1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH DS 07 NGUYỆT hảo

9 42 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 56,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không đồng ý với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 của ông Nguy

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: DÂN SỰ

Hồ sơ số: LS.DS 07/B3.TH2-DA1/HNGĐ Diễn lần: 01

Ngày diễn: 30/08/2021

Họ và tên:

Sinh ngày tháng năm MSHV:

Lớp:

Trang 2

I KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

Trang 3

1 Tóm tắt nội dung vụ việc:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ UBND thành phố Hải Dương

+ Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn Cang

- Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn ngày 26/03/1999 tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là TP.Hải Dương

- Vì phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải, ngày 02/01/2016, bà Hảo làm đơn xin ly hôn với ông Nguyệt (2 người đã sống ly thân từ 14/12/2014 tới nay)

- Ngày 10/01/2016 Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương ra thông báo thụ lý vụ án

số 02/TB-TLVA

- Trong quá trình làm việc tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bên đã thống nhất được một số vấn đề sau:

+ Không yêu cầu Toàn án giải quyết về diện tích đất khoán và quyền nhận thuê khoán 1.965m2 đất chuyển đổi của UBND xã Thượng Đạt

+ Thống nhất và thanh toán xong khoản nợ chung 30.000.000 đồng cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn

+ Thống nhất được giá trị tài sản tranh chấp và không yêu cầu Tòa án định giá tài sản

- Sau giai đoạn chuẩn bị xét xử, yêu cầu của các bên như sau:

* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Hảo :

+ Ly hôn với ông Nguyệt

+ Được nuôi 2 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2001) và Nguyễn Đức Anh (Sinh 13/06/2007) và không yêu cầu cấp dưỡng

+ Chia đôi tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên

Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005), lấy phần không có tài sản Tài sản trên đất không yêu cầu chia Không đồng ý với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 của ông Nguyệt

* Ý kiến của bị đơn - ông Nguyệt đối với các yêu cầu của nguyên đơn:

+ Nhất trí ly hôn với bà Hảo

Trang 4

+ Không đồng ý cho bà Hảo nuôi 2 con Yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Đức Anh, Bà Hảo nuôi cháu Nhi Không yêu cầu cấp dưỡng

+ Chỉ đồng ý chia đôi tài sản trên đất, nhận hiện vật, trả tiền lại cho bà Hảo Còn thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương là của bố mẹ ông Nguyệt cho ở nhờ, không phải tài sản chung của hai vợ chồng nên không đồng ý chia đổi Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005

- Ngày 03/8/2017 Tòa án nhân dân TP Hải Dương ra Quyết định xét xử số 73/2017/QĐST-DS

2 Những vấn đề pháp lý cơ bản:

- Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung trong thời

kì hôn nhân

- Thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào điều 28, điều 35, điều 39 Bộ luật TTDS 2015 thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

- Các chứng cứ mà Nguyên đơn Bị đơn phải cũng cấp cho Tòa án:

1 Giấy chứng nhận kết hôn của bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt (bản sao)

2 Sổ hộ khẩu của bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt (bản sao)

3 Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi (bản sao)

4 Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Đức Anh (bản sao)

5 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 (bản sao)

6 Sổ vay vốn của hộ ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo (Bản sao)

7 Giấy tờ pháp lý của cá nhân của nguyên đơn và bị đơn (bản sao)

II KẾ HOẠCH HỎI:

-

Hỏi Bị đơn- ông Nguyễn Văn Nguyệt :

1 Hiện tại cuộc sống hôn nhân giữa ông và bà Hảo như thế nào?

2 Nguyên nhân thường dẫn đến mẫu thuẫn giữa hai người là gì?

3 Bà Hảo cho rằng, ông hay tụ tập ăn chơi, đánh chửi mẹ con bà Hảo, còn đuổi bà Hảo ra khỏi nhà khiến bà Hảo nhiều lần phải bỏ về nhà mẹ đẻ, điều này đúng không?

4 Hai vợ chồng ông đã sống ly thân kể từ thời điểm ngày 14/12/2014 cho tới nay đúng không?

5 Sau khi ly thân, ông có hay liên lạc, quan tâm giúp đỡ gì bà Hảo không?

6 Ông nhận thấy hai vợ chồng còn có thể tiếp tục chung sống hòa thuận với nhau nữa hay không?

7 Ông và bà Hảo có 2 con chung là cháu Đức Anh và cháu Nhi, sau khi ông bà ly

Trang 5

11 Ông có hành vi ngăn cấm bà Hảo và cháu Đức Anh gặp nhau, nếu cháu Đức Anh gặp mẹ thì ông sẽ đánh cháu có đúng không?

12 Xin ông cho biết nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương?

13 Ông là người trực tiếp lên nhận GCNQSDĐ do UBND huyện Nam Sách cấp ngày 31/12/2005 Ông cho rằng việc cấp GCNQSDĐ này là sai, vậy tại sao từ

đó đến nay ông không hề ý kiến, khiếu nại hay khiếu kiện gì?

14 Sau khi biết việc UBND huyện Nam Sách cấp GCNQSDĐ cho ông và bà Hảo đứng tên, gia đình ông có ai phản đối về việc này không?

- Hỏi Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND thành phố Hải Dương :

1 Xin ông cho biết căn cứ để cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyệt và bà Hảo vào năm

2005?

2 Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Nguyệt

và bà Nguyễn Thị Hảo là đúng pháp luật hay không?

3 Trong quá trình cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyệt và bà Hảo, UBND có thực

hiện thông báo, niêm yết thông tin công khai tại trụ sở ủy ban không?

4 Kể từ khi cấp GCNQSDĐ trên cho ông Nguyệt và bà Hảo, nghĩa là từ năm

2005 tới này chính quyền địa phương có nhận được bất kì khiếu nại khiếu kiện

gì không?

- Hỏi Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Nguyễn Thị Thoa

1 Xin bà cho biết nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương?

2 Bà biết việc UBND huyện Nam Sách cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyệt và bà Hảo đứng tên từ khi nào?

3 Sau khi biết việc UBND huyện Nam Sách cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyệt và

bà Hảo đứng tên, gia đình bà có ai phản đối về việc này không?

4 Bà cho rằng việc cấp GCNQSDĐ này là sai, vậy tại sao từ thời điểm cấp 2005 cho tới nay gia đình bà không hề khiếu nại hay khiếu kiện gì mà tới nay bà mới phản đối?

- Hỏi Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ông Nguyễn Văn Cang

1 Ông có đồng ý với những gì bà Thoa vừa trình bày không?

-

Hỏi Nguyên đơn – Bà Hoàng Thị Hảo:

1 Hiện nay bà đang sinh sống ở đâu?

2 Sau khi ly thân từ ngày 14/12/2014 cho tới nay, bà có hay liên lạc, quan tâm giúp đỡ gì ông Nguyệt không?

3 Bà nhận thấy hai vợ chồng còn có thể tiếp tục chung sống hòa thuận với nhau nữa hay không?

4 Hiện nay cháu Nhi đang ở với bà Vậy kể từ khi ly thân, ông Nguyệt có hay đến thăm hay quan tâm gì cháu Nhi không?

5 Khi còn sống chung với nhau, ông Nguyệt có hay đánh đập con cái không?

6 Công việc hiện tại của bà là gì? Thu nhập bình quân một tháng là bao nhiêu?

7 Bà có kế hoạch gì để nuôi dạy các con không?

8 Nếu được quyền nuôi dưỡng cả hai cháu Nhi và Đức Anh, bà có ngăn cấm hai cháu được gặp bố hay gia đình bên nội không?

9 Xin bà cho biết nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích

Trang 6

10 Ai là người đứng ra đăng ký xin cấp GCNQSDĐ cho thửa đất số 496, tờ bản đồ

số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương?

11 Trong toàn bộ quá trình xin cấp GCNQSDĐ này ông Nguyệt và gia đình ông Nguyệt có biết không? Sau khi biết họ có phản đối gì không?

III LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN:

Kính thưa Hội đồng xét xử; Thưa đại diện Viện kiểm sát; Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp!

Tôi tên là Luật sư , thuộc VPLS , thuộc đoàn Luật sư TP.Hồ Chí Minh Tôi tham gia phiên tòa này với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ch o

Nguyên đơn là Bà Hoàng Thị Hảo Sinh năm 1978 Địa chỉ: Thôn Nam Giang, Xã

Thượng Đạt, TP.Hải Dương, Tỉnh Hải Dương, Việt Nam

Qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án ngày hôm nay Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung

vụ án này Sau đây tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn như sau:

Nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976; địa

chỉ: Thôn Thượng Triệt, Xã Thượng Đạt, TP.Hải Dương, Tỉnh Hải Dương, Việt Nam

+ Về con chung: Được nuôi 2 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2001) và

Nguyễn Đức Anh (Sinh 13/06/2007) và không yêu cầu cấp dưỡng

+ Về tài sản chung: Chia đôi tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01,

diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương (Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005), lấy phần không có tài sản Tài sản trên đất không yêu cầu chia Không đồng ý với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 của ông Nguyệt

Tôi cho rằng những yêu cầu trên của phía Nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận bởi những lý do sau đây:

- Thứ nhất, về yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt:

Theo lời khai của các đương sự tại phiên tòa ngày hôm nay, cũng như thông qua các bằng chứng, lời khai của các đương sự đã thu thập được trước đó trong quá trình Tòa án xác minh, hòa giải và chuẩn bị xét xử vụ án, có thể thấy rằng: Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn ngày 26/03/1999 tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là TP.Hải Dương Tuy nhiên sau khi kết hôn hai người chỉ chung sống hạnh phúc được khoảng 2 năm, sau đó thường xuyên phát sinh mẫu thuẫn Nguyên nhân là do ông Nguyệt hay tụ tập

Trang 7

chồng không còn Hôn nhân đã lâm vào tình trạng vô cùng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể kéo dài

Ngoài ra ông Nguyệt và bà Hảo cũng đều đồng ý ly hôn theo các biên bản hòa giải của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ngày 19/5/2016, ngày 17/6/2016 và ngày 12/7/2016

Do đó, căn cứ vào khoản 1 điều 51, điều 54 và khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 có thể thấy rằng yêu cầu xin ly hôn của bà Hảo là hoàn có căn cứ pháp luật, đề nghị HĐXX xét cho thân chủ tôi được ly hôn theo như mong muốn

“Điều 51 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1 Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Điều 54 Hòa giải tại Tòa án

Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 56 Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

- Thứ hai, về yêu cầu xin được nuôi cả 2 con chung, không yêu cầu ông Nguyệt phải cấp dưỡng:

Trong quá trình còn chung sống với nhau, bà Hảo và ông Nguyệt có hai con chung là: Nguyễn Đức Anh: sinh ngày 16/03/2007 và Nguyễn Thị Nhi: sinh ngày 04/01/2000

Cháu Nhi hiện tại đang sống với bà Hảo, cháu Đức Anh hiện đang sống với ông Nguyệt Bà Hảo có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu, vì không muốn mỗi cháu một nơi Xét về kinh tế, bà Hảo hiện đang làm công nhân tại công ty Trấn An với mức thu nhập 6 triệu/tháng, thời gian làm việc cố định 8 tiếng/ngày; hơn nữa còn có mẹ ruột của bà Hảo hỗ trợ trong việc chăm sóc con Do đó, bà có đủ điều kiện về kinh tế và thời gian để chăm sóc tốt cho cả hai cháu Ngoài ra cả hai cháu Nguyễn Đức Anh và Nguyễn Thị Nhi đều đã trên 7 tuổi và đều có nguyện vọng được ở chung với mẹ Vậy nên căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014, yêu cầu sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dạy hai con của bà Hảo là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của hai cháu Nguyễn Đức Anh và Nguyễn Thị Nhi

“Điều 81 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2 Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ

đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Thêm vào đó, đối với hai cháu Đức Anh và Nhi, việc gia đình phân tán đã là một sự thiệt thòi lớn vô cùng lớn về mặt tình cảm Người lớn nên quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất cho các cháu Tuy nhiên trong thời gian ở với ông Nguyệt, ông Nguyệt đã

có hành vi ngăn cấm, không cho cháu Đức Anh gặp mẹ, nếu cháu gặp mẹ thì ông có hành vi đánh đập cháu, thiết nghĩ hành vi trên ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và sức khỏe của trẻ thơ Điều này hàng xóm xung quanh và Tòa án cũng đã xác minh rõ

Trang 8

Từ các căn cứ trên, kính đề nghị HĐXX chấp nhận để Bà Hảo được nuôi dưỡng cháu Nhi và cháu Đức Anh Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu Ông Nguyễn Văn Nguyệt phải cấp dưỡng nuôi con

- Thứ ba, về yêu cầu phân chia tài sản chung:

Theo lời khai của bà Hảo, tài sản chung trong thời kì hôn nhân của hai vợ chồng là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 Tại phiên tòa ngày hôm nay, Bà Hảo yêu cầu chia đôi thửa đất này, xin lấy phần không có tài sản Tài sản trên đất không yêu cầu chia

Để chứng minh yêu cầu này của bà Hảo là hoàn toàn có căn cứ, trước tiên tôi xin trình bày về nguồn gốc của thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Thửa đất này là do gia đình ông Nguyệt mua từ năm 1991 của UBND xã Thượng Đạt Sau này gia đình ông Nguyệt cho hai vợ chồng ông bà ra xây dựng nhà và sinh sống trên phần đất này từ đó tới nay Theo bà Hảo trình bày thì gia đình ông Nguyệt trước đây tuyên bố cho vợ chồng ông bà nhưng không làm giấy tờ gì Năm 2001 ông Nguyệt và bà Hảo có làm đơn xin cấp GCNQSDĐ, đến này 31/12/2005 UBND huyện Nam Sách cấp giấy chứng nhận cho

vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo Việc cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496, tờ bản

đồ số 01, diện tích 216m2 cho ông Nguyệt và bà Hảo đứng tên tất cả mọi người đều biết, tuy nhiên không ai có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì Ngoài ra theo biên bản xác minh ngày 09/03/2016 và 06/05/2016 của ông Nguyễn Văn Bích - Cán bộ địa chính xã thì từ đó đến nay cũng hơn 10 năm không hề xảy ra bất kì tranh chấp hay ai khiếu kiện, khiếu nại gì về việc cấp GCNQSDĐ nói trên Về trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyệt và bà Hảo cũng hoàn toàn hợp pháp thể hiện tại biên bản xác minh ngày 06/05/2016 và ngày 23/06/2016 tại UBND xã Thượng Đạt Đồng thời, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyệt bà Hảo cũng đã được Phòng Tài Nguyên Môi trường xác nhận là hoàn toàn phù hợp căn cứ theo Điều 135 nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ

Việc Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn Cang cho rằng thửa đất trên là đất mà ông bà chỉ cho Ông Nguyệt và Bà Hảo ở nhờ Gia đình ông bà không có bất cứ văn bản nào chuyển nhượng, tặng cho hẳn vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo, khi UBND làm thủ tục cấp sổ đỏ không thông báo cho gia đình ông bà nên gia đình ông bà hoàn toàn không biết Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, thông qua lời khai của Bà Thoa, ông Cang tại phiên tòa ngày hôm này, cũng như tại các biên bản lấy lời khai của bà Thoa, ông Cang và các anh chị em trong gia đình ông Nguyệt trước đó đều thể hiện rằng họ đều biết việc được cấp GCNQSDĐ đứng tên ông Nguyệt và bà Hảo, nhưng không ai có ý kiến gì Như vậy, từ khi được cấp giấy chứng nhận (2005) cho đến khi

có việc ly hôn của ông Nguyệt và bà Hảo, gia đình ông Cang bà Thoa cũng không ai

có khiếu nại gì về việc cấp GCNQSDĐ này Điều đó thể hiện ý chí của Bà Nguyễn Thị

Trang 9

cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.” Chứng tỏ, lời khai của bà Hảo về

việc gia đình ông Nguyệt đã cho hai vợ chồng ông bà diện tích đất trên là có căn cứ

Vậy nên việc ông Nguyệt cho rằng thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 là của bố

mẹ ông Nguyệt cho ở nhờ, không phải tài sản chung của hai vợ chồng và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bà Hoàng Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt do UBND huyện Nam Sách – Tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 là không

có cơ sở

Như vậy, Thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương chính là tài sản chung của ông Nguyệt và bà Hảo Vậy nên căn

cứ vào quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 59, Điều 62 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014, đề nghị HĐXX chấp nhận cho bà Hảo được nhận một nửa giá trị thửa đất

số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

“Điều 59 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp

để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Điều 62 Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

2 Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.”

Trên đây là những quan điểm tôi trình bày để bảo vệ quyền lợi cho Nguyên đơn Kính mong Quý tòa cân nhắc xem xét và chấp nhận để ra một bản án đúng pháp luật Cảm ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe

Tôi chân thành cảm ơn

TP.HCM, ngày 30 tháng 08 năm 2021

LUẬT SƯ

Ngày đăng: 22/09/2021, 00:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w