- Ngày 23/12/2013, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Côngan tỉnh G.L kiểm tra cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ Hoàng Lan do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ, phát hiện
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: HÀNH CHÍNH
Hồ sơ số: HC12 Diễn lần: 02 Ngày diễn: 25/08/2021
Họ và tên:
Sinh ngày MSHV:
Lớp:
TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 08 năm 2021
Trang 2I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN:
Trang 3- Ngày 23/12/2013, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Công
an tỉnh G.L kiểm tra cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ Hoàng Lan do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ, phát hiện cơ sở có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC
ngày 23/12/2013 với hành vi vi phạm sau:“Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan
phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và Bà Nguyễn Thị Lành không có Giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục), phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có Giấy kết hôn đang ở chung phòng xem tivi Tại thời điểm kiểm tra tại phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành
Kết luận: Chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra vi phạm như trên (Có các bản tường trình của ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành; Ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy kèm theo).”
- Ngày 29/12/2013 Thanh tra Sở mời bà Nguyễn Thị Tuyết lên làm việc
- Ngày 16/01/2014 Thanh tra Sở gửi tờ trình số 02/TT–TTr ngày 16/01/2014 xin gia hạn thời gian xử phạt hành chính đối với bà Tuyết đến ngày 11/03/2014 và đã được Giám đốc sở phê duyệt
- Ngày 12/02/2014 và 09/03/2014 Thanh tra Sở tiếp tục mời bà Tuyết lên làm việc Đến thời điểm này bà Tuyết vẫn chưa cung cấp được các giấy tờ cần thiết Đồng thời
bà Tuyết đã ký vào biên bản làm việc số 11/BB-LV ngày 09/03/2014
- Ngày 10/3/2014, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP; xử phạt 15.000.000 đồng
đối với hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị Tuyết; với lý do: “thiếu trách nhiệm tạo
điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để
tổ chức hoạt động mại dâm (áp dụng Khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ)” Quyết định được gửi qua đường bưu điện cho bà
Tuyết
- Ngày 18/03/2014, Thanh tra sở phát hiện sai sót về mặt hình thức văn bản đối với Quyết định số 23/QĐ-XP nên đã gửi Công văn đính chính số 02/2014/CV-TTr kèm theo quyết định xử phạt đã được điều chỉnh cho bà Nguyễn Thị Tuyết
- Ngày 24/3/2014, do không đồng ý với Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 nên bà Nguyễn Thị Tuyết đã làm đơn khiếu nại gửi tới Thanh tra Sở
- Ngày 27/03/2014 Thanh tra Sở gửi thông báo về việc thụ lý giải quyết khiếu nại và trực tiếp đối thoại với bà Tuyết
- Ngày 07/04/2014, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Công văn số 167/CV-VHTDL trả lời đơn khiếu nại ngày 24/3/2014 của bà Nguyễn Thị Tuyết
- Ngày 20/04/2014, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định
số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết đơn khiếu nại Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính của bà Tuyết ngày 24/03/2014 với nội dung: “Giữ nguyên mức phạt 15.000.000
đồng đối với hành vi vi phạm của bà Nguyễn Thị Tuyết”
- Ngày 02/5/2014, không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại số 01/QĐ-TTr ngày 20/04/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết tiến hành khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh G.L đề nghị:
+ Hủy bỏ toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP, ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
- Ngày 13/5/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L ra thông báo thụ lý số 03/2014/TB – THC thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số: 01/2014/TL-HCST
3
Trang 4- Ngày 10/9/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
***Đánh giá chung:
Trong vụ án hành chính này, người khởi kiện là Bà Nguyễn Thị Tuyết - chủ cơ
sở kinh doanh nhà nghỉ Hoàng Lan Người bị kiện là Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L Bà Tuyết khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP, ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng Hành chính thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm thuộc Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L Về thời hiệu khởi kiện, theo điểm a khoản 3 điều
116 LTTHC là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết
khiếu nại Như vậy trong vụ án này thời hiệu khởi kiện được tính đến hết ngày 20/04/2015 Đồng thời theo hồ sơ, ngày 02/5/2014, người khởi kiện đã làm đơn nộp đến Tòa án, đã được Tòa thụ lý vào ngày 13/5/2014 là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật
Ngoài ra về giai đoạn tiền tố tụng, theo Điều 9 Luật Khiếu nại thì thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L Bà Tuyết nhận được quyết định nói trên vào ngày 17/3/2014 và khiếu nại đến Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L vào ngày 24/3/2014 Như vậy bà Tuyết đã khiếu nại trong thời hiệu Thẩm quyền giải quyết khiếu nại là Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (Căn cứ theo Điều 19 Luật Khiếu nại) Thời hạn giải quyết khiếu nại lần 1 là 30 đến 45 ngày kể từ ngày thụ lý, thời hạn thụ lý là 10 ngày kể từ ngày nhận đơn (theo Điều 27, Điều 28 Luật Khiếu nại) Do đó, ngày 20/4/2014, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã có Quyết định số 01/QĐ-TTr
về việc giải quyết khiếu nại của bà Tuyết là phù hợp quy định pháp luật
Trang 5II KẾ HOẠCH HỎI:
-
Hỏi Người bị kiện - Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L :
1 Ông cho biết hoạt động thanh tra được thực hiện dựa trên cơ sở nào?
2 Khi vào kiểm tra cơ sở của bà Tuyết các ông đã kiểm tra như thế nào, có đúng quy trình không? Có xuất trình các loại giấy tờ gì không?
3 Dựa vào hành vi nào của ông Thường và bà Lành, ông Văn và bà Thùy mà ông kết luận là có hành vi hoạt động mại dâm tại cơ sở nhà nghỉ Hoàng Lan?
4 Ông cho biết có tồn tại bất kì văn bản ủy quyền nào giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được quyền kiểm tra và ra quyết định xử phạt trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử phạt của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội không?
5 Theo quy định pháp luật thì thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tối
đa là 60 ngày kể từ ngày ra biên bản vi phạm (trường hợp được gia hạn) Xin ông cho biết thời hạn 60 ngày này có tính cả ngày nghỉ, thứ 7, chủ nhật hay không?
(Trường hợp NBK trả lời là “Tính” thì tiếp tục hỏi câu 6; trả lời là “Không tính” thì hỏi câu 7 và trình bày trong bài luận cứ)
6 Vậy trong trường hợp của bà Tuyết thời hạn này là 77 ngày, nghĩa là quá hạn 17 ngày, ông giải thích sao về điều này?
7 Ông cho biết, tại sao trong Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 xử lý vi phạm đối bà Nguyễn Thị Tuyết nêu cơ sở xử phạt là Nghị định 158/2013/NĐ-CP, tuy nhiên tại Quyết Định 23 lại ghi nhận cơ sở pháp lý để xử phạt là Nghị Định 167/2013/NĐ-CP?
8 Tại thời điểm kiểm tra nhà nghỉ Hoàng Lan cũng như sau đó, đoàn kiểm tra của ông
có thu thập được chứng cứ hay bất kì dấu hiệu nào chứng tỏ giữa ông Thường và bà Lành, ông Phan Văn và bà Thùy có trao đổi giá cả vật chất để thực hiện hành vi quan
hệ tình dục không?
- Hỏi Người làm chứng – Ông Nguyễn Văn Thường :
1 Xin ông cho biết mối quan hệ giữa ông và bà Lành là gì?
2 Hai ông bà có giấy đăng kí kết hôn hay không?
3 Giữa ông và bà Nguyễn Thị Lành có thỏa thuận giá cả vật chất gì để quan hệ tình dục không?
4 Khi đến nhà nghỉ Hoàng Lan để thuê phòng hai ông bà có liên hệ gì trước với bà Tuyết không?
- Hỏi Người làm chứng – Bà Nguyễn Thị Lành :
1 Bà có đồng ý với phần trình bày của ông Thường không?
2 Khi ông bà đến thuê phòng tại nhà nghỉ Hoàng Lan bà Tuyết có yêu cầu ông bà xuất trình giấy tờ gì không?
- Hỏi Người làm chứng – Ông Phan Văn :
1 Xin ông cho biết mối quan hệ giữa ông và bà Thùy là gì?
2 Tại thời điểm Đoàn thanh tra kiểm tra phòng số 9, ông và bà Nguyễn Thị Thùy đang làm gì?
- Hỏi Người làm chứng – Bà Nguyễn Thị Thùy :
1 Bà có đồng ý với phần trình bày của ông Phan Văn không?
5
Trang 62 Bà cho biết lý do tại sao bà và ông Phan Văn lại có mặt ở nhà trọ Hoàng Lan vào ngày 23/12/2013?
3 Khi đến nhà nghỉ Hoàng Lan để thuê phòng bà có liên hệ gì trước với bà Tuyết không?
-
Hỏi Người khởi kiện – Bà Nguyễn Thị Tuyết:
1 Ngày 23/12/2013 khi đoàn thanh tra tiến hành kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, nhà trọ
có những khách nghỉ nào?
2 Giữa bà và những khách trọ này có quen biết hay liên hệ từ trước không?
3 Khi khách trọ đến thuê phòng thì bà phải thực hiện những thủ tục gì?
4 Vậy đối với những khách thuê trọ vào ngày 23/12/2013 bà có thực hiện đầy đủ thủ tục trên không?
4 Tại sao bà Nguyễn Thị Lành không được ghi tên vào sổ đăng ký?
6 Bà có chứng kiến bất kì dấu hiệu nào chứng tỏ việc ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành hay ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy thỏa thuận giá cả để quan hệ tình dục không?
5 Xin bà cho biết, nội dung biên bản vi phạm hành chính 11/BB-VPHC có đúng với
sự việc diễn ra vào tối 23/12/2013 hay không?
Trang 7III LUẬN CỨ BẢO VỆ NGƯỜI KHỞI KIỆN:
Kính thưa Hội đồng xét xử; Thưa đại diện Viện kiểm sát; Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp!
Tôi tên là Luật sư, thuộc VPLS , thuộc đoàn Luật sư TP.Hồ Chí Minh Tôi tham gia phiên tòa này với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ch o Bà
Nguyễn Thị Tuyết Sinh năm 1982 Địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, Thành phố P,
tỉnh G.L
Qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án ngày hôm nay Tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung
vụ án này Sau đây tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện như sau:
Người khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy toàn bộ:
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP, ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (Sau đây gọi là Quyết định số 23/ QĐ-XP);
Tôi cho rằng yêu cầu như trên của phía người khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận bởi Quyết định số 23/QĐ-XP ban hành không đúng với quy định của pháp luật thể hiện ở 4 nội dung chính sau đây:
- Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành không đúng thẩm quyền.
- Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt
vi phạm hành chính
- Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành không có căn cứ, không có cơ sở.
- Hành vi vi phạm và hành vi bị xử phạt là không đồng nhất với nhau, bà Tuyết
không có vi phạm theo như nội dung Quyết định xử phạt
Thứ nhất, Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành không đúng thẩm quyền.
Quyết định số 23/QĐ-XP xử phạt bà Tuyết với hành vi vi phạm hành chính:
“thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh
có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (Áp dụng khoản 1 Điều
25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ)” Đây là
hành vi vi phạm hành chính thuộc vào mục 2 chương II Nghị định 167/2013/NĐ-CP.
Do đó, căn cứ theo điều 69 Nghị định 167/2013/NĐ qui định về Thẩm quyền xử phạt
hành chính của Thanh tra, Quản lý thị trường: “Thanh tra Lao động - Thương binh và
Xã hội có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi quy định tại Mục 2 Chương II” người có thẩm quyền ra quyết định
xử phạt trong trường hợp này là Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội
Đồng thời qua phần trình bày của đương sự tại phiên Tòa ngày hôm nay, cũng như phía bên bị kiện không xuất trình được bất kì văn bản ủy quyền nào giữa cơ quan
có thẩm quyền xử phạt là Sở Lao động, Thương binh và Xã hội với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, như vậy có thể thấy rõ ràng rằng việc Chánh Thanh tra Văn hóa, Thể
thao và Du lịch ban hành quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP là không đúng thẩm quyền.
Thứ hai, Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành đã hết thời hạn ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính.
Theo khoản 1 Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính về thời hạn ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính:“1 Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
7
Trang 8phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.
Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là
30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.
Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày”.
Thông qua điều luật trên có thể hiểu rằng thời hạn tối đa để ra quyết định xử phạt là 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính (trường hợp được gia hạn thêm) Hơn nữa trong điều luật chỉ quy định thời hạn mà không hề có quy định thêm
“thời hạn này không tính ngày nghỉ, thứ 7, chủ nhật” do đó 60 ngày này phải được
hiểu là 60 ngày liên tiếp, vẫn tính ngày nghỉ, thứ 7 và chủ nhật mới phù hợp với tinh
thần của điều luật (Do đó xét thấy quan điểm của NBK cho rằng không tính ngày
nghỉ, thứ 7, chủ nhật vào thời hạn này là hoàn toàn không phù hợp).
Trong vụ án này, chiếu theo quy định pháp luật trên thì thời hạn tối đa để Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ra quyết định xử phạt đối với bà Tuyết (kể cả thời gian gia hạn) là 60 ngày Thế nhưng bà Tuyết bị Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Công an tỉnh G.L lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC vào ngày 23/12/2013 (sau đây gọi tắt là biên bản số 11/BB-VPHC) Căn cứ vào biên bản vi phạm này đến ngày 10/3/2014 bà Tuyết bị ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP xử phạt về hành vi vi phạm Như vậy kể từ ngày bà Tuyết bị lập biên bản vi phạm đến ngày bị ra quyết định xử phạt là 77 ngày
Từ đó chứng minh rằng Quyết định 23/QĐ-XP xử phạt đối với bà Tuyết là quá
60 ngày theo quy định tại Điều 66 Luật xử lý VPHC nên Quyết định số 23/QĐ-XP đã
vi phạm pháp luật về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Thứ ba, Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành không có căn cứ, không có cơ sở.
Ngày 23/12/2013, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Công an tỉnh G.L lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC đối với bà Tuyết với các hành vi vi phạm vào Điểm Khoản Điều Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa – thông tin Tuy nhiên nghị định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014, do đó vào thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC, Nghị định 158/2013/NĐ-CP hoàn toàn chưa có hiệu lực áp dụng
Với việc áp dụng một văn bản quy phạm pháp luật chưa có hiệu lực để làm căn
cứ xử phạt bà Tuyết thì Biên bản số 11/BB-VPHC ngay từ đầu là không có cơ sở Do
đó Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành dựa trên Biên bản số 11/BB-VPHC là cũng không có căn cứ, không có cơ sở
Thứ tư, Hành vi vi phạm và hành vi bị xử phạt là không đồng nhất với nhau, bà Tuyết không có vi phạm theo như nội dung Quyết định xử phạt.
Trang 9Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật xử lý VPHC năm 2012 quy định:
“Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”.
Căn cứ theo Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 thì bà Tuyết có hành vi vi
phạm sau: “Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan phòng số 11 có ông Nguyễn
Văn Thường và Bà Nguyễn Thị Lành không có Giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục), phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có Giấy kết hôn đang ở chung phòng xem tivi Tại thời điểm kiểm tra tại phòng số 11, chủ
cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành
Kết luận: Chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra vi phạm như trên (Có các bản tường trình của ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành; Ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy kèm theo).”
Nhưng tại Quyết định số 23/QĐ-XP lại xử phạt bà Tuyết với hành vi vi phạm hành
chính là “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh
doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm (Áp dụng khoản
1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ)”.
Như vậy, hành vi vi phạm hành chính trong Biên bản vi phạm hành chính và Quyết định xử phạt hành chính là không thống nhất
Ngoài ra, dựa vào lời khai của những người làm chứng trong phiên tòa hôm nay, cũng như là các bản tường trình ngày 23/12/2013 của ông Nguyễn Văn Thường
và bà Nguyễn Thị Lành (phòng 11) thì 2 ông bà có quan hệ vợ chồng hợp pháp Bà Nguyễn Thị Thùy và ông Phan Văn (phòng 9) đã tổ chức đám hỏi, hai người đến chơi
và chỉ xem tivi không xảy ra quan hệ tình dục Căn cứ Điểm e, Khoản 2 Điều 6 Thông
tư 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 của Bộ Công an quy định về cho thuê lưu trú
như sau: “Người đến lưu trú có trách nhiệm xuất trình một trong các loại giấy tờ sau:
Chứng minh nhân dân; Hộ chiếu; các loại giấy tờ có dán ảnh do các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam cấp; giấy xác nhận cử đi công tác của cơ quan, tổ chức; xác nhận của cơ quan đến liên hệ công tác; xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú” thì nam nữ khi thuê phòng trọ không phải xuất trình giấy đăng ký kết hôn,
việc quan hệ giữa ông Thường và bà Lành, Ông Văn và bà Thùy là hoàn toàn bình thường tự nguyện và không hề phát sinh việc trao đổi lợi ích vật chất Đồng thời ngay tại phiên tòa hôm nay bên người bị kiện cũng không cung cấp được bất kì bằng chứng nào chứng tỏ giữa các ông bà trên có trao đổi lợi ích vật chất để thực hiện hành vi quan
hệ tình dục Do đó theo định nghĩa về hành vi mại dâm tại các khoản 1, 2, 5 theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 10/2003/PL – UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 phòng chống mại dâm quy định:
1 Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
2 Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu
5 Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
Có thể khẳng định các ông bà nêu trên không hề có hành vi mua bán dâm và Bà Tuyết cũng không có hành vi tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh
có điều kiện về an ninh, trật tự của mình để tổ chức hoạt động mại dâm, do đó căn cứ
9
Trang 10và áp dụng pháp luật để xác định hành vi vi phạm hành chính và xử phạt đối với bà Tuyết theo như Quyết định số 23/QĐ-XP là hoàn toàn chưa phù hợp
Qua những nội dung tôi trình bày như trên có thể chứng minh Quyết định số 23/ QĐ-XP ban hành không đúng quy định pháp luật Điều này đã vi phạm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía Bà Tuyết
Do đó tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết và tuyên hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
số 23/QĐ-XP, ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L!
Trên đây là những quan điểm tôi trình bày để bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện Kính mong Quý tòa cân nhắc xem xét và chấp nhận để ra một bản án đúng pháp luật
Cảm ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe
Tôi chân thành cảm ơn
TP.HCM, ngày 25 tháng 08 năm 2021
LUẬT SƯ