Xác định, nợ công là vấn đề lớn nên Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có sử dụng giải pháp huy động sức mạnh tổng lực của hệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐỖ VĂN HẢI
BÁO ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM
(Khảo sát trên các báo điện tử: Nhân Dân, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Thời
báo Tài chính Việt Nam từ 01/01/2014 đến 31/12/2014)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60320101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn Hà
Hà Nội - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả khảo sát, phân tích nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn, tài liệu tham khảo trong luận văn đều được dẫn nguồn cụ thể
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin được bày tỏ lòng trân trọng cảm ơn tới PGS.TS Vũ Văn Hà – Phó
Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy
cô giáo, các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu và khảo sát để viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên và khích lệ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Hải
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM VÀ THÔNG TIN VỀ NỢ CÔNG TRÊN BÁO CHÍ 10
1 Nợ công và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề vay nợ và nợ công 10
1.1 Khái niệm nợ công và vài nét về nợ công của Việt Nam 10
1.2 Truyền thông kinh tế-tài chính và truyền thông về nợ công 13
1.3 Vai trò của báo chí, đặc biệt là báo điện tử với vấn đề nợ công 16
1.4 Tính phản biện và giám sát của báo chí 24
1.5 Quan điểm thông tin của Đảng và Nhà nước về nợ công 26
1.6 Sơ lược lịch sử hình thành, phát triển của báo: Nhandan.com.vn, Vneconomy.com.vn, Thoibaotaichinhvietnam.vn 33
Tiểu kết Chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC THÔNG TIN VỀ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM 37
2.1 Nội dung thông tin 37
2.2 Hình thức thông tin của báo điện tử về nợ công 62
Tiểu kết Chương 2 73
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VỀ NỢ CÔNG 75
3.1 Đánh giá nội dung, hình thức thông tin về nợ công 75
3.2 Nguyên nhân của thành công và hạn chế 83
3.3 Một số quan điểm của chuyên gia và người sáng tạo tác phẩm báo chí 85
3.4 Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về nợ công 90
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA
Ủy ban Liên hợp quốc về thương mại và phát triển UNCTAD
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Số lượng, thể loại tin, bài viết về nợ công 40
Biểu đồ 2 Thể loại tác phẩm báo chí thông tin về nợ công 63
Biểu đồ 3: Vị trí đăng bài về nợ công trên trên các báo điện tử 64
Biểu đổ 4: Về tỷ lệ sử dụng chi tiết trong bài viết 69
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh tế, ở từng giai đoạn nhất định, Chính phủ cần huy động nguồn lực nhiều hơn từ trong và ngoài nước để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu, đầu tư phát triển Hay nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, Chính phủ phải vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó, những khoản vay này được gọi là nợ công
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ chương thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, trong đó mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, kêu gọi đầu tư, tiếp cận với nhiều nguồn vốn vay phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, cùng với việc vay vốn thì việc làm thể nào để trả nợ đến kỳ thanh toán mà vẫn đảm bảo được an toàn cho nền kinh tế cũng là áp lực lớn
Khoảng 10 năm trở về trước, người dân Việt Nam thường ít chú ý đến nợ công, báo chí cũng ít đề cập đến vấn đề này Một mặt, là do khi đó chúng ta chưa vay nợ nhiều, hoặc vay rồi nhưng chưa đến hạn phải trả Mặt khác, lúc đó chưa có Luật Quản lý nợ công, các số liệu nợ công ít được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, bởi nó vẫn được coi là vấn đề nhạy cảm, thậm chí là bí mật quốc gia Hiện nay nợ công không còn là vấn đề bí mật nữa, nó cần được thông tin rộng rãi, khách quan đến đông đảo công chúng và nó luôn thu hút sự quan tâm của
dư luận
Trong bề bộn những sự kiện chính trị, kinh tế - xã hội của nước ta, thì nợ công luôn là vấn đề “nóng” từ nghị trường Quốc hội đến các mặt báo và thu hút được sự quan tâm của đông đảo dư luận Chỉ tính riêng tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XIII, đã có 189 văn bản chất vấn của đại biểu Quốc hội gửi đến Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tài chính liên quan đến nợ công Quốc hội cũng xác định nợ công là vấn đề nóng bỏng, cần được thông tin một cách chính xác, kịp thời đến công chúng, không chỉ qua việc trả lời chất vấn trực tiếp của người đứng đầu Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tài chính mà còn cần phải được đăng tải kịp thời, rộng
Trang 7rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết và có thể tham gia giám sát Như vậy, cùng với việc “hâm nóng” nghị trường Quốc hội, vấn đề nợ công còn làm “nóng” nhiều trang báo mỗi khi Quốc hội họp và thảo luận
Với sự tham gia thông tin, tuyên truyền về nợ công qua các bài viết phân tích, bình luận, phản ánh đã thể hiện những quan điểm, cách nhìn nhận riêng của mỗi tờ báo về vấn đề nợ công, điều này đã mang đến cho độc giả thông tin nhiều chiều, giúp độc giả nắm bắt thông tin sâu rộng Tuy nhiên, chính việc thể hiện quan điểm riêng biệt của các tờ báo về vấn đề nợ công đã phần nào tạo sự thiếu thống nhất về con số và cách nhìn nhận về nợ công, thậm chí tạo sự hoang mang cho độc giả và người dân Đây có thể trở thành kẽ hở để các thế lực thù địch, chống phá Việt Nam lợi dụng để thông tin tuyên truyền sai lệch, làm méo mó môi trường kinh doanh Việt Nam, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia
Xác định, nợ công là vấn đề lớn nên Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có sử dụng giải pháp huy động sức mạnh tổng lực của hệ thống báo chí thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền để dư luận hiểu đúng về bản chất của nợ công của Việt Nam
Thực hiện tốt chức năng của mình, hệ thống báo chí Việt Nam thời gian qua
đã có nhiều chủ động, sáng tạo và tích cực trong thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội về vấn đề nợ công theo quan điểm lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Chính phủ Tuy nhiên, vẫn còn không ít bài báo, tờ báo tuyên truyền chưa đúng bản chất, số liệu cũng như đã đưa ra những đánh giá về nợ công còn thiếu tính khoa học, thiếu sự thống nhất tạo sự hoang mang trong dư luận Vì vậy,
để người dân hiểu rõ được vai trò của vốn vay, bản chất của nợ công thì công tác thông tin, tuyên truyền là vô cùng quan trọng Việc thông tin, tuyên truyền về vấn
đề nợ công của Việt Nam cần được thực hiện trên tất cả cả các loại hình báo chí, trong đó phải kể đến báo điện tử Báo điện tử ra đời muộn nhưng lại có tốc độ phát triển nhanh, hội tụ được những ưu điểm của báo giấy, báo phát thanh, báo hình đưa thông tin đến độc giả một cách nhanh nhất
Trang 8Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, với những kiến thức và kinh nghiệm thu
nhận được trong thời gian học tập và làm nghề tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Báo
điện tử với vấn đề nợ công của Việt Nam” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Chuyên
ngành Báo chí học Mục đích là góp phần tìm kiếm giải pháp thông tin, tuyên truyền hiệu quả đúng định hướng chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, tạo sự đồng thuận trong dư luận hiểu đúng bản chất về nợ công của Việt Nam, góp phần ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến chủ đề nợ công đã có không ít tài liệu, công trình nghiên cứu
và các bài viết đề cập đến Tuy nhiên, có thể phân chia thành hai nhóm như sau:
Nhóm công trình thứ nhất: Các tài liệu, công trình nghiên cứu, đề cập đến nội dung, bản chất, tác động và giải pháp đối với vấn đề nợ công Có thể lược qua một số công trình như:
- Luật số 29/2009/QH12 của Quốc hội: Luật Quản lý nợ công;
- Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002;
- Bản tin Nợ Công – Bộ Tài chính: Cập nhật diễn biến các con số về nợ công của Việt Nam theo từng quý trong năm;
- Nợ công Việt Nam: Quá khứ, hện tại và tương lai - Ủy Ban Kinh tế Quốc hội và UNDP Với các tác giả: Pham Thế Anh, Đinh Tuấn Minh, Tô Trung Thành, Nguyễn Trí Dũng và các cộng sự (Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, năm 2012);
- Giáo trình Quản lý tài chính công – NXB Tài chính 2010;
- PGS.TS Trần Xuân Hải - Quản lý tài chính công ở Việt Nam: Thực trạng
Trang 9- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Quản lý nợ công tại Việt Nam – NXB Tài chính năm 2014;
- Báo cáo Tổng kết thực tiễn quản lý nợ công (Bộ Tài chính) năm 2013;
- Báo cáo Đánh giá Luật Quản lý nợ công sau 5 năm triển khai thực hiện của
Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới - 2015;
- Chuyên đề: Quản lý nợ công tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp – Tạp chí Tài chính số 11/2013;
- “Luận bàn vấn đề nợ công ở Việt Nam” của Thạc sĩ Nguyễn Quốc Nghi,
đăng trên Tạp chí Nghiên Tài chính – Marketing số 6/2011;
- “Nợ công của Việt Nam, những nguy cơ tiền ẩn và giải pháp chính sách”
của TS Ngô Văn Hiền, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán số 8 (109) năm 2012…
Các công trình này đã làm rõ khái niệm, thực trạng nợ công của Việt Nam, chủ trương, đường lối chính sách của Việt Nam về vấn đề nợ công
Nhóm công trình thứ hai: Các công trình nghiên cứu có đề cấp đến vấn đề thông tin, tuyên truyền nói chung; tuyên truyền về kinh tế và nợ công trên báo chí
có thể kể đến như:
- Một số công trình mang tính phương pháp luận trong tuyên truyền như:
“Cơ sở lý luận báo chí” – NXB Văn hóa Thông tin năm 1999, của các tác giả Tạ
Ngọc Tấn, Trịnh Đình Thắng, Đinh Thế Huynh, Lê Mạnh Bỉnh; “Cơ sở lý luận báo
chí truyền thông” (của các tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang, đã tái bản nhiều lần); “Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội” (2008);
“Báo chí truyền thông và kinh tế văn hóa xã hội” (2005); “Tác động của những phương tiện truyền thông mới đối với đời sống văn hóa của cư dân đô thị ở Việt Nam” (2006); Bộ sách 7 tập “Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Khoa Báo chí và Truyền thông (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) xuất bản… Những nghiên cứu này bổ trợ, cung cấp thông tin giúp tác giả triển khai hiệu quả đề tài nghiên cứu về vai trò của báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng đối với vấn
đề nợ công ở Việt Nam
Trang 10- Một số công trình nghiên cứu về tuyên truyền vấn đề kinh tế, đề cập đến nợ
công trên báo chí như:
+ Nguyễn Mạnh Tuấn: “Đảm bảo và tăng cường tính định hướng trong thông tin kinh tế của báo nhân dân” - Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí (Học viện Báo chí
và Tuyên truyền) Luận văn nghiên cứu, khảo sát, phân tích về định hướng thông tin tuyên truyền về lĩnh vực kinh tế Việt Nam, quan điểm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta về kêu gọi nguồn vốn tài trợ, đầu tư và vốn vay từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế đất nước;
+ Nguyễn Lê Anh: “Báo chí góp phần hoàn thiện chính sách tài chính đối ngoại” - Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Bên cạnh việc đưa ra các phương pháp luận trong tuyên truyền, Luận văn phân tích thực trạng tuyên truyền chính sách tài chính đối ngoại trên báo chí ngành Tài chính, trong đó có chính sách hợp tác vay nợ, huy động nguồn vốn vay quốc tế;
+ Nguyễn Thị Thanh Hải: “Đề tài kinh tế trên báo in sau khi Việt Nam gia nhập WTO” - Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí học (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Luận văn tập trung phân tích về vấn đề tuyên truyền các chính sách kinh tế của Việt Nam nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO;
+ Nguyễn Trung Kiên: “Báo chí với vấn đề tuyên truyền hội nhập kinh tế” – Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí học (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Luận văn tập trung khảo sát các tờ báo: Thời báo kinh tế Việt Nam, Đầu tư, Công thương, Đối ngoại Vietnam Economic News để làm rõ vấn đề tuyên truyền về hội nhập kinh tế Việt Nam Trong đó có chính sách kêu gọi đầu tư, thiết lập môi trường kinh doanh cạnh tranh, thông thoáng để đón dòng vốn từ nước ngoài cũng như các tổ chức tài chính quốc tế đầu tư hoặc cho Việt Nam vay dưới nhiều hình thức;
+ Lê Đăng Khánh: “Chủ đề kinh tế đối ngoại trên báo chí” - Luận văn Thạc
sĩ ngành Báo chí học (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Luận văn đã đưa ra phân tích, đánh giá hiệu quả tuyên truyền các chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam,
Trang 11trong đó có nêu sơ qua về chính sách tài chính đối ngoại, vay nợ nước ngoài để đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội;
+ Dương Hiệp: “Bình luận kinh tế trên báo Hà Nội Mới: Thực trạng và vấn
đề đặt ra” - Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí học (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Qua các bài bình luận kinh tế trên báo Hà Nội Mới, Luận văn đã tập trung phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra trong công tác tuyên truyền, cách tiếp cận vấn đề, xử lý thông tin để bình luận vấn đề kinh tế trên báo in;
+ Nguyễn Thị Thanh Huyền: “Dư luận xã hội về vấn đề tài chính công trên báo chí” - Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí học (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội);
+ Nguyễn Hữu Tuấn: “Tiếp cận thông tin tài chính của nhà báo Việt Nam hiện nay” - Luận văn Thạc sĩ ngành Báo chí học (Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội)
Mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tuyên truyền kinh tế trên báo chí và trong một số công trình có nhắc đến vấn đề về vay nợ, trả nợ và nợ công của Việt Nam nhưng còn rất chung chung, chỉ là điểm qua về chính sách, thực trạng về
nợ công Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về báo chí đối với vấn đề nợ công của Việt Nam Do vậy, khảo sát, nghiên
cứu về “Báo điện tử với vấn đề nợ công của Việt Nam” là một đề tài mới, có tính
cần thiết, cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở phân tích khẳng định vai trò quan trọng của báo chí, đặc biệt là báo điện tử đối với vấn đề nợ công của Việt Nam và đánh giá thực trạng tuyên truyền của báo điện tử hiện nay với vấn đề nợ công ở Việt Nam, Luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền của báo điện tử đối với vấn đề này
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Trang 12- Hệ thống hóa khái niệm về nợ công, tiêu chí, cách phân loại, cách tính nợ công của các nước và của Việt Nam Khái quát thực trạng về nợ công và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về nợ công trong giai đoạn hiện nay
- Hệ thống hóa khái niệm về báo điện tử; Làm rõ vai trò báo chí trong thông tin, tuyên truyền về nợ công
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng nội dung, hình thức thông tin nợ công trên một số tờ báo điện tử: Nhân dân, Thời báo Tài chính Việt Nam, Thời báo Kinh tế Việt Nam
- Đánh giá ưu, nhược điểm của các tờ báo trên đối với vấn đề thông tin, tuyên truyền về nợ công của Việt Nam
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề nợ công của Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Báo điện tử thông tin về nợ công của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chọn và tập trung nghiên cứu 3 tờ báo mang tính đại diện là: Nhân dân, Thời báo Tài chính Việt Nam, Thời báo Kinh tế Việt Nam
- Thời gian khảo sát: Từ 01/01/2014 đến 31/12/2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiê ̣n đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pha ́ p nghiên cứu li ̣ch sử và sử dụng các tài liê ̣u th ứ cấp: Luật
Quản lý nợ công, Luật Quản lý Ngân sách Nhà nước, các văn kiện , chỉ thị, tư liệu của Đảng và Nhà nước liên quan đến viê ̣c xã hô ̣i hóa thông tin báo chí nhằm tìm hiểu chủ trương , đường lối, đi ̣nh hướng của Đảng và Nhà nước về vấn đề n ợ công Việt Nam; Tập hợp, hệ thống tài liê ̣u lý luâ ̣n từ các sách , tạp chí, các của công trình khoa ho ̣c (trong và ngoài nước) có liên quan đến đề tài
- Phương pha ́ p nghiên cứu trường hợp : Đề tài nghiên cứu ba tờ báo điện tử
đại diện: Báo Nhân dân là cơ quan Trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam bám sát tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; Thời báo Kinh tế Việt Nam – Tờ báo thông tin
Trang 13chuyên sâu về các vấn đề kinh tế - xã hội; Thời báo Tài chính Việt Nam – Tờ báo chuyên sâu về các vấn đề tài chính
- Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích nội dung và hình thức của các
tờ báo trên thông tin về vấn đề nợ công của Việt Nam Từ đó, thống kê, so sánh quan điểm thông tin về nợ công giữa các tờ báo
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài phỏng vấn 10 chuyên gia trong lĩnh
vực báo chí, kinh tế, tài chính về vấn đề nợ công của Việt Nam; Đặc biệt là vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ của báo chí đối với việc thông tin, tuyên truyền về nợ công
để đi đến phân tích, tổng hợp các luận điểm về nợ công của Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp thống kê, so sánh cũng được sử dụng để làm rõ thực trạng thông tin về nợ công
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Đề tài tổng kết, nêu rõ thành công và hạn chế của báo chí đối với việc thông tin, tuyên truyền về nợ công của Việt Nam Góp phần nâng cao chất lượng báo chí, nhất là chất lượng thông tin nợ công trên báo điện tử
Đề tài góp phần làm sáng rõ và phong phú hơn lý luận về vai trò của báo chí đối với công tác thông tin, tuyên truyền về nợ công, làm rõ những ảnh hưởng, tác động của báo chí đến công chúng về vấn đề nợ công
Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao trình độ công tác nghiên cứu lý luận báo chí kinh tế nói chung và báo chí thông tin về tài chính nói riêng Qua đó khẳng định và làm rõ hơn vai trò to lớn của báo chí đối với vấn đề nợ công của Việt Nam
Nâng cao trình độ người làm báo nhất là người làm báo trong lĩnh vực kinh
tế - tài chính, cả về nhận thức hoạt động tài chính trong cơ chế mới và cách phát hiện, lựa chọn vấn đề thông tin, hình thức thể hiện trên báo
Từ kết quả nghiên cứu đề tài này, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông tin về nợ công trên báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng
Trang 14Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các phóng viên, nhà báo chuyên theo dõi về kinh tế-tài chính, trong các cơ sở đào tạo báo chí, để định hướng trách nhiệm cho nhà báo thông tin, tuyên truyền đúng bản chất của nợ công
7 Cấu trúc Luận văn
Chương 1: Những vấn đề chung về nợ công của Việt Nam và tuyên truyền
nợ công trên báo chí
Chương 2: Thực trạng nội dung và hình thức thông tin của báo điện tử với
vấn đề nợ công của Việt Nam
Chương 3: Đánh giá ưu, nhược điểm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông tin tuyên truyền về nợ công của Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM
VÀ THÔNG TIN VỀ NỢ CÔNG TRÊN BÁO CHÍ
1 Nợ công và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề vay nợ
và nợ công
1.1 Khái niệm nợ công và vài nét về nợ công của Việt Nam
1.1.1 Khái niệm nợ công
Nợ công là một niệm tương đối phức tạp Hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được
sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm ba nhóm là: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phýõng Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân dân Chính phủ hoặc các khoản vay khác
do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật
Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND), thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành được Chính phủ bảo lãnh
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ công là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách” Vì thế, nợ Chính phủ nói cách khác là thâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy mô của nợ Chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với GDP
Trang 161.1.2 Vài nét về nợ công của Việt Nam
Theo Luật Quản lý nợ công thì phạm vi nợ công bao gồm nợ của Chính phủ,
nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Trong đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do
Bộ Tài chính kư kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật
Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết phát hành hoặc ủy quyền phát hành
Theo The Economist, cập nhật ngày 31/12/2014, nợ công của Việt Nam là hơn 85 tỷ USD, bằng 60,3% GDP Nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước,
nợ trái phiếu Chính phủ, nợ đọng xây dựng cơ bản thì nợ công của Việt Nam là rất cao Bên cạnh việc quy mô n ợ công ở mức khá cao thì mô ̣t điểm đáng lưu ý là t ốc
độ tăng nhanh của nợ công trong những năm gần đây Nếu như giai đoa ̣n trước đây chỉ xấp xỉ 10%/năm thì giai đo ạn 2010 - 2013 tăng mạnh, ở mức tăng trung bình xấp xỉ 22%/năm và cao hơn nhi ều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn này là 5,78%
Nguyên nhân căn bản khiến nợ công tăng mạnh trong những năm gần đây là Về khách quan , trong những năm gần đây , kinh tế toàn cầu rơi vào khủng h oảng, tốc đô ̣ phu ̣c hồi châ ̣m và nợ công của khu vực đồng tiền chung châu Âu ở mức báo
đô ̣ng đã tác đô ̣ng không nhỏ đến tình hình nợ công của Viê ̣t Nam Về chủ quan, có thể kể đến: (i) nhu cầu chi tăng mạnh trong thời gian vừa qua, đặc biệt là chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, chi cho con người và cho an sinh xã hội Thực trạng kết cấu hạ tầng của nước ta còn yếu kém, nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện đột phá chiến lược về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và áp lực cạnh tranh, hội nhập quốc tế không ngừng gia tăng là nguyên nhân tăng các khoản vay để bổ sung
Trang 17cho đầu tư; (ii) bội chi ngân sách nhà nước cao, kéo dài và có xu hướng gia tăng Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2011 - 2013, bội chi ngân sách nhà nướ c bình quân 5,2% GDP, trong khi thu ngân sách nhà nước chỉ tăng có 1,13 lần thì quy mô chi ngân sách nhà nước tăng 1,29 lần Năm 2013, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết nới trần bội chi ngân sách nhà nước trên GDP từ 4,8% lên 5,3% GDP ước thực hiện, nhưng do mức GDP thực tế thấp hơn so với kế hoạch dự kiến nên với số bội chi tuyệt đối được Quốc hội thông qua, con số này tương đương 5,45% Khi bội chi ngân sách nhà nước tăng thì nợ công cũng sẽ tăng lên tương ứng; (iii) chi phí nợ công tăng lên trong những năm vừa qua cũng góp phần làm gia tăng nợ công Từ năm 2010, việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi khó khăn hơn do Việt Nam thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam đã phải chuyển sang các nguồn vốn vay thương mại với lãi suất cao hơn và các điều kiện vay khắt khe hơn, điều này làm gia tăng chi phí trả nợ hằng năm Tính bình quân giai đoạn 2010 - 2014, chi trả lãi chiếm 32% trong tổng chi trả nợ hằng năm và có xu hướng ngày càng tăng lên; (iv) do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại, tỷ trọng thu ngân sách thấp hơn cùng kỳ năm trước nhưng vẫn phải giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp Tỷ lệ huy động thuế, phí vào ngân sách nhà nước giảm từ 24,8% GDP bình quân giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 21% GDP giai đoạn 2011 - 2015 Cùng với đó, kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn khó khăn đòi hỏi Nhà nước phải
có biện pháp miễn, giảm, gia hạn thuế để hỗ trợ doanh nghiệp Điều này ảnh hưởng đến nguồn động viên vào ngân sách nhà nước ; (v) lượng vốn huy động qua kênh phát hành trái phiếu chính phủ tăng nhanh Trong bối cảnh nguồn ngân sách bố trí cho trả nợ và đầu tư phát triển rất hạn hẹp nhưng nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện đột phá chiến lược là rất lớn, do đó, việc duy trì huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ là cần thiết Giai đoạn 2011 - 2015, phải phát hành 335 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ , gấp hơn 2,5 lần giai đoạn 2006 - 2010 (giai đoạn 2011 -
2014 đã phát hành 250 nghìn tỷ đồng, năm 2015 theo kế hoạch phát hành thêm 85 nghìn tỷ đồng) (vi) chính sách mở rộng phạm vi, đối tượng bảo lãnh của Chính phủ
Trang 18cho doanh nghiệp vay vốn góp phần làm nợ công tăng cao Phạm vi bảo lãnh của Chính phủ rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh như sản xuất thép, xi măng, giấy, điện, than, khoáng sản, cảng biển, năng lượng, y tế và các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng
1.2 Truyền thông kinh tế-tài chính và truyền thông về nợ công
1.2.1 Quan điểm về phát triển kinh tế - tài chính
Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyển tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải Quá trình giao tiếp được coi là hoàn thành khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi
Đã có rất nhiều quan điểm và lý thuyết khác nhau về phát triển như lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết sự phụ thuộc, lý thuyết đa dạng hóa… trong đó, không ít người thường đánh đồng phát triển là tăng trưởng kinh tế hoặc thịnh vượng về kinh
tế S.R Melkote (Giáo sư tại Khoa Viễn thông, Đại học Bowling Green State, Mỹ) trong bài nghiên cứu khoa học “Lý thuyết truyền thông phát triển” cho rằng, người
ta thường nhầm tưởng mức độ phát triển được đo bằng “Tổng thu nhập quốc nội GDP và mọi nhân tố trong nước được huy động để tăng cường và duy trì mức độ tăng trưởng GDP, nhất là trong những ngành tập trung nhiều vốn và công nghệ với nguyên tắc sở hữu tư nhân, tự do thương mại và thị trường tự do”
Đối với Việt Nam, trong nhiều năm trứ đây, khái niệm truyền thông ít được
sử dụng, chủ yếu sử dụng khái niệm truyên truyền Tuyên truyền là việc nêu ra các thông tin (vấn đề) với mục đích cho nhiều người biết nhằm đưa đẩy thái độ, suy
Trang 19nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng nào đấy mà người nêu thông tin mong muốn
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, công tác tuyên truyền là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng hùng mạnh cho cách mạng Theo Người “công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực” để mọi người hiểu đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước Định nghĩa về tuyên truyền Người chỉ ra rằng “Tuyên tuyền là đem lại một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại”
Trong bối cảnh ngày nay, thuật ngữ thông tin, tuyên truyền về phát triển kinh
tế - tài chính cần được hiểu ở nhiều mức độ khác nhau Trước hết nó cần được hiểu
là nhu cầu tiếp cận, cập nhật thông tin kinh tế - tài chính của người dân một cách nhanh nhất, chính xác nhất
Nếu như tuyên truyền được hiểu theo hình thức thông tin một chiều, mang tín áp đặt thì truyền thông được hiểu với ý nghĩa rộng hơn, nó có sự phản hồi thông tin, sự tương tác giữa người đọc, công chúng với cơ quan cung cấp thông tin hay còn gọi là nguồn tin
1.2.2 Truyền thông về nợ công
Truyền thông nợ công là một cách tiếp cận được hoàn thiện bởi các nước trên thế giới thực hiện vay nợ chi tiêu công và cần tuyên truyền để công chúng hiểu
rõ thông tin số nợ và bản chất của vay nợ Phương pháp này được sử dụng ở các nước phát triển khá sớm khoảng giữa thế kỷ 20, đặc biệt là khi các Câu lạc bộ Paris, London ra đời
Ở Việt Nam, truyền thông nợ công là một khái niệm hết sức mới mẻ, nó chưa được định hình một cách rõ rệt, nó được đề cập nhiều khoảng từ năm 2008 đến nay, khi các khoản nợ công của Việt Nam đến kỳ phải trả và con số nợ công tăng mạnh Truyền thông nợ công được một số chuyên gia kinh tế mô tả là một phương thức truyền thông đem lại cho cộng đồng những thông tin mà họ có thể sử dụng để truyền tải những thông tin về các khoản vay, trả nợ của quốc gia cho công chúng, với mục tiêu là để công chúng hiểu được các chương trình, chính sách, ý nghĩa của
Trang 20việc vay nợ, trả nợ của quốc gia Nguyên tắc quan trọng nhất của truyền thông nợ công là đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu thông tin của công chúng, có sự tham gia của công chúng và vì lợi ắch của công chúng, bởi các khoản nợ của quốc gia cũng chắnh
là khoản nợ của dân
Tại các nước còn nghèo, tỷ lệ nợ công cao thì công tác thông tin để người dân hiểu đúng bản chất nợ công có ý nghĩa hết sức quan trọng Mặt khác, việc thông tin nợ công một cách nhanh chóng, chắnh xác còn giúp cho người dân tham gia giám sát nguồn lực tài chắnh do Chắnh phủ đi vay để chi tiêu công Tuy nhiên, để công tác này phát huy hiệu quả thì một cá nhân hoặc một tờ báo không thể giải quyết được mà phải bằng nỗ lực của cộng đồng báo chắ, của toàn xã hội Truyền thông nợ công coi sự tham gia của người dân là nhân tố thiết yếu, bởi vậy nó có thể thúc đẩy quá trình người dân hợp tác và hành động tập thể
Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để truyền thông nợ công phát huy hiệu quả tại Việt Nam? Như đã trình bày, yêu cầu chung để truyền thông nợ công có thể phát huy hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin xã hội là nguyên tắc sự tham gia của công chúng Bởi lẽ, công chúng là trung tâm của mọi hoạt đông xã hội Chắnh người dân mới là người hiểu rõ họ đang cần gì và cũng chắnh họ mới là chủ thể hành động làm thay đổi cuộc sống của họ Và nợ công cũng vậy, đó là nguồn vốn vay để phục vụ nhu cầu phát triển của quốc gia, mà trong đó có trách nhiệm của từng người dân Tuy vậy, không phải người dân nào cũng có khả năng nhận thức sâu rộng và phần lớn công chúng ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Do đó, ngay cả khi công chúng hoàn toàn ư thức được tầm quan trọng của vấn đề và sẵn sàng thay đổi thì bản thân họ không thể tự mình giải quyết được bài toán về nợ công Họ cần sự đồng hành, giúp đỡ từ Chắnh phủ với những chắnh sách phù hợp Thông qua việc truyền thông phản ảnh thực trạng, những vấn đề khó khăn, thách thức cần phải giải quyết của xã hội, các cơ quan ban ngành chức năng sẽ có các chắnh sách phù hợp nhằm hỗ trợ, thúc đẩy Khi Chắnh phủ, các cơ quan chức năng ban ngành liên quan đưa ra các chắnh sách thì truyền thông lại có nhiệm vụ phổ biến những chắnh sách ấy đến người dân, hướng dẫn họ thực hiện Không dừng lại ở đó,
Trang 21truyền thông còn đồng hành cùng công chúng trong quá trình thực hiện những chủ chương, chính sách của Chính phủ và các cơ quan ban ngành có liên quan Ngay khi những chính sách ấy gặp vấn đề khi đi vào cuộc sống, truyền thông cũng nhanh chóng làm rơ và thông tin phản hồi giúp cho Chính phủ và các cơ quan ban ngành
có những biện pháp phù hợp Làm tốt điều đó, truyền thông đã có vai trò tạo ra sợi dây liên kết bền vững giữa người dân và chính phủ Chính vì vậy, truyền thông nợ công sẽ tác động mạnh đối với xã hội nếu hoạt động truyền thông được tiến hành kết hợp cùng với các biện pháp khích lệ khác của chính phủ như các chính sách kinh tế, luật pháp nếu không các chiến dịch truyền thông này chỉ cho các kết quả hời hợt và trong nhiều trường hợp trở nên vô hiệu
Một điều hết sức quan trọng cần lưu ý trong truyền thông nợ công ở các nước nói chung và Việt Nam nói riêng là cách thức truyền thông Như đã đề cập ở trên, do truyền thông nợ công hướng đến đối tượng chủ yếu là công chúng, nhà đầu
tư và người dân nói chung, mà phần lớn người dân Việt Nam chưa có sự hiểu biết sâu sắc về nợ công và bản chất nợ công Do vậy, sự đơn giản và rõ ràng là yếu tố cần thiết trong truyền thông về nợ công Việc thông tin được truyền tải một cách đơn giản và rõ ràng giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận thông tin và hiểu được thông tin tốt hơn Từ việc tiếp nhận thông tin dễ dàng sẽ giúp họ thay đổi nhận thức
và dần thay đổi hành vi của mình trước vấn đề nợ công
1.3 Vai trò của báo chí, đặc biệt là báo điện tử với vấn đề nợ công
1.3.1 Vai trò của báo chí đối với vấn đề nợ công
Việc vay vốn để đầu tư phát triển là yêu cầu bức thiết Tuy nhiên, cùng với việc vay nợ thì vai trò của của báo chí không thể tách rời, báo chí không chỉ thông tin, tuyên truyền, giám sát các khoản nợ vay, tiến trình giải ngân và việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này mà còn giải đáp những vướng mắc của người dân về các vấn đề nợ công…
Có thể nói, cả trong nhận thức, quy định pháp lý, chức năng và thực tế đều khẳng định, báo chí luôn có vai trò quan trọng là công cụ hàng đầu, hữu hiệu và phổ biến nhất trong tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà
Trang 22nước Báo chí không chỉ đơn thuần truyền tải các nội dung chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính, mà còn là cầu nối tập hợp, thu hút, chuyển tải và có ảnh hưởng lan tỏa cao trong xã hội về những sự kiện, vấn đề, tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị, ý kiến đa chiều của các tầng lớp đông đảo nhân dân, các nhà khoa học và doanh nghiệp, hiệp hội với chính phủ, cơ quan hữu quan và giúp định hướng, điều chỉnh nhận thức và hành vi các đối tượng có liên quan Các thông tin về kinh tế - tài chính nói chung và nợ công nói riêng được phản ánh trên báo chí đã, đang và sẽ giúp các nhà quản lý nắm bắt cập nhật, đầy đủ và chính xác hơn để hoàn thiện chiến lược, chính sách theo yêu cầu phát đất nước bền vững Bên cạnh đó, với các thông tin và phản ánh “trái chiều” của báo chí về trách nhiệm xã hội liên quan đến quản lý nợ công đã, đang và sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện hơn các chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý Như vậy, thông tin, tuyên truyền về nợ công phải tập trung vào: Quan điểm, đường lối của Đảng về nợ công; Phản ánh đúng thực trạng, bản chất nợ công và các điều kiện vay nợ công đảm bảo tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất nước; Giám sát, phản biện và đưa ra các giải pháp giải quyết những vấn đề tồn tại của nợ công
1.3.2 Báo điện tử và vai trò của báo điện tử với vấn đề nợ công
1.3.2.1 Báo điện tử:
Báo điện tử (hay báo mạng) hiểu một cách thông dụng nhất là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng Internet Báo mạng điện tử được xuất bản bởi Tòa soạn điện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng có kết nối Internet Khác với báo in, tin tức trên báo điện tử được cập nhật thường xuyên, tin ngắn và thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Nó cũng khác so với trang thông tin điện tử về tần suất cập nhật Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian, sự phát triển của Báo điện tử
đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống
Trang 23Hiện nay có nhiều cách phân loại báo điện tử khác nhau, tùy theo quy định riêng của mỗi nước Tuy nhiên, đa số các quốc gia thường phân biệt dựa trên tính hợp pháp của các tờ báo điện tử Các báo điện tử được cho là hợp pháp, tức được cấp phép bởi một cơ quan chức năng của nước sở tại (Chính thống) Ngược lại, những báo điện tử hoạt động không phép tại nước sở tại (hoặc được cấp bởi một nước thứ 2, nhưng chưa được phép của nước sở tại) thường khó được chấp nhận Một hình thức phân loại khác cũng được một số nước sử dụng, trong đó có Việt Nam, khi muốn phân biệt các trang mạng với nhau Cách phân loại này dựa trên hình thức thể hiện trên phiên bản online Cụ thể, gồm: trang tin điện tử và báo điện
tử Trong khi báo điện tử hội đủ các yếu tố được cấp phép hoạt động của một tờ báo điện tử, thì Trang tin điện tử đa phần được lấy thông tin từ báo in đăng lại
Một loại báo điện tử khác cũng trở nên thịnh hành thời gian gần đây là Báo tổng hợp tin tức từ các báo khác, hoặc đơn giản là quét các dữ liệu, thông tin từ các trang khác Người ta gọi chung các báo điện tử dạng này, theo một cách khác là
"Báo tự động cập nhật tin tức" Đây là loại báo điện tử có khả năng tổng hợp các tin tức mới, cập nhật từ nhiều nguồn báo điện tử có tiếng của Việt Nam, sau đó máy móc và phần mềm tự động phân loại, tổ chức, sắp xếp tin tức theo mục mà không cần con người biên tập Báo giúp người đọc và t́m kiếm tin tức theo cách hoàn toàn mới Mỗi mẩu tin được hiển thị kèm với các nguồn tin khác nhau đưa cùng tin hoặc tin tương tự Báo giúp bạn tiếp cận các báo điện tử của Việt Nam một cách hiệu quả nhất Báo được thiết kế đơn giản, tập trung vào tin tức, không có các banner quảng cáo Báo rất tiện lợi và tiết kiệm thời gian hơn khi đọc tin tức… Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch
vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet nêu rõ: “Trang thông tin điện tử trên Internet là trang thông tin hoặc tập hợp trang thông tin phục vụ cho việc cung cấp
và trao đổi thông tin trên môi trường Internet, bao gồm trang thông tin điện tử (website), trang thông tin điện tử cá nhân (blog), cổng thông tin điện tử (portal) và các hình thức tương tự khác”
Trang 24Còn trong Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ, trang thông tin điện
tử được phân loại và quy định quản lý như sau: Thứ nhất, báo điện tử dưới hình
thức trang thông tin điện tử, được thiết lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
về báo chí; Thứ hai, trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử của
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rơ tên tác giả hoặc tên cơ quan
của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó; Thứ ba, trang thông
tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, dịch vụ, sản phẩm, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hợp; Thứ tư, trang thông
tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp Trang thông tin điện tử cá nhân, trang thông tin điện tử nội bộ phải tuân theo các quy định về đăng ký và sử dụng tài nguyên Internet và các quy
định có liên quan tại Nghị định này; Thứ năm, trang thông tin điện tử ứng dụng
chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh, truyền h́nh , thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp Trang thông tin điện
tử này được thiết lập và hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành và các quy định có liên quan
Theo thông tư số 09/2014/TT-BTTTT ngày 19/8/2014 của Bộ Thông tin truyền thông quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử, các trang thông tin điện tử không phải cấp phép gồm: trang thông tin điện tử nội bộ; trang thông tin điện tử cá nhân; trang thông tin điện
tử ứng dụng chuyên ngành; diễn đàn nội bộ dành cho hoạt động trao đổi, hỏi đáp thông tin nội bộ liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ
Trang 25máy, dịch vụ, sản phẩm, ngành nghề phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó; trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước cung cấp thông tin được quy định tại Điều 10 Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Bên cạnh
đó, Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT cũng quy định các trang thông tin điện tử phải cấp phép hoạt động là: trang thông tin điện tử tổng hợp; các trang thông tin điện tử nội bộ, trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành khi cung cấp thông tin tổng hợp thì phải đề nghị cấp phép như đối với trang thông tin điện tử tổng hợp
Ngoài ra, Thông tư còn quy định, trang thông tin điện tử tổng hợp khi trích dẫn lại thông tin phải tuân theo quy định về nguồn tin (được quy định tại khoản 18 Điều 3, khoản 2 Điều 20 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP); không đăng tải ý kiến nhận xét, bình luận của độc giả về nội dung tin, bài được trích dẫn (trừ trang thông tin điện tử tổng hợp của cơ quan báo chí)
1.3.2.2 Vai trò của báo điện tử với vấn đề nợ công
Thực tế cho thấy, tất cả các loại hình báo chí nước ta đều tham gia tích cực vào quá trình thông tin, tuyên truyền về vấn đề nợ công của Việt Nam Mỗi loại hình báo chí đều đã phát huy thế mạnh của mình Trong tương quan với các loại hình khác, báo điện tử có nhiều lợi thế và khẳng định rõ vai trò quan trọng trong việc thông tin nói chung và thông tin về vấn đề nợ công của Việt Nam nói riêng
Mặc dù, ra đời muộn nhất so với các loại hình báo chí khác nhưng báo điện
tử lại hội tụ và tận dụng được các thế mạnh của nền khoa học công nghệ phát triển Không phải phụ thuộc vào các khâu in ấn, phát hành như báo giấy hay dựng băng, ghi âm như truyền hình, phát thanh nên khả năng cập nhật thông tin của loại hình báo điện tử rất linh động và tốc độ đưa tin cũng thể hiện sự vượt trội Nó cho phép mọi người trên thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian Thông tin trên báo điện tử có tính thời sự rất cao với tính tức thời, gần như ngay lập tức, biết tin sớm nhất từ những khoảng cách xa nhất Mọi thông tin từ khi thu nhập được đến khi phát hành được diễn ra trong thời gian ngắn hơn
Trang 26nhiều so với các loại hình báo chí khác Chính khả năng này làm cho thông tin trên báo điện tử luôn được cập nhật từng ngày, từng giờ, thậm chí có khi từng phút Báo điện tử có thể giúp công chúng tiếp nhận thông tin ở bất kỳ lúc nào chỉ bằng một click chuột Sự kết nối internet đã kết nối công dân giữa nước này với nước kia một cách nhanh chóng, chặt chẽ, tạo thành một mạng xã hội toàn cầu đã giúp cho con người có thể giao lưu, học hỏi những nét đẹp của những nền văn hóa tiên tiến khác trên thế giới Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, hàng ngày con người phải tiếp nhận một khối lượng thông tin hết sức to lớn
Báo điện tử có thể cung cấp một ngôn ngữ truyền tải mới lạ và hấp dẫn dưới dạng thông tin đa phương tiện với một trong những yếu tố như ngôn từ, hình ảnh và
âm thanh hay tích hợp tất cả Do đó, báo điện tử đã đem đến cho công chúng một cách thức tiếp nhận thông tin đầy đủ, đa chiều và hấp dẫn
Khả năng giao lưu, tương tác giữa độc giả và tòa soạn cũng như tác giả của chính bài báo đó cũng là ưu điểm nổi bật của báo mạng điện tử Báo điện tử cho phép sự phản hồi thông tin từ người sử dụng đến tòa soạn báo nhanh chóng và thuận tiện nhất Bằng các phương tiện dễ dàng như email hay những dòng comment dưới mỗi bài viết khiến cầu nối giữa bên cung cấp thông tin và bên tiếp nhận thông tin trở nên chặt chẽ hơn
Báo điện tử có khả năng lưu giữ thông tin rất tốt Báo điện tử cho phép độc giả tìm kiếm thông tin theo chủ đề, theo thời gian rất tiện lợi Chỉ bằng các siêu liên kết, công chúng của báo mạng có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin mình cần trong một biển vô vàn những thông tin ở khắp nơi trên thế giới Báo điện tử có ưu điểm
là khả năng xã hội hóa các sản phẩm đơn lẻ Việc cập nhật theo từng trang tin, chuyên mục có thể được thực hiện bất cứ lúc nào Không như các loại hình báo chí khác phải chờ đầy đủ các tin, bài mới lên khuôn in hay lên chương trình phát sóng
Ở bất kỳ đâu chỉ cần một chiếc máy tính, một chiếc điện thoại có kết nối internet là
có thể thỏa sức tìm kiếm các thông tin trên báo mạng điện tử ở tất cả các lĩnh vực từ kinh tế - tài chính, chính tri, văn hóa, xã hội… không bị phụ thuộc vào không gian
và thời gian
Trang 27Tuy nhiên, cũng cần khẳng định không phải chỉ có báo điện tử mới tham gia vào việc thông tin về nợ công mà tất cả các loại hình khác đều tham gia tuyên truyền về vấn đề này Nhưng với những ưu điểm vượt trội trên, báo điện tử đang là loại hình lý tưởng và tỏ rõ thế mạnh của mình trong việc truyền tải thông tin
1.3.2.3 Các yếu tố tác động đến hiệu quả thông tin về nợ công
Trong hoạt động báo chí, chất lượng thông tin có vai trò hết sức quan trọng quyết định đến hiệu quả tuyên truyền Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin đó là: Tính độc đáo; Tính đại chúng; Tính hợp thời (đúng lúc)
- Tính độc đáo của thông tin là cái mới mà công chúng chưa biết Tuy nhiên, cái mới không phải cái duy nhất thể hiện tính độc đáo Cái mới có thể là sự tái hiện cái cũ bị lãng quên, qua đó giúp cho công chúng có thêm nhận thức tốt hơn
- Tính đại chúng là sự dễ hiểu, phổ quát giúp cho công chúng nhận thức được nội dung tác phẩm theo ý đồ của tác giả Do vậy đòi hỏi cách viết, ngôn ngữ trong tác phẩm phải dễ hiểu để công chúng dễ dàng nhận thức được Nếu không thực hiện nguyên tắc này thì độc giả sẽ không hiểu được nội dung tác phẩm viết gì
- Tính hợp thời (đúng lúc) đòi hỏi tác phẩm đến với độc giả, công chúng phải đúng lúc, đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng và sự quan tâm của họ trong đúng thời điểm đó thfi tác phẩm sẽ có giá trị, tạo sự hấp dẫn
Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cũng chỉ ra rằng, một tác phẩm báo chí chỉnh thể bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, gắn bó cơ hữu và chi phối lẫn nhau tạo nên chất lượng tác phẩm báo chí Tác phẩm báo chí cũng có thể hiểu rộng hơn đó là cả trang báo, số báo, chuyên mục, chương trình Do vậy, để đánh giá đúng chất lượng thông tin phải coi trọng
cả hai yếu tố là nội dung thông tin và hình thức thông tin
Hiệu quả báo chí là việc vận dụng các quy luật, nguyên tắc, hình thức, phương thức hoạt động báo chí giúp cho báo chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đạt được mục đích đề ra Báo chí hoạt động hiệu quả trước hết nội dung thông tin phải phong phú, mang lại cho công chúng lượng thông tin mới, phản ánh đúng, kịp
Trang 28thời, đi vào các vấn đề thiết thực nhất mà công chúng quan tâm Mặt khác cũng phải thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, tác động đến tình cảm, suy nghĩ của đối tượng
Chính vì vậy, hình thức thông tin báo chí phải chuyển tải bằng các hình thức tác phẩm và phương pháp thể hiện thuyết phục, dễ hiểu Nó không chỉ làm công chúng thích thú mà còn khơi gợi được những suy nghĩ theo hướng đúng và thúc đẩy hoạt động tích cực của họ
Nhìn chung, phân tích nội dung, hình thức một tác phẩm báo chí chính là việc xem xét tác phẩm đó hay, dở đến đâu theo quan điểm của mỗi cá nhân Tuy nhiên, để đánh giá một tác phẩm báo chí ở góc độ tâm lý tiếp nhận của công chúng
có thể dựa trên các yếu tố:
- Vấn đề đưa ra có đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của đa số công chúng không? Trước hết, cần xác định chủ đề nhất định cho bài báo Chủ đề đó có thể là
sự kiện mà xă hội quan tâm hay vấn đề nào đó quan trọng trong cuộc sống Tuyên truyền về nợ công các cơ quan báo chí nên luôn cho đó là vấn đề thời sự, cấp thiết, tuyên truyền đúng bản chất, định hướng và có tính trọng tâm, trọng điểm sẽ hấp dẫn
và nâng cao hiệu quả thông tin hơn
- Có thấy rõ ràng thông điệp tác phẩm báo chí muốn chuyển tải đến công chúng hay không? Về vấn đề nợ công, ngay trên phần đầu tiên của tác phẩm (hay giao diện nổi bật của tờ báo) nên đưa ra những thông tin mới, hấp dẫn, hình ảnh, hình họa bắt mắt công chúng Vì đây chính là các yếu tố lôi cuốn đi sâu vào tìm hiểu nội dung tác phẩm
- Đầu đề, cách dẫn dắt có gây chú ý và có khả năng hướng dẫn công chúng tiếp cận được nội dung thông điệp trong tác phẩm không? Nội dung bài báo được thể hiện trực quan qua tiêu đề Đây là yếu tố quyết định để người đọc tiếp tục theo dõi, tìm hiểu nôi dung bài báo Không nhất thiết phải đưa tít giật gân câu khách nhưng tiêu đề phải tóm được nội dung chính của tác phẩm báo chí Đặc biệt là các tiêu đề gây ấn tượng với công chúng và khiến họ muốn tìm hiểu bài báo
- Cách trình bày, thể loại, ngôn ngữ có phù hợp với công chúng mà tác phẩm báo chí hướng tới không? Đa số tác phẩm báo chí hướng đến nhiều đối tượng công
Trang 29chúng khác nhau, vì vậy việc sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu nhưng vấn đặc sắc là hết sức quan trọng
- Có gây ấn tượng đặc biệt bằng chi tiết và lối phân tích không? Thực tế, khó tính sẽ không chấp nhận những bài báo viết lan man, dàn trải Vì vậy yêu cầu người viết phải thể hiện ngắn gọn, phân tích súc tích, đi thẳng và đi sâu vào vấn đề Sự sáng tạo của nhà bào còn cần được thể hiện trên nhiều phương diện, từ khai thác vấn đề đến cách đưa sự kiện cũng như cách viết bài báo Điều này phụ thuộc nhiều vào năng lực và con mắt tinh tường của nhà báo để phát hiện và khai thác vấn đề
Vì vậy, để có một tác phẩm báo chí hay cần phải lực chọn nội dung thông tin mới
mẻ, đúng lúc và hình thức thể hiện, trình bày hấp dẫn, phù hợp
- Tác phẩm báo chí có thỏa mãn được những đòi hỏi đặc thù của loại hình báo chí nhằm tác động hiệu quả đến cơ chế tác động thông tin đến công chúng không? Một điều không thể thiếu trong quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí là yếu tố chức năng Chức năng có thể là thông tin, giáo dục tư tưởng, giám sát, phản biện xã hội, khai sáng và giải trí Một tác phẩm báo chí có thể có một hay nhiều chức năng khác nhau Việc xác định được chức năng của mỗi bài báo để giúp đưa thông tin phù hợp với công chúng
Như vậy, chất lượng nội dung và hình thức thông tin của tờ báo nói chung và bài báo nói riêng được quyết định trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất tác phẩm báo chí Từ xây dựng kế hoạch tuyên truyền, tổ chức thu thập khai thác thông tin, thẩm định nguồn tin, biên tập thônng tin, lựa chọn hình thức thể hiện
1.4 Tính phản biện và giám sát của báo chí
Phản biện và tự phản biện là “cách để cuộc sống diễn ra, cuộc sống đi lên
Ở vị trí quyền lực, coi trọng phản biện sẽ có được phản biện xã hội có tổ chức, giúp ích lớn cho ổn định và phát triển; ngược lại, tránh né phản biện xã hội, kết quả là nhận được phản biện xã hội tự phát - mảnh đất thuận lợi để hình thành tâm thế phản
kháng xã hội” (Trần Đăng Tuấn: Phản biện xã hội - câu hỏi đặt ra từ cuộc sống, NXB Đà Nẵng, 2006)
Trang 30Thuật ngữ “phản biện xã hội” được sử dụng chính thức trong Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo đó, phản biện xã hội là “phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường,
trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan” (Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006)
Giám sát xã hội và phản biện xã hội là hai khái niệm chức năng gắn bó mật thiết vì chỉ giám sát một cách nghiêm túc mới có thông tin đầy đủ và thấu đáo làm tiền đề cho phản biện Giám sát xã hội của báo chí thực chất là giám sát bằng dư luận xã hội Qua giám sát, theo dõi một cách khách quan và có định hướng mà báo chí thể hiện vai trò phản biện xã hội của mình Nếu phản biện khoa học là một trong những cách thức chủ yếu để các nhà nghiên cứu tiệm cận tới các chân lý khoa học, thì trong đời sống xã hội, phản biện xã hội là một công cụ không thể thiếu để tổ
chức ra một xã hội dân chủ
Sứ mệnh của báo chí trước hết là để thỏa mãn nhu cầu thông tin của xã hội
Xã hội càng hiện đại, việc phổ biến thông tin trên quy mô đại chúng càng trở nên quan trọng, vì vậy, sự phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các phương tiện thông tin đại chúng và xã hội càng trở nên chặt chẽ Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của cộng đồng truyền thông đã thúc đẩy quá trình xã hội hóa các hoạt động giám sát và phản biện xã hội Bằng cách này hay cách khác, hoạt
động phản biện luôn chứa đựng khả năng tạo ra một trường tương tác xã hội giữa 3
nhóm cộng đồng, đó là cộng đồng trí thức (phát hiện và lý giải vấn đề), cộng đồng truyền thông (phổ biến, chuyển tải thông tin) và cộng đồng xã hội (hưởng ứng thông tin và hình thành dư luận) - Phạm Quang Tú, Đặng Hoàng Giang: Phản biện xã hội:
khái niệm, chức năng và điều kiện hình thành, Tạp chí Tia sáng:
tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=5004&CategoryID=42
Trang 31Thông qua báo chí, người dân có thể phát biểu ý kiến, nguyện vọng của mình
về các vấn đề trong đời sống xã hội, qua đó, thể hiện sự giám sát và phản biện xã hội của mình Bám sát sự kiện, thông tin nhanh nhạy, phân tích trúng vấn đề trọng điểm và định hướng tư tưởng, hướng dẫn dư luận rõ ràng, các cơ quan thông tấn, báo chí đã thực hiện tốt chức năng phản biện, mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt Bởi thế, vai trò, chức năng phản biện của báo chí ngày càng được khẳng định và niềm tin của công chúng đối với cơ quan truyền thông cũng được nâng lên
Trong suốt chiều dài lịch sử đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng dân tộc, báo chí Việt Nam đã luôn thể hiện vai trò là một lực lượng cách mạng quan trọng, góp phần đắc lực cho mỗi bước thành công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu của thực tiễn đã đòi hỏi báo chí cách mạng Việt Nam phát triển chức năng giám sát, phản biện xã hội
Đánh giá cao vai trò của phản biện xã hội, văn kiện đại hội lần thứ XI của Đảng ghi rõ: “Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ hoạt động tự nguyện, tích cực sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến của mặt trận và các đoàn thể Đảng, Nhà nước có
cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có
hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” (Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2011) Đây là một minh chứng
thể hiện tính dân chủ, tính khoa học trong hoạt động lãnh đạo của Đảng
Như vậy, phản biện và giám sát có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của báo chí Trong bối cảnh hội nhập, phát triển một trong những đòi hỏi đặt
ra sự minh bạch và trách nhiệm giải trình thì vai trò phản biện, giám sát của báo chí càng cần được nâng cao
1.5 Quan điểm thông tin của Đảng và Nhà nước về nợ công
1.5.1 Quan điểm về vay nợ và nợ công
Trong điều kiện thu ngân sách nhà nước chưa bảo đảm đáp ứng yêu cầu cho đầu tư phát triển, việc vay nợ để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
là cần thiết Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, Chính phủ đã báo cáo trước Quốc hội và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về tình hình và giải pháp nâng cao hiệu
Trang 32quả đầu tư công và bảo đảm an toàn nợ công Trong đó, một lần nữa Chính phủ nêu
rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vay nợ và nợ công
Theo đó, năm 2009, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Quản lý Nợ công, đây là cơ sở pháp lý cực kỳ quan trọng cho các khuôn khổ về quản lý nợ công mà vốn dĩ trước đó Việt Nam chưa có Luật Quản lý Nợ công không chỉ đưa ra các định nghĩa mang tính thống nhất về nợ công, nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh,
nợ chính quyền địa phương, mà cả nợ nước ngoài của quốc gia Luật Quản lý Nợ công cũng đưa ra các nguyên tắc về quản lư nợ công, trong đó nêu rõ Nhà nước sẽ quản lý thống nhất, toàn diện nợ công, từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ Điều đặc biệt là các hành vi bị cấm trong quản lý nợ công cũng được quy định cụ thể… Có thể nói, sự ra đời của Luật Quản lý Nợ công là một nỗ lực đáng ghi nhận của Việt Nam nhằm giúp tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng hơn trong quản lý nợ công, tránh tình trạng phân mảng về chức năng vay, trả nợ, giám sát an toàn nợ giữa các cơ quan nhà nước khác nhau cũng như ở các chính quyền địa phương, kiểm soát sự lạm dụng thẩm quyền vay nợ, và hạn chế tâm lý ỷ lại trong việc đảm bảo tính bền vững và giám sát tính an toàn, lành mạnh trong sử dụng nợ công
Như vậy, Luật Quản lý nợ công ra đời đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề vay nợ và nợ công là nhằm đáp ứng yêu cầu cho đầu tư phát triển, việc vay nợ để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Sau khi có Luật Quản lý Nợ công, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2010/NĐ-CP, ngày 14/7/2010 về nghiệp vụ quản lý nợ công, trong đó quy định khá rõ về các công cụ quản lý nợ công, các chiến lược dài hạn về nợ công, các chương trình quản lý nợ trung hạn và cả các kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ Nghị định 79/2010/NĐ-CP còn quy định hệ thống các chỉ tiêu giám sát nợ công và cả nợ nước ngoài của quốc gia, cách thức tổ chức giám sát nợ công, quy định về quản lý quỹ tích lũy trả nợ, quy định việc quản lý danh mục nợ và rủi ro danh mục nợ của Chính phủ; các quy định về quản lý vay và trả nợ của chính quyền địa phương, như:
Trang 33hạn mức vay nợ, kế hoạch vay trả nợ, quản lý giám sát nợ của chính quyền địa phương cũng được quy định khá chi tiết
Năm 2012, Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 958/QĐ-TTg, ngày 27/7/2012 về Chiến lược Nợ công và Nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-
2020 và tầm nhìn 2030 Nội dung của Quyết định số 958/QĐ-TTg cơ bản đã thể hiện tương đối đầy đủ về những vấn đề quan trọng liên quan đến quản lý nợ công
như trong tài liệu Hướng dẫn về Quản lý nợ công của IMF và WB Các nội dung
chủ yếu của Quyết định số 958/QĐ-TTg bao gồm các quy định liên quan đến quan điểm và mục tiêu của quản lý nợ Theo đó, mục tiêu của quản lý nợ công được xác định là nhằm “Tổ chức huy động vốn vay với chi phí và mức độ rủi ro phù hợp” Mục tiêu này nói chung cũng nhất quán với mục tiêu quản lý nợ của nhiều nước, tức
là tập trung và quản lý chi phí vay nợ đặt trong mối quan hệ với rủi ro có thể chấp nhận được Ngoài ra, các chỉ tiêu cụ thể của quản lý nợ công cũng được quy định khá đầy đủ với một lộ trình tương đối cụ thể và rõ ràng Quyết định 958/QĐ-TTg cũng quy định về các định hướng huy động và sử dụng vốn vay, đi kèm với các giải pháp thực hiện chiến lược quản lý nợ trong từng giai đoạn cụ thể, bao gồm cả việc thực hiện các đề án cụ thể để triển khai thực hiện
Đặc biệt, trước tình hình nợ công tăng mạnh ngày 14/2/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 02/CT-TTg về việc tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, thể hiện quan điểm mạnh mẽ qua hàng loạt
“liều thuốc mạnh” để trị lãng phí, siết chặt quản lý sử dụng nợ công Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế nhà nước, tổng công ty nhà nước và các cơ quan, tổ chức có liên quan tập trung thực hiện tốt các giải pháp tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô Cụ thể, Thủ tướng yêu cầu phải quản lý chặt chẽ nợ công, nhất là các khoản vay mới, tính đúng tính đủ nợ công theo quy định, đảm bảo trong giới hạn cho phép Nợ công chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển, xây dựng các công trình kinh tế xã hội quan trọng, thiết yếu theo quy hoạch Rà
Trang 34soát, thẩm định, đánh giá tác động lên nợ công của các chương trình, dự án sử dụng vốn vay của Chính phủ, vốn vay được Chính phủ bảo lãnh và vốn vay của chính quyền địa phương ngay từ khâu phê duyệt chủ trương đầu tư bằng nguồn vốn vay Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, bảo đảm hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình và theo đúng quy định của pháp luật Chủ động ngăn ngừa và xử
lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí…
Có thể thấy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nợ công đã được thể hiện rõ ràng qua khuôn khổ pháp lý quản lý nợ công tương đối đầy đủ, ngày càng hoàn thiện và đồng bộ hơn, tiến dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản lý nợ công
1.5.2 Định hướng thông tin về nợ công
Trong thời kỳ bùng nổ thông tin, dư luận xã hội có thể chịu ảnh hưởng của nhiều luồng, nhiều hướng thông tin khác nhau Đặc biệt, rất nhiều các lực lượng bên ngoài sử dụng vũ khí mới là vũ khí thông tin trong trận chiến về công tác tư tưởng Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã thể hiện những quan điểm rõ ràng và sáng suốt trong việc định hướng tuyên truyền của các cơ quan báo chí Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X): “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trýớc yêu cầu mới”; Nghị quyết Trung ýõng 4 (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh:
“Quyết tâm làm cho Đảng ngày càng trong sạch hơn, vững mạnh hơn; mỗi cán bộ, đảng viên ngày càng tiến bộ hơn; nội bộ đoàn kết hơn; nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc hơn”; Nghị quyết TW 6 (lần 2) (khóa VIII) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; Chỉ thị 08 của Bộ Chính trị khóa VII về tăng cường công tác quản lý báo chí và xuất bản; Chỉ thị Chỉ thị số 22-CT/TW của
Bộ Chính trị tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản; ngày 17/10/1997; Luật Báo chí năm 1989; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Báo chí năm 1989; Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí Trong đó, thể hiện quan điểm về nắm bắt và định hướng tuyên truyền quan điểm của Đảng và Nhà nước ta một cách rõ ràng như: Đảng Cộng
Trang 35sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập đã coi việc nắm bắt lòng dân (tâm tý, nguyện vọng, ý chí của nhân dân) là một trong những công việc quan trọng hàng đầu nhằm đề ra các chủ trương, đường lối cách mạng phù hợp lòng dân Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”
Những năm đầu đổi mới và đặc biệt là thời gian gần đây, Đảng ta tiếp tục có những sự chỉ đạo nhằm tăng cường công tác điều tra xã hội học, nắm bắt dư luận xã hội Điển hình, trong văn kiện Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã nêu ra nhiệm vụ đối với công tác tư tưởng sau đây: “Nâng cao chất lượng thông tin nội bộ và công tác tuyên truyền, coi trọng biện pháp điều tra dư luận xã hội” Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VII tiếp tục yêu cầu: “Tổ chức điều tra dư luận xã hội về những vấn đề cần thiết cho công tác lãnh đạo, quản lý Nhà nước Xây dựng luật về trưng cầu dân ý” Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, tiếp tục nhấn mạnh: “Chú trọng công tác nghiên cứu, điều tra xã hội học, nắm bắt
dư luận xã hội phục vụ công tác tư tưởng” Như vậy, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác tư tưởng nhất là công tác định hướng tuyên truyền đã được hình thành và phát triển từ rất lâu, có nhiều cải tiến, mở rộng thể thích hợp với từng thời kỳ Vấn đề là làm sao để báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo các định hướng này vào hoạt động thực tiễn
Ngày 04/02/2015, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Hướng dẫn số HD/BTGTW, hướng dẫn tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2014
140-và phương hướng, nhiệm vụ năm 2015 Theo đó, Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh vai trò của công tác tuyên truyền là giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức đúng tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; góp phần thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội đối với chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước Tạo được bầu không khí phấn chấn, hồ hởi, lạc quan, cổ vũ hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nỗ lực vượt qua mọi thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu Kế
Trang 36hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011 - 2015) và bước vào đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng Ban Tuyên giáo Trung ương xác định 5 nội dung cần tập trung tuyên truyền đó là: (1) Khẳng định năm 2014 là năm thành công của công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành kinh tế - xã hội của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp có hiệu quả của các cấp, các ngành, cùng với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và toàn dân; khẳng định những thành tích đạt được ở mức cao, duy trì qua nhiều năm liên tục; các mục tiêu đột phá; các mục tiêu đạt được trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn; (2) Bối cảnh tình hình trong nước và thế giới năm 2015; cơ hội, thách thức và dự báo tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế nước ta, chú ý tác động của các sự kiện sau: Năm 2015 là năm đất nước có nhiều ngày lễ lớn nhiều sự kiện chính trị quan trọng sẽ diễn ra; năm các cấp, các ngành, địa phương đánh giá kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ nhiệm kỳ 2011 - 2015, xây dựng các nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2020; năm tiếp tục cải cách thể chế kinh tế, tạo ra nhiều xung lực phát triển mới cho nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp; năm các bộ, ngành, địa phương, đơn vị phát động các phong trào thi đua lập thành tích chào mừng đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; (3) Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể; nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đề ra cho năm 2015; nhấn mạnh những nội dung sau: Thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; chính sách tài khóa chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả; tăng cường kiểm soát thị trường giá cả; đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu; phấn đấu đến cuối năm 2015 giảm tỷ lệ
nợ xấu dưới 3%; tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước; đổi mới cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập; cải thiện rõ nét việc giảm quá tải bệnh viện; (4) Tuyên truyền, phát hiện, cổ vũ nhân tố mới và điển hình tiên tiến thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 và trong cả giai đoạn 5 năm thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (2011 - 2015); (5) Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tình hình kinh tế - xã hội nước ta xuyên tạc quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta, đặc biệt trong thời gian
Trang 37tiến hành lấy ý kiến nhân dân vào các dự thảo văn kiện đại hội đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và thời điểm diễn ra đại hội…
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản quy định về việc cung cấp thông tin, tiếp cập thông tin kinh tế - tài chính cho công dân nói chung và báo chí nói riêng Có những văn bản quy định chung cho các bộ, ban, ngành, nhưng cũng có những văn hàn quy định cụ thể cho từng ngành, lĩnh vực, điển hình như: Quyết định 77/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định và ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin báo chí; Quyết định 1390/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/8/2013 ban hành kèm theo quy chế phối hợp cung cấp thông tin báo chí giữa một số bộ; Nghị quyết 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 của Chính phủ về việc đưa thông tin đầy đủ, kịp thời về chính sách đặc biệt là lĩnh vực tài chính, tiền tệ, giá cả…; Công văn 2357/VPCP-KTTH của Văn phòng Chính phủ ngày 09/4/2010 về việc thông tin tuyên truyền về các chính sách tài chính, tiền tyệ và chứng khoán; Quyết định 25/2013/QĐ-TTg ngày 04/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định và ban hành kèm theo quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (sửa đổi bổ sung Quyết định 77/2007/QĐ-TTg); Công văn 5488/BTC-VP ngày 04/5/2010 của Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan thông tấn, báo chí cùng tăng cường phối hợp nhiều hơn và chủ động hơn nữa trong công tác thông tin, tuyên truyền; Công văn 7568/VPCP-KTTH ngày 27/10/2011 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ
về tăng cường cung cấp thông tin chính thống cho báo chí…
Trong những định hướng thông tin về nợ công của Việt Nam cũng thể hiện rõ: Xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin theo dõi, giám sát và đánh giá bền vững nợ công Tổ chức thông tin về nợ công kịp thời, hiệu quả, an toàn đã được quy định trong Luật Quản lý nợ công Mục tiêu của việc hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin về nợ công là nhằm tổng hợp, lập kế hoạch, xác định hạn mức nợ công thực hiện các báo cáo về nợ công theo yêu cầu của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan, tổ chức có liên quan; theo dõi, kiểm tra, giám sát, công khai và đánh giá bền vững nợ công và nợ nước ngoài của quốc
Trang 38gia theo quy định Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu về xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thông thông tin nợ công như sau: Tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống thiết bị kỹ thuật cần thiết để quản lý, vận hành và khai thác sử dụng hệ thống thông tin về nợ công; Xây dựng cơ sở dữ liệu về đăng ký khoản vay nợ khu vực công; theo dõi việc cho vay lại, bảo lãnh, đăng ký và xử lý tài sản đảm bảo; nợ chính quyền địa phương; hệ thống cảnh báo rủi ro đối với danh mục nợ công; Xây dựng và triển khai phần mềm ứng dụng để cập nhật, vận hành và tra cứu các thông tin về quản lư nhà nước đối với nợ công theo quy định; Điều tra, đánh giá, xác định phạm vi, thu thập, xử lý, báo cáo và công khai thông tin về nợ công, nợ chính phủ
và nợ nước ngoài của quốc gia theo quy định; Hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của thị trường trái phiếu theo hướng thống nhất, đồng bộ, đảm bảo khả năng quản lý, giám sát thông qua hệ thống tự động đối với các hoạt động giao dịch, thanh toán, bů trừ vŕ lýu ký chứng khoán
Như vậy, có thể thấy văn bản pháp luật quy định về tuyên truyền và định hướng tuyên truyền về lĩnh vực kinh tế - tài chính trong đó có nợ công của Đảng, Nhà nước ta là tương đối đầy đủ, rõ ràng Qua đó, việc tuyên truyền chủ trương, chính sách về lĩnh vực kinh tế - tài chính đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của cơ quan quản lý và nhu cầu của công chúng
1.6 Sơ lƣợc lịch sử hình thành, phát triển của báo: Nhandan.com.vn, Vneconomy.com.vn, Thoibaotaichinhvietnam.vn
1.6.1 Báo Nhân Dân điện tử
Báo Nhân Dân là cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam Báo Nhân dân ra số đầu ngày 11/3/1951 tại Chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng nước Việt Nam vì sự nghiệp "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", báo Nhân Dân luôn xung kích trên những trận tuyến nóng bỏng bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, đồng thời là diễn đàn tin cậy của nhân dân Ngày 21/6/1998, báo Nhân Dân điện tử
Trang 39chính thức phát hành trên mạng Internet, địa chỉ www.nhandan.org.vn và hiện phát hành đồng thời cả ở hai địa chỉ www.nhandan.org.vn và www.nhandan.com.vn Trong suốt 16 năm hình thành và phát triển, báo Nhân Dân điện tử luôn kiên định với tôn chỉ là một ấn phẩm online của báo Đảng, không ngừng sáng tạo, cải tiến nội dung, hình thức, phương thức thông tin, tuyên truyền, đáp ứng sự trông đợi, lòng tin của bạn đọc cả nước Bên cạnh nhiều chuyên mục thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn đọc, Báo Nhân Dân điện tử có Chuyên mục Kinh tế luôn là chuyên mục hấp dẫn bạn đọc với các tiểu mục: Tin tức, nhận định, chuyện làm ăn, hội nhập, chính sách, chứng khoán… tập trung thông tin tuyên truyền các vến đề liên quan đến kinh
tế, tài chính, đầu tư, doanh nghiệp… Trong thông tin, tuyên truyền về kinh tế - tài chính, vấn đề nợ công luôn được đặc biệt quan tâm
1.6.2 Thời báo Kinh tế Việt Nam
Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời năm 1991, dưới sự quản lý của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam Đến nay, tổ hợp nhóm Thời báo Kinh tế Việt Nam đang sở hữu 6 ấn phẩm, gồm tờ “Thời báo Kinh tế Việt Nam” ra hàng ngày bằng tiếng Việt,
tờ “Vietnam Economic Times” ra hàng tháng bằng tiếng Anh, tờ “The Guide” ra hàng tháng bằng tiếng Anh, tờ “Tư vấn Tiêu & Dùng” ra hàng tháng bằng tiếng Việt, báo điện tử tiếng Việt Vneconomy.vn và mới nhất là “vneconomictimes.com” bằng tiếng Anh Hấu hết các ấn phẩm của Thời báo Kinh tế Việt Nam đều tập trung thông tin, tuyên truyền về kinh tế, tài chính, doanh nghiệp, đầu tư, tư dùng…
VnEconomy.vn - báo điện tử thuộc nhóm Thời báo Kinh tế Việt Nam chính thức ra mắt vào năm 2004; được Bộ Thông tin Truyền thông cấp lại Giấy phép Báo điện tử số 123/GP-BTTTT, cấp ngày 7/4/2014 Với nội dung phong phú, đa dạng, cập nhật liên tục các thông tin về kinh tế, tài chính, đầu tư, doanh nghiệp, ngân hàng… VnEconomy.vn luôn lượng độc giả truy cập rất lớn và là kênh thông tin tin cậy cho độc giả quan tâm đến các vấn đề kinh tế, tài chính, doanh nghiệp, ngân hàng nói chung và các vấn đề liên quan đến nợ cộng nói riêng Tất cả các chuyên mục trên VnEconomy.vn đều liên quan đến kinh tế, tài chính, đầu tư… Trong đó,
Trang 40nợ công là vấn đề luôn được VnEconomy.vn tập trung thông tin với sự cập nhật nhanh nhất về số liệu và được phân tích dưới nhiều góc cạnh
1.6.3 Thời báo Tài chính Việt Nam
Thời báo Tài chính Việt Nam là cơ quan ngôn luận của ngành Tài chính, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Cán sự Đảng và Bộ trưởng Bộ Tài chính Thời báo Tài chính Việt Nam ra đời năm 1993, trong bối cảnh đất nước bước vào công cuộc đổi mới Hiện nay, Thời báo Tài chính Việt Nam xuất bản 02 ấn phẩm: Thời báo Tài chính Việt Nam bản in (phát hành vào thứ hai, thứ tư và thứ sáu hàng tuần trên phạm vi toàn quốc) và Thời báo Tài chính Việt Nam điện tử (thoibaotaichinhvietnam.vn) Thời báo Tài chính Việt Nam điện tử được Bộ Thông tin truyền thông cấp Giấy phép báo điện tử số 160/GP-BTTTT năm 2012 Hiện nay, Thời báo Tài chính Việt Nam điện tử có các chuyên mục đáng chú ý như: nhịp sống tài chính, thuế với cuộc sống, chứng khoán, tiền tệ bảo hiểm, kinh doanh, tài chính quốc tế Và nợ công là vấn đề luôn được Thời báo Tài chính Việt Nam đặc biệt quan tâm thông tin, tuyên truyền