Luận án nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị Trong Luận án Hiệu quả giáo dục LLCT cho sinh viên các trường đại học Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp 2000, Trần Hùng đã t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đượcthông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 12/1991) đã khẳngđịnh: “Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng vàkim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam” Để chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng và kimchỉ nam cho hành động, chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc, vận dụng sáng tạo,truyền bá sâu rộng và học tập nghiêm túc Chính luận điểm trên đã nói lên vaitrò quan trọng việc học tập LLCT của mọi công dân Việt Nam trong đó cósinh viên
Học tập LLCT là một nội dung cơ bản và quan trọng trong chương trìnhđào tạo đại học nhằm trang bị cho người học tri thức cơ bản, có hệ thống về lýluận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Từ
đó, sinh viên xây dựng được thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quancách mạng và phương pháp luận khoa học, nâng cao trình độ tư duy lý luận,bản lĩnh chính trị và phẩm chất, đạo đức cách mạng Học tập LLCT không chỉgiúp cho sinh viên có khả năng nhận thức và tham gia cải tạo thế giới bằng việchình thành tư duy khoa học, thái độ tích cực trong hoạt động thực tiễn mà còngiúp người học có kỹ năng vận dụng những tri thức lý luận vào việc giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn cách mạng nước nhà
Học tập LLCT, sinh viên không chỉ nắm vững những nguyên lý, lýluận, những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh mà còn học cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn Để đạt mục đích
đó, ngoài việc nghe giảng trên lớp sinh viên phải có phương pháp phù hợp
để tự học, tự nghiên cứu và trước hết phải thực sự có nhu cầu muốn đượchọc các môn LLCT và phải có điều kiện để nhu cầu đó được thực hiện
Trang 2Những năm gần đây, do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủquan, sinh viên các trường đại học ở Hà Nội, đặc biệt là sinh viên học tại cáctrường đại học đào tạo các ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ, kém thiết thahơn đối với học tập LLCT Một vấn đề lớn đặt ra là: giáo dục LLCT có cần thiếthay không trong điều kiện đất nước và nền giáo dục nước ta đang tiến hành hộinhập với thế giới và khu vực? Sinh viên có nhu cầu học tập LLCT hay không?Nếu có nhu cầu học tập LLCT thì những điều kiện nào phải được đảm bảo đểnhu cầu đó được đáp ứng? Việc giảng dạy và học tập LLCT trong các trường đạihọc ở Hà Nội và ở nước ta còn những bất cập nào? Làm thế nào để tạo lập nêncác điều kiện, kích thích, phát triển và đáp ứng tốt nhu cầu học tập LLCT củasinh viên một khi nhu cầu đó xuất hiện.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương
8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định: tạo chuyểnbiến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngàycàng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhândân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềmnăng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồngbào; sống tốt và làm việc hiệu quả Tuy nhiên, việc giảng dạy, học tập LLCT tạicác trường đại học ở nước ta hiện nay vẫn chưa đạt chất lượng, hiệu quả mà mộttrong những nguyên nhân của nó là nhu cầu và điều kiện học tập của sinh viêncòn nhiều bất cập Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa Xđánh giá “Chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị trongnhà trường chậm đổi mới, chưa theo kịp trình độ phát triển và yêu cầu xã hội”[36,tr.37], việc giảng dạy LLCT chưa cập nhật kịp thời những thành tựu mới nhất củakhoa học hiện đại, phương pháp giảng dạy thiếu hấp dẫn, việc áp dụng phươngpháp giảng dạy tích cực chưa được nhiều giảng viên vận dụng hiệu quả, khâuđánh giá kết quả học tập chưa khoa học Đánh giá, tổng kết thực trạng giáo dục
Trang 3LLCT trong các nhà trường, ngày 28/3/2014 Ban Bí thư Trung ương đã ban hànhKết luận 94-KL/TW về việc tiếp tục đổi mới việc học tập LLCT trong hệ thốnggiáo dục quốc dân Rõ ràng, đổi mới giảng dạy LLCT, kích thích, phát triển, nângcao nhu cầu học tập LLCT cho sinh viên là một trong những vấn đề cấp thiết củagiáo dục LLCT ở nước ta hiện nay.
Để nâng cao chất lượng học tập LLCT, việc kích thích, phát triển nhucầu học tập và tạo lập các điều kiện thuận lợi nhằm thoả mãn, đáp ứng nhucầu học tập lý luận chính trị cho sinh viên đóng vai trò rất quan trọng Đó là
lý do chúng tôi lựa chọn đề tài “Nhu cầu và điều kiện học tập lý luận chính trị của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay” cho Luận án tiến sĩ
Chính trị học chuyên ngành Công tác tư tưởng của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu và điều kiệnhọc tập LLCT của sinh viên, xây dựng hệ thống giải pháp nhằm tạo lập, nângcao điều kiện học tập LLCT, kích thích, phát triển và đáp ứng nhu cầu học tập
LLCT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
- Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu và điều kiện học tập LLCT củasinh viên, phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu học tập LLCT và điều kiện họctập LLCT của sinh viên
- Khảo sát, phân tích thực trạng nhu cầu và điều kiện học tập các mônhọc LLCT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội Phát hiện và xác địnhcách giải quyết những mâu thuẫn, những vấn đề đặt ra trong nhu cầu và điềukiện học tập LLCT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
Trang 4- Xây dựng hệ thống giải pháp nhằm tạo lập, nâng cao các điều kiện,kích thích, phát triển và đáp ứng nhu cầu học tập LLCT của sinh viên cáctrường đại học ở Hà Nội hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên
các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
Phạm vi nghiên cứu:
- Luận án chọn ba trường đại học đại diện cho khối trường KHXH&NV,khối trường kỹ thuật, khối trường kinh tế, đó là Học viện Báo chí và Tuyêntruyền, Học viện Kỹ thuật quân sự, Đại học Kinh tế quốc dân Đối tượngnghiên cứu là sinh viên không thuộc các chuyên ngành LLCT
- Thời gian nghiên cứu: Thực trạng được nghiên cứu từ năm 2012 đếnnay Các giải pháp đề xuất có giá trị đến năm 2020
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục và về công tác giáodục LLCT Luận án còn kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa họctrong và ngoài nước về nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên cáctrường đại học
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duyvật lịch sử, Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như:phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử; phương pháp so sánh; cácphương pháp của khoa học công tác tư tưởng, tâm lý học, giáo dục học và xã hộihọc như: khảo sát, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS, phỏng vấn chuyên gia
5 Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa và góp phần làm sáng rõ hơn lý luận về nhu cầu và điềukiện học tập LLCT của sinh viên, đặc biệt là phân tích sáng rõ mối quan hệ
Trang 5giữa nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên để làm cơ sở lý luậncho việc xác định giải pháp tạo lập điều kiện, phát triển, nâng cao và đápứng nhu cầu học tập LLCT của sinh viên Hà Nội;
- Khái quát, phân tích thực trạng, phát hiện những vấn đề đặt ra đối vớinhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nộihiện nay;
- Đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của hệ thống các giải pháp nhằmthiết lập các điều kiện, phát triển và đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu học tập LLCTcủa sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu vàgiảng dạy các bộ môn LLCT và cho những người quan tâm đến hoạt động dạy
- học LLCT
- Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng như là luận cứ khoa học choviệc quản lý và tổ chức dạy - học các môn LLCT tại các trường đại học ở HàNội nói riêng và các trường đại học, các trường chính trị cấp tỉnh trong cả nướcnói chung
- Cung cấp luận cứ khoa học cho lãnh đạo các trường đại học đề rachủ trương, biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới quá trìnhdạy - học LLCT và công tác giáo dục LLCT cho sinh viên
7 Cấu trúc của luận án
Luận án được cấu trúc gồm: mở đầu, 4 chương, với 10 tiết, kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước về nhu cầu và điều kiện học tập lý luận chính trị của sinh viên
1.1.1 Nghiên cứu về dạy học và nhu cầu học tập của sinh viên
Trong công trình nghiên cứu Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Phan Trọng Ngọ quan tâm đến hai vấn đề lớn:
- Giới thiệu về dạy học, lý thuyết tâm lý học về dạy học và mô hình dạyhọc hiện nay Bàn về phương pháp dạy học, tác giả cho rằng: “Muốn đạt hiệuquả cao trong dạy học phải trả lời được câu hỏi: phương pháp nào là phươngpháp tối ưu nhất để chuyển tải nội dung dạy học đến người học? Phương tiệnnào là tốt nhất”[87, tr.145]
- Giới thiệu các phương pháp dạy học đang được dùng trong nhà trườnghiện nay Theo tác giả, hệ thống thứ bậc nhu cầu của A.Maslow cung cấp chongười dạy nhiều gợi ý có giá trị để hiểu người học trong quá trình học tập:
“Thứ nhất: có một hệ thống thứ bậc nhu cầu thúc đẩy việc học của học viên”;
“Thứ hai: tại những thời điểm nhất định trong quá trình học tập của mỗi cánhân xuất hiện một nhu cầu nổi trội, quy định và thúc đẩy việc học của cá nhânđó”[87, tr.378-379]
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển tự học - Hội Khuyến học Việt Nam,
Nxb Đại học Sư phạm, năm 2002 đã phát hành tác phẩm Học và dạy cách học
do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên Trên cơ sở nghiên cứu về học, các nhà khoa học đề xuất việc đổi mới về dạy Công trình nghiên cứu này đã bàn đến chiến lược học, học cái gì? “Phải học cách tư duy và rèn luyện những phẩm chất
Trang 7thuộc phạm vi nhân cách con người thì mới đạt đến mục tiêu “kiến thức”, rồi từ
đó mà đi đến mục tiêu khác trong hàng chuỗi các mức tiến vô tận trong biểnhọc mênh mông”[109, tr.25]và cách thức học và dạy Một trong 6 nguyên tắcthen chốt của việc dạy có hiệu quả là: gây hứng thú học cho người học, tác giảgiải thích “Giáo viên cần làm cho nội dung bài giảng trở nên hấp dẫn để kíchthích hứng thú học của người học, làm cho họ thích học; khi đó họ sẵn sàng họctập, dù có vất vả”[109, tr.216]
Luận án tiến sĩ Nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm của Hoàng Thị
Thu Hà (2003), nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm nhưng chưabàn đến điều kiện và kết quả của quá trình học tập khi sinh viên có nhu cầu; từ
đó rút ra một số kết luận quan trọng về nhu cầu học tập của sinh viên sư phạmtheo cách tiếp cận tâm lý học Những kết quả nghiên cứu trên là một trongnhững tư liệu hữu ích để tác giả luận án triển khai sự nghiên cứu của mình
Trong Luận án tiến sĩ Động cơ học tập của sinh viên sư phạm - Thực trạng
và phương pháp giáo dục (2004), Trần Thị Thìn đã nêu một số khái niệm về hoạt
động học tập: nhu cầu và nhu cầu học tập; hứng thú và hứng thú học tập Từ cáckhái niệm trên, tác giả đã nghiên cứu thực trạng động cơ học tập của sinh viên sưphạm, đề xuất phương hướng và con đường cơ bản giáo dục động cơ học tập chosinh viên sư phạm
Công trình khoa học Nhận thức, thái độ và thực hành của sinh viên với phương pháp học tích cực (2007), Đại học Quốc gia Hà Nội do Nguyễn Quý
Thanh làm chủ nhiệm đề tài, qua phân tích kết quả khảo sát, cho rằng: giữanhận thức, xúc cảm và thực hành của sinh viên trong vấn đề học tích cực tồntại một mức độ chênh lệch nhất định
Luận án Động cơ học tập của sinh viên (nghiên cứu trên sinh viên các ngành KHKT) năm 2009, Dương Thị Kim Oanh đã phân tích các yếu tố tâm lý
phản ánh đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, nó định hướng,
Trang 8thúc đẩy và duy trì hoạt động của chủ thể nhằm chiếm lĩnh đối tượng đó Tác giảquan tâm đến mối quan hệ giữa nhu cầu, điều kiện, ý thức và hoạt động học tậpcủa sinh viên; một số nhân tố tác động tới nhu cầu học tập của sinh viên nhưnhân tố chủ quan: niềm tin vào bản thân, hứng thú với ngành học, tinh thần tráchnhiệm, khả năng kiểm soát bản thân… và nhân tố khách quan: gia đình, bạn bè,môi trường xã hội vĩ mô và môi trường học tập.
Trong bài viết Xây dựng môi trường học tập tích cực cho sinh viên sư phạm, Tạp chí Giáo dục số 1 (2008), Hoàng Thanh Tú đã đưa ra một số giải
pháp xây dựng môi trường học tập cho sinh viên, chúng tôi chú ý giải pháp “Tạođộng lực học tập cho sinh viên một cách chung nhất, động lực học tập của sinhviên được thể hiện ở thái độ tự nguyện, ở nhu cầu, mong muốn, sự thôi thúc thamgia và thành công trong quá trình học tập”[111, tr.23]
Trong bài viết Động cơ học tập và những yếu tố tác động tới động cơ học tập của người lớn, (2012), Tạp chí Giáo dục, số 2, Nguyễn Thị Mai Hà cho
rằng, nhu cầu là cơ sở của động cơ học tập, là một yếu tố rất quan trọng, chiphối, thúc đẩy hoạt động học tập của con người để đạt được những mục đíchmong muốn: “Tạo ra sự liên hệ giữa việc học với nhu cầu của người học; Xâydựng nội dung bài học chứa đựng nhiều cái mới, hấp dẫn, phương pháp dạyhọc kích thích tính sáng tạo để tạo ra những cảm xúc tích cực ở người học”[49,tr.20] Theo tác giả, có 3 nhóm chính trong nhu cầu và động cơ học tập: nguyênnhân thúc đẩy hoạt động học tập; thái độ chủ quan gắn với mục đích học tập;hướng tới đối tượng hoạt động học tập
Bài viết Để có một xã hội học tập (2005), Tạp chí Phát triển giáo dục, số
1, Lê Đức Phúc khẳng định: “Nhu cầu và động cơ là những hiện tượng tâm lýliên quan chặt chẽ với nhau song lại là hai khái niệm không thể được hiểu nhưnhau Người có nhu cầu học, nhưng thiếu động cơ thì chẳng bao giờ thành công
cả Ngoài ra, động cơ bên trong có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định hơn so
Trang 9với động cơ bên ngoài…”[91, tr.9], nhu cầu là yếu tố vô cùng quan trọng quyếtđịnh kết quả học tập của sinh viên.
1.1.2 Nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị
1.1.2.1 Những công trình nghiên cứu về công tác giáo dục lý luận chính trị
Trong cuốn sách Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán
bộ, đảng viên ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay (2003), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tác giả Vũ Ngọc Am trình bày về công tác giáo dục chính trị - tư tưởngvới việc nâng cao tính tự giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên Quá trình đổimới nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ,đảng viên nhằm chống “diễn biến hoà bình”
Kỷ niệm 116 năm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-2006), Ban
Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với
Nxb Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Hồ Chí Minh về công tác giáo dục
lý luận chính trị, xác định rõ nội dung phong phú, vị trí quan trọng, nhiệm vụ
cao cả, trách nhiệm học tập, nâng cao trình độ nhận thức chính trị, tư tưởng,đường lối, chính sách của Đảng nhằm rèn luyện năng lực lãnh đạo, quản lý củangười cán bộ, đảng viên và tầm quan trọng của giáo dục LLCT trong xây dựngĐảng và chính quyền Nhà nước
Trong tác phẩm Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh (2006) Nxb Chính trị quốc gia, Hoàng Quốc Bảo trình bày ba phần
chính: phương pháp tuyên truyền và nguồn gốc của phương pháp tuyên truyềncách mạng Hồ Chí Minh; những đặc trưng cơ bản trong phương pháp tuyêntruyền cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh; vận dụng phương pháp tuyêntruyền cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đổi mới phương pháp tuyêntruyền của cán bộ tư tưởng trong thời kỳ mới
Trang 10Năm 2007, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội phát hành cuốn Hồ Chí Minh với công tác giáo dục LLCT giới thiệu các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, nhấn mạnhđến nhiệm vụ xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đếnviệc rèn luyện phẩm chất đạo đức của người đảng viên Chủ tịch Hồ Chí Minhxác định rõ về mặt nội dung và nhiệm vụ học tập LLCT; vấn đề để nâng caochất lượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT
Năm 2008, Ngô Văn Thạo chủ biên cuốn Phương pháp giảng dạy LLCT
do Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội phát hành Các tác giả đã khái quát chung vềLLCT và giáo dục LLCT; một số vấn đề tâm lý và giáo dục học trong giảng dạyLLCT, phẩm chất nghề nghiệp, nghệ thuật diễn giảng, kiểm tra, đánh giá trongdạy học LLCT
Trong cuốn Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục LLCT (2010)
của Phạm Huy Kỳ do Nxb Chính trị - Hành chính phát hành đã trình bày một
số vấn đề về lý luận và phương pháp của công tác nghiên cứu, giáo dục LLCT
và công tác nghiên cứu, biên soạn, giáo dục lịch sử Đảng bộ địa phương Trong
số các phương pháp giảng dạy thường được sử dụng trong công tác giáo dụcLLCT, có phương pháp dạy học cùng tham gia (dạy học cộng tác), đáng chú ýnhất trong phương pháp này là giảng dạy phải dựa vào nhu cầu của người học
1.1.2.2 Đề tài khoa học về giáo dục lý luận chính trị
Đề tài KX 10-08 Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề chung (2002) do Nguyễn Hữu Vui làm
chủ nhiệm, đã đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp trong giảng dạy cácmôn khoa học Mác-Lênin hiện nay và đề ra những giải pháp cơ bản để đổi mớiphương pháp giảng dạy các môn khoa học này
Đề tài KX 10 - 09B Đổi mới phương thức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 11của Nguyễn Việt Chiến, đã đánh giá thực trạng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũcán bộ giảng dạy, nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiệnnay Từ đó đề ra các giải pháp cơ bản để đổi mới phương thức đào tạo và bồidưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh.
Đề tài khoa học cấp bộ Đào tạo giảng viên các môn khoa học Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay (2008) do Hoàng Đình Cúc là chủ nhiệm đã minh chứng
Mác-luận điểm: chất lượng đào tạo giảng viên các môn LLCT quyết định chất lượngđội ngũ cán bộ giảng dạy LLCT và do đó chi phối quá trình dạy - học các mônkhoa học lý luận trong các trường đại học hiện nay
Đề tài khoa học Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và công tác giáo dục LLCT trong giai đoạn hiện nay (2008), Ngô Ngọc Thắng tập trung
khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vàcông tác giáo dục LLCT
Hai đề tài cấp Bộ mã B.08 - 22 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục LLCT trong hệ thống các trường chính trị nước ta giai đoạn hiện nay (2008) và mã B.08 - 23 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào giáo dục LLCT trong giai đoạn hiện nay (2008) do Ngô Ngọc
Thắng làm chủ nhiệm đề tài, đã khái quát các luận điểm cơ bản của Hồ ChíMinh về công tác giáo dục LLCT, khảo sát thực trạng vận dụng tư tưởng HồChí Minh về giáo dục vào công tác giáo dục LLCT hiện nay Từ đó đưa ragiải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục LLCT vào giáo dụcLLCT hiện nay
Đề tài nghiên cứu khoa học: Tình hình giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới (10-2007) của Ban Tuyên giáo Trung
Trang 12ương đã nghiên cứu về đội ngũ giảng dạy các môn LLCT với tư cách là một trongnhững yếu tố quan trọng, trực tiếp tác động đến chất lượng quá trình dạy và học.
Đề tài nghiên cứu khoa học Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung một số nội dung giáo dục đạo đức công dân, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh trong nhà trường ở từng cấp học, mã số KHBĐ-2003-20 của Ban
Khoa giáo Trung ương là một công trình nghiên cứu có mục tiêu tìm ra các giảipháp, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn LLCT, đạo đức công dântrong các bậc học khác nhau
Đề tài cấp Bộ Giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay
(2009) mã B.09-27 do Trần Thị Anh Đào làm chủ nhiệm đề tài đã làm rõ nhữngkhái niệm LLCT, phân tích vai trò của giáo dục LLCT đối với sinh viên, đưa ranhững giải pháp, định hướng giáo dục LLCT cho sinh viên đúng đắn và khả thi
1.2.2.3 Luận án nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị
Trong Luận án Hiệu quả giáo dục LLCT cho sinh viên các trường đại học Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp (2000), Trần Hùng đã
trình bày, phân tích những vấn đề cơ bản về lý luận và hiệu quả công tác giáodục LLCT, đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dụcLLCT cho sinh viên các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh Từ phântích thực trạng giáo dục LLCT cho sinh viên và những vấn đề đặt ra, tác giả đềxuất yêu cầu cấp bách cần phải đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy vàchuẩn hóa đội ngũ giảng viên LLCT ở các trường đại học tại thành phố Hồ ChíMinh, khơi dậy nhu cầu học tập của sinh viên
Luận án tiến sĩ Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ (2003) của Lê Hanh
Thông đã trình bày khái quát các vấn đề lý luận về giáo dục LLCT, khảo sátthực trạng giáo dục LLCT cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã
Trang 13khu vực Nam Bộ, đưa ra hệ thống các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượngcông tác giáo dục LLCT cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã.
Luận án tiến sĩ Quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể nhận thức với việc phát huy vai trò chủ thể trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay
(2003) của Nguyễn Tiến Thủ đã phân tích quan hệ chủ thể và khách thể của quátrình nhận thức, mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể trong quá trình học tập củasinh viên Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai tròchủ động, tích cực, sáng tạo của sinh viên trong quá trình nhận thức
Luận án tiến sĩ của Hoàng Anh (2006), Giáo dục lý luận Mác-Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tiến
hành khảo sát thực trạng giáo dục LLCT trong sinh viên các trường đại học ở
Hà Nội, chỉ ra thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giáo dục lý luận Lênin cho sinh viên Luận án đã đưa ra 4 giải pháp có ý nghĩa lý luận và thựctiễn nhằm phát huy vai trò của giáo dục LLCT trong việc phát triển nhân cáchsinh viên hiện nay
Mác-Luận án tiến sĩ của Lương Ngọc Vĩnh (2012), Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong Học viên các học viện quân sự ở nước ta hiện nay Trên cơ sở khảo sát thực trạng sự tương quan giữa kết quả với mục đích
và sử dụng nguồn lực công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong học viên cácHọc viện Quân sự, Luận án khái quát được các mâu thuẫn cần giải quyết và đềxuất các giải pháp giải quyết mâu thuẫn để nâng cao hiệu quả công tác giáo dụcchính trị - tư tưởng cho học viên các học viện quân sự nước ta
1.1.2.4 Các bài báo khoa học
Đinh Xuân Khoa (2003), với bài viết Đổi mới phương pháp dạy học đại học - những khó khăn và giải pháp, Tạp chí Giáo dục, (48); Lê Bình (2004), Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị,
Trang 14Tạp chí Lý luận chính trị (3); Trần Văn Phòng (2004), Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành triết học Mác, Tạp chí Lý luận chính trị, (1); Nguyễn Văn Hiền (2005), Về phương pháp so sánh trong dạy học các khoa học Mác-Lênin, Tạp chí Giáo dục (110); Lê Hữu Nghĩa (2005), Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch - một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay, Tạp chí Cộng sản, (15); Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng (2005), Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường đại học, Tạp chí Giáo dục, (20); Trần Thị Anh Đào (2006), Thực trạng về nhận thức chính trị - tư tưởng của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (11); Đào Duy Quát (2006), “Đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới, Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá, (6); Vũ Thị Hoa (2006), Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào đổi mới phương pháp giảng dạy Lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục Lý luận, (11); Mạch Quang Thắng (2008), Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về LLCT theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Tạp chí Tuyên giáo, (11); Nguyễn Thị Kim Hoa (2009), Bồi dưỡng chính trị tư tưởng cho thanh niên trong trường học, Tạp chí Tuyên giáo, (2); Nguyễn Tiến Hoàng (2009), Vài nét về thực trạng và giải pháp tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu lý luận chính trị”, Tạp chí Tuyên giáo, (9); Trần Văn Bính (2009), Giải pháp đấu tranh với những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, Tạp chí Tuyên giáo, (5); Bùi Đình Phong (2009), Vị trí, vai trò của phương thức giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ giáo dục thanh niên, Tạp chí Tuyên giáo, (9); Nguyễn Thành Khải (2009), Đổi mới phương pháp giảng dạy ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận chính trị, (9); Nguyễn Công Hưng (2010), Để thực hiện tốt chương trình đổi mới giáo dục lý luận Mác-Lênin ở trường đại học và cao đẳng, Tạp chí Tuyên giáo, (6); Đặng Thị Nhiệt Thu (2010), Đổi mới phương pháp
Trang 15giảng dạy lý luận chính trị trong các trường đại học và cao đẳng , Tạp chí Khoa học chính trị, (3); Hoàng Thao (2011), Để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị trong các trường trung cấp công an tại Hà Nội, Tạp chí Tuyên giáo, (9); Vũ Ngọc Am (2011), Hiệu quả và tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị, Tạp chí Tuyên giáo,
(11)…
Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu về đổi mới nội dung,phương pháp giảng dạy LLCT cho cán bộ, đảng viên và xác định rõ vai trò,năng lực, phẩm chất của đội ngũ giảng viên LLCT với việc nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT trong tình hình mới Mặc dù khôngtrực tiếp bàn về nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên, nhưngnhững kiến giải của các nhà khoa học là chỉ dẫn quý báu cho chúng tôi khinghiên cứu nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên ở các trường đạihọc trên địa bàn Hà Nội
1.1.3 Nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên và nhu cầu, điều kiện học tập lý luận chính trị của sinh viên
Đây là nội dung chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ.Trong phạm vi bao quát của chúng tôi, có rất ít công trình khoa học trực tiếpbàn về nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên, hoặc nếu có, thì nhucầu ấy được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau của các lĩnh vực khác nhau
Dưới góc nhìn tâm lý học, đề tài Nhu cầu và thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên Việt Nam hiện nay (2009) của Trần Thị Minh Ngọc
đã nghiên cứu về nhu cầu và thái độ học tập của sinh viên, xác định rõ vai tròcủa việc học tập LLCT trong các trường đại học Qua khảo sát thực trạng nhucầu, thái độ học tập LLCT của sinh viên trong các trường đại học nước ta, tácgiả đã đưa ra một số phương pháp nhằm đáp ứng nhu cầu, hình thành, nâng caothái độ học tập các môn LLCT cho sinh viên Đề tài đã phân tích hệ thống thứbậc nhu cầu của A Maslow theo sơ đồ cấu trúc kim tự tháp và chứng minh nhu
Trang 16cầu là một hiện tượng có thực luôn luôn gắn bó với quá trình phát triển, tiến hóacủa con người và xã hội loài người Trong đó, nhu cầu sinh học là phổ biến nhất,bao trùm mọi thành viên trong xã hội, là nhu cầu thiết thực của con người.
Liên quan đến nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên, nhiềunhà khoa học nghiên cứu những phương diện khác nhau như: nội dung, phươngpháp, chất lượng, hiệu quả… giáo dục LLCT; đội ngũ giảng viên, hứng thú vàđiều kiện học tập của sinh viên… Có thể khái quát các công trình nghiên cứu
đó theo các hướng sau:
Các công trình nghiên cứu nâng cao chất lượng dạy - học LLCT:
Đề tài Rà soát và đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung một số nội dung giáo dục đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhà trường ở từng cấp học (2003) của Ban Khoa giáo Trung ương đã nghiên cứu
thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên giảng dạy cácmôn đạo đức công dân, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…
Hội thảo khoa học Thực trạng và giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
tổ chức năm 2003 Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã phân tích, đánh giá thựctrạng giảng dạy khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất giải phápnâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn LLCT
Trong công trình Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học (2004) do Nguyễn
Duy Bắc chủ biên, trên cơ sở mô tả và phân tích thực trạng giảng dạy, học tậpcác bộ môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đạihọc ở Hà Nội từ năm 1995 đến 2004, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn khoa Mác-Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Trang 17Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quán triệt, vận dụng quan điểm Đại hội Đảng lần thứ X vào giảng dạy các môn lý luận chính trị (2007) của Đại học Quốc gia
Hà Nội với 58 bài tham luận tập trung vào một số lĩnh vực: nghiên cứu, cập nhậtcác Nghị quyết của Đảng - điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng giảng dạycác môn LLCT; quán triệt Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sảnViệt Nam lần thứ X vào giảng dạy các môn LLCT
Nhằm đưa ra các định hướng lớn và giải pháp tổng thể nâng cao chấtlượng giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ ChíMinh trong các trường đại học, cao đẳng năm 2007, Ban Tuyên giáo Trung
ương đã thực hiện đề tài NCKH Tình hình giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng
và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới.
Trong đề tài Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận chung, Nguyễn Hữu Vui đã trình bày
tổng quát về đội ngũ giảng viên lý luận Mác-Lênin; những phương pháp giảngdạy truyền thống mà đội ngũ giảng viên lý luận thường sử dụng Theo tác giả,muốn đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin hiệu quảthì việc đầu tiên là phải đổi mới tư duy, nhận thức của đội ngũ giảng viên vềphương pháp giảng dạy, về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp Vì vậy, cầnthường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chuyên môncho đội ngũ giảng viên từ đó tác động tích cực ngược lại thúc đẩy đổi mớiphương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin
Năm 2011, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tổ chức Hội thảo Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập các môn học chuyên ngành Giáo dục chính trị ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền, với 16 tham luận ở các góc độ
tiếp cận khác nhau nhưng tập trung vào đổi mới dạy học các môn khoa họcLLCT; dạy học với việc nâng cao ý thức tự học các môn LLCT cho sinh viên;
Trang 18kỹ năng tự học các môn LLCT… Tác giả Trần Thị Minh Ngọc đã xác định rõtầm quan trọng của hoạt động tự học của sinh viên Học viện Báo chí vàTuyên truyền “Tự học, tự đào tạo quyết định trực tiếp đến chất lượng giáodục Tự học sẽ giúp sinh viên chuyển hóa kinh nghiệm xã hội thành kinhnghiệm của bản thân Quá trình chuyển hóa này phải do chính sinh viên làngười thực hiện”[57, tr.4] Nhiều bài viết tập trung nghiên cứu việc sử dụngphương tiện hiện đại trong giảng dạy các môn LLCT, phương pháp học tậpcác môn LLCT…
Các nhà khoa học rất quan tâm đến nguồn thông tin, tư liệu khoa học
trong việc nâng cao chất lượng dạy - học LLCT Trong tham luận Khai thác
và sử dụng thông tin phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị (2006), Tạp chí Giáo dục lý luận, số 3, Đoàn Triệu Long cho rằng: “Như
vậy, nguồn thông tin để chúng ta khai thác là không thiếu, nhưng khai thácnhư thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, phục vụ thiết thực vào công tác củamình”[74, tr.56]
Trong tham luận Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị trong các trường đại học và cao đẳng, Đặng Thị Nhiệt Thu cho rằng: để nâng cao
hiệu quả giảng dạy LLCT, ngoài việc đổi mới phương pháp, nội dung, giảngviên phải thực hiện nghiêm túc một số nguyên tắc: đảm bảo sự thống nhất giữatính khoa học, tính giáo dục và định hướng chính trị trong dạy - học LLCT;đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của giảng viên với vai trò tự giác,tích cực, độc lập của sinh viên
Tham luận Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị của
Nguyễn Phước Dũng khẳng định: “Mỗi phương pháp giảng dạy đều có ưu thếriêng… trong quá trình giảng dạy, giảng viên phải biết lựa chọn phương phápphù hợp với nội dung chương trình, với đối tượng, tạo sự kết hợp linh hoạt giữa
Trang 19các phương pháp để bài giảng sinh động Có phương pháp chủ công, phươngpháp hỗ trợ, đan xen Trong giảng dạy, việc xác định phương pháp nào là chủcông không phải là giảng viên thích hay không thích mà do tính chất của bàigiảng, đối tượng quy định”[41, tr.59-69].
Nghiên cứu nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên LLCT, các nhàkhoa học bàn đến vấn đề xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT của thời đại mới,quan tâm đến công tác đào tạo giảng viên lý luận qua các tham luận:
Đề tài Đào tạo giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay của Hoàng Đình Cúc đã minh chứng luận điểm: chất lượng giảng viên
LLCT quyết định chất lượng giảng dạy LLCT, chất lượng đội ngũ sinh viên sẽlàm công tác giảng dạy LLCT và chi phối quá trình dạy - học các môn LLCTtrong các trường đại học hiện nay
Luận án Vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay (2012) của Vũ Thanh Bình
đã làm rõ hơn khái niệm chính trị, LLCT và giảng viên LLCT; xây dựng tiêuchí đánh giá chất lượng giảng viên LLCT với 9 tiêu chí cụ thể được tổng hợpthành 4 nhóm: cơ cấu đội ngũ; năng lực chuyên môn; trình độ được đào tạo vàphẩm chất, đạo đức, bản lĩnh chính trị Kết quả nghiên cứu trên là nguồn tư liệu
để tác giả luận án vận dụng và kế thừa
Luận án Quản lý đào tạo giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới hiện nay (2014), Nguyễn Thị Thu Thủy đã khảo sát, điều tra xã
hội học bằng bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp và tổng hợp các báo cáo thống kê
về thực trạng quản lý đào tạo giảng viên LLCT ở nước ta hiện nay Tác giả đềxuất 8 giải pháp mang tính khả thi để đào tạo giảng viên LLCT đáp ứng yêucầu thời kỳ đổi mới
Quán triệt tinh thần Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa XI, ngày 28/3/2014 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận
Trang 2094-KL/TW về việc tiếp tục đổi mới việc học tập LLCT trong hệ thống giáo dụcquốc dân Tháng 12 năm 2014, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Giáo dục vàĐào tạo đã chỉ đạo và phối hợp với Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức
Hội thảo khoa học quốc gia Nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay Hội thảo tập trung làm sáng tỏ một số nội dung
cơ bản về vị trí, vai trò, phẩm chất và năng lực của giảng viên LLCT
Gần đây nhất, năm 2015 Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã tổ chức
Hội thảo khoa học quốc gia về Nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng tại TP Hồ Chí Minh.
Hội thảo khoa học Quốc gia lần này là sự triển khai 4 văn bản quan trọng, cótính định hướng về công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập LLCT, đó là:Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày
04/11/2013) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết của Bộ Chính trị về
Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 (Nghị quyết số37/NQ-TW, ngày 09/10/2014), Kết luận số 94 (28/3/2014) của Ban Bí thưTrung ương và Hướng dẫn 127 (ngày 30/6/2014) của Ban Tuyên giáo Trung
ương thực hiện Kết luận số 94 Về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân Các tham luận đánh giá: việc học tập LLCT
trong các trường đại học bước đầu có những chuyển biến tích cực; người họckhông chỉ thụ động tiếp thu bài giảng, mà tham gia vào quá trình tương tác tíchcực với giảng viên, thể hiện tư duy phê phán, sáng tạo trong việc tiếp nhận và xử
lý thông tin Cùng với những thành quả đáng khích lệ trong nghiên cứu, giảngdạy và học tập các môn LLCT, vẫn còn không ít khuyết điểm, tồn tại cần đượcxem xét, đánh giá nghiêm túc Từ thực trạng đó, nhiều tham luận đề xuất các
Trang 21định hướng và giải pháp khắc phục, làm cho việc giảng dạy và học tập các mônLLCT đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu phát triển xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Về nhu cầu và điều kiện học tập các môn LLCT của sinh viên xuất hiệnnhiều vấn đề cần quan tâm Trong đó tồn tại tình trạng xem nhẹ các mônLLCT, quan niệm “học cho qua, học để đối phó” chứ không vì nhu cầu bồidưỡng thế giới quan và phương pháp luận khoa học vẫn còn diễn ra khá phổbiến ở một số học viên, sinh viên Những khuyết điểm, hạn chế trên xuất phát
từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, đang gây nên bức xúc trong xã hội,
mà trước hết là ở đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạyLLCT Công tác lý luận đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn trongđiều kiện CNH, HĐH đất nước, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Những vấn
đề ấy được nhận thức, nắm vững, xử lý hiệu quả và bản lĩnh, cần được cập nhậtthường xuyên trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy các môn LLCT, làm chongười học cảm nhận được trách nhiệm công dân của mình với Tổ quốc Đócũng là nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên LLCT
1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án
* Ở Liên Xô
Trong tác phẩm Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô (1982),
Nxb Thông tin lý luận, H, do X.I Xurơnitrencô (chủ biên), các tác giả đã phântích nội dung giáo dục LLCT thông qua việc phân tích nội dung, phươnghướng của công tác giáo dục tư tưởng Ngoài ra, các tác giả còn khái quát,phân tích các hình thức, phương pháp giáo dục LLCT cho đảng viên và cho cácthành viên trong các tập thể lao động
Trong tác phẩm Giáo dục và quản lý sự phối hợp công tác tư tưởng,
I.Đ.Tơrốtchencơ đã phân tích và làm rõ các nội dung lý luận - tư tưởng và những
Trang 22nguyên lý của công tác giáo dục - tư tưởng, những phương hướng cơ bản củacông tác tư tưởng như công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, giáo dục thế giớiquan, giáo dục kinh tế, giáo dục đạo đức; các phương tiện, hình thức và phươngpháp tác động tư tưởng vào quần chúng; các khâu tổ chức cơ bản của quá trìnhgiáo dục như kế hoạch hóa, kiểm tra và kiểm soát việc thực hiện, tổng kết kinhnghiệm, đào tạo cán bộ và nghiên cứu, đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng.
E Phancôvích trong tác phẩm Nghệ thuật diễn giảng (1976), Nxb Sách
giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội đã khẳng định: một trong những hình thức quantrọng và thích hợp nhất để phổ biến kiến thức chính trị, khoa học là bài giảng.Theo E Phancôvích, những bài giảng được chuẩn bị cẩn thận và truyền đạt tốt
sẽ giúp cho người nghe có thêm kiến thức mới trong từng lĩnh vực, biết tư duysâu rộng và hiểu rõ hơn những hiện tượng phức tạp của tự nhiên và xã hội Giảngviên cần phải lao động miệt mài, sáng tạo để đạt được kỹ năng diễn giảng
Nhà nghiên cứu V.A Xukhômlinxki trong tác phẩm Hình thành niềm tin cộng sản cho thế hệ trẻ (1978), Nxb Thanh niên, Hà Nội, đánh giá về nghiệp
vụ công tác giáo dục và dạy học, thực chất là giáo dục cộng sản và hình thànhniềm tin cộng sản cho thế hệ trẻ Theo tác giả, niềm tin cộng sản là nguồn gốcsức mạnh ý chí của cá nhân và việc hình thành niềm tin cộng sản là yêu cầu tấtyếu khách quan của sự tiến bộ xã hội và đạo đức Để hình thành niềm tin cần
có sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường với xã hội, lý luận với thực tiễn, học điđôi với hành Thông qua đó hình thành niềm tin cho thế hệ trẻ vào tương lai,vào chế độ CSCN
Trong tác phẩm Tuyên truyền miệng: Lý luận - Tổ chức - Phương pháp
(1983), Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, H, Rakhơmancunốp M.M khẳng định
tuyên truyền miệng đã và vẫn là lĩnh vực quan trọng trong hoạt động của Đảng,
là một trong những hình thức tích cực để giữ mối liên hệ thường xuyên giữaĐảng với quần chúng, là công cụ lãnh đạo chính trị có hiệu lực Đặc điểm của
Trang 23tuyên truyền miệng là dựa vào sự giao tiếp trực tiếp với mọi người, có khả năng
cụ thể hóa các nhiệm vụ do nghị quyết của Đảng đề ra cho tập thể lao động và
cho mọi người, nó cho phép chú ý đến lợi ích và nhu cầu của mọi người Tuyên truyền miệng phải được dựa trên những nguyên tắc: tính tư tưởng cao, tính
đảng, tính khoa học, tính chân thực, gắn liền với cuộc sống, với thực tiễn củacông cuộc xây dựng CNCS
Theo M.I Calinin đánh giá trong tác phẩm Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa (1983), Nxb Thanh niên, thì giáo dục và bồi dưỡng những phẩm chất cao
quý là một yếu tố hết sức quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản Nhưvậy, muốn nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị phải bảo đảm đầy đủ các điềukiện cơ bản: sự am hiểu sâu sắc đặc điểm tâm lý của đối tượng, phải khêu gợiđược tính tích cực, tự giác của đối tượng và bản thân chủ thể làm công tác giáodục chính trị phải có trình độ, năng lực, phương pháp luận khoa học và phẩmchất đạo đức trong sáng
Tác giả E.A Nôghin trong tác phẩm Nghệ thuật phát biểu miệng
(1984), Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, H, cho rằng với mục đích giúp cán
bộ làm công tác tư tưởng có được nghệ thuật phát biểu miệng, kỹ năng phátbiểu thành thạo trước công chúng, có căn cứ, dễ hiểu cần phải được xây dựngtrên những hiểu biết ngày càng cao và những nhu cầu về mặt tinh thần củacon người Xô-Viết Theo ông, nghệ thuật phát biểu miệng là kỹ năng nói vớimọi người một cách dễ hiểu, hấp dẫn, có tính thuyết phục mà trong thực tế,mỗi người đều có thể có được kỹ năng, phẩm chất ấy nhưng chất lượng củanghệ thuật nói cũng phụ thuộc không ít vào các điều kiện khách quan Công
cụ cơ bản của cán bộ tuyên truyền, của người làm công tác thông tin chính trị
là lời nói, phương pháp tác động là lòng tin Vì vậy, nghệ thuật phát biểumiệng là một bộ phận quan trọng nhất của việc đào tạo những người làm công
Trang 24tác sử dụng lời nói với tư cách là một phương tiện giáo dục và thuyết phục,giải thích chính sách của Đảng.
* Ở Trung Quốc
Tác giả La Quốc Kiệt viết trong Tu dưỡng đạo đức tư tưởng (2003), Nxb
Chính trị quốc gia, HN cho rằng: sinh viên là những chủ nhân tương lai của đấtnước, là người đại diện cho nền giáo dục xã hội Vì vậy, cùng với việc dạy chữ,dạy nghề thì việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của sinh viên là mộtvấn đề quan trọng Môn đạo đức tư tưởng là một trong những đặc trưng bảnchất của trường đại học XHCN, là con đường chủ yếu và khâu cơ bản tiến hànhgiáo dục lý luận mác xít và giáo dục đạo đức tư tưởng cho sinh viên một cách
hệ thống và là môn học cần thiết cho mỗi sinh viên để đào tạo họ trở thànhngười xây dựng và kế tục sự nghiệp XHCN
Trong Luận án tiến sĩ Giáo dục tư tưởng chính trị cao học và nghiên cứu
xã hội hóa chính trị cho sinh viên trong thời đại mới (2014), trường đại học Sưphạm Hồ Nam, Mao Lộ đã đề cập đến các phương pháp cơ bản trong việc thúcđẩy giáo dục chính trị tư tưởng trong các trường đại học và các mục tiêu quantrọng trong việc tiến hành xã hội hóa chính trị cho sinh viên hiện nay Tác giảphân tích hiện trạng về xã hội hóa chính trị cho sinh viên hiện nay: thực tiễn vềchính trị, thái độ chính trị của sinh viên đương đại Từ những phân tích trên,Mao Lộ đề xuất giải pháp tăng cường giáo dục lý tưởng chính trị; xây dựngphương pháp mới về giáo dục LLCT, thúc đẩy xã hội hóa giáo dục chính trịcho sinh viên
Luận án tiến sĩ Hiện trạng, trực quan và giá trị chính trị của sinh viên đương đại và nghiên cứu về sách lược giáo dục, (2014) của Hoàng Á Lợi,
trường ĐH Công thương Trùng Khánh, tác giả đã khái quát: sinh viên là mộtquần thể đặc thù của xã hội, họ có quan niệm chính trị trong sáng và khoa họcthể hiện tương đối tập trung các giá trị của xã hội hiện đại, phản ánh thực tế về
Trang 25các khuynh hướng chính trị xã hội tích cực Các phương pháp này nếu đượcphát huy đồng thời sẽ tạo nên một môi trường giáo dục mới, kết hợp giữa vănhóa nhà trường và xã hội, cuối cùng sẽ dẫn đến việc thực hiện mục tiêu giáodục LLCT lành mạnh cho sinh viên.
Năm 2013, Lý Kiệt bảo vệ thành công Luận án Nghiên cứu, đánh giá tố chất chính trị của sinh viên, trường đại học Địa chất Trung Quốc đã trình bày
một số vấn đề cơ bản về nghiên cứu và đánh giá về tố chất chính trị của sinhviên Tác giả nhấn mạnh: muốn triển khai và đánh giá tố chất chính trị của sinhviên cần căn cứ trên hai ý nghĩa cơ bản là: có lợi cho Đảng và Nhà nước trongviệc nắm bắt hiện trạng hành vi, tư tưởng chính trị của sinh viên và có lợi choviệc xây dựng niềm tin chính trị vững vàng thông qua các mục tiêu đánh giá tốchất chính trị của sinh viên, giúp họ có khả năng phát triển tự thân về mặtchính trị một cách vững vàng để họ sớm trở thành người tiếp bước trong việcxây dựng đất nước
Trong bài Nghiên cứu tâm lý tiếp nhận giáo dục tư tưởng chính trị của sinh viên đại học hiện nay, Triệu Thanh Mai đã phân tích ba góc độ trong tâm
lý tiếp nhận lý luận tư tưởng chính trị của sinh viên: động cơ học tập tư tưởngchính trị, độ tin cậy của nội dung giáo dục tư tưởng chính trị, độ tán thành (đồngý) phương thức giáo dục tư tưởng chính trị hiện nay, từ đó đề ra các kiến nghịgiáo dục lý luận tư tưởng chính trị cho sinh viên
Trong bài Tư duy mới về giáo dục lý luận chính trị của các trường đại học, Hồ Tự Lực đề cao vai trò chỉ đạo, tiên quyết của chủ nghĩa Mác-Lênin
trong việc hình thành và phát triển ý thức chính trị của sinh viên Tác giảnghiên cứu trên ba luận điểm chính: kiên trì vai trò chỉ đạo không thay đổi chủnghĩa Mác-Lênin, bảo đảm phương hướng đúng đắn trong công tác giáo dụcđại học; lấy sự chỉ đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin, phát huy tốt hơn nữa côngtác giáo dục LLCT, nghiên cứu và trả lời những vấn đề phát sinh trong lý luận
và thực tiễn do công cuộc hiện đại hóa đề ra, phát huy tốt hơn nữa tác dụng chủ
Trang 26đạo của chính trị, dịch vụ xã hội và đối với các chính sách của triết học xã hộikhoa học, coi trọng vai trò công tác giáo dục LLCT.
Trong Luận án tiến sĩ Chất lượng công tác tư tưởng của các Đảng bộ tỉnh đồng bằng miền Trung nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay, Bun Đuông Cay Xỏn đã phân tích về chất lượng và tiêu chí
đánh giá chất lượng công tác tư tưởng Tác giả đánh giá thực trạng chất lượngcông tác tư tưởng của các đảng bộ tỉnh đồng bằng miền Trung Lào qua các mặtchủ yếu: biểu hiện tính đúng đắn những quyết định lãnh đạo trong công tác tưtưởng, trong sự chỉ đạo, lãnh đạo công tác tư tưởng của đảng bộ… Từ đó đưa
ra các giải pháp góp phần nâng cao công tác tư tưởng của đảng bộ các tỉnhđồng bằng miền Trung của Lào
Tác giả Sisôm Phutha Vixay đã làm rõ cơ sở lý luận và vai trò của LLCT
trong Luận văn thạc sĩ Nâng cao trình độ LLCT cho cán bộ Tổng cục Chính trị
Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay Tác giả khẳng định nội dung của việc nâng cao trình độ LLCT cho cán bộ
Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng Lào trong giai đoạn hiện nay là đảm bảođược về số lượng và chất lượng
Trang 27Luận án Đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay của Khămphăn Vông Phachăn đã trình
bày một cách tổng quát nhất các khái niệm chủ yếu như: hệ thống chính trị; độingũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị; đào tạo cán bộ lãnh đạo của hệthống chính trị ở Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào, đồng thời đã nêu bật đượcnhững quan điểm và lý luận cơ bản về đào tạo đội ngũ cán bộ cũng như chươngtrình, nội dung, phương pháp Tác giả xác định quan điểm, phương hướng và
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo đội ngũ cán bộlãnh đạo của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng ởLào hiện nay
Luận án tiến sĩ Vấn đề giáo dục lý luận Mác-Lênin cho học viên hệ cao cấp ở các Trường chính trị và hành chính nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay của Sai Kham Moun Ma Ni Vong đánh giá thực tiễn vấn đề giáo
dục lý luận Mác-Lênin cho học viên hệ cao cấp ở các trường Chính trị và Hànhchính đã có những chuyển biến tích cực nhưng còn có những hạn chế, bất cập
về chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục; số lượng, chất lượng đội ngũgiảng viên, những người làm công tác giáo dục; phương tiện, cơ sở vật chất
Từ phân tích thực trạng, tác giả nhận định giáo dục lý luận Mác-Lênin là một
bộ phận không thể thiếu được trong giáo dục toàn diện cho đội ngũ cán bộ ởcác trường Đảng nói chung, ở các trường Chính trị và Hành chính Lào nóiriêng Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục lý luậnMác-Lênin cho học viên hệ cao cấp ở các trường này
1.3 Những vấn đề đã nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
1.3.1 Những vấn đề đã nghiên cứu
Trang 28Từ những kết quả tổng quan trên đây, có thể khái quát những nội dung,những vấn đề có liên quan đến đề tài luận án đã được các nhà nghiên cứu đềcập, đó là:
- Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về LLCT và về công tác giáo dục LLCT
- Nghiên cứu về những đóng góp của các Đảng Cộng sản (Đảng Cộng sảnLiên Xô, Đảng Cộng sản Trung quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dâncách mạng Lào) trong việc phát triển lý luận về công tác giáo dục LLCT
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về giảng dạy và học tập LLCTtrong Đảng, trong xã hội và trong các trường đại học, cao đẳng, trong các trườngchính trị cấp tỉnh và hệ thống các nhà trường thuộc Học viện Chính trị quốc gia
- Nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, về xây dựng và nâng cao phẩmchất, năng lực đội ngũ giảng viên LLCT và nâng cao trình độ LLCT cho một sốđối tượng
- Nghiên cứu về vai trò của giáo dục LLCT đối với việc xây dựng đội ngũcán bộ, đảng viên; đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩtrong lực lượng vũ trang; đối với việc hình thành nhân cách sinh viên
- Nghiên cứu vấn đề đổi mới tư duy trong công tác giáo dục LLCT tại cáctrường đại học
Trang 29- Nghiên cứu về mối quan hệ, tác động lẫn nhau giữa giáo dục LLCT vớigiáo dục, đào tạo về năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho sinh viên.
- Bước đầu đã có một vài công trình nghiên cứu về nhu cầu, thái độ vàhành vi học tập LLCT của sinh viên
1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trên đây được các tác giả, các nhà khoa họcnghiên cứu từ góc độ tâm lý học, xã hội học, triết học, chính trị học, giáo dụchọc… Tuy nhiên, ở góc độ khoa học công tác tư tưởng thì vấn đề về nhu cầu vàđiều kiện học tập LLCT chưa được nghiên cứu thấu đáo Từ góc độ khoa họccông tác tư tưởng, có thể tiếp tục nghiên cứu theo những hướng sau:
- Khái quát, tổng hợp và phân tích sâu sắc thêm những vấn đề lý luận vềnhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên, đặc biệt là lý luận về mối quan
hệ, tác động biện chứng giữa nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên
- Những điều kiện khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong, cần
và đủ tác động đến nhu cầu học tập LLCT của sinh viên Những điều kiệnkhách quan và chủ quan ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả học tập LLCTtrong các trường đại học hiện nay
- Phân tích làm rõ nhu cầu học tập nâng cao trình độ LLCT là một trongnhững nhu cầu cần thiết của mỗi công dân, đặc biệt là nhu cầu học tập LLCTnhằm hoàn thiện các phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ tư duy lý luận, tưduy chính trị cho sinh viên - những trí thức trẻ tuổi tương lai của nước nhà
- Thực trạng nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của các nhóm đối tượngtrong đó có sinh viên, những vấn đề đặt ra trong việc tạo lập điều kiện nhằmkích thích, phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập LLCT và nâng cao chất lượnghọc tập LLCT hiện nay
- Quan điểm, phương hướng, giải pháp tạo ra những điều kiện thuận lợinhằm tác động tích cực đến nhu cầu học tập LLCT, nâng cao chất lượng và
Trang 30hiệu quả học tập LLCT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội nói riêng và
ở Việt Nam nói chung trong giai đoạn hiện nay
Trang 31Tiểu kết chương 1
Nhu cầu và điều kiện học tập cũng như nhu cầu và điều kiện học tậpLLCT được các nhà khoa học trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu từlâu nhằm mục đích nâng cao chất lượng học tập nói chung và chất lượng họctập LLCT nói riêng Do có sự khác nhau về hệ tư tưởng, quan điểm chính trị vàđịnh hướng phát triển của mỗi quốc gia, việc học tập LLCT chịu sự chi phốimạnh mẽ của các yếu tố khách quan và chủ quan dẫn đến nhu cầu và điều kiệnhọc tập LLCT cũng có những kết quả khác nhau
Ở Việt Nam nói riêng, các quốc gia khác nói chung, các nhà khoa học đãnghiên cứu khá nhiều vấn đề về nhu cầu, thái độ, động cơ, tính tích cực và điềukiện học tập nói chung, học tập LLCT nói riêng của sinh viên Tuy nhiên,những công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung vào những vấn đề chung như:nhu cầu, lý luận, chính trị, LLCT … mà chưa đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận,thực tiễn của nhu cầu và điều kiện học tập LLCT của sinh viên Từ góc độkhoa học công tác tư tưởng, các công trình khoa học chưa có những khảo sátđánh giá sâu sắc về thực trạng nhu cầu học tập LLCT của sinh viên trong điềukiện hiện nay; chưa đề xuất được những giải pháp hữu hiệu nhằm tạo lập điềukiện và nhờ các điều kiện đó kích thích, phát triển nhu cầu học tập LLCT gópphần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT trong Đảng, trong
xã hội và trong sinh viên đại học hiện nay
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nhà khoahọc đi trước, sự thiếu vắng trong nội dung nghiên cứu của các nhà khoa học
về cơ sở lý luận và thực tiễn của nhu cầu và điều kiện học tập LLCT củasinh viên ở các trường đại học hiện nay sẽ được luận án nghiên cứu trongcác chương tiếp theo
Trang 32Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN 2.1 Nhu cầu và nhu cầu học tập lý luận chính trị
2.1.1 Nhu cầu: khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm, phân loại
2.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của nhu cầu
Nhu cầu là một khái niệm khoa học, là đối tượng nghiên cứu của nhiềunhà khoa học, nhiều lĩnh vực khoa học Tùy theo mục đích, điều kiện và góc độtiếp cận, mỗi người có những quan niệm khác nhau về nhu cầu Nhiều nhà khoahọc Việt Nam quan tâm nghiên cứu nhu cầu của con người và đưa ra những kháiniệm khác nhau Theo Lê Hữu Tầng: “Nhu cầu là những đòi hỏi của con người,của từng cá nhân, của từng nhóm xã hội khác nhau hay của toàn bộ xã hội muốn
có những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển”[98, tr.31] Khi nói về nhucầu là nói về một nội dung cụ thể, có chức năng hướng dẫn sự gặp gỡ giữa chủthể và khách thể Nhu cầu là thành tố quan trọng tạo nên nhân cách của cá nhân,cùng với các thành tố khác như hứng thú, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng Nhucầu là sự bộc lộ ra bên ngoài của xu hướng
Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện xem nhu cầu là “điều cần thiết để đảmbảo tồn tại và phát triển Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căngthẳng, ấm ức Có nhu cầu của cá nhân, có nhu cầu của chung của tập thể, khi hòahợp, khi mâu thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo Nhucầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi”[116, tr.200]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Nhu cầu là sự phản ánh một cáchkhách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần và xã hội của đời sống con ngườiphù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ”[27, tr.267]
Trang 33Nhu cầu của con người và nhu cầu xã hội là một hệ thống đa dạng,phong phú trong từng hoàn cảnh cụ thể, bao gồm nhu cầu tồn tại (ăn uống, duytrì nòi giống, tự vệ…), nhu cầu phát triển (học tập, giáo dục, văn hóa…), nhucầu chính trị, tôn giáo… Nhu cầu của con người xuất hiện như những đòi hỏikhách quan của xã hội, do xã hội quy định, đồng thời nhu cầu mang tính cánhân với những biểu hiện phong phú và đa dạng Nhu cầu là hình thức tồn tạicủa con người, thể hiện mối quan hệ giữa cơ thể sống với thế giới xung quanh, làcội nguồn của sự phát triển Nhu cầu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiếtcủa đối tượng đối với sự tồn tại và phát triển của mình Khi nhu cầu được đápứng thì con người hoặc xã hội phát triển và nhu cầu mới ở trình độ cao hơn tiếptục nảy sinh Nhu cầu là yếu tố, động lực bên trong kích thích, thúc đẩy conngười hoạt động; là tiền đề và là kết quả của hoạt động, của sự phát triển.
Trong luận án này, chúng tôi hiểu nhu cầu là một thuộc tính tâm lý con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần
để tồn tại, phát triển; là yếu tố, là động lực bên trong kích thích, thúc đẩy con người hành động Việc chỉ ra đặc điểm cơ bản của nhu cầu là rất quan trọng để
xác định những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập LLCT
Nhu cầu có những đặc điểm cơ bản như sau:
Tính đối tượng: khi hiểu “nhu cầu là một thuộc tính tâm lý con người; là
đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất, tinh thần”, cónghĩa “nhu cầu” luôn cần có đối tượng A.N Lêônchiep khẳng định “nhu cầuthực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu về một cái gì đó”[1, tr.220] Đối tượngcủa nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa đựng khả năng thỏa mãnnhu cầu Trần Thị Minh Ngọc cho rằng: “Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầuluôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ thể có cảm giácthiếu hụt hay đòi hỏi Đối tượng đáp ứng nhu cầu chỉ bộc lộ khi chủ thể tiếnhành hoạt động, nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng”[89, tr.5] Tìm ra được
Trang 34đối tượng của nhu cầu là yếu tố có ý nghĩa quyết định để thỏa mãn nhu cầu Tínhđối tượng khẳng định nhu cầu góp phần hình thành động cơ và thúc đẩy hoạtđộng của con người chiếm lĩnh đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu.
Tính khách quan: nhu cầu của con người chịu sự quy định của những
điều kiện kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định; nó xuất hiện
từ những đòi hỏi của xã hội, của điều kiện vật chất trong giai đoạn đó Khi điềukiện kinh tế - xã hội thay đổi, yêu cầu xã hội đối với các cá nhân cũng thay đổi,nhu cầu của cá nhân và nhu cầu xã hội cũng sẽ thay đổi
Tính chủ quan: nhu cầu xuất hiện do tác động của điều kiện, hoàn cảnh
bên ngoài nhưng còn do trạng thái bên trong của chủ thể Cá nhân con ngườikhông bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu, mà những nhu cầu luôn tănglên, hoàn thiện hơn, hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ Bởi vậy, nhu cầuluôn mang tính chủ quan
Tính lịch sử - xã hội: bên cạnh việc chịu những tác động chung của xã hội,
nhu cầu còn bị chi phối bởi những tác động riêng như điều kiện sinh sống, yếu tốgia đình, trình độ, khả năng nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý… Tính lịch sử - xãhội vừa mang đặc điểm chung vừa mang sắc thái cá nhân
2.1.1.2 Phân loại nhu cầu
Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng Có nhiều cách phânloại nhu cầu dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí khác nhau
Theo JonTom, con người có những loại nhu cầu cơ bản và ông chia
thành 3 nhóm Nhóm thứ nhất, gồm các loại nhu cầu: ăn, uống, tình dục, chạy trốn, tự vệ; nhóm thứ hai, gồm các loại nhu cầu: thống trị người khác, học tập, hiểu biết, quyến rũ; nhóm thứ ba, là nhóm nhu cầu cho và nhận, nhu cầu thành
đạt; đây là nhóm thuộc nhóm lực xung động thứ phát Các nhu cầu thuộc nhómthứ hai và nhóm thứ ba xuất hiện trong các mối quan hệ xã hội, bằng conđường học tập, mang tính mục đích
Trang 35Boris M.Gkin chia nhu cầu thành 2 nhóm: nhu cầu tồn tại (sinh lý, antoàn và tham dự); nhu cầu đạt mục đích sống (giàu có vật chất, quyền lực vàdanh vọng, kiến thức và sáng tạo, hoàn thiện tinh thần).
Năm 1954, nhà tâm lý học người Mỹ A.Maslow đã đưa ra luận thuyết thứbậc về nhu cầu - động cơ và ông chia nhu cầu thành năm thứ bậc: nhu cầu sinh lý;nhu cầu an toàn; nhu cầu thương yêu; nhu cầu tôn trọng; nhu cầu tự thực hiện Đâycũng chính là những đặc trưng của nhân cách lý tưởng theo trường phái tâm lý họcnhân văn A.Maslow cho rằng hệ thống thứ bậc nhu cầu của con người rất linh hoạt
và thay đổi vị thế phù hợp với hoạt động của chủ thể cũng như thích ứng với hoàncảnh, trạng thái cơ thể trong những thời điểm nhất định Luận thuyết của A.Maslowđược trình bày thành tháp nhu cầu như sau:
Theo thang nhu cầu của A.Maslow, tầm quan trọng của các nhu cầuđược sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao: tầng nhu cầu sinh học là nhu cầu cơbản nhất, đòi hỏi bắt buộc đối với mỗi cá thể; tầng nhu cầu an toàn là khi conngười có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể cho cá nhân, gia đình; tầng nhucầu được yêu thương là nhu cầu giao lưu tình cảm, được sống chan hòa cùngtập thể và được tham gia các hoạt động xã hội để khẳng định vai trò, vị thế cánhân; tầng nhu cầu được tôn trọng có vị trí cao trong nhu cầu của con người;
Trang 36tầng nhu cầu tự hoàn thiện: con người tự ý thức để điều chỉnh hành vi với mụcđích hoàn thiện nhân cách, tự học hỏi khám phá, tìm hiểu để nâng cao kiếnthức, sáng tạo và thể hiện bản thân trong các mối quan hệ xã hội.
Trong Từ điển Tâm lý, Nguyễn Khắc Viện phân chia nhiều loại nhu cầu:
“nhu cầu sinh lý, ăn uống, không khí trong lành, nước sạch…; cảm giác và vậnđộng; về giới tính tình dục; về quan hệ xã hội và tình cảm, về văn hóa, lý tưởng,tín ngưỡng”[116, tr.201] Các nhu cầu trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của conngười có quan hệ hữu cơ với nhau, luôn biến đổi phù hợp với hoạt động của chủthể theo thời gian và hoàn cảnh Nguyện vọng thỏa mãn nhu cầu là động lựcthúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân; hiểu biết và kiểm soát được nhu cầu sẽkiểm soát được hành vi của con người
Theo chúng tôi, có thể phân loại nhu cầu theo các cách sau:
Phân loại theo tính chất, có nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Nhu
cầu vật chất là nhu cầu những cái cụ thể, có thể cầm nắm được, tiếp xúc đượcbằng các giác quan Nhu cầu tinh thần thuộc về lĩnh vực trừu tượng nếu không
có sự cảm nhận của tư duy thì không thể nắm bắt được Đó là nhu cầu hiểu biết,nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu yêu thương, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu được vinhdanh và nhu cầu được bảo vệ, nhu cầu có niềm tin vào người thủ lĩnh, niềm tinvào các vị thần thánh Có nhu cầu hiểu biết, học tập nói chung và nhu cầu họctập LLCT nói riêng Nhu cầu vật chất luôn đi cùng với nhu cầu tinh thần, tạođiều kiện cho nhu cầu tinh thần được thực hiện
Trong thực tế, sự phân chia nhu cầu vật chất với nhu cầu tinh thần chỉmang tính chất tương đối và chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổsung cho nhau một cách hài hòa để mọi nhu cầu của con người được đáp ứng.Chẳng hạn, muốn cho nhu cầu học tập đạt kết quả tốt, cần phải có giáo viên,trường, lớp, phấn, bảng, sách giáo khoa, máy tính, màn hình , nhu cầu học tậpkhông thể trở thành hiện thực nếu thiếu đi những nhu cầu về vật chất cụ thể
Trang 37Phân loại theo trình độ, gồm nhu cầu thấp và nhu cầu cao Từ buổi bình
minh của lịch sử loài người, trải qua những biến đổi của xã hội, lịch sử, để tồn tại
và phát triển, nhu cầu của con người luôn phát triển từ thấp đến cao Xã hội càngphát triển, con người càng có những nhu cầu mới cao hơn: nhu cầu được học tập,được vui chơi giải trí, nhu cầu thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật
Phân loại theo chủ thể của nhu cầu, gồm nhu cầu cá nhân, nhu cầu tập thể và nhu cầu xã hội Xã hội loài người được hình thành bởi nhiều cá nhân với
những mối quan hệ phức tạp, nhất là trong lĩnh vực tìm hiểu về nhu cầu Nhucầu cá nhân và nhu cầu xã hội có mối liên hệ biện chứng với nhau Nhu cầu cánhân là những nhu cầu mang tính đơn lẻ, cụ thể của một người về một vấn đềnào đó Nhu cầu cá nhân chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất và khoa học kỹ thuật là những yếu tố kháchquan, bị chi phối bởi những yếu tố chủ quan Mỗi cá nhân cũng có những nhucầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần, hoặc nhu cầu cấp thiết hay nhu cầukhông cấp thiết, những nhu cầu này nảy sinh xuất phát từ sự tương tác của mỗi
cá thể với thế giới xung quanh, đồng thời những yếu tố chủ quan trong mỗi cáthể cũng ảnh hưởng đến nhu cầu của bản thân
Cá nhân muốn tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội thìhọc tập là nhu cầu cá nhân mang tính phổ biến Nhưng cá nhân có nhu cầu họctập khác nhau: có người hướng tới các môn khoa học công nghệ để hòa nhậpvào cuộc sống hiện đại, một số khác lại có nhu cầu học tập các môn khoa họcchính trị để nâng cao nhận thức và tham gia vào quá trình quản lý xã hội Nhucầu học tập vừa diễn ra ở quy mô xã hội rộng lớn, vừa diễn ra trong mỗi cánhân con người Để nhu cầu xã hội gặp gỡ nhu cầu cá nhân cần phải có một hệthống pháp luật đầy đủ, cùng những thiết chế xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuậtcũng như cơ sở hạ tầng để nhu cầu cá nhân trở thành hiện thực Khi nhu cầu cánhân phù hợp với nhu cầu xã hội thì những nhu cầu đó dễ được đáp ứng; ngược
Trang 38lại, nếu nhu cầu cá nhân trái ngược với nhu cầu xã hội thì hoặc là nhu cầu đókhông được thực hiện, hoặc là nhu cầu của cá nhân sẽ trở nên phổ biến Vì vậy,muốn công tác giáo dục LLCT cho sinh viên trong các trường đại học đạt kếtquả tốt, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu nhu cầu học tập LLCT của sinh viên; từ
đó đưa ra những nội dung học tập gắn với thực tế và những phương pháptruyền đạt tiên tiến, phù hợp
2.1.2.3 Nguồn gốc của nhu cầu
Nguồn gốc của nhu cầu là vấn đề được các nhà triết học, các nhà tâm lýquan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xãhội Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa họcnghiên cứu sinh học và xã hội Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưngcho mọi sinh vật Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất
kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủthể đó với môi trường xungquanh
Có sự khác nhau về quan điểm giữa các nhà tâm lý học phương Tây vàtâm lý học Mác xít về nguồn gốc của nhu cầu
Các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng nhu cầu sinh vật sẽ quyết địnhđến nhu cầu xã hội Nhu cầu sinh vật là cơ bản và là nguồn gốc bẩm sinh, conngười không thể can thiệp bằng ý thức và ý chí X.L Rubinstein khẳng địnhrằng con người có nhu cầu sinh vật, nhưng bản chất của con người là sản phẩmcủa xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người vớinhân cách Nói đến nhu cầu của con người là nói đến việc đòi hỏi một cái gì đóhay một điều gì đó nằm ngoài con người để thoả mãn nhu cầu Khả năng đápứng những đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào thế giới đối tượng, trong nhữngđiều kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thụôc vào sự nỗ lực, năng lực của chính chủthể Do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: thế giới đối tượng
và trạng thái tâm lý của chủ thể Tức là phải có mối quan hệ thống nhất giữa
Trang 39hai yếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ quan (của chủ thể) tronghoạt động thoả mãn nhu cầu Nhu cầu mang tính tích cực, thúc đẩy con ngườihoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện đối tượng thoả mãn nó.
A.N Leonchiev và các nhà tâm lý học Mác xít khẳng định mối quan hệchặt chẽ giữa nhu cầu và hoạt động: Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cựccủa hoạt động, nhưng bản thân nhu cầu lại được nảy sinh, hình thành và pháttriển trong hoạt động Mối liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tảbằng sơ đồ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động Ông giải thích “thoạt đầu nhucầu chỉ xuất hiện như một điều kiện, một tiền đề chỉ hoạt động Nhưng ngaysau khi chủ thể bắt đầu hành động thì lập tức xảy ra sự biến hóa của nhu cầu và
sẽ không còn giống như khi nó tồn tại một cách tiềm tàng, tồn tại “tự nó” nữa
Sự phát triển của hoạt động này đi xa bao nhiêu thì cái tiền đề này của hoạtđộng (tức nhu cầu) cũng chuyển hóa bấy nhiêu thành kết quả hoạt động Ôngcho rằng, bởi vì bản thân thế giới đối tượng đã hàm chứa những nhu cầu, nêntrong quá trình chủ thể hoạt động tích cực, tất yếu sẽ nhận thức được nhữngyêu cầu, đòi hỏi phải được đáp ứng để tồn tại và phát triển, tức là xuất hiện nhucầu mới Thông qua hoạt động lao động sản xuất, loài người một mặt thỏa mãnnhu cầu hiện tại, đồng thời lại xuất hiện nhu cầu mới, vì thế con người khôngngừng tích cực hoạt động lao động sản xuất qua đó thúc đẩy tiến bộ xã hội
Khi nghiên cứu về nhân cách nhà tâm lý học B.Ph Lomovcũng đề cậpkhá nhiều đến nhu cầu Ông cho rằng nhu cầu như là một thuộc tính của nhâncách Nhu cầu nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính kháchquan, trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình Dĩ nhiên, nhucầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cánhân Trong đời sống của cá nhân, nhu cầu vật chất không phải là tất cả, conngười có thể tồn tại và phát triển chỉ như một thành viên của xã hội Còn việc
“tiêu dùng” những giá trị tinh thần do xã hội tạo ra mới có vai trò quan trọng
Trang 40trong việc hình thành và phát triển nhân cách Ông cho rằng, các nhu cầu đều
có cấp độ của nó Chẳng hạn như nhu cầu nhận thức thì đi từ sự tò mò, tới sựtìm kiếm chân lý một cách say mê, nhu cầu nghỉ ngơi đi từ việc cần phải thưgiãn, ngủ cho đến cách ly tạm thời với các hình thức quen thuộc của đời sống
xã hội…Nhu cầu cao nhất là nhu cầu sáng tạo
Theo Lê Hữu Tầng thì “nguồn gốc của nhu cầu nảy sinh trước hết là dotác động của hoàn cảnh bên ngoài, trong đó quan trọng nhất là do tác động củasản xuất vật chất” [98,tr.31] Như vậy, điều kiện xã hội là nhân tố khách quanlàm nảy sinh ở con người những nhu cầu, và cũng chính hoàn cảnh bên ngoàitạo lập các điều kiện để thỏa mãn nhu cầu đó Nhu cầu nảy sinh trong hoạtđộng sản xuất vật chất và tinh thần, đến một lúc nào đó, ở một tầng bậc caohơn, nhu cầu lại tác động trở lại với đời sống của con người Nhu cầu khôngchỉ là động lực của sự phát triển qua hoạt động sản xuất mà còn thúc đẩy toàn
bộ sự hoạt động của con người, quyết định sự hình thành ý thức, ngôn ngữ Sảnxuất vật chất, điều kiện xã hội là nguồn gốc bên ngoài, cho nên nhu cầu còn
phụ thuộc và phát sinh từ những nguyên nhân bên trong, đó là các trạng thái riêng của từng chủ thể Chính những nguyên nhân bên trong này là cơ sở khoa
học để lý giải vì sao trong một nhóm người cùng chịu tác động bởi môi trườngsản xuất vật chất, những tác động văn hóa - xã hội như nhau nhưng lại hìnhthành những nhu cầu khác nhau: người có nhu cầu sáng tạo, người có nhu cầulao động, người lại có nhu cầu hưởng thụ… Sự hình thành nhu cầu tuân theoquy luật của sự hình thành và phát triển nhân cách con người Cái thỏa mãnnhu cầu đối với chủ thể hành động là lợi ích Do đó, lợi ích vừa xuất phát từnhu cầu, dựa trên nhu cầu, vừa đóng vai trò là nguồn gốc của nhu cầu Nhu cầucàng lớn thì sự hấp dẫn của lợi ích càng lớn, động lực càng cao để thúc đẩy chủthể hướng tới hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu