MỤC LỤC 1. Tìm hiểu chung 4 1.1. Bối cảnh lịch sử 4 1.1.1. Hoàn cảnh xã hội 4 1.1.2. Sự ra đời của các khuynh hướng văn học 6 1.2. Tác giả 8 1.2.1. Gia đình 8 1.2.2. Học tập 9 1.2.3. Đời viên chức 10 1.2.4. Tính cách 12 1.2.5. Quan điểm chính trị 13 1.2.6. Quan điểm về dân tộc 14 1.3. Tác phẩm Vụ án 15 1.3.1. Giới thiệu tác phẩm 15 1.3.2. Tóm tắt tác phẩm 16 2. Cái phi lí trong tác phẩm Vụ án 16 2.1. Cốt truyện phi lí 18 2.2. Không gian và thời gian phi lí 20 2.2.1. Không gian phi lí 20 2.2.2. Thời gian phi lí 28 2.3. Nhân vật phi lí 29 2.3.1. Nhân vật chính 30 2.3.2. Nhân vật phụ 32 2.3.3. Nhân vật trung tâm nhân vật vắng mặt 35 2.4. Chi tiết phi lí 36 2.4.1. Chi tiết phi lý mang tính huyền thoại 36 2.4.1.1. Chi tiết y phục 37 2.4.1.2. Chi tiết cửa 38 2.4.2. Chi tiết phi lý “nhiễu” mạch truyện 38 3. Dụ ngôn người nông dân trước pháp luật 39 3.1. Mối liên hệ giữa dụ ngôn người nông dân trước pháp luật với tác phẩm Vụ án 39 3.2. Ý nghĩa dụ ngôn nông dân trước pháp luật 42 3.2.1. Dụ ngôn bí ẩn người giữ cửa chế giễu các đặc điểm tiêu cực của pháp luật 42 3.2.2. Nỗi hoang mang của con người trước thực tại bí ẩn của cánh cửa pháp luật 44 Kết luận 46 Tài liệu tham khảo 47
Trang 1Phòng D.002
Tìm hiểu KAFKA VÀ TÁC PHẨM VỤ ÁN
DANH SÁCH NHÓM
1 Đàm Thị Nga K38.601.083
2 Trần Thị Hồng Vân K38.601.168
3 Trần Thị Hà K39.601.031
4 Lê Thị Vân Anh K40.601.002
5 Nguyễn Thị Ngọc Linh K40 601 064
6 Châu Kim Ngân K40.601.085
7 Ân Thị Nhung K40.601.101
8 Nguyễn Thị Kim Phụng K40.601.108
9 Nguyễn Đức Tuấn K40.601.140 10.Nguyễn Thị Sơn Tuyền K40.601.141 11.Nguyễn Thị Hạnh K40.606.068
Trang 2MỤC LỤC
1 Tìm hiểu chung 4
1.1 Bối cảnh lịch sử 4
1.1.1 Hoàn cảnh xã hội 4
1.1.2 Sự ra đời của các khuynh hướng văn học 6
1.2 Tác giả 8
1.2.1 Gia đình 8
1.2.2 Học tập 9
1.2.3 Đời viên chức 10
1.2.4 Tính cách 12
1.2.5 Quan điểm chính trị 13
1.2.6 Quan điểm về dân tộc 14
1.3 Tác phẩm Vụ án 15
1.3.1 Giới thiệu tác phẩm 15
1.3.2 Tóm tắt tác phẩm 16
2 Cái phi lí trong tác phẩm Vụ án 16
2.1 Cốt truyện phi lí 18
2.2 Không gian và thời gian phi lí 20
2.2.1 Không gian phi lí 20
2.2.2 Thời gian phi lí 28
2.3 Nhân vật phi lí 29
2.3.1 Nhân vật chính 30
2.3.2 Nhân vật phụ 32
2.3.3 Nhân vật trung tâm - nhân vật vắng mặt 35
2.4 Chi tiết phi lí 36
2.4.1 Chi tiết phi lý mang tính huyền thoại 36
2.4.1.1 Chi tiết y phục 37
2.4.1.2 Chi tiết cửa 38
2.4.2 Chi tiết phi lý “nhiễu” mạch truyện 38
3 Dụ ngôn người nông dân trước pháp luật 39
3.1 Mối liên hệ giữa dụ ngôn người nông dân trước pháp luật với tác phẩm Vụ án 39
3.2 Ý nghĩa dụ ngôn nông dân trước pháp luật 42
3.2.1 Dụ ngôn bí ẩn người giữ cửa chế giễu các đặc điểm tiêu cực của pháp luật 42
Trang 3Kết luận 46Tài liệu tham khảo 47
KAFKA VÀ TÁC PHẨM VỤ ÁN
o0o Franz Kafka là một trong những nhà văn lớn nhất thế kỉ XX và hiện nay là một trongnhững tên tuổi lớn của văn học thế giới Sinh thời ông viết không nhiều và có 3 tác phẩm dởdang: Lâu đài, Hóa thân và Vụ án… nhưng đều trở thành kinh điển Tác phẩm của ôngmang tính ẩn dụ và sự đa nghĩa của các hính tượng nghệ thuật, đồng thời là sự đổi mới kĩthuật viết tiểu thuyết trong một số phương diện Và chính Kafka là một trong những nhà văn
có công lớn trong việc cách tân tiểu thuyết Vì thế mà ông có vai trò rất quan trọng với tiểuthuyết hiện đại Nhưng chúng ta có thể khẳng định việc khám phá về ông sẽ không có điểmdừng bởi tính đa nghĩa cùng các tầng biểu hiện phức tạp trong tác phẩm của ông Chính vìthế mà tác phẩm của Kafka nói chung và tiểu thuyết của ông nói riêng đặc biệt là tiểu thuyết
vụ án đã mang đến cho văn đàn thế giới nhiều cuộc tranh luận sôi nổi và đã gây hứng thúcho các nhà nghiên cứu và độc giả trong suốt một thời gian dài xuyên suốt từ khi bắt đầukhám phá cho tới hiện nay
Trang 4Thứ hai, đầu thế kỉ XX đã xuất hiện một hiện tượng phát triển vượt bậc về khoa học
kỹ thuật của nền văn minh vật chất Âu Mỹ Nền khoa học kỹ thuật hiện đại đạt được nhữngbước phát triển lớn, thay đổi cơ bản nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội Cáchmạng khoa học kĩ thuật lần 2 với những thay đổi khoa học cơ bản, công cụ sản xuất, nănglượng, vật liệu, cách mạng xanh, thông tin vận tải… Ðây là thời kỳ nở rộ của các thành tựu
và sáng tạo Trong khoa học nghiên cứu, thuyết tương đối cơ học cổ điển của Newton vàthuyết tương đối rộng và hẹp của Einstein là hai thuyết có ảnh hưởng đặc biệt quan trọngtrong sự tiến bộ vượt bậc của khoa học Chỉ trong vòng vài chục năm sự phát triển của khoahọc kĩ thuật đã làm thay đổi bộ mặt của Âu Mỹ vốn đã tồn tại suốt nhiều thế kỷ qua, đem lại
sự giàu mạnh về nhiều phương diện cho phương Tây tiên tiến
Trang 5Từ đó, những biến động này tác động không nhỏ đến hình thái ý thức xã hội bằngngôn từ là văn học, dẫn đến những trào lưu văn học phong phú Các trào lưu văn học pháttriển mạnh mẽ như chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại.Trong chủ nghĩa hiện thựcgồm có chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Trong chủnghĩa hiện đại gồm có chủ nghĩa đa đa, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghỉa vị lai, chủ nghĩatượng trưng, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh và phân tâm học Freud trong văn học.
Điều này bắt nguồn từ nền văn minh vật chất mới, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
đã giúp con người phát hiện ra những bí mật của đời sống, của tự nhiên, của vũ trụ Sự xuấthiện các thuyết lượng tử, phân tử, thuyết tương đối, những phát hiện y học về thân thể conngười đã làm người ta thấy rõ hơn những vấn đề có tính chất khám phá, những phát hiện
về thế giới mà triết học duy lý trước đó đã không thể giải quyết được Ðiều này kéo theo sựlung lay, sự nghi ngờ nền tảng tinh thần cũ và yêu cầu xem xét lại những giá trị đó sau khingười ta thấy rằng có một số những chân lý khoa học và tư tưởng của thế kỷ trước thực sựkhông còn chính xác nữa
Xã hội Âu Mỹ nhanh chóng đi vào kỹ nguyên văn minh vật chất và nhiều kỳ vọng vềtương lai Nhưng con người cũng đã sớm nhận ra rằng họ đã hoàn toàn thất vọng, khi nềnvăn minh vật chất đã phản bội lại con người, là kẻ sáng tạo ra nó Mặt khác nó trở thành chủnhân của con người, biến con người thành nô lệ của xã hội máy móc văn minh Xã hội tiềntài vật chất chi phối và quyết định cuộc sống cũng như hành động của con người
Ðối diện với sự hoài nghi về cái cũ lẫn cái mới, bầu không khí văn hóa tinh thần củatây phương đi vào khủng hoảng sâu sắc Ðây là thời kỳ người ta luôn bị ám ảnh bởi kháiniệm “cuối thế kỷ”: suy đồi, mệt mỏi Triết học duy lý lung lay và hậu quả của sự thất vọng
ấy là con người bắt đầu hướng về những giá trị đặc dị và bất thuận lý về thị dục, về lòngnhiệt thành , bản năng, tình cảm, đức tin
Ðứng trước hoàn cảnh đó đã xuất hiện nhiều thái độ, phản ứng khác nhau của nhiềutầng lớp nhà văn Từ đó đã dẫn đến việc hình thành những khuynh hướng văn học trong cácgiai đoạn lịch sử khác nhau, từ đầu thế kỷ cho đến sau hai cuộc thế chiến
Khuynh hướng chống tri thức xuất hiện và lan truyền mạnh vào những năm cuối thế
kỷ XIX bước sang đầu thế kỷ XX Nó bắt đầu từ sự sụp đổ của các nền tảng tư tưởng duy
Trang 6lý, khi “vũ trụ duy lý đã biến thành vũ trụ phi lý” Nhận thức về sự đe dọa của nền văn minhmới cũng đem đến sự hoài nghi cái mới Huyền thoại về sự tiến bộ đã trở thành nỗi thấtvọng về tiến bộ, khi con người nhận ra rằng nền văn minh vật chất không phải bao giờ cũng
là bạn đồng hành của văn minh tinh thần mà con người mong mỏi
Văn học phi lý với chủ đề bao trùm là thân phận con người sẽ chi phối mạnh mẽ vănhọc phương Tây trong giai đoạn tiếp theo, với các khuynh hướng của các thời kỳ trước vàsau hai cuộc chiến tranh thế giới, từ văn học phi lý thời Kafka, kịch phi lý trước và sauchiến tranh thế giới thứ hai, đến chủ nghĩa hiện sinh rồi hiện sinh phi lý phát triển mạnh vàonhững thập niên năm mươi, sáu mươi ở Pháp Nói chung trào lưu văn học phi lý có nhữngđặc điểm như sau: Thái độ không chấp nhận xã hội tư sản và nền văn minh tư sản, tố cáonhững khủng hoảng, bế tắc về mặt tinh thần, là nền văn học của những nạn nhân viết vềnhững nạn nhân, thường nêu lên những quan niệm bi đát về thân phận con người, phủ nhận
lý trí, gạt bỏ lý tính trong quá trình sáng tạo nghệ thuật
Dòng văn học phản chiến xuất hiện trong hai cuộc chiến tranh thế giới ở cả Châu Âu
và châu Mỹ, đồng hành với nền văn học hiện thực nhân đạo và tiến bộ Ðặc biệt, văn họchiện thực xã hội chủ nghĩa chịu ảnh hưởng của tư tưởng Mác - Lênin cũng là một trào lưuđáng kể, phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa và một số nhà văn Âu Mỹ hướng về chủnghĩa xã hội trong mục tiêu xây dựng một thế gới hòa bình, không áp bức bóc lột và pháttriển hoàn thiện con người Tóm lại, thế kỉ XX ở phương Tây có nhiều biến động dữ dộitrong các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật… dẫn đến sự tác động mạnh mẽđến hệ tư tưởng tinh thần và ảnh hưởng sâu sắc đến văn học nghệ thuật qua nhiều trào lưuvăn học
1.1.2 Sự ra đời của các khuynh hướng văn học
Văn học phương Tây hiện đại thế kỉ XX ra đời nhiều khuynh hướng văn học nghệthuật khác nhau: Chủ nghĩa hiện thực; Chủ nghĩa hiện đại; Chủ nghĩa biểu hiện (Đức:1905-1920); Chủ nghĩa tượng trưng; Chủ nghĩa vị lai (Đầu tk XX ở Ý và Nga); Chủ nghĩa siêuthực (Pháp, 20 năm đầu tk XX); Chủ nghĩa hiện sinh (Pháp, thế chiến II); Chủ nghĩa Freud;Chủ nghĩa tân cổ điển; Chủ nghĩa biểu hiện
Trang 7Chủ nghĩa biểu hiện hay Trường phái biểu hiện (Expressionism) là một trào lưu nghệ
thuật xuất hiện và phát triển ở châu Âu vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, hìnhthành và phát triển ở Đức từ 1905 đến 1920, lan rộng ảnh hưởng trong văn hóa một số nướckhác ở châu Âu: châu Mĩ như Áo, Nga, Bắc Âu, Mĩ, … Nảy sinh như là sự phản ứng lạinhững khủng hoảng xã hội đầu thế kỷ XX (chiến tranh thế giới 1914 – 1918), chủ nghĩabiểu hiện là tiếng nói của những con người công khai phản đối chiến tranh và tình trạng vôhồn của cuộc sống, chống lại sự áp chế của các cơ cấu xã hội đối với cá nhân và sự xơ cứngcủa những nguyên tắc “cổ điển” về nghệ thuật
Chủ nghĩa biểu hiện có đặc điểm nhấn mạnh, thậm xưng trong sự thể hiện cảm tính xúc cảm của chủ thể (thường là cảm xúc con người hoặc một nhóm người) hoặc xúc cảmcủa chính người họa sĩ Những cảm xúc này thường được gây ra bởi một sự kiện đặc biệtnào đó, cũng có thể bởi sự gặp mặt – giao lưu của nhiều người hoặc sự giao lưu của những
-xu hướng hội họa khác nhau (như cổ điển và hiện đại)
Nguyên tắc thẩm mĩ của chủ nghĩa biểu hiện là cắt nghĩa thực tại một cách chủ quandựa theo những cảm giác có tính thứ nhất về thế giới (từng được chủ nghĩa ấn tượngcoi là
cơ sở hàng đầu để xây dựng hình tượng nghệ thuật) Nguyên tắc ấy đã quy định sự hamthích tính trừu tượng, những cảm xúc sắc nhạy và cái kì dị hoang đường Nghệ thuật chủnghĩa biểu hiện là một trái tim tan nát vì thế giới khổng hồn, vì sự tương phản giữa cái sống
và cái chết, tinh thần và thể xác, “văn minh” và “tự nhiên”
Nhiều người thuộc trường phái này thường lên tiếng kêu gọi cải tạo thực tại, bắt đẩubằng sự cải tạo ý thức con người Tất nhiên họ quan niệm cải tạo theo cách của họ Chẳnghạn, trong nghệ thuật, họ coi ngang nhau không cần phân biệt cái bên trong với cái bênngoài, cái chủ quan với cái khách quan
Chủ nghĩa biểu hiện không chủ trương nghiên cứu tính phức tạp của cuộc sống.Nhiều tác phẩm của họ chỉ có nghĩa như những lời hiệu triệu Và thực chất đấy là một nghệthuật tuyên truyền cổ động Tác phẩm của họ không phải là bức tranh sinh động, nhiều màusắc, khía cạnh được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật có thể cảm nhận được bằng giácquan, mà chỉ là sự diễn đạt sắc bén những tư tưởng quan trọng đối với tác giả bằng cách sửdụng bất kì sự cường điệu và ước lệ nào Tiêu biểu nhất về mặt này là tác phẩm Hóa thâncủa Ph Cáp-ca
Trang 8Về mặt tư tưởng – xã hội, chủ nghĩa biểu hiện thực chất là một thái độ phản ứngtrước sự khủng hoảng xã hội trầm trọng ở châu Âu trong vòng một phần tư của thế kỉ XX donhiều nguyên nhân tạo nên, trong đó có cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và đi liền nó
là sự chấn động dữ dội của các cuộc cách mạng
Chủ nghĩa biểu hiện đã từng có ảnh hưởng khá rộng đến văn học một số nước châu
Âu Không ít nhà văn nổi tiếng về sau này như Bê-sơ (1891 11958), Ph Vôn-phơ (188811953), Ph Cáp-ca (1883 – 1924), L.N An-đrê-ép (1871 – 1919),… đã từng chịu ảnhhường ít nhiều của trường phái nghệ thuật này
Chủ nghĩa biểu hiện thể hiện trong nhiều dạng nghệ thuật, từ hội họa, kiến trúc chođến văn học, thơ ca, nhạc kịch và điện ảnh
Đó là cảm xúc của nhân vật chính với cái tên không rõ ràng Joseph K., làm nhân viênngân hàng, vô duyên bị bắt giữ để điều tra Anh ta không thể hiểu những gì đang diễn ra vớicuộc đời anh ta và cái án tử treo trên đầu anh Anh ta mong muốn tìm kiếm lời giải đáp và
sự bào chữa cho cái án của bản thân Nhưng dần dần anh ta trở nên dửng dưng lạnh lùnghơn bởi lúc đó anh hiểu ra rằng cuộc đợi đầy những cái phi lý mà ta không thể nào hiểuđược Phi lý đến mức cả lý trí cũng không thể nào giải thích được, điều đó cũng hết sức hợp
lý Trong quá trình đó, tâm trạng nhân vật chịu ảnh những ám ảnh khi nhìn thấy được sốphận con người cô đơn, lạc loài, họ đang sống trong một không gian tù túng ngột ngạt vàđau xót hơn là họ bằng lòng với hiện tại ấy Chính vì Joseph K nhận ra những điều đó, điều
mà tất cả mọi người trong thời đại ấy mê mụi không hay biết, và vì thế mà nhân vật bao giờcũng cô đơn và bị xã hội vây bủa, đào thải Thân phận con người được đẩy lên tới mức caotrước sự tồn tại của xã hội mà không làm sao để thay đổi được Cái nghịch dị ấy đeo bámcon người và không bao giờ buông tha con người
1.2 Tác giả
1.2.1 Gia đình
Kafka chào đời ngày 3 tháng 7 năm 1883 ở gần quảng trường Altstadter ở Praha, khi
ấy thuộc Đế quốc Áo - Hung Gia đình ông là những người Do Thái Ashkenazi thuộc tầnglớp trung lưu Cha ông, Hermann Kafka (1852-1931), là con thứ tư của Jacob Kafka, một
Trang 9người mổ thịt Ông Jacob đã đưa gia dình Kafka chuyển tới Praha từ Osek, một làng ngườiSéc có đông dân Do Thái ở gần Strakonice ở bắc Bohemia Từ chỗ là một người chào hànglưu động, ông vươn lên trở thành một ông chủ bán lẻ quần áo và vật trang trí, thuê tới 15người làm thuê, sử dụng hình ảnh quạ gáy xám (trong tiếng Séc gọi là kavka) làm logothương mại Mẹ của Kafka, Julie (1856-1934), là con gái một nhà buôn bán lẻ giàu có ởPoděbrady tên là Jakob Lowy và được học hành tử tế hơn chồng bà Cha mẹ của Kafka chắc
đã nói một thứ tiếng Đức pha Yiddish (đôi khi gọi là Mauscheldeutsch), nhưng do tiếng Đức
là phương tiện giao tiếp xã hội nên họ hẳn đã khuyến khích con cái nói tiếng Thượng Đức.Jacob và Julie có sáu người con, trong đó Franz là con cả Hai em trai của Franz, Georg vàHeinrich, chết yểu trước khi Franz lên bảy; ba em gái là Gabriele (Ellie) (1889–1944),Valerie (Vallie) (1890–1944) và Ottilie (Ottla) (1892–1943) Gia đình Kafka có một ngườihầu gái sống cùng họ trong một căn hộ chật hẹp Phòng của Franz thường xuyên lạnh giá.Vào tháng 11 năm 1913, gia đình chuyển tới một căn hộ rộng hơn dù trước đó Ellie vàVallie đã lấy chồng và dọn khỏi nhà cũ Đầu tháng 10 năm 1914, không lâu sau khi Thếchiến thứ nhất bùng nổ, các cô em này mất tin tức về chồng họ và lại trở về ngôi nhà mớinày Cả Ellie và Vallie giờ đã có con Franz, khi đó ở tuổi 31, rời đến căn hộ yên tĩnh củaVallie và lần đầu tiên ra ở riêng Herman được nhà viết tiểu sử Stanley Corngold miêu tả làmột “thương gia to lớn, ích kỉ, hống hách”; còn chính Franz Kafka gọi ông là “một người họKafka thực thụ xét về sự cường tráng, sức khỏe, ăn uống, giọng ầm ĩ, sự hùng biện, tính tựmãn, thói gia trưởng, khả năng chịu đựng, sự nhanh trí, hiểu bản chất con người” Trongnhững ngày buôn bán, bà Julie cũng dành có khi tới 12 giờ một ngày để tham gia cùngchồng trong việc kinh doanh của gia đình nên cả hai ông bà đều vắng nhà Cho nên, tuổi thơcủa Kafka có phần cô đơn và lũ trẻ trong nhà chủ yếu được nuôi dưỡng bởi các cô giáo dạytrẻ và người hầu khác nhau Mối quan hệ không yên ổn của Franz Kafka với người cha thểhiện rõ ràng trong bức “Thư gửi cha” (Brief an den Vater) dài hơn 100 trang, trong đó ôngphàn nàn đã chịu tác động sâu sắc từ tính cách khắt khe và độc đoán của cha ông; trái lại,
mẹ ông ít lời và nhút nhát Hình ảnh về người cha gia trưởng có một dấu ấn rõ nét trên vănchương của Kafka
1.2.2 Học tập
Từ 1889 tới 1893, Kafka học ở một trường tiểu học nam sinh Đức (DeutscheKnabenschule) ở Fleischmarkt (tức “chợ bán thịt”), nay là đường Masná, Praha Nền giáo
Trang 10dục truyền thống Do Thái của ông kết thúc với lễ thành niên Bar Mitzvah ở tuổi 13 Kafkachưa bao giờ phục vụ lễ ở giáo đường Do Thái và chỉ cùng cha tới đó dự bốn ngày lễ chínhmỗi năm Sau khi rời trường tiểu học năm 1893, Kafka được nhận vào một trường trung họcnhà nước kiểu cổ điển nghiêm khắc, Altstadter Deutsches Gymnasium, nằm trong khuônviên Cung Kinský ở quảng trường Altstadter Tiếng Đức là ngôn ngữ giảng dạy, nhưngKafka cũng nói và viết được tiếng Séc; bởi ông học tiếng Séc ở trung học khoảng 8 năm, đạtnhững điểm tốt trong môn này Ông được khen ngợi về tiếng Séc của mình, nhưng chưatừng tự coi mình là thành thạo nó Ông đỗ kì thi tốt nghiệp trung học (tiếng Đức gọi làMatura) năm 1901 Đăng ký vào trường Đại học Karl-Ferdinands của Praha năm 1901, banđầu Kafka theo ngành hóa học, nhưng chuyển sang ngành luật chỉ sau hai tuần Mặc dù ôngkhông hứng thú với lĩnh vực này nhưng nó hứa hẹn nhiều cơ hội công việc làm hài lòng chaông Hơn nữa, ngành luật đòi hỏi khóa học dài hơn, cho Kafka thì giờ để theo các lớp vềnghiên cứu tiếng Đức và lịch sử nghệ thuật Ông cũng tham gia vào một câu lạc bộ sinh viêntên là “Hội trường Đọc sách và Giảng bài của Sinh viên tiếng Đức” (Lese-und Redehalle derDeutschen Studenten), nơi tổ chức các sự kiện văn học, đọc sách và các hoạt động khác.Trong số những bạn bè của Kafka có nhà báo Felix Weltsch học triết, diễn viên YitzchakLowy đến từ một gia đình Do Thái nhánh Hasidic chính thống ở Warszawa, và các nhà vănOskar Baum và Franz Werfel Vào năm cuối ở đại học, Kafka gặp M Bord, một nghiên cứusinh ngành luật, và họ trở thành bạn suốt đời của nhau Bord sớm nhận ra rằng, mặc dùKafka nhút nhát và hiếm khi nói, những gì ông nói ra thường sâu sắc Kafka là một độc giảnghiện sách suốt đời; cùng với Bord, ông đã đọc cuốn Protagoras của Plato bằng tiếng HyLạp cổ dưới sự đề xuất của Bord, và các tiểu thuyết Giáo dục tình cảm và Sự cám dỗ thánhAnthoine của Flaubert bằng tiếng Pháp do Bord gợi ý Ngoài ra, ông cũng quan tâm tới vănhọc Séc, đồng thời rất yêu thích các tác phẩm của Goethe Kafka nhận bằng tiến sĩ luật ngày
18 tháng Bảy 1906 và làm việc một năm bắt buộc không lương như một thư ký luật cho cáctòa án dân sự và hình sự
1.2.3 Đời viên chức
Ngày 1 tháng Mười một 1907, Kafka được tuyển dụng vào Assicurazioni Generali,một công ty bảo hiểm Ý, nơi ông làm việc gần một năm Những thư từ trong thời kì này chothấy ông lấy làm khổ sở với lịch làm việc - từ 8 sáng tới 6 giờ tối - khiến cho ông khó có thể
Trang 11từ chức, và hai tuần sau tìm được một vị trí dễ chịu hơn tại Cơ quan Bảo hiểm Tai nạn Côngnhân của Vương quốc Bohemia Công việc liên quan tới việc điều tra và định mức đền bùthương tật của công nhân công nghiệp; các tai nạn như mất ngón hay cả bàn tay, chân xảy raphổ biến ở thời đó Giáo sư quản trị Peter Drucker ghi nhận Kafka đã phát triển một loại mũbảo hiểm dân sự đầu tiên khi làm việc ở đây, nhưng không có bất cứ văn bản nào từ cơ quanxác nhận điều này Cha Kafka thường gọi nghề làm công chức bảo hiểm là một Brotberuf,nghĩa đen là “nghề kiếm ăn”; còn bản thân Kafka thường tỏ ra khinh miệt nó Ông thăngtiến khá nhanh chóng, đảm nhiệm những chức trách bao gồm việc thực hiện và điều tra cácyêu cầu bồi thường, viết báo cáo, và xử lý những thỉnh cầu từ những doanh nhân cảm thấynhà máy của họ bị xếp vào mức rủi ro cao; điều này khiến họ tốn nhiều tiền đóng bảo hiểm Ông cũng được giao nhiệm vụ biên soạn các báo cáo cho cơ quan bảo hiểm trong vài nămông làm ở đây Các bản báo cáo được cấp trên của ông đón nhận tích cực Kafka thườnghoàn thành công vụ vào lúc 2h chiều, do đó ông có thì giờ dành cho công việc viết văn Chacủa Kafka cũng mong ông trợ giúp và tiếp quản cửa hàng bán đồ trang trí của gia đình Tuynhiên trong những năm về sau, Kafka thường xuyên bệnh tật, khó lòng làm việc ở công tylẫn viết lách Cuối năm 1911, chồng của Ellie là Karl Hermann và Kafka trở thành nhữngđối tác ở nhà máy amiăng đầu tiên ở Praha, tức Prager Asbetwerke Hermann & Co Ban đầuKafka tỏ ra khá tích cực, dành nhiều thời gian rảnh cho việc kinh doanh này, nhưng về sauông lấy làm bực bội vì nó lấn vào thời gian viết văn của ông Trong thời gian này ông cũngtìm thấy sự hứng thú và giải trí trong các cuộc biểu diễn ở nhà hát Yiddish Sau khi thấy mộtđoàn sân khấu Yiddish trình diễn vào tháng Mười 1911, suốt sáu tháng sau đó Kafka “chìmđắm trong tiếng Yiddish và văn học Yiddish” Mối quan tâm này đóng vai trò điểm khởi đầucho những liên hệ ngày một tăng của ông với đạo Do Thái Đó cũng là khoảng thời gianKafka trở thành một người ăn kiêng Khoảng 1915 Kafka nhận giấy báo nhập ngũ tham giavào Thế chiến thứ nhất, nhưng cấp trên của ông trong cơ quan bảo hiểm đã sắp xếp một sựhoãn quân dịch nhờ công việc của Kafka được xem như dịch vụ công thiết yếu Sau đó ông
đã cố gắng gia nhập quân dội nhưng bị ngăn cản bởi các vấn đề y tế liên quan tới chứng laođược chẩn đoán từ năm 1917 Năm 1918 Cơ quan Bảo hiểm Tai nạn Công nhân cho ôngnghỉ hưu do bệnh tật và ông dành hầu hết phần đời còn lại trong các viện điều dưỡng
Trang 121.2.4 Tính cách
Kafka thường lo sợ người ta sẽ thấy ông gớm ghiếc cả về tinh thần lẫn cơ thể Tuynhiên, những ai gặp ông thì nhận thấy ông có cách cư xử điềm đạm và ít lời, một trí tuệ nổibật và ít óc hài hước; họ cũng thấy ông điển trai một cách trẻ thơ, bất chấp vẻ ngoài khắckhổ Brod so sánh ông với Heinrich von Kleist, lưu ý rằng cả hai nhà văn đều có năng lựcmiêu tả rõ ràng và hiện thực một hoàn cảnh với những chi tiết chính xác Kafka là một trongnhững người thú vị nhất mà Brod đã gặp; Kafka thích chia sẻ tâm trạng với bạn bè, nhưngcũng giúp họ trong những lúc khó khăn với những lời khuyên đáng giá Theo M Bord, ông
là một người đam mê kể truyện, có thể diễn đạt lời nói của mình như thể nó là âm nhạc.Bord cho rằng hai nét tính cách nổi bật nhất của Kafka là “sự chân thật tuyệt đối” (absoluteWahrhaftigkeit) và “sự ngay thẳng đúng đắn” (prazise Gewissenhaftigkeit); và rằng ôngkhám phá chi tiết, cái thầm kín một cách sâu sắc với một tình yêu và sự chính xác đến nỗi
sự vật hiển lộ không ngờ, có vẻ lạ lùng, nhưng đơn giản là đúng” (nichts als wahr) Mặc dùKafka ít tỏ ra đam mê luyện tập khi còn bé, sau này ông lại quan tâm tới các trò chơi hayhoạt động thể chất, và tỏ ra là một tay cưỡi ngựa, bơi và đua thuyền cừ Vào cuối tuần ôngthường cùng bạn bè tiến hành những cuộc đi bộ đường trường, do chính Kafka lên kế hoạch.Các mối quan tâm khác của ông bao gồm trị liệu bằng tập luyện, các hệ thống giáo dục hiệnđại như phương pháp Montessori hay những phát minh tân kì như máy bay và điện ảnh Đặcbiệt, việc viết văn rất quan trọng với Kafka; ông xem nó như một “dạng lời cầu nguyện”.Ông rất nhạy cảm với tiếng ồn và ưa sự tĩnh lặng khi viết văn Nhà tâm lý học MarinoPérez-Álvarez từng tuyên bố rằng Kafka có thể mắc một chứng rối loạn nhân cách Vănphong của ông, người ta khẳng định, không chỉ trong "Hóa thân" mà cả các tác phẩm khác,dường như thể hiện những triệu chứng rối loạn nhân cách từ mức nhẹ tới trung bình, điềugiải thích nhiều tác phẩm gây kinh ngạc của ông Nỗi khổ não trong ông có thể thấy trongtrang nhật ký ngày 21 tháng 6 năm 1913: Thế giới thật khủng khiếp chưa trong đầu tôi!Nhưng làm sao để giải phóng chính tôi và giải phóng chúng mà không xé toạc ra Và xé ranghìn lần trong tôi còn tốt hơn là nó được kìm lại hoặc chôn cất Chính vì việc đó mà tôisống trên đời này, điều này khá rõ ràng với tôi Và trong Cách ngôn Zurau số 50: Người takhông thể sống mà không có một niềm tin thường trực vào những thứ bất hoại bên tronghắn ta, mặc dù cả thứ bất hoại đó và cả niềm tin của anh ta vào nó có thể luôn luôn bị chôngiấu kín với hắn Tuy Kafka chưa từng kết hôn nhưng ông rất trân trọng hôn nhân và trẻ
Trang 13con Ông có một số bạn gái, tuy nhiên một vài nhà nghiên cứu vẫn suy đoán về khuynhhướng giới tính của ông; những người khác đề xuất rằng ông có thể đã mắc một chứng rốiloạn dinh dưỡng Bác sĩ Manfred M Fichter của Bệnh viện thực hành về Tâm thần của Đạihọc Munchenđưa ra “bằng chứng cho giả thuyết rằng nhà văn Franz Kafka mắc một bệnhchán ăn tâm thần không điển hình” và rằng Kafka không chỉ cô độc và thất vọng mà còn
“đôi khi có khuynh hướng tự sát” Trong cuốn sách Franz Kafka, the Jewish Patient năm
1995, Sander Gilman đã tìm hiểu “tại sao một người Do Thái có thể bị xem là bị ám ảnh vềsức khỏe hoặc đồng tính luyến ái và làm sao Kafka kết hợp những khía cạnh theo nhữngcách hiểu này về người đàn ông Do Thái vào sự tự nhận thức và văn chương của chínhông” Kafka được cho là đã cố tự tử ít nhất một lần, vào cuối năm 1912
1.2.5 Quan điểm chính trị
Trước Thế chiến thứ nhất, Kafka đã tham dự một số cuộc họp của câu lạc bộMladých, một tổ chức vô chính phủ, chống tăng lữ, chống quân phiệt Hugo Bergmann,người học cùng trường với Kafka cả tiểu học lẫn trung học, cắt đứt quan hệ với Kafka vàonăm cuối đại học (1900 - 1901) bởi theo ông này: “Franz đã trở thành một người xã hội chủnghĩa, còn tôi trở thành một người phục quốc Do Thái năm 1898 Sự tổng hợp của chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa phục quốc Do Thái không hề tồn tại” Bergmann kể rằng Kafka
đã cài một bông cẩm chướng đỏ tới trường để thể hiện sự ủng hộ cho chủ nghĩa xã hội.Trong một trang nhật ký, Kafka đã nhắc tới một triết gia vô chính phủ nhiều ảnh hưởng làPeter Kropotkin: “Đừng quên Kropotkin!” Sau này khi bàn về những người vô chính phủSéc, ông khẳng định: “Tất cả bọn họ mưu cầu vô ích để hiện thực hóa hạnh phúc con người.Tôi cảm thông với họ Nhưng tôi không thể nào tiếp tục bước tới cùng họ lâu dài được”.Trong thời kỳ cộng sản cầm quyền, di sản của tác phẩm Kafka đối với khối xã hội chủ nghĩaĐông Âu được đem ra tranh cãi gay gắt Các ý kiến thay đổi từ chỗ cho rằng ông chế nhạo
sự mục nát quan liêu của Đế quốc Áo-Hung đang suy sụp tới chỗ đề xuất rằng ông là hiệnthân của sự trỗi dậy của chủ nghĩa xã hội Một điểm mấu chốt nữa là chủ đề sự ghẻ lạnhtrong văn ông; trong lúc lập trường chính thống là sự mô tả của Kafka về sự ghẻ lạnh khôngcòn có ý nghĩa cho một xã hội được cho là đã loại bỏ sự ghẻ lạnh giữa người với người, mộthội thảo năm 1963 tổ chức ở Liblice, Tiệp Khắc để tưởng niệm 80 năm ngày sinh của ôngđánh giá lại tầm quan trọng còn tồn tại của sự minh họa của Kafka về xã hội quan liêu Bảnthân việc Kafka có phải là một nhà văn chính trị hay không vẫn là một vấn đề tranh cãi
Trang 141.2.6 Quan điểm về dân tộc
Lớn lên, Kafka là một người Do Thái nói tiếng Đức ở Praha, một thành phố donhững người nói tiếng Séc và không phải dân Do Thái, thống trị Ông bị mê hoặc sâu xa bởinhánh Do Thái Đông Âu, những người ông nghĩ là sở hữu một sức mạnh của đời sống tinhthần mà người Do Thái ở phương Tây không có được Trong nhật ký của ông có rất nhiềuchỗ nhắc đến các tác giả tiếng Yiddish Tuy nhiên ông nhiều lần xa lánh khỏi đạo Do Thái
và đời sống Do Thái: “Tôi có điểm chung gì với những người Do Thái? Tôi khó có thứ gìgiống với chính tôi và nên đứng rất kín đáo ở một góc, bằng lòng rằng mình còn có thể thở”.Hawes đề xuất rằng Kafka, mặc dù nhận thức rõ tính Do Thái của chính ông, không đưa nóvào tác phẩm của ông, mà theo Hawes, thiếu các chủ đề, cảnh hay nhân vật Do Thái Theoquan điểm của nhà phê bình văn học Harold Bloom, mặc dù Kafka không thoải mái với disản Do Thái của mình, ông là một nhà văn Do Thái tinh hoa Lothar Kahn cũng khẳng địnhtương tự: “Sự hiện diện của Do Thái tính trong tác phẩm của Kafka không còn là vấn đề bàncãi” Pavel Eisner, một trong những người dịch Kafka đầu tiên, diễn giải tác phẩm kinh điển
Vụ án như hiện thân của “mức độ hiện diện của người Do Thái ở Praha vai chính Josef K.
là bị bắt giữ (một cách tượng trưng) bởi một người Đức (Rabensteiner), một người Séc(Kullich) và một người Do Thái (Kaminer) Ông bênh vực cho “tội lỗi vô tội” (guitlessguilt) thấm đẫm người Do Thái trong thế giới hiện đại, mặc dù không có gì chứng tỏ ông làmột người Do Thái” Trong tiểu luận “Nỗi buồn ở Palestine?!”, Dan Miron khám phá mốiliên hệ của Kafka với chủ nghĩa phục quốc Do Thái: “Dường như những người tuyên bốrằng có một mối quan hệ như thế và rằng chủ nghĩa phục quốc Do Thái đóng một vai tròtrung tâm trong đời sống và tác phẩm của ông, và những người phủ nhận hoàn toàn mốiquan hệ hay gạt bỏ tầm quan trọng của nó, đều sai Sự thật nằm ở vị trí đâu đó rất khó nắmbắt giữa hai thái cực đơn giản hóa này” Kafka từng xem xét chuyển tới Palestine với FeliceBauer, và sau đó là với Dora Diamant Khi sống ở Berlin ông học tiếng Hebrew, thuê mộtngười bạn của nhà Brod đến từ Palestine, Pua Bat-Tovim, dạy gia sư cho ông và tham dựcác lớp học của giáo sĩ Julius Grunthal ở Cao đẳng Do Thái học Berlin Livia Rothkirchengọi Kafka là “nhân vật biểu tượng của thời đại ông” Những người cùng thời với ông baogồm nhiều nhà văn Do Thái nhạy cảm với văn hóa Đức, Séc, Áo và Do Thái TheoRothkirchen, “Tình huống này cung cấp cho văn chương của họ một nhãn quan toàn thế giới
Trang 15và năng lực tán tụng bên cạnh sự trầm ngâm siêu hình siêu việt Một ví dụ lừng lẫy là FranzKafka”.
1.3 Tác phẩm Vụ án
1.3.1 Giới thiệu tác phẩm
Tất cả các tác phẩm được xuất bản của Kafka đều được viết bằng tiếng Đức, trừ vàibức thư tiếng Séc viết cho Milena Jesenská
Các tác phẩm được xuất bản sớm nhất của Kafka là tám truyện ngắn xuất hiện năm
1908 trong số đầu của tạp chí văn học Hyperion dưới tựa đề Betrachtung ("Trầm tư")
Ông viết "Mô tả một trận chiến" ("Beschreibung eines Kampfes") năm 1904, Thư
gởi cha (xuất bản năm 1952), truyện ngắn Bản án (Das Urteil, viết năm 1912, xuất bản năm
1916), Hóa thân (Die Verwandlung, viết năm 1912, xuất bản năm1915).
Những tác phẩm khác là: Mỹ (Amerika, 1927), Nhà trừng giới (In der
Strafkolonie,1919), Thầy thuốc nông thôn (Ein Landarzt, 1919), Vô địch nhịn đói (Ein
Hungerkũnstler, 1924)
Sau khi Franz Kafka mất, bạn thân của ông là Max Brod cho xuất bản tiểu thuyết
Lâu đài năm 1926
Vụ án được viết vào khoảng năm 1914 và in lần đầu năm 1926 ở Đức Cũng như cácbản thảo khác còn lưu lại của Kafka sau khi ông qua đời, Vụ án chưa phải là một bản thảo
hoàn chỉnh Trong số ba tiểu thuyết của Kafka, chỉ có Vụ án là hoàn thành theo nghĩa là đã
có một kết thúc Còn thật ra ngay cả bản đã được Max Brôt (bạn thân của Kafka) sắp xếp lại
và cho in, được dịch ra tiếng Pháp rất phổ biến hiện nay, từ 1963 đã có những ý kiến phêphán Người ta cho rằng sự sắp xếp lại và cho in, được dịch ra tiếng Pháp rất phổ biến hiệnnay, từ năm 1963 đã có những ý kiến phê phán Người ta cho rằng sự sắp xếp của Max Brôtvẫn mang tính chủ quan, bởi ông này cho rằng chỉ cần dựa vào những chương ông đã chọnlọc, rồi sắp xếp lại là đã hoàn chỉnh theo ý đồ của Kafka Ít nhất, theo H.Richte, đã có những
sơ hở sau đây:
Trang 16- Toàn bộ bản thảo có 17 chương, bản Max Brôt chỉ có 10 chương.
- Trật tự một số chương chưa chính xác
- Có sự thiếu hụt do một vài chương bị đặt dưới chú thích, hoặc ghép với chươngkhác, hoặc không hề xuất hiện trong bản dịch tiếng Pháp (ví dụ: chương mà H.Richte gọi là
“Ra khỏi nhà hát”)
Điều quan trọng do quan điểm chỉ đạo của Max Brôt đã khiến ông có thể chủ quan
lược bỏ một số chương, đoạn có ý nghĩa của Vụ án: Brôt đọc tác phẩm này theo ý nghĩa tượng trưng là chủ yếu Ông cho rằng, Vụ án và Lâu đài thể hiện cho ta thấy “hai hình thái
Công lí và Lượng thứ”, nên một số những đoạn liên quan tới đời sống riêng của nhân vật bịgạt xuống phần phụ chú hoặc bị bỏ đi
1.3.2 Tóm tắt tác phẩm
CHƯƠNG 1: VỤ BẮT BỚ JOSEPH K CUỘC TRÒ CHUYỆN VỚI BÀ
GRUBACH RỒI VỚI CÔ BÜRSTNER
Kể về nhân vật chính là Joseph K, ba mươi tuổi, có địa vị tại ngân hàng, được mọingười xung quanh kính trọng Ông ở nhà trọ và ăn những món ăn ở những quán ăn tĩnhmịch, làm việc một cách đều đặn Là một người khô khan, trống trải, một kẻ độc thân,không thân thiết với ai Một buổi sáng kia, xuất hiện hai tên lạ mặt nói ông bị bắt K cảmthấy bất ngờ, không biết vì sao? K đã đi tìm nguyên nhân vì sao mình bị bắt nhưng khôngthể lí giải được vì sao lại như vậy? K cũng đã nhờ sự giúp đỡ của cô Bocxne-lam nhưng mọithứ vẫn vậy
CHƯƠNG 2: CUỘC THẨM VẤN ĐẦU TIÊN
Một tòa án được lập ra để hỏi cung bị cáo Đó là một khu nhà ở của những người dânnghèo, hay gọi chính xác hơn là khu ổ chuột, dơ dáy, bẩn thỉu, tối tăm, hôi hám, đó là mộtcăn phòng nhỏ, chật hẹp và không được nguyên vẹn… “K đến đầu phố Xanh Juyn, noi cóđịa chỉ tòa nhà, anh dừng lại một lát, chỉ thấy hai bên những dãy nhà cao xam xám một kiểugiống nhau, những khối nhà tồi tàn cho người nghèo thuê…” Tất cả đều mờ ám, không rõ
Trang 17ràng, vô tổ chức, hỗn độn, giống như một trò đùa lố bịch Ông đã đứng ra tự bào chữa chochính mình, nhưng không mang lại kết quả
CHƯƠNG 3: TRONG PHÒNG VẮNG HOE - GÃ SINH VIÊN - CÁC VĂN
PHÒNG TÒA ÁN
K đến tòa án để tiếp tục vụ án của mình K đã gặp anh chàng sinh viên và người phụ
nữ Người gõ mõ dẫn K đi tham quan các phòng lục sự, K cảm thấy không khí thật ngộtngạt, khó chịu và anh chỉ muốn nhanh chóng thoát ra khỏi đó
CHƯƠNG 4: BẠN GÁI CỦA CÔ BÜRSTNER
Có cô bạn gái đến ở cùng Bocxne, với bản tính thật cao ngạo, cô gái ấy có mối quan
hệ với cháu bà Grubach K cho rằng cả hai đều thuộc nhóm bí mật nên ngăn cản anh đếnvới Bocxne
CHƯƠNG 5: TÊN ĐAO PHỦ
Xuất hiện trước mắt là tên đao phủ trên tay cầm roi chực đánh Frank và Vilem.Chứng kiến cảnh tên đao phủ ra tay như vậy K muốn tố cáo tên đao phủ với sự độc ác đểcứu Frank và Vilem, nhưng trong lòng K đã có ý định bỏ mặc họ
CHƯƠNG 6: ÔNG CHÚ – NẰNG LENI
Ông Karl – chú của K đến tím gặp và hỏi thăm về vụ án và giới thiệu K đến gặp luật
sư Huld, bạn học của ông chú Hai người đến văn phòng luật sư Karl, tại đây, K gặp Leni –người giúp việc và chăm sóc vị luật sư đang bệnh nặng nằm trên giường Trong căn phòngluật sư, hai chú cháu K gặp ông trưởng phòng tòa án Để mặc ba người nói chuyện vớinhau, K và Leni đi đến phòng riêng trò chuyện và K được Leni trao cho chiếc chìa khóanhà
CHƯƠNG 7: LUẬT SƯ – NHÀ CÔNG NGHIỆP – HỌA SĨ
Josef K cảm thấy việc nhờ luật sư bào chữa là một điều sai lầm vì ngoài việc ônglàm và nói những chuyện dư thừa thì ông chẳng giúp gì cho vụ án tiến triển cả Ở phòng làmviệc, K gặp một nhà công nghiệp Ông cũng tỏ ra người biết vụ án và chỉ anh đến tìm
Trang 18Titorelli – một họa sĩ quen biết nhiều quan tòa K đến gặp họa sĩ, hắn ta đưa ra các hìnhthức giải tội cho K nhưng cuối cùng không hình thức nào là đươc thoát tội mãi mãi Ra về ,hắn ép K mua những bức tranh đồng nghĩa với việc trả tiền công cho hắn.
CHƯƠNG 8: THƯƠNG GIA BLOCK – MIỄN NHIỄM LUẬT SƯ
Josef K quay lại văn phòng luật sư Huld thông báo rằng anh miễn nhiệm ông và gặpthương gia Block Thương gia Bock cũng là một thân chủ của luật sư Huld Block cho K.biết rằng ngoài luật sư, hắn còn nhờ thêm năm người luật sư khác cho vụ án của mình Luật
sư Huld có vẻ rất ác cảm với Block và vụ án của Block vẫn chưa được bắt đầu gì cả….(chương này chưa hoàn tất)
CHƯƠNG 9: Ở NHÀ THỜ LỚN
Josef K được giám đốc nhờ đưa một người khách người Ý đi tham quan Nhà ThờLớn Nhưng đến giờ hẹn, vị khách ấy vẫn chưa đến, K lang thang một mình ở nhà thờ vàgặp một vị linh mục Ông kể cho anh nghe về một câu chuyện về người nông dân đến xingặp Pháp Luật và tên gác cổng ở đó, giảng giải cho K nghe những điều về tòa án và tiết lộrằng vị linh mục cũng chính là người của tòa án
CHƯƠNG 10: KẾT
Trước sinh nhật ba mươi mốt, có hai kẻ lạ mặt đến căn hộ của K bắt và giải anh điđến một mỏ đá nhỏ vắng xa thành phố Tại đây, bọn chúng giết chết K Và K., đến tận lúcchết vẫn không biết mình đã phạm phải tội gì
2 CÁI PHI LÍ TRONG TÁC PHẨM VỤ ÁN
2.1 Cốt truyện phi lí
“Cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm
tự sự và tác phẩm kịch thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh
xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.” [15]
Theo cách xây dựng cốt truyện thông thường, các tác phẩm tự sự được chia thành
Trang 19Vụ án không được xây dựng theo cốt truyện của tiểu thuyết truyền thống Mở đầu Vụ án đã
là một nút thắt: “Chắc hẳn là người ta đã vu oan cho Joseph K., bởi vì chẳng làm điều gì
nên tội, thế mà một buổi sáng kia anh bị bắt.” [1, tr4] Câu đầu tiên của chương một tạo cho
độc giả một sự hoang mang, khó hiểu vì chẳng biết chuyện gì đã xảy ra Cái phi lý ở đây là
sự kiện K bị bắt xuất hiện quá đột ngột, không ai biết được K đã phạm tội gì, ai đã hại anhphải mắc oan Thay vì mở đầu câu chuyện là một bối cảnh cụ thể để dẩn đến việc thắt nút sựviệc, Franz Kafka đã đưa ngay nút thắt này vào đầu câu chuyện Không độc giả nào có thểtin được là K bị bắt
Cái đặc biệt tiếp theo được cho là phi lý là câu chuyện lại có quá nhiều nút thắt Vàcũng như nút thắt mở đầu, tất cả đều không được mở nút Thậm chí, có những sự kiệnkhông có tác dụng gì vào tiến triển câu chuyện Mối quan hệ của Joseph K với Montagcũng như vậy Cô xuất hiện một cách không có ý nghĩa trong cuộc đời Joseph K Tất cả các
ý nghĩ về cô mà độc giả có thể nghĩ ra đều không đúng: cô không phải là nhân tình của K.,
cô không phải là người liên quan đến vụ án của K., tác giả cũng không đưa những chi tiếtcho thấy cô có quan hệ bạn bè với K để an ủi, tậm sự với K Từ đó, hình thành nên cái phi
lý mà ai cũng nhận thấy, đó là cô Montag xuất hiện để làm gì?
Cái phi lý liếp theo là, bên cạnh những tình tiết không góp phần mở nút cho tácphẩm, những tình tiết trong Vụ án đều góp phần vào diễn biến câu chuyện nhưng không giảiquyết được vấn đề để có thể kết thúc được câu chuyện Từ việc tìm hiểu tòa nhà cũ được gọi
là tòa án, tiếp xúc với ông chú và cô gái Leni, tìm luật sư, rồi từ bỏ luật sư để nghe theo lờingài thương gia Bloc, gặp chàng họa sĩ, nói chuyện với mẹ các sự kiện đều không làmsáng tỏ được vụ việc, thậm chí còn làm cho vụ án rối thêm Tuy nhiên mỗi câu chuyện nhỏtrong tác phẩm lại có những ý nghĩa riêng về thân phận của con người
Một cái phi lý nữa, không nói đến những tình tiết liên quan đến Joseph K., chính bảnthân K cũng không giải quyết được vấn đề của mình mà quá trình tìm hiểu của anh cũng chỉ
xoay quanh số phận con người Chính anh cũng phải thốt lên rằng: ““Như mộ con chó!”,
anh nói, như để gửi lại nỗi nhục nhã ở đời.” [1, tr 205]
Như vậy, toàn bộ câu chuyện là một nút thắt lớn, bên trong là những nút thắt nhỏ,toàn bộ đều không thể nào mờ ra được Đây là cái phi lý nhất đối với cốt truyện của một tiểuthuyết
Trang 202.2 Không gian và thời gian phi lí
2.2.1 Không gian phi lí
“Cái phi lý” là một dụng ý nghệ thuật trong việc tạo dựng không gian của tác giả.Nhân vật của Kafka tồn tại trong một thế giới vô nghĩa với những mê cung cuộc đời, nhữngthiết chế quyền lực vô hình, một không gian lãnh đạm ngột ngạt, không lối thoát Nhưngđiều nghịch lí là các nhân vật lại hoàn toàn thích nghi với thế giới đó, thậm chí không chịunổi khi tách rời nó Franz Kafka miêu tả con người trong một thế giới mà ta cảm nhận được
là hình ảnh của những cơn ác mộng với những nỗi lo âu trần thế, thế giới thực chỉ đượcnhắc qua, còn thế giới ảo lại được miêu tả đến từng chi tiết, khiến cái ảo hiện lên như là cáithực Trong Vụ án Kafka đã tạo ra được những hình tượng không gian mới mẻ, hiếm thấytrong lịch sử văn học trước đó: không gian phi địa danh, không gian bị biến dạng, khônggian mê cung
Không gian phi địa danh nó chẳng mang đến một ý niệm nào về một khoảng không
gian cụ thể, nó không gắn với địa danh có thực “Nhưng đến đầu phố Xanh Juyn, nơi có địa
chỉ tòa nhà, anh dừng lại một lát, chỉ thấy hai bên những dãy nhà cao xam xám một kiểu giống nhau, những khối nhà tồi tàn cho người nghèo thuê” [1] Một nhà thờ, một ngân
hàng, một khu phố, một ngôi nhà, một tòa án không ai biết ở đâu, tất cả các địa đểm chỉđược phân biệt bởi những danh từ chỉ chức danh, nhiệm vụ như vậy, hoàn toàn không thấy
có tên riêng Cách phác họa không gian này của Kafka khiến ta liên tưởng đến những câu
chuyện cổ tích được mở đầu bằng: “ngày xửa, ngày xưa, ở một làng nọ ” [1] Chính nó
làm cho không gian trở nên huyền thoại, xa xăm đồng thời mang tính khái quát cao Khi nókhông phải là cái gì cụ thể thì nó có thể là cả thế giới này Tính phi địa danh ấy khiến khônggian trở nên phiếm chỉ, mơ hồ, trừu tượng, nó mặc nhiên tố cáo sự “tồn tại” chơi vơi của
con người “Bởi vì chúng ta giống thân cây trong tuyết Vẻ ngoài chúng nằm bóng mượt và
một cú đẩy nhẹ cũng làm chúng lăn Không, điều đó không thể nào thực hiện được vì chúng gắn liền với mặt đất Nhưng nhìn kìa, ngay đấy chỉ là vẻ bề ngoài” [1] Không có gì là vững
chãi, sự tồn tại cũng là vẻ bề ngoài, dường như Kafka muốn truyền tải cho độc giả thấy vậy.Mất điểm tựa, sự tồn tại của con người chỉ là sự “ký gửi” Trong thế giới phi địa danh,không chỉ là cảm giác vô định , hoang mang mà con người dường như nghi ngờ ngay chính
sự tồn tại hiện tại của mình Tính phi địa danh còn tạo ra khả năng di động của không gian
Trang 21Vì không có vị trí cố định nên không gian câu chuyện vừa gần vừa xa, tùy theo chiều liêntưởng, tưởng tượng của người đọc Đó có thể là không gian ở đất nước mà tác giả đang sinhsống, hay không gian của một nước Châu Âu nào đó Nó lại có nét gì giống với ngôi làngcủa bạn, khố của bạn hoặc một khoảng không gian bạn từng chứng kiến, cũng có thể đó chỉ
là không gian trong mơ Trong khoảng không gian ấy nó bao chứa sự tồn tại của các nhânvật trên trái đất này Điều đó có nghĩa là bi kịch của nhân vật vẫn có thể xảy ra với mọi sốphận Vì vậy, nó mang đến một cảm giác bi quan vừa mơ hồ, huyền ảo không có thực Bởi
vì trong cuộc sống này, đâu ai biết rằng ngày mai mình sẽ ra sao? Cái tài tình của Kafkachính là ở sự hào trộn những cảm giác thực – hư đầy ám ảnh ấy Có lúc, Kafka nhắc đến tên
đường, phố “đầu phố Xanh Juyn, nơi có địa chỉ tòa nhà” [1], nhưng cũng thêm được điều
gì cả Vì nó ở đâu, không ai biết? nó càng làm thêm tính mơ hồ, phi thực của không giansiêu thời gian Giữa thế giới phi địa danh ấy, chỉ thấy ẩn hiện trong tác phẩm cái mờ mờ,
chao đảo, chông chênh giữa hai bờ hư thực của cảnh vật và con người: “người khách nước
Ý chợt đến lại chợt đi, mất hút” [1] Tất cả đã tắm đẫm cho thế giới nghệ thuật trong tác
phẩm Vụ án của Franz Kafka một không khí huyền thoại nhiều chiều liên tưởng
Không gian bị biến dạng tái hiện không gian trong sáng tác của mình, Franz Kafkakhông bê y nguyên, trần trụi không gian hiện tại mà bằng những thủ pháp riêng, ông “tổchức lại”, làm xô lệch, méo mó hay co giãn nó theo những chiều suy tưởng mới nhiều khiđến kỳ quái Ở đó người đọc nhận ra sức tưởng tượng của Kafka thật vô bờ bến
Không gian đời tư trong tác phẩm của Franz Kafka là không gian của những cănphòng, những ngôi nhà của các nhân vật Thế nhưng khác hẳn với những điều đó những căn
phòng trong tác phẩm của Kafka lại có sự không bình thường Mở đầu tác phẩm Vụ án ta đã
thấy căn phòng của Jôzep K., của Bơcxne bị xáo trộn bởi hai tên thanh tra vô cớ đến bắt K
vô cớ Ở đây, không gian đời tư của nhân vật bị xâm phạm một cách thô thiển và mất lịch sựkhi “cái phi lý” xuất hiện Tất cả quần áo, bữa sáng của Jôzep K đã trở thành chiến lợiphẩm cho những kẻ đến bắt mình Khi phòng ngủ, phòng riêng là nơi mà người lạ có thể ravào tự do, con người sẽ trở nên bị động, hoang mang Thế giới bên ngoài con người trởthành thù địch với con người, biến sự riêng tư thành hình ảnh lố bịch, đáng cười trước conmắt xã hội Điều đó có nghĩa rằng, tự do cá nhân của con người trở thành điều quý giá hơnbao giờ hết Từ phút giây ấy, Jôzep K không bao giờ được yên ổn, anh ta luôn phải đối mặt,quay cuồng trong vụ án kỳ lạ không biết nguyên nhân, cho đến khi kết thúc cuộc đời mà vẫn
Trang 22chưa tìm được đáp số Hầu hết các căn phòng trong tác phẩm Vụ án đều nhuốm một màu tối
tăm, tù túng, ngột ngạt Nhà luật sư Hun được miêu tả là “một ngôi nhà tối tăm”, “thiếu
sinh khí”, “không có ánh sáng, chẳng hương người” [1], cộng với sự bài trí một cách kệch
cỡm của những căn phòng: phòng ngủ của Hun tối thui, chật chội đối lập với phòng bếp củaLeni rộng thênh thang, gợi lên vị trí đối lập ngược đời giữa một cô hầu gái và một ông chủ.Cuộc sống đôi khi vẫn hay xảy ra những chuyện ngược đời như vậy nhưng mà chẳng ai làm
gì được Căn phòng của họa sĩ Titoreli được miêu tả thật kinh khủng “Đó là một xó xỉnh tồi
còn tồi tàn hơn cái xó của tòa, với các ngôi nhà tối tăm hơn và các đường phố đầy một thứ bùn làm đen cả tuyết đương tan Trong ngôi nhà họa sĩ ở, cái cổng lớn chỉ có một cái của duy nhất mở ra một cái lỗ khoét trong tường, khi lại gần K nhìn thấy bất thình lình tóe ra một thứ nước khủng khiếp màu vàng và bốc khói làm cho chuột sợ cũng phải bỏ chạy” [1].
Căn phòng của họa sĩ ở trên tầng nóc “không khí ngột gạt khó thở; cầu thang kẹp giữa
những bức tường lớn, chẳng có sân thông gió, chỉ thỉnh thoảng ở phần tít trên cao có trổ những ô của tò vò bé tí xíu” [1] Sống trong căn phòng thấp lè tè, không có cửa sổ và kê vừa
đủ một chiếc giường hẹp Họa sĩ Titoreli sống trong một căn phòng mà theo Jôzep K
“Chưa bao giờ tự mình quan niệm nổi một cái buồng con tồi tàn như thế mà người ta có thể gọi được là xưởng vẽ Ngang dọc mỗi chiều không nổi lấy được trông hai bước chân” [1].
Tệ hại hơn, căn phòng lại bừa bộn những chăn, gối, đệm, quần áo, tranh ảnh và đặc biệt làchưa được thông khí Thế giới đồ vật, không gian ngột ngạt đã chiếm không gian tồn tại conngười Con người quá nhỏ bé trước thế giới, sự tồn tại của con người là không thực, tồn tại
mà thế giới, sự tồn tại của con người là không thực, tồn tại mà mà như không tồn tại, sống
mà dường như đã chết Căn phòng thật ngột ngạt và đáng sợ vậy mà lại trở thành nơi “ăn
đời ở kiếp” của một họa sĩ Nơi đây chính Titorelli làm nô lệ cho chính căn phòng của mình
hơn là sống với nó Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, Kafka đã thật sự thành công trong việcdồn nén không gian đến mức không tưởng, xáo trộn vị trí một cách có chủ đích, khiến cácchiều không gian bị méo mó, xiêu vẹo trong cái tối tăm đến ngạt thở Trong những căn nhà
“thấp lùn, rẹo rọ” cái ngột ngạt chính là nguyên nhân sự bào mòn nhân tính, hủy hoại tình
người Cuộc sống mòn mỏi vô nghĩa trong cái tối tăm chật hẹp đã khước từ mọi thấu hiểu
Sự tha hóa tính người khiến những tên thanh tra của tòa án dễ dàng quỳ gối, van xin sự bốthí từng đồng của tay bị cáo mình vừa bắt Cái nghèo vốn thường đi liền với cái hèn, nhất làtrong thế giới mà sự đảm bảo về những giá trị về đạo đức thật sự là quá lỏng lẻo, gần như bịtan rã hết trong sự mòn giữa của tình người Kafka đã thật sự hành công khi làm cho độc giả
Trang 23ngột thở trong bầu không khí thiếu sinh khí, tù đọng Con người hoàn toàn cô đơn trong thếgiới không gian bị cắt lìa với thế giới
Không gian tòa án được miêu tả cũng thật mơ hồ, không biết rõ địa chỉ ở đâu, tìmkiếm mãi lòng vòng và phải giả danh làm bác thợ mộc tên Lanx để tìm kiếm Và khi đã
được giới thiệu và được người phụ nữ mời vào “K tưởng như đặt chân vào một cuộc họp
công cộng Đám đông có đủ các hạng người ngồi chật ních trong căn phòng có hai cửa sổ, quanh phòng là một ban công sát trần, người đứng chen chúc, ai cũng phải lom khom, đầu
và lưng đụng vào trần nhà Chẳng ai buồn để ý khi có anh bước vào” [1] Tòa án ban ngày
là phòng xử án, ban đêm trở thành phòng ngủ riêng của vợ chồng viên mõ tòa trong khi K
đang say sưa buộc tội thế giới tòa án thì: “chẳng hiểu thế nào, K chỉ thấy một gã đàn ông
lôi chị vào cái xó cửa và ghì chặt chị vào lòng Nhưng không phải chị ta kêu mà là gã đàn ông; gã há hốc mồm và nhìn lên trần nhà”, “một nhóm người xúm quanh các diễn viên của màn kịch ấy và những kẻ đứng trên ban công có vẻ khoái trá được giải khuây trong không khí nghiêm túc mà K đã đem đến cho cử tọa” [1] Nơi pháp luật hiện hình trang nghiêm
nhất cũng là nơi nó dễ dàng trở nên tầm thường nhất Điều lạ lùng ở Kafka là trong khingười đọc ngỡ ngàng vì thực tại ấy thì đối với nhân vật của ông dường như là quá bìnhthường, chỉ là một trò “giải khuây” có thể thấy ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ lúc nào Cố tình kéo
“cái phi lý”gần lại với điều bình thường hằng ngày, Kafka đã tô đậm ám ảnh về sự tồn tạimột thế giới phi lý trong mắt, trí óc và trong tâm thức người đọc Chúng ta chưa bao giờthấy sự pha tạp một cách thô bỉ và kệch cỡm đến thế của hai loại không gian vốn không thểgiao hòa này Nếu như ở trên ta thấy cuộc sống đời tư của con người bị xâm phạm trầmtrọng bởi thế giới cộng đồng thì đến đây người đọc lại càng thấy bàng hoàng hơn vì khônggian cộng đồng đã mất lãnh địa và ranh giới của sự tôn nghiêm cần thiết Chính ngòi bút sắcsảo của Kafka đã làm khuấy động tòa án phi nhân cách trong thế giới ấy, ông đã trộn lẫngiữa cái đời thường trần tục với cái thiêng liêng, nghiêm trang của đạo đức con người.Trong khi cố tình co hẹp không gian đời tư, bóp nghẹt cuộc sống của con người thì ngượclại Kafka đã mở rộng tối đa đường biên giới của không gian cộng đồng không gian hànhchính, pháp luật, tôn giáo, Các văn phòng tư pháp của tòa mọc lên khắp nơi khiến Jôzep
K hoàn toàn bị “mù tịt” không thể biết đâu là nơi ở, đâu là phòng làm việc của tòa Bởi vì
cả hai đã chỉ còn là một từ khi K bị bắt, nên con người bơ vơ trong sự dồn đuổi ráo riết củaluật pháp Nhà thờ- chính là nơi ngự trị của đấng tối cao, Đấng Cứu Thế cứu giúp con người