1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức

124 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Tác giả Tập Thể Tác Giả, Ths. Đinh Quang Tuấn, TS. Trần Minh Ngọc, Ths. Nguyễn Văn Minh, CN. Hà Sĩ Nguyên, CN. Lê Thế Quân, CN. Lê Cẩm Nhung
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Giáo dục thể chất
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 604 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về nhu cầu và thái độ học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên trong các trường đại học.. Chỉ thị 36/CT- TƯ, ngày 24 tháng 3 năm 1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản

Trang 2

MỤC LỤC

TRANG

CHƯƠNG 1 NHƯNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU, THÁI ĐỘ

HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

6

1.1 Tổng quan về nhu cầu và thái độ học tập môn Giáo dục

thể chất của sinh viên trong các trường đại học 61.2 Giáo dục thể chất và những biểu hiện của nhu cầu, thái

độ học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

ĐỐI VỚI MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

54

2.1 Thực trạng nhận thức, thái độ của sinh viên đối với môn

học Giáo dục thể chất ở Học viện Báo chí và Tuyêntruyền

2.2 Những vấn đề đặt ra với việc xây dựng thái độ tích cực

trong học tập môn GDTC của sinh viên ở Học viện Báochí và Tuyên truyền

87

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC,

THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TT

96

3.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng trong việc rèn

luyện thể chất của sinh viên trong trường đại học hiệnnay

96

Trang 3

3.2 Đổi mới nội dung chương trình, cải tiến phương pháp

3.3 Đẩy mạnh và tổ chức tốt các phong trào thể dục thể thao

của sinh viên3.4 Sử dụng một cách hiệu quả các phương tiện Giáo dục

thể chất3.5 Đổi mới trong việc đánh giá kết quả công tác Giáo dục

thể chất

Trang 4

CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

GDTC - Giáo dục thể chấtRLTT - Rèn luyện thân thểTDTT - Thể dục thể thaoTNCS - Thanh niên Cộng sản

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm tới công tác thể dục thể thao

(TDTT) nói chung và giáo dục thể chất (GDTC) cho học sinh, sinh viên trong

nhà trường nói riêng, coi sức khoẻ là vốn quí nhất của con người Ngày nay,những tiêu chuẩn để đánh giá trình độ TDTT của mỗi nước là trình độ TDTTthành tích cao, mức độ sức khoẻ và thể chất của nhân dân, tính phổ cập củathể thao quần chúng và công tác TDTT trường học (GDTC) Chỉ thị 36/CT-

TƯ, ngày 24 tháng 3 năm 1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản

Việt Nam đã chỉ rõ: “Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường

học” để giáo dục thể chất đạt hiệu quả thì nhân tố quyết định hàng đầu là nhu

cầu và thái độ của sinh viên với môn học này, nó ảnh hưởng đến tinh thần, tựgiác, tích cực rèn luyện và học tập của học sinh, sinh viên

Học viện Báo chí và Tuyên truyền là cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ làmcông tác lý luận, công tác tư tưởng văn hoá của Đảng và Nhà nước Sinh viênHọc viện Báo chí và Tuyên truyền được đào tạo toàn diện về các mặt theochương trình đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngoài những kiến thức vềchuyên môn, về lý luận, về nghiệp vụ, kiến thức đại cương, trong đó công tác

GDTC cho sinh đóng vai trò quan trọng Nhiệm vụ chủ yếu của công tác giáo dục thể chất đối với sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền là: Giáo dục

đạo đức cho sinh viên, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xâydựng cho họ niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, tinh thần tự giác học tập

và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sức khoẻ để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Đặc biệt là phải gợi mở nhu cầu rèn luyện thể chất của mỗi người, địnhhướng cho họ để họ có thái độ đúng đắn với môn học GDTC

Truyền thụ cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung

và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản củamột số môn thể thao phù hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng họ cách sử dụng các

Trang 6

phương tiện để tự rèn luyện hiệu quả và tham gia tích cực vào việc tuyêntruyền, tổ chức các hoạt động TDTT trong nhà trường và xã hội Để đáp ứngyêu cầu của nhiệm vụ trên, yếu tố quan trọng là cần nâng cao nhận thức củasinh viên, tạo động lực tích cực trong học tập, rèn luyện thể chất và có động

cơ đúng đắn để rèn luyện đạt kết quả cao Hiện nay đa số sinh viên trong Họcviện Báo chí và Tuyên truyền đều có nhu cầu được rèn luyện thường xuyên,luyện tập phát triển năng khiếu và được thể hiện mình thông qua phong tràothi đấu TDTT Họ cần nhận thức đầy đủ việc học tập và rèn luyện thể chấtgiúp họ phát triển toàn diện, học tập tốt hơn, xây dựng thói quen lành mạnh,khắc phục những thói quen xấu Rèn luyện thể chất còn góp phần ngăn chặnbệnh tật, giúp cho cơ thể phát triển cân đối, hài hoà, thích nghi với những hoạtđộng gắng sức, phát huy đức tính tốt đẹp của con người mới, đáp ứng với yêucầu thực tế của cuộc sống hiện đại

Công tác GDTC ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong những nămgần đây có những chuyển biến rõ rệt, bên cạnh những ưu điểm đã đạt được,vẫn còn tồn tại một số những mặt chưa được Đôi khi nhận thức, thái độ vànhu cầu với môn học này của một số sinh viên còn chưa thực sự đầy đủ vàtích cực, hăng hái phấn khởi, chưa thấy rõ được vai trò ý nghĩa và tầm quantrọng của học tập và rèn luyện thể lực, sinh viên chưa hứng thú và tự giác họctập, nhiều khi còn tập luyện đối phó , xuất phát từ những nguyên nhân kháchquan, chủ quan Để sinh viên nhận thức sâu sắc, và có thái độ đúng đắn vớiviệc rèn luyện thể chất, và cần mạnh dạn nêu ra những vấn đề đã làm được,vấn đề nào chưa làm được, chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm từ đó đề ra cácgiải pháp cụ thể đối với công tác GDTC của Nhà trường Xuất phát từ lý do

trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nhu cầu và thái độ học tập môn giáo dục thể

chất của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay” để nghiên

cứu Hy vọng rằng, qua nghiên cứu, phần nào sẽ chia sẻ và tháo gỡ được một

số những vướng mắc và đưa ra những giải pháp phù hợp hơn để góp phần đẩy

Trang 7

mạnh công tác GDTC ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền đáp ứng với yêucầu đào tạo hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xung quanh những vấn đề về GDTC trong các trường đại học hiện nay,việc tổ chức thực hiện, nhu cầu, thái độ của sinh viên khi tham gia học tậpTDTT ở các trường kể cả những vấn đề đã đạt được và chưa đạt được trongcông tác này, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, giáo trình chuyênmôn, sách, báo, tạp chí, các chương trình hội thảo liên quan, chẳng hạn như:

- Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất của TS.Vũ Đức Thu (chủbiên), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 1996

- Điền kinh và thể dục của Nguyễn Ngọc Đông và TS Dương NghiệpChí (đồng chủ biên), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 1998

- Tâm lý học thể dục thể thao và tâm lý học sư phạm của của Ths LêThị Hồng (chủ biên), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 2001

- Tâm lý học Thể dục thể thao của PGS,TS Phạm Ngọc Viễn (chủbiên), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 2007

- Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong trường học của Ths.Hoàng thị Đông (chủ biên), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 2004

- Gíáo dục thể chất trong các trường đại học của TS Vũ Đức Thu, NxbThể dục thể thao, Hà Nội, 1998

- Lý luận và phương pháp thể dục thể thao của TS Nguyễn Toán vàPhạm Danh Tốn (đồng chủ biên), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 2000

- Sinh lý học thể dục thể thao của TS Vũ Thị Thanh Bình, Ths Phạm

Lê Phương Nga (đồng chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998

- Giáo dục thể chất của Ths Đinh Quang Tuấn, (bài giảng), Học việnBáo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2005

Các tác giả tập trung phân tích và nêu ra những nội dung cơ bản củacông tác TDTT học đường nói chung và GDTC trong hệ thống các trường đạihọc ở Việt Nam Công tác triển khai ở các trường đại học, gồm những ưu

Trang 8

điểm đã đạt được và một số tồn tại cần được khắc phục Các tác giả đã phântích về công tác tổ chức giảng dạy, về số giờ chính khoá, giờ thực giảng, côngtác tổ chức phong trào, lực lượng giảng viên, về điều kiện vật chất, sân bãi tậpluyện và phương tiện phục vụ cho công tác GDTC, các tác giả đã nhấn mạnhnhu cầu, nhận thức, thái độ học tập TDTT của sinh viên nói chung nhưngchưa đi sâu đánh giá nhu cầu, thái độ của sinh đối với môn học GDTC ở một

số trường đại học cụ thể Do đó, để khái quát về nhu cầu, thái độ của sinh viênđối với môn học giáo dục thể chất trong Học viện Báo chí và Tuyên truyềncần phải nghiên cứu nghiêm túc, trên cơ sở lý luận và thực tiễn để phân tíchthực trạng, đưa ra một số giải pháp để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tácGDTC cho sinh viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài có các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về nhu cầu, nhận thức, thái độ của sinh viêntrong công tác GDTC trong các trường đại học

- Trình bày vai trò của nhu cầu, nhận thức của sinh viên với công tácGDTC trong các trường đại học, đồng thời chỉ rõ sự cần thiết khách quan phảinâng cao nhu cầu, định hướng nhu cầu và thái độ đối với công tác GDTC chosinh viên

- Phân tích, đánh giá thực trạng nhu cầu và thái độ của sinh viên trongcông tác GDTC ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 9

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao nhu cầu, thái độ của sinhviên với công tác GDTC ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác GDTC cho sinh viên ở Họcviện Báo chí và Tuyên truyền, đối tượng chủ yếu là sinh viên hệ chính qui tậptrung Thời gian khảo sát từ 2008 đến 2010

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà nước, tư tưởng HồChí Minh về công tác TDTT và thể thao trường học (GDTC), lý luận vànhững phương pháp GDTC của Bộ Giáo dục và Đào tạo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống

kê, phương pháp lôgíc lịch sử, và phương pháp khảo sát thực tiễn

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Nêu ra được thực trạng nhu cầu, thái độ của công tác Giáo dục thểchất cho sinh viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu, nhận thức, thái độcủa sinh viên đối với môn hoc Giáo dục thể chất ở Học viện Báo chí và Tuyêntruyền hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm phần mở đầu, nội dung, danh mục tài liệu tham khảo, kếtcấu 3 chương, 10 tiết (120 trang)

Chương 1: Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu, thái độ học tập môn

giáo dục thể chất của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chương 2: Thực trạng nhu cầu, thái độ và những vấn đề đặt ra trong

công tác giáo dục thể chất cho sinh viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, thái độ của sinh

viên đối với công tác Giáo dục thể chất

Trang 10

CHƯƠNG I

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU, THÁI ĐỘ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

1.1 Tổng quan về nhu cầu, thái độ học tập môn GDTC của sinh viên

1.1.1 Lý luận về nhu cầu, thái độ

Nhu cầu, thái độ là một trong những hiện tượng tâm lý được nhiều nhàTâm lý học quan tâm Với các góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa

ra quan điểm của mình về nhu cầu, thái độ

+ Các quan điểm về nhu cầu

Theo cách tiếp cận về sinh học để giải thích về nhu cầu - động cơ, cáctác giả đã cho rằng nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người Với quanđiểm này đã sinh vật hóa hệ thống nhu cầu - động cơ của con người, xemnhững nhu cầu của con người mang tính sinh vật, đã phủ nhận nguồn gốc xãhội, tính chủ thế của nhu cầu Vì thế ông đã khẳng định khi cơ thể con ngườithiếu hụt một cái gì đó như thức ăn, nước uống thì kích thích con người hànhđộng tìm kiếm cái cơ thể cần

Đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nghiên cứu về nhu cầu của

A Maslow, K Lewin Nhà Tâm lý học Mỹ A Maslow đại diện cho trườngphái Tâm lý học nhân văn đã đưa ra những quan điểm tiến bộ về bản tính củacon người đó là: “Bản tính có ý thức, là nhu cầu bậc cao chứ không phải lànhững bản năng sinh vật, với sự phân cấp nhu cầu từ thấp đến cao là cơ sở đểcon người càng văn minh, thoát xa các loài vật Ông đã đưa ra luận thuyết thứbậc về nhu cầu - động cơ Theo ông hệ thống nhu cầu của con người gồm:nhu cầu sinh học, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhucầu tự hoàn thiện

Trang 11

Hệ thống thứ bậc nhu cầu của A Maslow.

Theo thang nhu cầu này ta thấy các nhu cầu được sắp xếp theo một hệthống từ thấp đến cao Đó là:

- Nhu cầu sinh học là nhu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất Con ngườitrước hết phải đáp ứng nhu cầu sinh học rồi mới có thể quan tâm đến các nhucầu tiếp theo Các nhu cầu này ở bậc thang thấp nhất chỉ cần thoả mãn tớimức cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người

- Các nhu cầu an toàn và bảo vệ tính mạng trước những hiểm họa ở bậcthang thứ hai Trong cuộc sống ai cũng muốn được an toàn, yên ổn, không bịchi phối bởi những bất trắc Đáp ứng được nhu cầu này con người mới thực

sự an tâm thực hiện các hoạt động của bản thân

- Nhu cầu xã hội về đời sống tình cảm như yêu thương, thích sống chanhoà cùng tập thể ở nấc thang thứ ba Cuộc sống con người không thể tồn tại

Nhu cầu xã hội

Nhu cầu an toàn

Nhu cầu sinh học

Nhu cầu hoàn thiện

Trang 12

riêng lẻ, mà sự tồn tại và phát triển của bất kỳ cá thể nào là quá trình tham giavào các hoạt động và các quan hệ xã hội đa dạng và phong phú.

- Nhu cầu triển vọng, tự khẳng định mình, thích được tôn trọng ở nấcthang thứ tư Đó là trong quá trình con người tham gia vào các hoạt động xã hộithì con người luôn mong muốn thành công, có uy tín, được xã hội tôn trọng

- Nhu cầu tự hoàn thiện bản thân là thứ bậc nhu cầu cao nhất của conngười, thể hiện sự khát vọng cao ở mỗi người, đồng thời là sự thể hiện đầy đủnhất về giá trị của con người Con người chủ động thực hiện quá trình xã hộihoá, sự ý thức để điều chỉnh hành vi với mục đích hoàn thiện nhân cách, tựhọc hỏi, khám phá, tìm hiểu để nâng cao kiến thức hiểu biết, sáng tạo

Theo Maslow các nhu cầu trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của conngười có quan hệ với nhau và chúng rất linh hoạt và thay đổi vị thế phù hợpvới hoạt động của chủ thể

Theo quan điểm của K Lewin, nhân tố thúc đẩy hoạt động của conngười không chỉ có nhu cầu cơ thể mà còn có cả nhu cầu xã hội Khi xuấthiện một nhu cầu nào đó thì đồng thời xuất hiện những hiện tượng có liênquan đến nhu cầu đó ở chủ thể Mọi ý kiến của con người đều liên quan đếncác nhu cầu khác nhau

Henry Mursay đã khẳng định nhu cầu là một tổ chức cơ động và nóluôn thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở mỗi người là khác nhau về cường độ, mức

độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người.Ông đã nêu ra các loại nhu cầu của con người như: nhu cầu thành đạt, nhu cầutôn trọng, nhu cầu vui chơi, nhu cầu tự vệ… Các nhu cầu này là sự cần thiếtcủa con người và cần thiết cho hoạt động sống và nó gây ra cho chủ thể tínhtích cực hoạt động nhất định

Các nhà Tâm lý học Xô viết đã khẳng định nhu cầu là yếu tố bên trong,quan trọng đầu tiên thúc đẩy con người hoạt động Một trong những người

Trang 13

đầu tiên trong số các nhà Tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu cầu đó là D.

N Hznatze Ông cho rằng không có gì có thể đặc trưng cho một cơ thể sốnghơn là sự có mặt của nó ở nhu cầu Đó là cội nguồn của tính tích cực Nhu cầu

là một thuộc tính đặc trưng, giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành

vi Ông đã khẳng định: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực,không có nhu cầu thì không thể có tính tích cực, chính nhu cầu xác định xuhướng và tính chất của hành vi Ông cho rằng giữa nhu cầu và hành vi có mốiquan hệ mật thiết với nhau

Có thể thấy rằng nhu cầu là sự đòi hỏi của con người về những yếu tốcần thiết cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân được phản ánh trong ýthức và trở thành yếu tố kích thích, thúc đẩy, điều chỉnh hành vi của conngười trong mọi hoạt động Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý biểu hiện gắn bócon người với thế giới xung quanh Sự gắn bó này chính là nguồn gốc tínhtích cực của nhân cách Mỗi cá nhân có rất nhiều nhu cầu Các nhu cầu ấy hợpthành một hệ thống nhu cầu, hệ thống này đó luôn biến đổi theo thời gian vàhoàn cảnh Trong một hoàn cảnh xác định, nhu cầu nào đó nổi lên sẽ trở thànhđộng cơ chủ yếu thúc đẩy cá nhân hành động để thoả mãn nhu cầu đó Sự thoảmãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân Chính nhu cầuquy định xu hướng lựa chọn ý nghĩ, tình cảm, xúc cảm và ý chí của cá nhân

+ Đặc điểm của nhu cầu

Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng xác định Đối tượng của nhucầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thoả mãn nhucầu Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan vàkhông tự bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Đối tượngđáp ứng nhu cầu chỉ bộc lộ khi chủ thể tiến hành hoạt động, nhờ vậy mà nhucầu có tính đối tượng

Đối tượng nhu cầu khi được chủ thể ý thức trở thành nội dung đốitượng của nhu cầu Nhu cầu thực sự là một sức mạnh nội tại, sức mạnh tâm lý

Trang 14

kích thích và hướng dẫn hoạt động khi nhu cầu mang tính đối tượng, nghĩa lànhu cầu về một cái gì đó Tính đối tượng của nhu cầu được xuất hiện tronghoạt động có đối tượng của chủ thể Nhu cầu với tư cách là một năng lựchướng dẫn, điều chỉnh hoạt động chỉ khi được đối tượng hoá, tức là nhu cầu

có đối tượng Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa conngười với hiện thực khách quan Khi xem xét mức độ của một nhu cầu nào đó

ở con người phải chú ý đến mức độ nhận thức, ý thức, sự giác ngộ của chủ thể

về đối tượng cũng như phương thức thoả mãn nó

Đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn được phản ánh vào đầu óc con ngườidưới dạng biểu tượng, với tính chất là một hiện tượng tinh thần

Tâm lý học Mác xít khẳng định, nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực,

là động lực đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người, nhưng nó không cósẵn mà được hình thành thông qua hoạt động Về nguyên tắc, K Marx đã chỉrõ: Không có động lực nào lại tồn tại có sẵn trước hoạt động Nhu cầu đượchình thành trong quá trình hoạt động Do đó, khi nghiên cứu nhu cầu cầnthiết phải xem xét nó dưới hai góc độ đồng thời: Một là, nhu cầu với tư cách

là điều kiện bên trong, là một tiền đề bắt buộc của hoạt động Hai là, nhu cầuvới tư cách là cái hướng dẫn điều khiển hoạt động của chủ thể trong thế giớiđối tượng khách quan

Nhu cầu được thoả mãn thông qua hoạt động Chỉ có thông qua hoạtđộng thì đối tượng của nhu cầu mới được bộc lộ và được cụ thể hóa và đượcthoả mãn Chính vì lẽ đó nhu cầu luôn có mối liên hệ mật thiết với động cơ.Mỗi loại nhu cầu cụ thể được thoả mãn trong quá trình chủ thể tiến hành hoạtđộng tương ứng

Như vậy, nhu cầu và hoạt động luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau.Nhà Tâm lý học A N Lêônchiev đã khẳng định tâm lý con người nói chung

và nhu cầu nói riêng có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn, nhu cầu với tínhchất là một sức mạnh nội tại chỉ có thể được thực thi trong hoạt động Mặt

Trang 15

khác nhu cầu một khi đã hình thành ở cấp độ tâm lý lại phát huy tính tích cực,trở thành nội lực thúc đẩy con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu A N.Lêônchiev xem nhu cầu là điều kiện bên trong của hoạt động Thông qua hoạtđộng cụ thể làm xuất hiện các nhu cầu chức năng như: Nhu cầu lao động, nhucầu học tập, nhu cầu giao tiếp

Nhu cầu thường đi kèm với các ý chí và cảm xúc của con người.Những trạng thái cảm xúc tiêu biểu như tính hấp dẫn của một đối tượng cóliên quan đến một nhu cầu nhất định, sự không hài lòng khi nhu cầu khôngđược thoả mãn Ý chí - cảm xúc luôn thúc đẩy hoạt động tìm kiếm cách thứccần thiết nhằm thoả mãn nó Chính vì vậy nhu cầu trở thành một trong nhữngđộng cơ mạnh mẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động và thực hiện các hành vi ý chí

Có thể khẳng định rằng: bản chất của nhu cầu là sự đòi hỏi của chủ thể

về một đối tượng nào đó, cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầuphản ánh mối quan hệ giữa chủ thể với điều kiện sống Nhu cầu là nguồn gốctính tích cực được bộc lộ thông qua tính tích cực của chủ thể Chính hoạtđộng là phương thức thoả mãn nhu cầu và thông qua hoạt động nhu cầu và cảhoạt động của con người không ngừng phát triển

Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú Có thể phân chia nhucầu thành nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần

Nhu cầu vật chất có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của cơ thể conngười, có cội nguồn sâu xa từ bên trong cơ thể như nhu cầu về thức ăn, thứcuống, nhà ở, quần áo mặc… Chính những nhu cầu này thúc đẩy con ngườihoạt động lao động và sáng tạo để làm ra của cải vật chất, tạo ra cơ sở củatoàn bộ lịch sử tồn tại của loài người

Nhu cầu tinh thần có liên quan trực tiếp với những đòi hỏi về cái đẹp,đối xử với nhau cho hợp đạo lý, hợp tình người… có cội nguồn sâu xa từtrong nền văn minh, cái làm nên lực lượng bản chất người Chẳng hạn như

Trang 16

nhu cầu về nghệ thuật, nhu cầu về khoa học, nhu cầu học tập vươn lên nắmbắt, lĩnh hội tri thức khoa học…

+ Khái niệm thái độ

Thái độ là một hiện tượng tâm lý phức tạp, được nhiều học giả nghiêncứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuỳ vào góc độ nghiên cứu mà họ đưa raquan niệm của mình về thái độ

Nhà nghiên cứu người Mỹ W T Thomas khi nghiên cứu thái độ đãkhẳng định: “Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị”,hay “Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này haymột giá trị khác làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác màđược xã hội chấp nhận”

Nhà Tâm lý học G N Allport đã đưa ra định nghĩa thái độ như sau:

“Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được hình thànhthông qua kinh nghiệm có khả năng điều chỉnh hành vi”

Trong Tâm lý học mác xít thái độ là sự sẵn sàng, ổn định của cá nhân

để phản ứng với một tình huống, thái độ có xu hướng rõ rệt, hình thành theoquy luật nhất quán phương thức xử thế của cá nhân Khi nói về vấn đề ý thứctrước hết là vấn đề thái độ chủ quan của cá nhân, Mác đã viết: “Thái độ củatôi đối với môi trường của tôi chính là ý thức của tôi”

Trong từ điển Tiếng Việt, thái độ là cách nhìn nhận hành động của cánhân theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết

Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhânđối với con người hay một sự việc nào đó

Từ điển Xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh

“Tâm thế - Thái độ - Xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồmcác thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi”

Trang 17

Trong Từ điển các thuật ngữ Tâm lý xuất bản tại New York năm 1996cho rằng: “Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu được từbên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đốitượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhậnthức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứngđối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lêncảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng.

Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là cáchứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội Nó đượccấu thành rất phức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành

Qua những quan điểm trên ta thấy “thái độ” thường được lý giải dướicác góc độ chức năng của nó Thái độ định hướng hành vi, ứng xử của conngười Nó thúc đẩy, tăng cường tính sẵn sàng của những hành vi, phản ứngcủa con người tới đối tượng có liên quan

Từ những quan điểm trên đây về thái độ, ta có thể rút ra khái niệm thái

độ như sau:

- Thái độ là một thuộc tính của nhân cách, phản ánh mối quan hệ chủ quan của con người đối với hiện thực, biểu thị sự thống nhất của nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi.

- Thái độ được hình thành trong mối quan hệ xã hội, nó định hướng hành động của con người theo một hướng nào đó trước một tình huống cụ thể.

- Thái độ được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt

và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể.

- Thái độ của một người trước một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành hoặc phản đối, thông qua hành vi tham gia sự kiện đó tích cực hay thờ ơ.

Trang 18

+ Chức năng của thái độ:

Thái độ bao gồm các chức năng cơ bản sau:

- Chức năng thích nghi: Thể hiện việc cá nhân thay đổi thái độ cho phùhợp với môi trường nhằm đạt được mục đích đề ra

- Chức năng thể hiện giá trị: Thể hiện ở chỗ thông qua sự đánh giá mộtcách có chọn lọc về đối tượng qua biểu lộ cảm xúc, tình cảm và hành động,qua hành động của cá nhân, tính sẵn sàng hành động của cá nhân thể hiện giátrị nhân cách

- Chức năng điều chỉnh hành vi và hành động: Trong các chức năng củathái độ thì chức năng này được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn Cáctác giả đã tập trung làm rõ cơ chế thực hiện các chức năng của thái độ, tìm racác điều kiện để các chức năng đó được thể hiện

+ Phân loại thái độ

Đứng trên các góc độ khác nhau, các nhà tâm lý học phân loại thái độtheo những cách khác nhau

Dựa vào tính chất của thái độ V N Miasixev đã chia thái độ thành cácloại: thái độ tích cực hay thái độ tiêu cực, thái độ phân tính hay phân cực.Biểu hiện của nó có thể là phản ứng hoặc đánh giá thích hay không thích,đồng ý hay phản đối

Dựa vào tính chi phối của thái độ, B Ph Lomov đã chia thái độ thànhhai loại, đó là thái độ chủ đạo hay thứ yếu Các thái độ chủ đạo là các thái độ

có liên quan đến mục đích sống và động cơ chủ đạo của cá nhân, chi phối hệthống thái độ

+ Các mức độ của thái độ

Dựa vào các chỉ số khác nhau của thái độ, các nhà Tâm lý học đã phânchia thái độ thành các mức độ khác nhau

Trang 19

Theo H Benesch – Nhà Tâm lý học người Đức, thái độ gồm các mức độsau:

- Về mức độ: nhiều hay ít, thường xuyên hay không thường xuyên

- Về cường độ, thái độ gồm các mức độ tích cực, nhiệt tình, chủ động,cao hay thấp

Theo B Ph Lovnov

- Xét về cường độ, thái độ gồm các mức độ: mạnh hay yếu

- Xét về mức độ tích cực thể hiện mức độ ảnh hưởng của thái độ đốivới tính tích cực của cá nhân

- Mức độ ý thức, thái độ của cá nhân là thái độ có ý thức, cá nhân nhậnthức được thái độ của mình

Theo Likert, người nghiên cứu chỉ cần viết một loạt câu hỏi theo thứ tự

về vấn đề cần nghiên cứu, những người được điều tra chỉ cần chỉ ra là họ rấtđồng ý, đồng ý, không đồng ý hoặc rất không đồng ý với từng câu hỏi nêu ra

Ý kiến của họ được đưa ra giá trị số Thái độ của cá nhân đó đối với vấn đềđược nghiên cứu được xác định như là tổng hợp của những giá trị số đó

- Thái độ và nhu cầu

Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người cần phải thoả mãn để tồn tại

và phát triển trong điều kiện xã hội lịch sử nhất định, là động lực đầu tiên thúcđẩy hoạt động, là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động của con người Nóvừa là điều kiện bên trong, yếu tố bắt buộc phải có của hoạt động, vừa là cáihướng dẫn và điều khiển hoạt động chủ quan của chủ thể trong thế giới đốitượng khách quan

Nhu cầu có vai trò nòng cốt, quyết định sự phát triển của nhân cách làmnền tảng của động cơ, mục đích hoạt động Quá trình thoả mãn nhu cầu đồngthời cũng là quá trình hình thành sự sẵn sàng hành động Nhu cầu của con

Trang 20

người có tác dụng xác định theo hướng thái độ của cá nhân đối với hiện thực,với trách nhiệm của bản thân Trong quá trình đó, con người xác định chomình thái độ đúng đắn, say sưa hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng, thái độ cótác dụng làm nảy sinh, phát triển và điều khiển các nhu cầu.

Trong quá trình hoạt động, nhu cầu được biểu thị ra bằng thái độ Thái

độ phản ánh tính chất và mức độ thoả mãn của nhu cầu Nhu cầu là nguồn gốc, là cơ sở bên trong của thái độ Cho nên nhu cầu và thái độ có mối quan

hệ khăng khít với nhau, thông qua các biểu hiện của nhu cầu để nắm bắt thái

độ của cá nhân Thông qua quá trình thoả mãn nhu cầu con người củng cố các

thành phần của thái độ như quan điểm, nhận thức tình cảm cũng như cách xửthế đối với đối tượng thoả mãn nhu cầu

- Thái độ và hứng thú

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó,vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoan khoái cho

cá nhân trong quá trình hoạt động

Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê hấp dẫn bởinội dung của đối tượng Đặc trưng của hứng thú là chủ thể có ý thức, thái độsay sưa, thái độ lựa chọn, có các cảm xúc khác nhau trước đối tượng Hứngthú còn là điều kiện quan trọng để cá nhân có thái độ sáng tạo đối với hoạtđộng, tăng hiệu quả và sức làm việc, nó cuốn hút ý nghĩ, tình cảm, hoạt độngcủa cá nhân Vì thế nếu ta biết cá nhân có hứng thú đối với đối tượng nào đóhay không thì ta có thể biết thái độ của họ đối với đối tượng như thế nào

- Thái độ và hành vi

Mối quan hệ giữa thái độ và hành vi luôn gắn chặt với nhau Đó là quan

hệ tác động hai chiều, qua lại với nhau Thái độ trực tiếp ảnh hưởng đến hành

vi của con người Ngược lại, khi con người thực hiện lại làm nảy nở các thái

độ tiếp theo

Trang 21

Thái độ tác động đến hành vi nhất định, đó là cách xử sự của họ đối vớiđối tượng đó Cho nên có thể khẳng định rằng thái độ về mặt cấu trúc, baohàm cả mặt nhận thức, mặt cảm xúc và mặt hành vi.

Tóm lại, thái độ có liên quan đến nhiều thuộc tính tâm lý cá nhân Nó là

một thành phần cấu trúc của ý thức cá nhân, được biểu hiện trong những hìnhthức đặc biệt như hứng thú, xúc cảm, tình cảm… Thái độ được hình thành vàphát triển, biểu hiện thông qua hoạt động của cá nhân Vì thế nghiên cứu thái

độ của sinh viên phải thông qua những biểu hiện của họ trong cấu trúc nhâncách, trong hoạt động của họ

1.2.2 Nhu cầu, thái độ học tập môn GDTC của sinh viên

- Nhu cầu học tập của sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” theo tiếng Latinh có nghĩa là người làm việc họctập nhiệt tình, đang khai thác, tìm kiếm tri thức Thuật ngữ này xuất hiện đã từlâu và được sử dụng từ khi bắt đầu hình thành các trung tâm giáo dục đại học

Theo Xã hội học và Tâm lý học thì sinh viên là đại biểu của một nhóm

xã hội đặc biệt gồm những người đang chuẩn bị cho hoạt động lao động trongmột lĩnh vực nghề nghiệp nhất định Ở cấp độ xã hội, sinh viên là người đangchuẩn bị để gia nhập vào đội ngũ tri thức của xã hội Ở cấp độ cá nhân thìsinh viên là giai đoạn của quá trình trưởng thành về xã hội chín muồi về thể lực,

sự định hình về nhân cách đang học tập, tiếp thu những tri thức của một lĩnh vựcnghề nghiệp nhất định Sinh viên trong xã hội thường ở lứa tuổi từ 17, 18 đến 23,

24 tuổi có cùng học vấn, có hoạt động đặc trưng là học tập để chiếm lĩnh nền vănminh của nhân loại và dân tộc, chuẩn bị gia nhập tầng lớp trí thức

Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặc biệt quan tâm đếnthanh niên, sinh viên Mác đã gọi thanh niên, sinh viên là cội nguồn sự sốngcủa dân tộc

Trang 22

Theo Lênin, thanh niên sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất trong giớitrí thức Vì vậy, phải quan tâm đến giáo dục rèn luyện thế hệ trẻ trong đó cósinh viên Giáo dục là biện pháp hàng đầu có ảnh hưởng đến việc phát triểnnhân cách của họ, đến tiến trình phát triển của xã hội.

Xác định vị trí, vai trò của sinh viên đối với tương lai của đất nước,Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,

vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Theo Bác, trong giáo dục phải chú ýđến đào tạo thế hệ trẻ thành những người vừa “hồng”, vừa “chuyên” Quanđiểm chiến lược của Đảng ta về thanh niên, sinh viên đã được trình bày mộtcách cụ thể trong Nghị quyết lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương khoáVII, đã chỉ rõ, thanh niên sinh viên là lực lượng đóng vai trò xung kích trong

sự nghiệp đổi mới và đưa đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Như vậy, thanh niên, sinh viên là những người trẻ, khoẻ, có hiểu biết vềkhoa học và kỹ thuật, năng lực nhận thức phát triển mạnh mẽ, họ trưởngthành về thể chất và tinh thần Điều đó cho phép họ có thể giải quyết độc lậpnhững vấn đề đặt ra trong cuộc sống Thanh niên, sinh viên còn mang trongmình khát vọng được cống hiến, họ có lòng khát khao vươn lên tự hoàn thiệnbản thân Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, thanh niên, sinh viên chú trọngđến việc học hành, nâng cao trình độ nhận thức của bản thân, tiếp thu thànhquả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, có nhu cầu, thái độ học tập đểđưa đất nước phát triển nhanh và bền vững

Nhiệm vụ cơ bản của các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyênnghiệp là đảm bảo cho người học lĩnh hội được những cơ sở của các khoa học

và chuyên ngành một cách tích cực, tự giác và có hệ thống Việc lĩnh hội chủyếu đó thông qua hoạt động học, hoạt động học giúp cho người học lĩnh hộinội dung kinh nghiệm xã hội Theo Giôdep Linhac, học tập là một quá trìnhđiều chỉnh và hình thành cơ bản, trong đó con người trong mối liên hệ qua lại

Trang 23

với những tiền đề nội sinh, thay đổi hành vi của mình, sáng tạo những hìnhthức hoạt động mới, những kỹ năng mới, phát triển và thể hiện các năng lựccủa mình Hoạt động học tập ở bậc đại học có những nét khác biệt so với hoạtđộng học tập của học sinh phổ thông Trong quá trình học tập ở đại học, sinhviên phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững cơ sởnhững kinh nghiệm của nghề nghiệp tương lai Nói cách khác, họ phải nắmđược cơ sở của nghề nghiệp mà họ cần đảm nhiệm sau khi tốt nghiệp đại họcvới tư cách là người cán bộ khoa học, kỹ thuật, người cán bộ quản lý, nghiệp

vụ có trình độ cao Muốn vậy, trong hoạt động học tập của sinh viên trước hết

họ phải xác định nhu cầu, thái độ học tập đúng đắn, tích cực để nâng cao kếtquả của quá trình học tập của mình

Hoạt động học tập của sinh viên là một loại hoạt động nhận thức cơbản, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên nhằm nắm vững hệthống kiến thức, kỹ năng về một loại nghề nghiệp nào đó làm cơ sở cho hoạtđộng nghề nghiệp tương lai

- Đặc điểm của hoạt động học tập của sinh viên

Hoạt động học tập là hoạt động hướng vào sự tái tạo tri thức ở ngườihọc, giúp cho người học tích luỹ vốn liếng tinh thần cho bản thân Để tái tạolại, người học không có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thânthông qua động cơ, ý chí Do đó hoạt động học làm thay đổi chính ngườihọc Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cầnphải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Mặc

dù hoạt động học có thể cũng có thể làm thay đổi khách thể Nhưng như thếkhông phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiện đểđạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động

Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học.Nghĩa là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời

Trang 24

thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tínhchọn lựa cao, đã được khái quát hoá, hệ thống hoá.

Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩnăng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bảnthân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biếtcách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thânhoạt động học Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của sinh viên, giữ vai tròchủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của người học

Đối với sinh viên, hoạt động học tập đóng vai trò chủ đạo và nó cónhững đặc điểm nổi bật sau:

+ Hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động có mục đích và có kết quả.Nếu như trong hoạt động lao động sản xuất là hoạt động trong đó conngười làm biến đổi đối tượng của hoạt động thành những sản phẩm có giá trịphục vụ cho xã hội thì hoạt động học tập ở sinh viên không làm biến đổi đốitượng mà làm biến đổi chính chủ thể của hoạt động (bản thân sinh viên)

+ Hoạt động học tập của sinh viên gắn với thực tiễn

Quá trình học tập của sinh viên là quá trình lĩnh hội tri thức khoa học

và ứng dụng vào thực tiễn, phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp tương lai

Cái cốt lõi của hoạt động học tập ở sinh viên là sự tự ý thức về hoạtđộng học tập của mình Tự ý thức về động cơ, mục đích, biện pháp học tập,hình thành nhu cầu, thái độ tích cực trong học tập, hiểu sâu sắc rằng chínhmình là chủ thể của hoạt động học và chịu trách nhiệm trước học tập của mình

Hoạt động học tập của sinh viên bao gồm cả hoạt động ở trên lớp vàhoạt động ở ngoài lớp Hoạt động trên lớp theo kế hoạch giảng dạy của nhàtrường được quy định bởi thời khoá biểu nhất định Hoạt động ở ngoài lớp dobản thân sinh viên tự lựa chọn, sắp xếp, thực hiện như tự học, tự tìm tài liệutham khảo, tập dượt nghiên cứu khoa học… Hoạt động ngoài lớp giúp sinh

Trang 25

viên mở rộng tầm hiểu biết và đào sâu kiến thức theo chuyên môn mà mình đãlựa chọn.

Như vậy, trong các hoạt động của sinh viên, hoạt động học tập, hoạtđộng nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội… thì hoạt động học tập là hoạtđộng giữ vai trò chủ đạo, nó ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển các quá trình

và thuộc tính tâm lý của người sinh viên, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghềnghiệp Do đó, người sinh viên phải thực sự làm chủ quá trình học tập, biếtbiến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

- Nhu cầu học tập của sinh viên

Nhu cầu học tập của sinh viên là đòi hỏi của người sinh viên đối vớiviệc lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phương pháp họctập nhằm trau dồi, phát triển vốn liếng nghề nghiệp và hoàn thiện nhân cách

Nhu cầu học tập của sinh viên là thành phần cơ bản của động cơ họctập, thúc đẩy tính tích cực và có ảnh hưởng quyết định tới kết quả học tập

Nhu cầu học tập là sự phản ánh trạng thái thiếu hụt kiến thức khoa học,thiếu hụt kỹ năng mới và phương pháp nhận thức và thực hành của chủ thểhọc tập Nhu cầu học tập là một trong những nhu cầu tinh thần cơ bản của conngười, nhu cầu này được xuất hiện khi chủ thể nhận thức sâu sắc sự cần thiếtphát triển bản thân, nâng cao trình độ của bản thân

Nhu cầu học tập thực chất là nhu cầu làm giàu vốn hiều biết kinhnghiệm của cá nhân đáp ứng yêu cầu của xã hội Việc thoả mãn nhu cầu họctập của cá nhân sẽ làm cho họ phát triển, tự khẳng định năng lực nghề nghiệpcủa mình Cho nên để đạt được kết quả cao trong hoạt động học tập của sinhviên thì phải làm nảy sinh nhu cầu học tập của họ Nhờ sự xuất hiện nhu cầuhọc tập của người sinh viên sẽ thúc đẩy tính tự giác, tích cực, tính sáng tạo, sựtìm tòi, say mê, hứng thú trong học tập… Nhu cầu học tập chính là nguồn gốccủa tính tích cực học tập Cho nên không có nhu cầu học tập sẽ không có

Trang 26

động cơ học tập và người sinh viên học với sự thờ ơ, lơ là, không tự giác vàkhông có ý thức về việc học của mình.

Nhu cầu học tập có mối quan hệ chặt chẽ và là yếu tố ảnh hưởng quyếtđịnh đến kết quả học tập và tính tích cực, tự giác học tập Tính tích cực họctập thể hiện ở nhu cầu học tập và nhu cầu học tập là nguồn gốc của tính tíchcực học tập Nhờ có tính tích cực học tập nó như là một động cơ cực mạnhthúc đẩy chủ thể tìm tòi những kiến thức mới, phát triển năng lực mới, vượtqua những khó khăn, trở ngại trong hoạt động học tập

Khi chủ thể có nhu cầu học tập thì thường là thời gian dành cho việchọc tập sẽ nhiều hơn, việc học diễn ra chất lượng hơn, chủ thể có tình cảm đốivới việc học, họ thích thú không bị gò ép căng thẳng Việc thoả mãn nhu cầuhọc tập sẽ đem lại niềm vui, sự phấn khởi, thoải mái trong học tập và lại làmxuất hiện nhu cầu mới cao hơn, thúc đẩy chủ thể tiến hành hoạt động học tập

- Sự hình thành và phát triển nhu cầu, thái độ học tập môn GDTC của sinh viên

Việc hình thành nhu cầu học tập các môn GDTC của sinh viên chỉ cóthể diễn ra trong hoạt động học tập môn học này Do đó cần phải tổ chức tốtquá trình học tập để hình thành thói quen ở sinh viên đối với việc học tập mônGDTC

Nhu cầu học tập được phát triển khi phương tiện thoả mãn các nhu cầuhọc tập đó đa dạng và phong phú Vì vậy phải tối ưu hoá các điều kiện vàphương tiện học tập để thoả mãn nhu cầu học tập ở họ Đặc biệt đổi mới nộidung, chương trình, phương pháp, phương tiện dạy và học môn GDTC

Nhu cầu học tập môn GDTC được củng cố khi chủ thể ý thức được ýnghĩa của nó đối với bản thân và xã hội Vì thế cần coi trọng công tác giáodục, xây dựng ý thức học cho sinh viên ngay từ những ngày đầu vào trường,ngay từ những tiết học đầu tiên của các môn GDTC Người dạy phải ra sức

Trang 27

hấp dẫn của nghệ thuật giảng dạy môn GDTC, gắn việc giảng dạy cả lý thuyết

và minh hoạ động tác làm mẫu của thầy cho bài giảng sinh động, tạo ra sự hấpdẫn, dễ hiểu gây hứng thú đối với người học và làm cho họ tham gia tích cựcvào giờ học môn GDTC Để hình thành, phát triển nhu cầu học tập thì vai tròcủa người giáo viên có ảnh hưởng quan trọng Người thầy với việc sắp xếp, chếbiển bài giảng một cách sinh động, sáng tạo, với nội dung, chương trình vừa sức,thiết thực phù hợp với đối tưọng mới thu hút được người học, từ đó lối cuốn, thúcđẩy họ học tập tích cực, chủ động với tư các là chủ thể của hoạt động học tập

Như vậy, để hình thành và phát triển nhu cầu học tập môn GDTC củasinh viên ở các trường đại học phải có những biện pháp tác động vào nhậnthức, thái độ đến việc xây dựng thói quen tích cực học tập của chủ thể, đồngthời phải tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu từ phía khách quan như đadạng hoá, hiện đại hoá các phương thức và điều kiện thoả mãn, tạo môitrường kích thích và phát triển nhu cầu học tập các môn học này

- Thái độ học tập của sinh viên

Trong lịch sử nghiên cứu về thái độ, người ta không nghiên cứu thái độmột cách chung chung, mà nghiên cứu thái độ trong một lĩnh vực cụ thể nhưthái độ xã hội, thái độ nghề nghiệp, thái độ học tập… Trong đó thái độ họctập được nhiều người quan tâm đặc biệt là thái độ học tập của sinh viên

Thái độ học tập là thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện ở ý thức,tình cảm, hứng thú, ý chí… của chủ thể trong hoạt động học tập, thông quanhững đánh giá chủ quan về nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành động đốivới đối tượng có liên quan đến việc thoả mãn nhu cầu của chủ thể

Trong tâm lý học dạy học Liên xô, thái độ học tập không được nghiêncứu riêng lẻ mà nó được xem xét trong nghiên cứu động cơ, hứng thú học tập.Thái độ học tập là một bộ phận cấu thành đồng thời là một thuộc tính cơ bảntoàn vẹn của ý thức học tập của chủ thể, là yếu tố quy định tính tự giác, tíchcực học tập và thể hiện bằng những xúc cảm và hành động tương ứng

Trang 28

Thái độ học tập là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ýthức, quy định tính sẵn sàng hành động của người học đối với hoạt động học tậptheo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ vàlời nói của người học trong những tình huống, điều kiện học tập cụ thể.

Thái độ học tập của sinh viên thường được thể hiện thông qua:

+ Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của các môn học nóichung

Việc nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của môn học đối với bảnthân sẽ giúp người học có thái độ đúng đắn trong quá trình lĩnh hội kiến thứcmới Điều này sẽ làm cho người học điều khiển hoạt động học của mình mộtcách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động

+ Biểu hiện về mặt thái độ học tập

Mặt thái độ bao gồm thái độ cảm xúc tích cực hay không tích cực vớihoạt động học như:

- Tâm trạng háo hức, chờ đón hay không háo hức, chờ đón các môn học

- Có niềm vui nhận thức cùng với sự thích thú khi tiếp nhận các tri thứchay ngược lại

- Thích thú hay không thích thú tìm tòi tài liệu học tập

- Dành thời gian tự học hay không

- Có tham gia tích cực phát biểu xây dựng bài hay không

+ Biểu hiện về mặt hành vi

- Hành vi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của thái độ Hành vi họctập của sinh viên là:

- Có tập trung chú ý nghe giảng hay không

- Có tích cực phát biểu xây dựng bài hay không

Trang 29

- Chuẩn bị bài trước khi lên lớp như thế nào

- Thường có trao đổi về nội dung môn học

- Tham gia các buổi đi học có đầy đủ không…

Như vậy, thái độ học tập của sinh viên không chỉ thể hiện ở mặt nhậnthức về việc học tập mà còn được bộc lộ qua xúc cảm và hành vi học tập của họ.Đây cũng là những tiêu chí để đánh giá thái độ học tập của sinh viên Các mặt này

nó liên kết chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, thể hiện sự thống nhấtgiữa nhận thức, tình cảm, thái độ và hành động trong cấu trúc tâm lý cá nhân

Có thể nhận thấy rằng nhu cầu, thái độ học tập của sinh viên là nhữngnhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động học tập và chất lượng học tập củasinh viên Tính tích cực trong hành động học tập cùng với thái độ đúng đắntrong quá trình học tập sẽ là điều kiện nâng cao kết quả học tập của sinh viên

Mối quan hệ giữa nhu cầu, thái độ học tập với kết quả học tập của sinh viênĐối với sinh viên, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo Về phươngdiện tâm lý học, coi sự học tập là những thay đổi hành vi trên cơ sở sự thíchnghi của cá thể với các điều kiện sống đang thay đổi Tâm lý học đặc biệt lưu

ý đến tính tích cực học tập Theo đó tâm lý học coi học tập là hình thức hoạtđộng mà trong quá trình đó, cá thể thay đổi hành vi và các thuộc tính tâm lýcủa mình không phải do ảnh hưởng các điều kiện bên ngoài, mà còn tuỳ thuộcvào kết quả của các hoạt động của bản thân mình Do đó, đối với mỗi sinhviên nhu cầu học tập có thái độ tích cực đối với việc học tập là những thành tố

có ý nghĩa quyết định tạo nên chất lượng của hoạt động học tập và vì thế sẽ cóảnh hưởng lớn đến kết quả học tập Trong hoạt động học tập của sinh viên,nhu cầu học tập có chức năng hướng dẫn và kích thích hoạt động học tập Mặtkhác nó còn là nguồn gốc bên trong thúc đẩy tính tích cực học tập Do đó, nhucầu học tập có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập Trong hoạt động họctập, để thoả mãn nhu cầu học tập chủ thể tiến hành các thao tác trí tuệ nhằm

Trang 30

chiếm lĩnh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới Tính tích cực học tập đượcthể hiện đặc trưng bằng sự tìm tòi một cách có chủ định của chủ thể tới quátrình lĩnh hội kiến thức mới, nắm vững kiến thức ở mức độ cao hơn trước.

Khi chủ thể có nhu cầu học tập sẽ tạo ra sự khát khao học tập, mở mangvốn hiểu biết làm thúc đẩy con người học tập, làm nảy sinh và phát triển tínhtích cực học tập ở họ Có thể khẳng định rằng: nhu cầu học tập là nguồn nănglượng bên trong chuyển thành tính tích cực học tập trong hoạt động học tậpcủa người sinh viên Vì thế, nhu cầu học tập của sinh viên ảnh hưởng quantrọng tới kết quả học tập Mặt khác, khi sinh viên có nhu cầu học tập, việc họctập được tiến hành thoải mái mà chất lượng hơn bởi động lực của hoạt độnghọc tập là tiến tới hoàn thiện tri thức của mình Trên cơ sở đó thái độ tích cựccủa sinh viên đối với việc học tập được hình thành và phát triển, tạo thànhmột động cơ mạnh mẽ, thúc đẩy sinh viên tự giác trong hoạt động của mình.Khi sinh viên có biểu hiện thái độ đúng đắn tích cực tự giác trong hoạt độnghọc tập được biểu hiện qua hành vi như: tham gia đầy đủ các buổi học, tronggiờ học tập trung chú ý nghe giảng, có tâm trạng háo hức, chờ đợi các tiếthọc, sau mỗi giờ học muốn trao đổi với bạn bè và thầy cô những vấn đề chưahiểu… Tất cả những hành vi đó có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định đếnkết quả học tập của sinh viên Những yếu tố đó thúc đẩy sinh viên tiếp tục họctập, chiếm lĩnh đối tượng ở trình độ và chất lượng cao đem lại niềm vui, hứngthú đối với việc học tập Chính thái độ học tập đúng đắn và sự say mê học tậpcủa sinh viên sẽ ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập của họ

1.2 Giáo dục thể chất và những biểu hiện của nhu cầu thái độ học tập môn GDTC của sinh viên

1.2.1 Sự cần thiết của việc học tập môn GDTC trong các trường đại học hiện nay

Người ta coi GDTC là một bộ phận của thể dục thể thao, nhưng chínhxác hơn nó còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng

Trang 31

rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổ chức để truyền thụ và tiếp thunhững giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục chung, chủ yếu trong nhàtrường Sự tác động có chủ đích đến sự phát triển theo định hướng các tố chấtthể lực nhằm nâng cao khả năng vận động của con người.

Việc dạy những động tác và phát triển các tố chất vận động có liênquan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau, có quan hệ với nhau, nhưng chúngkhông bao gìơ đồng nhất và quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triểnthể chất và GDTC khác nhau

Trong những buổi tập, giai đoạn khác nhau, nhiệm vụ GDTC (dạy kỹthuật chẳng hạn) hoặc phát triển tố chất vận động nào đó lại là yêu cầu chính.Hiểu và vận dụng thành thạo theo những đặc trưng, mối quan hệ trên là mộttrong những yêu cầu hàng đầu với các nhà sư phạm TDTT

Chúng ta có thể hiểu, GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung

chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người Quan niệm như thế, chúng ta có thể coi phát triển thể chất là một phần hệ quả của GDTC Quá trình phát triển thể chất có

thể chỉ là do bẩm sinh tự nhiên (sự phát triển tự nhiên của cơ thể) hoặc còn cóthêm tác động có chủ đích, hợp lý của GDTC đem lại

Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra một khái niệm về GDTC nhưsau:

GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người.

Hay nói cách khác:

GDTC là quá trình giáo dục và đào tạo của nhà sư phạm nhằm phát triển, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người.

Trong quá trình GDTC, các hình thái và chức năng của các cơ quantrong cơ thể từng bước được hoàn thiện, hình thành và phát triển các tố chất

Trang 32

thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động và hệ thống tri thức chuyên môn GDTC cóvai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện năng lực và hành động vậnđộng của con người.

GDTC là một phạm trù biện chứng của triết học Đông - Tây Nó tồn tại

từ khi xuất hiện xã hội loài người và tồn tại tự nhiên như một nhu cầu hết sứccấp bách trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và đời sống conngười

Hệ thống GDTC là sự tổng hợp các cơ sở khoa học về quan điểm vàphương pháp luận của GDTC, cùng với các cơ quan tổ chức thực hiện vàkiểm tra công tác GDTC quốc dân Hệ thống GDTC nhằm mục đích pháttriển hài hòa thể chất và tinh thần con người, đáp ứng các hoạt động trong lĩnhvực phát triển kinh tế và xã hội Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội luôn tồn

tại những hệ thống giáo dục chung trong đó có GDTC.

Những yếu tố hình thành hệ thống GDTC đó là:

+ Những quan điểm, mục tiêu hệ thống tri thức GDTC

+ Cấu trúc, nội dung và hình thức GDTC

+ Tổng hợp về phương pháp luận và phương pháp GDTC

+ Tổ chức và quản lý GDTC

Học vấn thể chất cho sinh viên là xác định bởi trí thức chung, các hệ

thống kỹ năng, kỹ xảo phong phú để điều khiển mọi hoạt động cơ thể trongkhông gian và thời gian, biết sử dụng các kỹ năng, kỹ xảo vận động trongnhững điều kiện sống và hoạt động khác nhau của họ

Hệ thống GDTC cho sinh viên là sự tổng hợp các cơ sở khoa học vềquan điểm và phương pháp luận của GDTC, cùng với các cơ quan, tổ chức(trường đại học) thực hiện và kiểm tra công tác GDTC Nhằm mục đích pháttriển hài hòa thể chất và tinh thần cho sinh viên, đáp ứng các hoạt động trướchết là rèn luyện thể chất để có sức khoẻ học tập và tham gia các tích cực cácphong trào của nhà trường và xã hội trong sự nghiệp đổi mới của đất nước.Hình thành hệ thống GDTC đó là: Những quan điểm, mục tiêu hệ thống tri

Trang 33

thức GDTC, cấu trúc, nội dung và hình thức GDTC; phương pháp GDTC; tổchức và quản lý GDTC; chủ thể giáo dục: Ban giám đốc (giám hiệu), Đảnguỷ: Đề ra chủ trương, phương hướng công tác GDTC để thực hiện chươngtrình giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Trong các trường đại học, hiệu trưởng (Giám đốc) là người chịu tráchnhiệm chung trong việc chỉ đạo, đôn đốc kiểm tra giám sát quá trình GDTC

và phong trào thể dục thể thao của nhà trường, theo dõi sức khỏe của sinh

viên (bảng 1) Bộ môn GDTC có trách nhiệm về việc tổ chức và tiến hành

quá trình sư phạm và GDTC cho sinh viên theo kế hoạch giảng dạy Các hoạtđộng TDTT quần chúng và nâng cao thành tích thể thao do chi hội thể thaođại học của nhà trường cùng với bộ môn GDTC phối hợp với các tổ chứcquần chúng khác như: Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, phòng công tácChính trị nhà trường thực hiện Công tác kiểm tra sức khỏe định kỳ và theodõi tình trạng sức khỏe của sinh viên trong quá trình tập luyện và thi đấuTDTT do phòng (trạm) y tế nhà trường phối hợp với bộ môn GDTC thựchiện

Khoa, bộ môn GDTC có nhiệm vụ: Tổ chức giảng dạy theo kế hoạchcủa nhà trường Kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả GDTC cho sinh viêntrong quá trình học tập và rèn luyện đảm bảo nghiêm túc, khách quan và đúngquy chế

Phòng (Ban) đào tạo, phòng y tế, cùng phối hợp, tham gia vào quản lý,kiểm tra sức khoẻ và thể lực định kỳ đối với sinh viên và tạo điều kiện đểcông tác GDTC của nhà trường thực sự có kết quả

Đối tượng GDTC trong trường đại học là: các sinh viên chính quy tậptrung, phải học chương trình GDTC chính khoá Các lớp không tập trung cóthể tham gia hoạt động phong trào TDTT phong trào của trường Sinh viêntrong trường có một số đặc điểm chung: đa số ở độ tuổi từ 18 đến 22, 23, họctập ở các chuyên ngành khác nhau Đang ở giai đoạn phát triển và hoàn thiệnthể chất, sức khoẻ tốt, họ rất năng động, nhạy cảm, hoạt bát trong các hoạt

Trang 34

động, họ có nhiều ước mơ, hoài bão, có khả năng tiếp thu kiến thức nhanh,tích cực tham gia các hoạt động xã hội và nghiên cứu khoa học họ đều phải

có nghĩa vụ học tập và rèn luyện nâng cao thể chất theo chương trình đào tạođại học của nhà trường

- Trách nhiệm của sinh viên đối với môn học GDTC

+ Tham gia đầy đủ các giờ học thể dục thể thao bao gồm: (lý luận vàthực hành) theo chương trình và kế hoạch giảng dạy của nhà trường

+ Kiểm tra sức khỏe và thể lực đinh kỳ (thực hiện các thử nghiệm cầnthiết để xác định trình độ thể lực và hoạt động của các cơ quan chức năng của

sự hướng dẫn của giảng viên TDTT

+ Củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực trên cơ sở tiêu chuẩnRLTT theo lứa tuổi và hoàn thiện kỹ thuật các môn thể thao Tích cực thamgia các hoạt động thể dục thể thao quần chúng từ lớp đến khoa, khóa, trường

và ngoài trường

Hệ thống GDTC gồm nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau, làtiền đề và điều kiện của nhau trong GDTC Kết quả GDTC là sản phẩm củatừng yếu tố và của tất cả các yếu tố trong hệ thống GDTC của nhà trường.Muốn nâng cao hiệu quả của GDTC thì đòi hỏi phải nghiên cứu nghiêm túc

sự tác động của tất cả các yếu tố trong hệ thống GDTC của nhà trường

- Mục đích và nhiệm vụ của GDTC cho sinh viên trong các trường đại học

+ Mục đích: của GDTC trong trường đại học là góp phần thực hiện

mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa

xã hội, phát triển cơ thể hài hòa, có thể chất cường tráng đáp ứng yêu cầu

Trang 35

chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động, sảnxuất… của nền kinh tế thị trường, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước.

+ Nhiệm vụ: Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa cho sinh viên, rèn

luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng cho họ niềm tin, lốisống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể

Truyền đạt cho sinh viên những kiến thức cơ bản về sự chuẩn bị thểlực, phương pháp GDTC, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số mônthể thao phù hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng họ khả năng sử dụng các phươngtiện để tự rèn luyện thân thể (RLTT), tham gia tích cực vào việc tuyên truyền

và tổ chức các phong trào TDTT của nhà trường và xã hội

Duy trì và củng cố sức khỏe cho sinh viên, phát triển cơ thể một cáchhài hòa, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấu,rèn luyện thân thể đạt những chỉ tiêu thể lực quy đinh cho từng đối tượng trên

cơ sở tiêu chuẩn RLTT theo lứa tuổi

Bảng 1 : SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC THỂ CHẤT (1)

TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC

(1) Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 1998.

(2) Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 1998.

Ban giám hiệu (GĐ)

Trang 36

- Các hình thức GDTC cho sinh viên

GDTC trong các trường đại học phải được tiến hành bằng các hình thức

sau (bảng 2)

Giờ học GDTC nội khóa là hình thức cơ bản của GDTC, được tiến

hành trong kế hoạch dạy học với thời gian 150 tiết, phân ra trong 4 năm học.

120 tiết trong 2 năm đầu (giai đoạn I) với nội dung của 4 học phần và 30 tiết

trong 2 năm tiếp theo (giai đoạn II) ứng với nội dung của một học phần.

Giờ học GDTC ngoại khóa nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học nội

khóa được tiến hành vào giờ tự học của sinh viên với thời gian là 160 tiết, phân ra trong 4 năm học, dưới sự hướng dẫn của giảng viên GDTC (bảng 3).

Các bài tập thể dục vệ sinh và chống mệt mỏi hàng ngày.

Các hình thức hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồmluyện tập trong các câu lạc bộ sinh viên, các đội đại biểu từng môn thể thao,tham gia các cuộc thi đấu thể thao ở trong và ngoài trường

Giờ tự luyện tập của sinh viên

- Phân loại sức khoẻ cho sinh viên

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ công tác GDTC, đảm bảo tính hợp

lý trong tập luyện TDTT, chương trinh GDTC được tiến hành trong quá trìnhhọc tập ở trường vẫn dựa trên cơ sở phân loại, sức khỏe của sinh viên như sau

(bảng 4).

Nhóm cơ bản (nhóm khỏe): bao gồm những sinh viên có sức khỏe tốt(từ loại I - III) đã hoặc chưa trải qua quá trình tập luyện TDTT

Nhóm đặc biệt: bao gồm những sinh viên có sức khỏe yếu (loại IV- V),

có bệnh mãn tính hoặc thương tật… cần thiết phải được tập luyện riêng biệt

Trang 37

Bảng 2 : CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN (1)

(1) Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 1998.

Trang 38

Bảng 3 : GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC (1)

(Theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

(1) Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội, 1998.

34

Trang 39

Bảng 4: PHÂN LOẠI SINH VIÊN TRONG LUYỆN TẬP THỂ DỤC THỂ THAO

Sinh viên được tổ chức luyện tập theo đơn vị lớp học Số sinh viênthuộc nhóm đặc biệt được ghép thành lớp riêng dựa trên tổ chức khoa (hoặccác lớp có chuyên ngành gần nhau, ở những nơi không có khoa) để luyện tập.Nội dung, phương pháp tổ chức, giảng dạy, tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá kếtquả học tập và thể lực trong mỗi nhóm sinh viên cần có yêu cầu khác nhau đểphù hợp với tinh trạng sức khỏe, trình độ tập luyện và giới tính

Căn cứ diễn biến về sức khỏe, thể lực và bệnh tật, sinh viên có thể phảichuyển nhóm học tập theo quyết định của bác sĩ và giảng viên GDTC vàocuối mỗi học kỳ

- Nội dung học tập GDTC

Quá trình GDTC đối với sinh viên theo các nhóm học tập, trong cáctrường đại học được tiến hành trên cơ sở khoa học, giáo dục và hệ thốngGDTC quốc dân

1- Phần lý luận chung được truyền thụ theo hình thức bài giảng, trong

15 tiết ở năm đầu Riêng đối với nhóm đặc biệt cần giảng dạy thêm ở hai nămtiếp theo Phần lý thuyết chuyên môn được giảng dạy lồng ghép trong các bàihọc thực hành kỹ thuật

2- Phần thực hành kỹ thuật: bao gồm các nội dung bài tập nhằm giải

quyết cụ thể nhiệm vụ GDTC cho sinh viên Trong nội dung học tập đối với

Nhóm đặc biệt (nhóm yếu)

Các lớp, các đội thể thao

Trang 40

tất cả các nhóm chủ yếu dành thời gian cho các bài tập phát triển thể chất và

phục vụ đặc điểm nghề nghiệp (thể dục nghề nghiệp) tương lai của sinh viên

(bảng 5).

Bảng 5: NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

(Theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Trong 2 năm đầu cần chú trọng tới các bài tập phát triển thể lực toàndiện và khắc phục sự mất cân đối về hình thể và thể lực của một số sinh viên

Loại trừ những sai lệch chức năng

và hồi phục cơ thể bằng phương

tiện TDTT

Ngày đăng: 24/12/2013, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Thiều (2004): Sinh lý học Thể dục thể thao, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội Khác
16. Nguyễn Xuân Sinh (2000): Lịch sử Thể dục thể thao, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội Khác
17. Trường Đại học Thể dục thể thao I (2001): Tuyển tập nghiên cứu khoa học Thể dục thể thao, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội Khác
18. Quang Hưng (2004): Bài tập chuyên môn trong Điền kinh, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội Khác
19. Vũ Đức Thu (1996): Lý luận và phương pháp Giáo dục thể chất, Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội Khác
20. Đinh Quang Tuấn (2005) Chủ biên: Giáo dục thể chất, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Khác
21. Phương Anh (9/2005): Thể dục thể thao trên con đường hội nhập và phát triển. Tạp chí Thể thao số 9 Khác
22. Phan Hải Hòa (8/2005): Động lực phát triển phong trào Thể dục thể thao;Tạp trí Thể thao, số 8 Khác
23. Nguyễn Văn Sơn (8/2005): Thực trạng phân cấp quản lý Nhà nước về công tác thanh tra trong lĩnh vực Thể dục thể thao. Tạp chí Thể thao số 8.24.25.120 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 :  SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC THỂ CHẤT (1) TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC THỂ CHẤT (1) TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC (Trang 35)
Bảng 2 :   CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN (1) - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 2 CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN (1) (Trang 37)
Bảng 3 :  GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC (1) - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 3 GIỜ HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC (1) (Trang 38)
Bảng 4: PHÂN LOẠI SINH VIÊN TRONG LUYỆN TẬP THỂ DỤC THỂ THAO - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 4 PHÂN LOẠI SINH VIÊN TRONG LUYỆN TẬP THỂ DỤC THỂ THAO (Trang 39)
Bảng 5:  NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 5 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT (Trang 40)
Bảng 6 :  SỰ TĂNG TRƯỞNG MỨC TIÊU HAO NĂNG LƯỢNG TRONG QUÁ TRèNH LAO ĐỘNG TRÍ ểC SO VỚI TRẠNG THÁI TĨNH - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 6 SỰ TĂNG TRƯỞNG MỨC TIÊU HAO NĂNG LƯỢNG TRONG QUÁ TRèNH LAO ĐỘNG TRÍ ểC SO VỚI TRẠNG THÁI TĨNH (Trang 57)
Bảng 7: SỐ LỚP HỌC GDTC TRONG 5 NĂM GẦN ĐÂY - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 7 SỐ LỚP HỌC GDTC TRONG 5 NĂM GẦN ĐÂY (Trang 74)
Bảng 8 :  Số giảng viên và số lớp học GCTC - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 8 Số giảng viên và số lớp học GCTC (Trang 77)
Bảng 9. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TDTT QUẦN CHÚNG Ở NHÀ TRƯỜNG - Luận văn nhu cầu và thái độ học tập môn đạo đức
Bảng 9. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TDTT QUẦN CHÚNG Ở NHÀ TRƯỜNG (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w