t mới theo quan hệ sau:
Trang 30I Y
k
s
g (5)
Phơng trình nhìn từ phía cung cho thấy vốn đầu t là nhân tố chính xác
định tỷ lệ tăng trởng và tiết kiệm quốc gia là nguồn gốc của đầu t
Về phía cầu, Harrod – Domar sử dụng khái niệm nhân tử Keynes, họcho rằng thu nhập quốc gia là hàm của đầu t gia tăng hơn là của bản thân đầu
t và nếu đầu t trong năm sau không tăng so với năm trớc thì thu nhập quốc gianăm sau sẽ không thể tăng so với năm trớc
Nh vậy Harrod – Domar đã vạch ra một mô hình tăng trởng cho các
n-ớc đang phát triển đó là tăng trởng dài hạn với mục tiêu tăng trởng nhanh vàbền vững phải dựa vào việc tích lũy vốn cho đầu t
1.2 Lý thuyết tăng trởng của Keynes và tân Keynes.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX khủng hoảng kinh tế và thất nghiệpdiễn ra thờng xuyên và nghiêm trọng Năm1936, Keynes đã xuất bản cuốn
Trang 31sách nổi tiếng bàn về nguyên nhân của cuộc đại suy thoái của chủ nghĩa t bảnlúc đó với tiêu đề: “Các nhân tố ảnh hLý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” Về ngắnhạn, xuất phát điểm của lý thuyết Keynes là nguyên tắc cầu thực Ông sử dụng
lý luận về việc làm và sản lợng do cầu quyết định để giải thích mức sản lợngthấp và thất nghiệp cao kéo dài trong những năm 30 ở hầu hết các nớc côngnghiệp phơng Tây, do đó lý thuyết này còn đợc gọi là lý thuyết trọng cầu.Theo Ông, tổng việc làm phụ thuộc vào tổng cầu thực, cầu thực này lại phụthuộc vào chi tiêu có nguồn gốc từ thu nhập Do nhấn mạnh vai trò của cầunên Keynes tập trung vào xử lý cầu gộp, cầu gộp đợc chia làm 2 thành phầnlà: cầu tiêu dùng và cầu đầu t Trong khi cầu tiêu dùng đợc xem là ổn định vớithu nhập thì cầu đầu t biến động rất phức tạp và phụ thuộc vào hiệu quả đầu t,tuy nhiên nhà nớc vẫn có thể tác động trực tiếp vào cả hai thành phần này đểkích thích tăng trởng kinh tế
Theo Keynes, trong ngắn hạn thì đầu t luôn luôn ngang bằng với tiếtkiệm nhng cơ chế xác định 2 chỉ tiêu này hoàn toàn khác nhau Trong khi tiếtkiệm phụ thuộc vào thu nhập thì đầu t lại phụ thuộc vào lãi suất; phơng trìnhcân bằng tiết kiệm - đầu t cho phép xác định đồng thời thu nhập và lãi suất,hợp thành đờng cong IS nổi tiếng (I(r)=S(Y)) Khi đầu t tăng thì cầu thực củanền kinh tế tăng làm cho sản xuất tăng (trong điều kiện nền kinh tế cha sửdụng hết công suất) Do đó, Chính phủ có thể chủ động tăng chi tiêu ngânsách cho đầu t, nhất là đầu t vào các dự án công cộng, làm tăng đầu t chungcủa toàn nền kinh tế kéo theo tổng cầu tăng, mở ra quá trình tăng trởng kinh tế
và tạo việc làm
Đóng góp chủ yếu của lý thuyết Keynes là trong phân tích kinh tế ngắnhạn Trong dài hạn, nhìn chung Keynes vẫn sử dụng những nguyên tắc cơ bảncủa lý thuyết tân cổ điển: các mô hình kinh tế vĩ mô theo lý thuyết Keynesvẫn coi tiết kiệm là nguồn gốc của đầu t và đầu t là nhân tố quyết định quátrình tăng trởng dài hạn
Hàm sản xuất trong mô hình Keynes có dạng gộp nh sau:
Y = f(K, L)
Trong đó: Y là kết quả sản xuất (sản lợng),
K là vốn cố định và L là lao động
Trang 32Trong mô hình này L đợc xem là biến ngoại sinh và nó ảnh hởng tíchcực đến tăng trởng do đó khi số ngời tham gia lao động tăng lên thì sản xuất
sẽ tăng Đối với tiết kiệm và đầu t, Keynes đồng ý với các nhà kinh tế tân cổ
điển là tiết kiệm chịu ảnh hởng của thu nhập chứ không phải là lãi suất do đónếu đầu t giảm thì thu nhập giảm dẫn tới tiết kiệm giảm gây ra sự thiếu hụtnguồn vốn đầu t cho giai đoạn tiếp theo Keynes cũng cho rằng đầu t là nhân
tố then chốt để tăng trởng và thực hiện toàn dụng lao động nhng ông cho rằngkhông tồn tại cơ chế tự động giữ tiết kiệm và đầu t luôn ở mức cân bằng Từ
đây, ông đề cao vai trò của Chính phủ: Chính phủ có thể kích thích đầu tthông qua tăng thâm hụt ngân sách; khi đầu t tăng thì sản xuất và việc làmtăng, kéo theo tăng nhu cầu; nhu cầu tăng sẽ lại kích thích sản xuất để đáp ứngcầu làm cho tăng trởng kinh tế nhanh hơn
Tuy nhiên, các giả thuyết cơ bản của lý thuyết Keynes đã không phùhợp với các nớc đang phát triển ví dụ nh để chính sách tăng trởng dựa vào kíchcầu thắng lợi Keynes đòi hỏi nền kinh tế phải luôn trong tình trạng cung lớnhơn cầu nhng điều này là không hiện thực tại các nớc đang phát triển, nơi nềnkinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, công nghiệp rất yếu kém, cung luôn luônkhông đáp ứng đợc những nhu cầu tối thiểu,… Song phải từ năm 1989, công Do đó các nhà kinh tế sauKeynes đã đi sâu nghiên cứu, phát triển lý thuyết Keynes để giải thích nhữngvấn đề về tăng trởng dài hạn phù hợp với các nớc đang phát triển
1.3 Lý thuyết tăng trởng nội sinh.
Mô hình tăng trởng ngoại sinh đợc phát triển bởi nhiều tác giả nhSamsey (1928), Swan (1956) và đặc biệt là Solow (1956) đã chứng minh vaitrò của từng yếu tố vốn, lao động, công nghệ trong tăng trởng kinh tế và đãgiải thích đợc nguồn gốc của sự tăng trởng trong những năm 50-60 Theo nhận
định của nhiều nhà kinh tế, sự tăng trởng nhanh của những nớc NICs dựa phầnlớn vào sự huy động các nguồn lực đầu vào nh lao động, t bản chứ không phảidựa vào hiệu qủa của việc sử dụng các nguồn lực đó Song từ những năm 70
đã có những nhận định về sự tăng trởng kinh tế của những nớc công nghiệpmới, đó là sự tăng trởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào sự tăng trởng của cácnguồn lực vật chất, của năng suất mà là làm thế nào để duy trì đợc năng suấtnhân tố tổng hợp mà chỉ với mô hình tăng trởng ngoại sinh thì không giảithích đợc bởi vì các giả định của mô hình ngoại sinh tỏ ra còn quá đơn giản sovới thế giới hiện thực nh giả định rằng: nền kinh tế chỉ có 2 khu vực là hộ gia