1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HỒ SƠ DS-LĐ 01 docx

21 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 413,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN: Ngày 20 tháng 11 năm 2005 ông Phạm Xuân Dương đã chính thức khởi kiện Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN và PTNT sau đây gọi tắt là “BQLCDANN” ra Tòa án

Trang 1

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

HỒ SƠ DS-LĐ 01

Vụ kiện: Tranh chấp lao động về đơn

phương chấm dứt HĐLĐ

Trang 2

Nguyên đơn: Ông Phạm Xuân Dương, Cán bộ giám sát, trưởng Ban

quản lý dự án chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp (ASPS-NMU) – Bộ

NN và Phát triển nông thôn

Mang CMTND số: 011651891, do công an Hà Nội cấp ngày 19/9/1989

Hộ khẩu thường trú: số 22 Nguyễn Thái Học – Ba Đình – Hà Nội

Đại diện bị đơn gồm các ông:

1 Ông Dương Xuân Xanh, Trưởng Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN&PTNT

2 Ông Nguyễn Thế Hinh, Điều phối viên quốc gia Dự án chương trình

hỗ trợ ngành nông nghiệp (ASPS);

3 Ông Ole Sparre Perdersen, cố vấn dự án chương trình Hỗ trợ ngành

nông nghiệp (ASPS)

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ KIỆN:

Ngày 20 tháng 11 năm 2005 ông Phạm Xuân Dương đã chính thức khởi kiện Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN và PTNT (sau đây gọi tắt

là “BQLCDANN”) ra Tòa án nhân dân quận Ba Đình, TP Hà Nội về việc BQLCDANN đã tiến hành đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ký ngày 01/12/2004 giữa BQLCDANN với ông Dương gây ra tổn thất cả về mặt vật chất cũng như tinh thần cho ông

Nội dung tình tiết vụ kiện như sau:

Ngày 01/12/2004 hai bên đã ký kết HDLD với nội dung: BQLCDANN đồng ý và chấp thuận ông Dương vào làm việc tại Ban quản lý quốc gia (National Management Unit, sau đây gọi tắt là “NMU”) của dự án Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp – (Agricultural Sector Programe Support, sau đây gọi tắt là “ASPS”) thuộc BQLCDANN với vị trí là cán bộ giám sát trưởng của Chương trình;

Trang 3

Ngày 30/8/2005, BQLCDANN đã ủy quyền cho cấp dưới của mình là ông Nguyễn Thế Hinh, điều phối viên quốc gia và ông Ole Sparre Perdersen,

cố vấn trưởng Chương trình người nước ngoài (Người của dự án) ra văn bản một cách đột ngột thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Dương với nội dung và lý do hết sức đơn giản rằng năng lực và trình

độ của ông không đáp ứng được các điều kiện công việc được giao;

Trong suốt thời gian một tháng (từ 30/8/2005 đến 30/9/2005) kể từ khi thông báo được ban hành, ông Dương đã nhiều lần có đơn thư và điện thoại trực tiếp xin ý kiến với lãnh đạo BQLCDANN nhằm yêu cầu can thiệp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông, thậm chí ông cũng có văn bản yêu cầu Ban chấp hành công đoàn can thiệp và bảo vệ quyền lợi người lao động nhưng cũng không được đáp lại

Ngày 20/9/2005 ông đã ủy quyền chính thức cho luật sư của ông tham gia đàm phán, hòa giải với phía đại diện người sử dụng lao động (lãnh đạo BQLCDANN) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông theo đúng trình tự pháp luật, nhưng trái lại phía Ban lãnh đạo BQLCDANN và lãnh đạo Ban chấp hành công đoàn không những không chịu hợp tác, thiếu thiện chí giải quyết mà còn đùn đẩy trách nhiệm cho nhau nhằm cố tình đưa vụ việc vào quên lãng (tham khảo các phụ lục 7, 8, 9, 11 và 12 kèm theo đơn khởi kiện);

Nhận thấy hành vi của BQLCDANN đã vi phạm pháp luật về lao động, làm tổn hại tới quyền và lợi ích chính đáng, cũng như ảnh hưởng đến danh

dự tinh thần của ông, cụ thể là vi phạm các Điều 38 của Luật lao động, Điều

1 điểm 8 Luật lao động sửa đổi và Điều 12 Nghị định 44/2003/NĐ-CP, vi phạm điểm b) khoản 1 mục III Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH (các hành

vi vi phạm liên quan đến căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động, nghĩa vụ báo trước và thủ tục chất dứt hợp đồng theo quy định của Luật lao động) cho nên:

Ngày 20 tháng 11 năm 2005 ông Dương đã nộp đơn khởi kiện BQLCDANN ra Tòa án nhân dân quận Ba Đình, TP Hà Nội và yêu cầu BQLCDANN bồi thường và thanh toán cho ông những khoản như sau:

- Về khoản tiền trợ cấp mất việc làm:

+ Yêu cầu BQLCDANN tiến hành thanh toán tiền trợ cấp mất việc làm cho ông Khoản tiền này được tính kể từ thời điểm mất việc làm (thời điểm thông báo) cho tới thời điểm kết thúc hợp đồng lao động (từ ngày 31/8/2005 đến 15/12/2005) là 3,5 tháng Cụ thể như sau: lương và các khoản phụ cấp (theo hợp đồng lao động) 650USD/tháng * 15.901 (tỷ giá) * 3,5 tháng = 36.174.775 đồng

Trang 4

+ Cùng với một khoản tiền tương đương với 02 tháng lương: 650USD/tháng * 15.901 (tỷ giá) * 2 tháng = 20.671.300 đồng

Tổng cộng số tiền trợ cấp mất việc làm là: 36.174.775 đồng + 20.671.300 đồng = 56.846.075 đồng

- Về khoản bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào các quy định của Luật lao

động, ông yêu cầu BQLCDANN tiến hành bồi thường cho ông khoản tiền tương đương với 5 tháng lương do vi phạm nghĩa vụ báo trước và các chi phí cơ hội khác để tìm việc làm mới: 650USD/tháng * 15.901 (tỷ giá) * 5 tháng = 51.678.250 đồng

Tổng số tiền mà phía BQLCDANN phải thanh toán cho ông là: 56.846.075 đồng + 51.678.250 đồng = 108.524.000 đồng (một trăm lẻ tám triệu năm trăm hai mươi bốn ngàn đồng);

Ngày 10/01/2006 ông Dương đã làm bản tự khai nộp Tòa án Tòa án nhân dân quận Ba Đình;

Ngày 13/02/2006 bị đơn (ông Hinh) gởi Tòa án nhân dân quận Ba Đình phúc đáp những yêu cầu của Tòa về việc thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động của ông Phạm Xuân Dương và Ban quản lý quốc gia chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp (Viết tắt là ASPS-NMU) và có yêu cầu phản

tố như sau:

1 Khi lãnh đạo Ban quản lý quốc gia dự án ASPS-NMU mới thông báo mong muốn chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với ông Dương theo Điều khoản 9 của hợp đồng tiếng Anh đã ký, ông Dương đã tự ý bỏ việc mặc dù vẫn còn nghĩa vụ đi làm Như vậy, khi Ban lãnh đạo ASPS-NMU mới bày tỏ mong muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì ông Dương đã có hành động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đã ký

2 Hành động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của ông Dương

đã gây thiệt hại cho Ban quản lý quốc gia ASPS-NMU như sau:

- ASPS-NMU không có cán bộ giám trong suốt thời gian từ tháng 9/2005 đến tháng 12/2005 do không thể bàn bạc đi đến chấm dứt hợp đồng lao động với ông Dương, điều này dẫn đến lãnh đạo của Dự án phải làm thêm công tác giám sát, thiệt hại tối thiểu là 650USD* 4 tháng = 2.600USD

- Ông Dương chưa chịu bàn giao tài liệu, tài sản của ASPS-NMU dẫn đên Lãnh đạo của dự án phải dò dẫm truy lại tất cả các số liệu, tài liệu trong suốt

8 tháng làm việc của ông Dương mất rất nhiều công sức và thời gian Thiệt hại tối thiểu là 650USD* 8 tháng = 5.200USD

Tổng cộng ông Dương đã gây thiệt hại cho ASPS-NMU tối thiểu là 7.800 USD Tổng này chưa kể các thiệt hại về uy tín khác do ông Dương gây ra cho ASPS-NMU tòa xem xét và giải quyết;

Trang 5

Ngày 16/02/2006 Tòa án nhân dân quận Ba Đình tiến hành lập biên bản lấy lời khai đối chất giữa ông Dương và ông Hinh;

Ngày 20/02/2006 nguyên đơn nộp tờ giải trình cho Tòa án nhân dân quận

Ba Đình;

Ngày 01/6/2006 Tòa án nhân dân quận Ba Đình ra Quyết định (số 02/2006/QĐ-CVA) chuyển vụ án đến Tòa án quận Hai Bà Trưng do bị đơn là Ban quản lý các dự án nông nghiệp đã chuyển về số 1A Nguyễn Công Trức, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội;

Ngày 05/7/2006 ông Hinh làm bản tự khai gởi Tòa án quận Hai Bà Trưng;

Ngày 12/7/2006 và ngày 14/7/2006 nguyên đơn làm bản tự khai gởi Tòa

án quận Hai Bà Trưng;

Ngày 14/7/2006 Tòa án quận Hai Bà Trưng lấy lời khai ông Hinh;

Tòa án quận Hai Bà Trưng tiến hành hòa giải 2 lần vào ngày 25/7/2006 và ngày 03/8/2006 nhưng không thành;

Ngày 14/8/2006, ngày 01/9/2006 và ngày 12/9/2006 ông Hinh làm bản tự khai nộp Tòa án quận Hai Bà Trưng;

Ngày 12/9/2006 ông Dương làm bản tự khai nộp Tòa án quận Hai Bà Trưng;

Ngày 07/9/2006 và ngày 12/9/2006 ông Dương làm bản tự khai nộp Tòa

án quận Hai Bà Trưng;

Ngày 12/9/2006 và ngày 30/01/2007 Tòa án quận Hai Bà Trưng tiến hành hòa giải 2 lần nhưng hai bên không thống nhất;

Tòa án quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định số 03/2006/QĐ-CVALĐ chuyển cho Tòa án nhân dân quận Ba Đình giải quyết hồ sơ vụ án lao động

đã thụ lý số 09/2006/TLLĐ-ST ngày 3/7/2006 về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa nguyên đơn là ông Phạm Xuân Dương (ĐC:

số 22 Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình, Hà Nội) và bị đơn là Ban quản lý các

dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn (ĐC: số 1A Nguyễn Công Trứ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) do Đại diện được ủy quyền là ông Nguyễn Thế Hinh cán bộ Ban quản lý các dự án Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Với lý do: Mặc dù anh Dương kiện Ban quản lý các dự án Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhưng ông Dương Văn Xanh – Trưởng Ban quản lý các dự án Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không phải là người thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với anh Dương Vì vậy Ban quản lý các dự án Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn không phải là bị đơn mà chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp do ông Nguyễn Thế Hinh – Điều phối viên đại diện là bị đơn Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp (ASPS) hiện đang có trụ sở tại số 2 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, vì vậy vụ án

Trang 6

trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tịa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (Điều 35-BLTTDS 2004: tịa án nơi bị đơn cĩ trụ sở giải quyết)

II DỰ KIẾN CÂU HỎI TẠI PHIÊN TỊA:

Xin phép Hội đồng xét xử cho tơi được hỏi nguyên đơn, bị đơn, trong phiên tịa hơm nay như sau:

Các câu hỏi đối với nguyên đơn (Ơng Phạm Xuân Dương):

1 Xin ơng cho biết trước khi ơng làm việc tại ASPS&NMU ơng làm việc tại đâu? Việc ơng xin làm việc tại ASPS&NMU do ơng tự nguyện nộp đơn hay cĩ một sự bố trí điều động nào?

2 Ơng Dương cho biết khi ơng vào làm việc cĩ ký 2 bản (01 hợp đồng lao động và 01 bản tiếng Anh) bản nào là bản chính? Vì sao lại ký 2 bản?

3 Khi tuyển dụng vào ơng ký hợp đồng nào trước?

4 Xin ông cho biết, khi ký kết hợp đồng lao động, bên ASPS&NMU có phỏng vấn, thử việc ông hay không?

5 Ơng cho biết vì sao chưa ký hợp đồng lao động mà lại ký vào biên bản giao việc?

6 Ơng Dương cho biết vì sao Ban quản lý các dự án chấm dứt hợp đồng lao động với ơng trước thời hạn?

7 Sau khi nhận được thông báo quyết định cho thôi việc từ phía ASPS, ông có hành động gì phản hồi đối với Ban lãnh đạo và Ban chấp hành công đoàn không?

8 Ơng đã bao giờ bị Ban quản lý các dự án gọi ơng lên để xử lý bất cứ kỷ luật gì chưa?

9 Các công việc được giao từ lúc bắt đầu làm việc đến nay ông có hoàn thành đầy đủ không, Ban quản lý có ý kiến gì về mức độ hoàn thành của ông không?

10 Ơng cho biết ơng làm việc đến thời điểm nào?

11 Khi ơng khiếu nại đã được giải quyết thế nào rồi?

12 Ông có biết về cuộc họp bất thường của NMU ngày 31-8-2005 không, ông có tham gia không, vì sao?

Trang 7

13 Theo ơng dự án này được ký giữa Bộ nơng nghiệp và Chính phủ Đan Mạch hay giữa hai chính phủ?

14 Sau khi nhận được văn bản nguyên đơn đã cĩ ý kiến gì? Đã nhận được trả lời nào khác của các cơ quan trên khơng?

15 Sau khi ơng khơng gặp ơng Hinh được, ơng cĩ lên Ban quản lý các dự án của Bộ NN&PTNT để yêu cầu giải quyết khơng?

16 Lúc này ơng đã nghỉ chính thức ở chương trình ASPS chưa?

17 Khi nào thì ơng nghỉ việc ở ASPS?

18 Ơng cĩ thơng báo cho BQL các dự án của Bộ NN&PTNT về việc ơng nghỉ khơng?

Các câu hỏi đối với bị đơn (Ban quản lý các dự án NN):

1 Ơng cho biết vì sao lại cĩ 2 bản (01 bản tiếng Việt, 1 bản tiếng Anh) ký với ơng Dương?

2 Vậy thì bản nào là bản cĩ giá trị pháp lí? Vì sao?

3 Việc chấm dứt hợp đồng lao động với ơng Dương như thế nào?

4 Lí do vì sao lại cĩ bức thư đề nghị chấm dứt hợp đồng lao động với ơng Dương?

5 Xin ông giải thích cụ thể lý do “kết quả làm việc không còn đáp ứng các yêu cầu của ASPS” của ông đưa ra trong quyết định cho thôi việc ngày 30-8-2005?

6 Việc ông Dương thường xuyênkhông tuân thủ kỷ luật lao động theo như ông trình bày có căn cứ gì cụ thể không, có biên bản không?

7 Trong quá trình ơng Dương làm việc ở đĩ (từ khi ơng Dương bắt đầu làm việc cho đến khi ơng Dương bị chấm dứt hợp đồng lao động – theo ơng Dương khai) ơng Dương cĩ bị xử lý bất cứ hình thức kỷ luật nào khơng?

8 Theo ơng thì chương trình ASPS ký giữa Bộ Nơng nghiệp và phát triển nơng thơn và Đại sứ quán Đan Mạch ký?

9 Khi Bộ nơng nghiệp và phát triển nơng thơn ký với Đại sứ quán Đan Mạch thì việc thực hiện dự án đĩ như thế nào? Bộ nơng nghiệp và phát triển nơng thơn cĩ vai trị như thế nào?

Trang 8

10 Tại sao sau khi ra quyết định cho ông Dương thôi việc vào ngày 30-8-2005, mà ông lại bảo dự án không có cán bộ giám sát từ tháng

9 đến tháng 12-2005 dẫn đến thiệt hại?

11 Theo quyết định cho ông Dương thôi việc ngày 30-8-2005 có chữ ký của ông Nguyễn Thế Hinh vậy tại sao ông lại bảo không biết lý do NMU ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng là sao?

12 Việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông Dương thì ASPS&NMU đã trao đổi với Ban chấp hành công đoàn chưa? Ý kiến của Ban chấp hành công đoàn thế nào?

13 Ban quản lý khơng chấm dứt hợp đồng lao động với ơng Dương, vậy bây giờ Ban quản lý các dự án cĩ nhận ơng Dương lại làm việc hay khơng?

14 Tại sao ơng Dương đã cĩ đơn rồi mà Ban quản lý các dự án khơng xem xét?

III DANH MỤC CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, ĐIỀU LUẬT ÁP DỤNG CHO HỒ SƠ VỤ ÁN:

Các Điều trong Bộ Luật tố tụng dân sự 2004:

Điều 33; Điều 35; Điều 52; Điều 79: Nghĩa vụ chứng minh; Điều 81: Chứng cứ; Điều 85: Thu thập chứng cư; Điều 86: Lấy lời khai đương sự; Điều 90: trưng cầu giám định; Điều 92: Định giá tài sản; Điều 171; Điều 180; Điều 184,185,186; Điều 195; Điều 213: Khai mạc phiên tịa; Điều 217; Điều 221: Nghe lời trình bày của đương sự; Điều 222: Thứ tự hỏi tại phiên tịa; Điều 223: Hỏi nguyên đơn; Điều 224: Hỏi bị đơn; Điều 225, 226; Điều 231: Kết thúc việc hỏi tại phiên tịa; Điều 232: Trình tự phát biểu khi tranh luận; Điều 233: Phát biểu tranh luận và đối đáp; Điều 235: Trở lại việc hỏi; Điều 236: Nghị án; Điều 237: Trở lại việc hỏi và tranh luận; Điều 238: Bản

án sơ thẩm; Điều 239: Tuyên án

Các Điều trong Bộ Luật lao động gồm các Điều sau :

Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 33, Điều 26, Điều

36, Điều 26, Điều 37, Điều 17, Điều 38, Điều 39, Điều 41, Điều 26, Điều 84,

Điều 85, Điều 86, Điều 87

Các quy định trong Nghị định Chính phủ, Thơng tư của BLĐTBXH:

Trang 9

Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động (Điều 3, Điều 4, Điều 12, Điều 13, Điều 14, ); Thơng tư 21/2003/TT-BLĐTBXH, TT 17/2007/TT-BLĐTBXH sửa TT 21 (Mục I về hình thức nội dung và loại HĐLĐ, Mục II về giao kết, thay đổi nội dung HĐLĐ, Mục III về chấm dứt HĐLĐ, trợ cấp thơi việc và bồi thường chi phí đào tạo);

IV BÀI BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Kính thưa Hội đồng xét xử!

Thưa các luật sư đồng nghiệp!

Tơi là luật sư ………… , thuộc Văn phịng luật sư X, Đồn luật sư TP

Hồ Chí Minh, Hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là ông Phạm Xuân Dương theo yêu cầu của nguyên

đơn dân sự là ơng Phạm Xuân Dương, Cán bộ giám sát, trưởng Ban quản lý

dự án chương trình hỗ trợ ngành Nơng nghiệp (ASPS-NMU) – Bộ NN và Phát triển nơng thơn

Mang CMTND số: 011651891, do cơng an Hà Nội cấp ngày 19/9/1989

Hộ khẩu thường trú: số 22 Nguyễn Thái Học – Ba Đình – Hà Nội

Đại diện bị đơn gồm các ơng:

1 Ơng Dương Xuân Xanh, Trưởng Ban quản lý các dự án Nơng nghiệp – Bộ NN&PTNT

2 Ơng Nguyễn Thế Hinh, Điều phối viên quốc gia Dự án chương trình

hỗ trợ ngành nơng nghiệp (ASPS);

Trang 10

3 Ông Ole Sparre Perdersen, cố vấn dự án chương trình Hỗ trợ ngành

nông nghiệp (ASPS)

Vụ kiện: Tranh chấp lao động về đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Được sự chấp thuận của quý tòa, tôi xin phép được trình bày luận cứ bảo vệ cho nguyên đơn như sau:

Ngày 20 tháng 11 năm 2005 ông Phạm Xuân Dương đã chính thức khởi kiện Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN và PTNT (sau đây gọi tắt

là “BALCDANN”) rà Tòa án nhân dân quận Ba Đình, TP Hà Nội về việc BALCDANN đã tiến hành đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ký ngày 15/12/2004 giữa BQLCDANN với ông Dương gây ra tổn thất cả về mặt vật chất cũng như tinh thần cho ông Nội dung tình tiết vụ kiện như sau: Ngày 01/12/2004 hai bên đã ký kết HDLD với nội dung: BALCDANN đồng ý và chấp thuận ông Dương vào làm việc tại Ban quản lý quốc gia (National Management Unit, sau đây gọi tắt là “NMU”) của dự án Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp – (Agricultural Sector Programe Support, sau đây gọi tắt là “ASPS”) thuộc BQLCDANN với vị trí là cán bộ giám sát trưởng của Chương trình;

Ngày 30/8/2005, BQLCDANN đã ủy quyền cho cấp dưới của mình là ông Nguyễn Thế Hinh, điều phối viên quốc gia và ông Ole Sparre Perdersen,

cố vấn trưởng Chương trình người nước ngoài (Người của dự án) ra văn bản một cách đột ngột thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông Dương với nội dung và lý do hết sức đơn giản rằng năng lực và trình

độ của ông không đáp ứng được các điều kiện công việc được giao;

Trong suốt thời gian một tháng (từ 30/8/2005 đến 30/9/2005) kể từ khi thông báo được ban hành, ông Dương đã nhiều lần có đơn thư và điện thoại trực tiếp xin ý kiến với lãnh đạo BQLCDANN nhằm yêu cầu can thiệp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông, thậm chí ông cũng có văn bản yêu cầu Ban chấp hành công đoàn yêu cầu can thiệp và bảo vệ quyền lợi người lao động nhưng cũng không được đáp lại

Ngày 20/9/2005 ông đã ủy quyền chính thức cho luật sư của ông tham gia đàm phán, hòa giải với phía đại diện người sử dụng lao động (lãnh đạo BQLCDANN) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông theo đúng trình tự pháp luật, nhưng trái lại phía Ban lãnh đạo BQLCDANN và lãnh đạo Ban chấp hành công đoàn không những không chịu hợp tác, thiếu thiện chí giải quyết mà còn đùn đẩy trách nhiệm cho nhau nhằm cố tình đưa vụ việc vào quên lãng (tham khảo các phụ lục 7, 8, 9, 11 và 12 kèm theo đơn khởi kiện);

Ngày đăng: 27/02/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w