GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA PHÓNG SỰ CƠM THẦY CƠM CÔ (VŨ TRỌNG PHỤNG) LỜI MỞ ĐẦU Phóng sự là một thể loại xuất hiện khá muộn ở Việt Nam, tuy nhiên khi vừa đặt chân lên mảnh đất này vào những năm 1930 đến năm 1945 thì lập tức nó đã tạo dựng cho mình một vị thế vững chắc với những tên tuổi như: Tam Lang – Vũ Đình Chí với phóng sự Tôi kéo xe; Vũ Trọng Phụng, chỉ với 27 tuổi đời và ngót một thập niên cầm bút nhưng con người “bần bạc” Vũ Trọng Phụng, cây bút cần mẫn “không bao giờ ráo mực”, đã để lại một di sản văn học đồ sộ với những tác phẩm thật sự “đáng khóc và đáng cười” (Ngô Tất Tố), trong số đó có những cuốn được coi là đỉnh cao của văn học. Bên cạnh là “một tiểu thuyết gia xuất sắc” ông còn là “Ông vua phóng sự đất Bắc”. Các bài phóng sự của Vũ Trọng Phụng đã đưa người đọc đi đến được với tận cùng ngõ ngách những mặt trái, những mặt khuất lấp trong xã hội Tư sản thành thị Việt Nam lúc bấy giờ. Những phóng sự nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng phải kể đến Kỹ nghệ lấy Tây, Lục xì, Một huyện ăn Tết, Cạm bẫy người và Cơm thầy cơm cô… Qua những thiên phóng sự này, Vũ Trọng Phụng đã thực sự phanh phui được những căn bệnh trầm kha của xã hội với những đói rét, bệnh tật, với những hỉ, nộ, ái, ố bất công của loài người …. Cây bút của Vũ Trọng Phụng đã đay nghiến, đã phô ra những cái xấu xa của xã hội để cho mọi người có thể nhìn thấy được sự thật rồi giúp họ giác ngộ vươn tới những điều công bằng, lương thiện. Không chỉ phơi bày sự thật xã hội mà qua những phóng sự của Vũ Trọng Phụng, người đọc còn có thể nhìn thấy được cái nhìn sắc sảo cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phẩm chất nghệ thuật và tính khoa học. Cơm thầy cơm cô cũng là một phóng sự mô tả hiện tượng những người dân thôn quê tìm ra đô thị do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, con sen thằng ở, thằng bồi thằng xe, bị bóc lột sức lực, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Ở đây nhà văn đã sớm phát hiện những hậu quả tha hóa, phi nhân hóa, gây ra bởi sự di dân, sự nhập cư, là những hiện tượng mà quy mô sẽ tăng lên hàng chục hàng trăm lần khi xã hội ta bước sang thời công nghiêp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa. Đến với bài viết của nhóm hôm nay, chúng tôi mong rằng một lần nữa có thể giới thiệu, bình luận thêm để khẳng định vị trí cũng như giá trị của Cơm thầy cơm cô ở nhiều mặt để từ đó chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về cảnh khốn khổ của người dân khiến họ để có cái ăn, có một chỗ ngủ mà họ phải đi ở đợ và chịu nhiều bất hạnh, cũng như nghe được những tiếng kêu ai oán dưới sự bóc lột, hành hạ tàn bạo không thương tiếc của bọn chủ nhà. Rồi từ đó thêm hiểu thêm yêu những con người dân quê được sánh như “loài động vật ngắn cổ”, quanh năm chỉ biết sống trong vòng lẩn quẩn và tiếng kêu than của họ vẫn chưa đến được Chính phủ vì mãi có bức tường ngăn trở.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
CỦA PHÓNG SỰ CƠM THẦY CƠM CÔ
(VŨ TRỌNG PHỤNG)
TIỂU LUẬN MÔN HỌC Phân môn : Phóng sự Vũ Trọng Phụng Nhóm sinh viên : Trần Khoa Nguyên - K39.601.082
Tưởng Anh Thư – K39.601.126
Lê Thị Ngọc Tuyết – K39.601.146 Nguyễn Bá Linh Chi – K39.601.011
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PGS TS NGUYỄN THÀNH THI
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG 5
1.1 Tác giả và tác phẩm 5
1.1.1 Tác giả 5
1.1.2 Tác phẩm 6
1.1.2.1 Nguồn gốc – Xuất xứ 6
1.1.2.2 Tóm tắt tác phẩm 6
1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội 6
Chương 2 PHÓNG SỰ CƠM THẦY CƠM CÔ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG – NHỮNG GIÁ TRỊ VỀ MẶT NỘI DUNG 9
2.1 Cơm thầy cơm cô – Sự lột trần những mặt trái của xã hội đương thời 9
2.1.1 Hiện trạng và bản chất của mối quan hệ chủ - tớ - mối 9
2.1.1.1 Thân phận nô lệ của những con người dấn thân vào con đường “cơm thầy cơm cô” 9
2.1.1.2 Bộ mặt tàn bạo, dâm đãng, đồi truỵ của bọn nhà chủ 12
2.1.1.3 Sự độc ác, mất nhân tính của bọn buôn người 14
2.1.2 Không gian “nhà chứa” – Những góc khuất ít người biết đến 15
2.2 Thử tìm hiểu giá trị nội dung của các hình tượng “nhân vật vùng lên” 16
2.2.1 Cái Đũi 16
2.2.2 Các nhân vật vùng lên khác 18
Chương 3 PHÓNG SỰ CƠM THẦY CƠM CÔ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG – NHỮNG GIÁ TRỊ VỀ MẶT NGHỆ THUẬT 22
3.1 Nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn trần thuật 22
3.1.1 Cái tôi phóng sự và cái tôi tiểu thuyết 22
3.1.2 Sự luân phiên các “tư cách “tôi””: “tôi” “tác giả” 25
3.2 Sự thành thạo trong việc vận dụng nhuần nhuyễn các thủ pháp quay chụp của phóng sự 28
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 30
3.3.1 Hình tượng các nhân vật đám đông cùng cảnh ngộ 30
3.3.2 Sự chọn lựa “cá thể hoá” hay là “phỏng vấn tác nghiệp” 31
Trang 33.4 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ trào phúng và mang hàm ý sâu xa 31
KẾT LUẬN 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Phóng sự là một thể loại xuất hiện khá muộn ở Việt Nam, tuy nhiên khi vừa đặt chân lên mảnh đất này vào những năm 1930 đến năm 1945 thì lập tức nó đã tạo dựng cho mình
một vị thế vững chắc với những tên tuổi như: Tam Lang – Vũ Đình Chí với phóng sự Tôi
kéo xe; Vũ Trọng Phụng, chỉ với 27 tuổi đời và ngót một thập niên cầm bút nhưng con
người “bần bạc” Vũ Trọng Phụng, cây bút cần mẫn “không bao giờ ráo mực”, đã để lại một di sản văn học đồ sộ với những tác phẩm thật sự “đáng khóc và đáng cười” (Ngô Tất Tố), trong số đó có những cuốn được coi là đỉnh cao của văn học Bên cạnh là “một tiểu thuyết gia xuất sắc” ông còn là “Ông vua phóng sự đất Bắc” Các bài phóng sự của Vũ Trọng Phụng đã đưa người đọc đi đến được với tận cùng ngõ ngách những mặt trái, những mặt khuất lấp trong xã hội Tư sản thành thị Việt Nam lúc bấy giờ Những phóng sự nổi
tiếng của Vũ Trọng Phụng phải kể đến Kỹ nghệ lấy Tây, Lục xì, Một huyện ăn Tết, Cạm
bẫy người và Cơm thầy cơm cô…
Qua những thiên phóng sự này, Vũ Trọng Phụng đã thực sự phanh phui được những căn bệnh trầm kha của xã hội với những đói rét, bệnh tật, với những hỉ, nộ, ái, ố bất công của loài người … Cây bút của Vũ Trọng Phụng đã đay nghiến, đã phô ra những cái xấu
xa của xã hội để cho mọi người có thể nhìn thấy được sự thật rồi giúp họ giác ngộ vươn tới những điều công bằng, lương thiện Không chỉ phơi bày sự thật xã hội mà qua những phóng sự của Vũ Trọng Phụng, người đọc còn có thể nhìn thấy được cái nhìn sắc sảo cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phẩm chất nghệ thuật và tính khoa học
Cơm thầy cơm cô cũng là một phóng sự mô tả hiện tượng những người dân thôn quê
tìm ra đô thị do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, con sen thằng ở, thằng bồi thằng xe, bị bóc lột sức lực, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội Ở đây nhà văn đã sớm phát hiện những hậu quả tha hóa, phi nhân hóa, gây ra bởi sự di dân, sự nhập cư, là những hiện tượng mà quy mô sẽ tăng lên hàng chục hàng trăm lần khi xã hội
ta bước sang thời công nghiêp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa
Đến với bài viết của nhóm hôm nay, chúng tôi mong rằng một lần nữa có thể giới
thiệu, bình luận thêm để khẳng định vị trí cũng như giá trị của Cơm thầy cơm cô ở nhiều
mặt để từ đó chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về cảnh khốn khổ của người dân khiến
họ để có cái ăn, có một chỗ ngủ mà họ phải đi ở đợ và chịu nhiều bất hạnh, cũng như nghe được những tiếng kêu ai oán dưới sự bóc lột, hành hạ tàn bạo không thương tiếc của bọn chủ nhà Rồi từ đó thêm hiểu thêm yêu những con người dân quê được sánh như
“loài động vật ngắn cổ”, quanh năm chỉ biết sống trong vòng lẩn quẩn và tiếng kêu than của họ vẫn chưa đến được Chính phủ vì mãi có bức tường ngăn trở
Trang 5Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Tác giả và tác phẩm
1.1.1 Tác giả
Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) có bút danh Thiên Hư, quê ở làng Hảo, huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên, nhưng sinh ra và sống suốt đời tại Hà Nội, lâu nhất là ở phố Hàng Bạc Ông mồ côi cha từ rất sớm, được người mẹ góa hiền hậu tần tảo nuôi ăn học Vũ Trọng Phụng chỉ học hết tiểu học rồi phải đi làm kiếm sống Ông làm thư kí bán hàng, rồi đánh máy chữ cho nhà in, nhưng cả hai lần đều bị sa thải Sau đó, Vũ Trọng Phụng chuyên viết báo, viết văn và sống chật vật với nghề bạc bẽo đó Do làm việc quá sức, ông mắc bệnh lao phổi và mất khi mới được 27 tuổi đời, để lại người vợ góa và đứa con gái chưa đầy năm
Vũ Trọng Phụng suốt đời nghèo – “nghèo gia truyền”, nhưng về văn học, ông được xem là một kiệt tướng xuất sắc của dòng văn học hiện thực phê phán Ông viết văn rất sớm, viết nhiều và nhanh chóng nổi tiếng, Vũ Trọng Phụng là một tài năng đa dạng Ông viết truyện ngắn, phóng sự, tiểu thuyết, kịch nói, phê bình văn học, bình luận thời sự, chính trị, dịch thuật… Nhưng Vũ Trọng Phụng đặc biệt thành công ở hai thể loại: phóng
sự và tiểu thuyết
– Về thể loại phóng sự: Ông được báo chí đương thời suy tôn là: “Ông vua phóng
sự đất Bắc” Đáng chú ý là các tác phẩm: “Kỹ nghệ lấy Tây” (1934) viết về cái “nghề” lấy Tây để nuôi thân; “Cơm thầy cơm cô” (1936) viết về cảnh đời những người đi ở – Về thể loại tiểu thuyết có “Trúng số độc đắc”; Năm 1936, Vũ Trọng Phụng cho ra đời cùng một lúc ba cuốn tiểu thuyết “Vỡ đê”, “Giông tố”, “Số đỏ” Trong đó tiểu thuyết trào phúng “Số đỏ” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo vả đặc sắc hơn cả, xứng đáng là một kiệt tác bất hủ của nền văn học nước nhà
Tuy có nhiều mâu thuẫn trong tư tưởng và sáng tác song có thể nói, toàn bộ sáng tác của Vũ Trọng Phụng là tiếng nói căm hờn, mãnh liệt, ném thẳng vào cái xã hội thực dân, phong kiến tư sản hết sức bất công, tàn bạo, thối nát, cái xã hội mà ông gọi là “Chó đểu”
và “Khốn nạn” thời bấy giờ
– Hạn chế đáng tiếc của cây bút đầy tài năng này là tình cảm yêu thương gắn bó của ông với quần chúng lao động chưa có chiều sâu cần thiết để có cái gốc nhân đạo vững chắc Vì vậy, ông thường hoài nghi, bi quan về con người và có một số chỗ trong tác phẩm sa vào chủ nghĩa tự nhiên
Trang 6Ngoài hai thể loại chủa yếu nói trên, Vũ Trọng Phụng còn để lại nhiều chuyện ngắn tập hợp trong “Cái ghen đàn ông” – xuất bản năm 1938 và vở kịch “Không một tiếng vang” (1931)
1.1.2 Tác phẩm
1.1.2.1 Nguồn gốc – Xuất xứ
Trong giai đoạn 1933 – 1936 Vũ Trọng Phụng liên tục có những tác phẩm xuất sắc ở
cả hai mảng phóng sự và tiểu thuyết Trước Cơm thầy cơm cô đã có hai bài phóng sự nổi tiếng là Cạm bẫy người (1933) và Kỹ nghệ lấy Tây (1934)
Cơm thầy cơm cô là một trong chín tập phóng sự của của Vũ Trọng Phụng Tác phẩm
được sáng tác năm 1936, gồm có 9 chương
1.1.2.2 Tóm tắt tác phẩm
Cơm thầy cơm cô là một phóng sự mô tả hiện tượng những người dân thôn quê tìm ra
đô thị do hấp lực của “ánh sáng kinh thành” để rồi bị biến thành những vú em, con sen thằng ở, thằng bồi thằng xe, bị bóc lột sức lực, bị lạm dụng tình dục, bị buôn đi bán lại, không ít người biến thành trộm cắp, đĩ điếm, làm gia tăng các tệ nạn xã hội Ở đây nhà văn đã sớm phát hiện những hậu quả tha hóa, phi nhân hóa, gây ra bởi sự di dân, sự nhập
cư, là những hiện tượng mà quy mô sẽ tăng lên hàng chục hàng trăm lần khi xã hội ta bước sang thời công nghiêp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa
1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội
Giai đoạn lịch sử này tuy chỉ kéo dài trong 15 năm nhưng đã xảy ra rất nhiều biến cố
và sự kiện quan trọng làm thay đổi đời sống của nhân dân cả về vật chất lần tinh thần:
- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương (3-2 – 1930) là một bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam Từ đây cách mạng đã tìm được con đường đi đúng đắn và giành được nhiều thắng lợi to lớn
- Cuộc khửng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 đã khiến cho thực dân Phép phải ra sức
vơ vét, bóc lột nhân dân thuộc địa để bù lại thiệt hại của chúng và dốc sức vào chiến tranh: tăng sưu thuế, bắt phu, bắt lính,…
- Ngày 9 – 2 – 1930: Cách mạng Tư sản bị thất bại, tầng lớp tiểu tư sản trí thức hoang mang tới cao độ, họ cùng với giai cấp tư sản tìm đường thỏa hiệp với thực dân, hoặc chỉ còn thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc bằng con đường văn chương
- Cách mạng Vô sản từ cao trào đã đi đến lúc thoái trào:
- Từ cuối năm 1931, cách mạng Việt Nam bước vào thời kì thoái trào
- Từ cuối năm 1932, phong trào lại dần dần hồi phục
Trang 7- Cuối năm 1933, bóng đen chiến tranh phát xít đe dọa nhân loại Dưới sự lãnh đạo của quốc tế cộng sản, một phong trào rộng rãi chống phát xít và chiến tranh lan rộng trên thế giới Ở Pháp, Mặt trận nhân dân thành lập và dành được thắng lợi trong kì tuyển cử tháng 5-1936 Lợi dụng thời cơ đó, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, mặt trận thống nhất Ðông Dương ra đời, tạo nên một phong trào dân chủ sâu rộng chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc bao gồm công, nông, dân nghèo, tiểu thương, tiểu chủ, học sinh, viên chức v.v và một số tư sản
- Tháng 9 – 1939, Chiến tranh Thế giới II bùng nổ Mặt trận Dân chủ tan vỡ Lợi dụng tình thế đó, bọn thống trị Ðông Dương thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta vừa giành được Ðảng phải rút vào bí mật Thời kì này phong trào cách mạng lên cao, một phong trào giải phóng dân tộc bùng lên, cả nước sục sôi chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa Tháng 8-1945 dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cách mạng Việt Nam dành được thắng lợi, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đây cũng chính là một giai đoạn lịch sử vô cùng rối ren, đen tối về kinh tế cũng như kiến trúc thượng tầng:
- Dưới ách thống trị của cả thực dân và phong kiến, nền kinh tế nước ta gần như kiệt quệ
vì nạn sưu thuế, bắt phu, bắt lính, khiến cho hàng loạt người Việt chết đói, tiêu biểu nhất
là nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người dân Việt Nam
- Bên cạnh đó các thế lực cai trị còn mâu thuẫn lẫn nhau: Mâu thuẫn giữa thực dân phong kiến, mâu thuẫn giữa phong kiến với tư sản, mâu thuẫn giữa tư sản với thực dân
- Những lực lượng đối kháng giao tranh với nhau, và có những chiến tuyến rõ rệt như cách mạng, phản cách mạng; có người yêu nước nhưng hoang mang, có người lơ láo, bàng quang, lẩn trốn
Chính sách cai trị của bọn thực dân Pháp đã dần dần trở thành mảnh đất có lợi cho chúng;
- Tiếp tục khai thác đến kiệt quệ nền kinh tế nước ta
- Tiếp tục thi hành chính sách ngu dân khiến tỉ lệ người dân mù chữ lên đến 90%
- Cấm đoán nhiều loại sách báo tiến bộ cả trong lẫn ngoài nước
- Thực dân Pháp đưa vào nước ta đủ thứ rác rưởi của văn hóa Tư Sản phản động phương Tây, cùng với cặn bã phong kiến, chúng gọi là kết hợp Văn minh Âu Mỹ với Quốc hồn quốc túy An Nam
Một ý thức mới, một tâm lí mới lan tràn:
- Ý thức tâm lí tư sản và tiểu tư sản:
Trang 8• Trí thức, thành thị âu hóa, chịu ảnh hưởng của những sinh hoạt mới, của giai cấp mới và của văn hóa tư sản phương Tây
• Lối sống hưởng lạc phát triển ở thành thị: ăn mặc theo mốt thời trang, lối sống tài hoa son trẻ, vui vẻ trẻ trung, dạy họ cách hưởng thụ cuộc đời một cách hiện đại và thú vị nhất
• Báo chí tư sản, tiểu tư sản nhất là tờ báo Phong hóa, Ngày nay thường huấn luyện phụ nữ cách cải tiến y phục, huấn luyện thanh niên cách chinh phục gái đẹp
- Giai cấp tư sản Việt Nam thất bại về mặt kinh tế và chính trị hoang mang, dao động, xoay ra đấu trang về mặt văn hóa chống giáo lí phong kiến để đòi tự do cá nhân:
• Chống giáo lí phong kiến như cảnh mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chồng, chế độ
đa thê, v.v
• Ðề cao hạnh phúc cá nhân, đề cao tình yêu lứa đôi
Trang 9Chương 2 PHÓNG SỰ CƠM THẦY CƠM CÔ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG – NHỮNG GIÁ TRỊ VỀ MẶT NỘI DUNG
2.1 Cơm thầy cơm cô – Sự lột trần những mặt trái của xã hội đương thời
2.1.1 Hiện trạng và bản chất của mối quan hệ chủ - tớ - mối
2.1.1.1 Thân phận nô lệ của những con người dấn thân vào con đường “cơm
thầy cơm cô”
Cơm thầy cơm cô được đăng đầu tiên trên Hà Nội báo từ số 12, ra ngày 25-03-1936
đến tháng 5-1936 (NXB Minh Phương, Hà Nội, in năm 1937) và được xem là tập phóng
sự xuất sắc nhất của Vũ Trọng Phụng Trong xã hội lúc ấy, nhu cầu tìm kiếm con ở (hay chính là người giúp việc) trong các gia đình tư sản thượng lưu không còn mấy xa lạ nữa
Dần dần, những “chợ bán người” được hình thành và cũng là mục tiêu của những con
người rách rưới, lam lũ, vì nghèo đói, cùng quẫn, không thể kiếm nổi miếng cơm ở nơi
thôn quê, nên đành như những con thiêu thân lao về “ánh sáng của Kinh thành” để kiếm sống Nhưng Hà thành hoa lệ vẫn gọi họ đến để “ban ngày họ ra ngồi bày hàng ở ngã
ba, ngã bảy”, những chợ bán người, trở thành món hàng trôi nổi trong tay những mụ
“đưa người” để cho những nhà giàu cần thuê đầy tớ đến kén chọn, mặc cả với giá tiền
công “rẻ mạt, thảm hại”; và ban đêm, họ lại “được nằm trong một xó sân, ngửi mùi nước
cống, mùi cứt gà và cứt người, nhịn đói nằm co mà nhìn trời” Họ đến Hà thành để “chết đói một lần thứ hai sau khi bỏ cửa bỏ nhà” Khi có việc làm thì phần đông họ phải chịu
cảnh “ăn đói làm no”, bị ngược đãi, bị đày đọa ức hiếp với biết bao bất trắc, rủi ro,…
rình rập phía trước Tác phẩm tập trung viết về cảnh đời khốn khó, tủi nhục của những người đi ở và sâu bên trong đó là cuộc sống tối đen, cạm bẫy trong mỗi gia đình của từng con sen
Có thể nói, cuộc sống “cơm thầy cơm cô” đã loàm thui chột bản tính lương thiện của
con người, làm tha hóa những người dân quê vốn hiền lành, chất phác “Nó đã làm cho
bọn trẻ đực vào hỏa lò với một bọn trẻ cái làm nghề mãi dâm” Vũ Trọng Phụng nhận
thấy rằng sự sa ngã của kia có hai nguồn gốc chính: Một là hàng người giàu sang trong
xã hội được đủ quyền để gây ra nó Đó là những ông chủ, bà chủ với đủ mọi tầng lớp, chức bậc: me Tây, nhà tư sản, lão thầy khoán, ông tham… với đầy đủ sự tham lam, dâm đãng nhất trên đời Người thì lừa gạt thân xác con sen, thằng ở để thỏa mãn nhục dục của mình, kẻ thì cướp trắng trợn công sức lao động, đưa đẩy những người làm công của mình vào tù chỉ vì vài đồng bạc lẻ,… Và nguyên nhân thứ hai là hạng người lầm đường muốn theo gót bả giàu sang để đến nỗi mật đi lương tâm mình Nhân vật “nạn nhân tha hóa” của Vũ Trọng Phụng thường thay đổi môi trường, hoàn cảnh sống và kéo theo nó là những biến động dữ dội trong tính cách để rồi dù cho nhân vật “tôi” trong “Cơm thầy
Trang 10cơm cô” đã nhiều lần muốn tìm ở học “ những dấu vết cũ của một cô gái nhà quê, ngoan
ngoãn, hay làm, có những cái mơ màng bình dị (mặc dầu là sát mặt đất), nhưng mà là trong sạch, suốt đời không dám nghĩ đến cái bả vật chất, những vẻ phồn hoa của đời, nhẫn nhục mà sống với một người chồng cục mịch, và chỉ biết có việc chịu khó làm ăn.”
nhưng sự thực thì đó vẫn chỉ là “một ả thiện nghệ trong việc khiêu dâm và mãi dâm” (về
cái Đũi) Ta không còn nhìn thấy sự hồn nhiên, chân chất ở những con người ấy nữa Có một thằng bé đi ở ban đầu đã thương lượng được với mụ chủ trả công mỗi tháng năm hào, tuy phải “gánh đầy ba bể nước, bổ hết hai mươi tạ củi”, và bị chủ nhà chửi mắng vô
cớ nhưng nó vẫn cố gắng nhẫn nhịn Cho đến một ngày, nó cảm thấy “bà chủ kiếm chuyện chửi mắng suốt ngày cho mình không ở được” nên xin nghỉ liền bị nhà chủ kẹt xỉn quỵt luôn tiền công Thật thà là thế, nhưng cuộc đời nó gặp nhiều loại chủ không ra gì nên buộc nó phải gian manh lên Nó sẵn sàng đóng kịch cùng ông chủ sẵn sàng đập vỡ chén
bát để ông chủ chửi mắng, “ra oai thế để chặn họng vợ” và “bà vợ cuối tháng mà trừ
lương thì ông chồng dúi cho mà bù vào” (trang 30/35) Về sau, công việc của nó càng
nhàn tản hơn khi mụ vợ cũng đâm ra nghiện cờ bạc, không còn quan tâm mấy đến nhà
cửa nên thành thử nó “chỉ ngủ suốt ngày, chả phải làm gì cả”, như thế “mới sướng”
Chúng ta chẳng còn nhìn đâu ra được bóng dáng thằng ở hay lam hay làm ngày nào nữa
mà chỉ còn lại một tên lười biếng, chỉ mong cho ông bà chủ bê trễ việc nhà để nó được
thảnh thơi Hay có tên vì căm ghét bố ông chủ do “chửi tớ, đánh tớ” (theo ngôi kể của hắn) mà dựng chuyện, bày mưu để gây bất hòa cho gia đình, đó là “đem cứt chó để lên
đầu cái phản dưới bếp là chỗ của ông cụ ngủ”, ông cụ tưởng là chó của thằng con nên
“tìm ngay xe điếu vụt cả ba con chó”, và hắn chỉ việc đủng đỉnh méc lại, thế là “lão chủ
tớ chửi tiên sư ông cụ, tức là chửi bố” và kể từ đó “chính tớ cũng chả cần đếm xỉa đến
bố ông chủ là gì nữa”…
Dù chưa thực sự khắc họa “nhân vật tha hóa” rõ nét như Nghịch Hách, Xuân tóc đỏ,
Khoát, nhưng khi tiếp cận với hệ thống nhân vật trong Cơm thầy cơm cô, ta cũng có thể
nhận ra phần nào tình trạng con người bị bóp nghẹt bởi hoàn cảnh xã hội thối nát, tiền bạc, khiến con người đánh mất đi chất người của mình Nhu cầu tìm con ở trong các gia đình quý tộc đã sản sinh ra nhưng “chợ buôn người” và không thể thiếu những mụ mối
Mụ mối trong Cơm thầy cơm cô với cử chỉ, ngôn ngữ làm hiện lên một loại người nhanh
nhẹn, khôn khéo, giảo hoạt, kiếm ăn bằng nghề làm mối trong việc mua, bán người Tuy
nhiên, với mụ, đưa mối người ở cũng giống như trao tay một món hàng, mụ cho “bọn
cơm thầy cơm cô nằm ngổn ngang như lợn cả”, “trên mặt sân chỉ có mấy cái chiếu, mà tường thì vàng ệch những khói ám”, mỗi người ở qua tay bà chẳng cần tên tuổi, chỉ cần
nhìn qua và mụ ta định giá “đứa năm, hào, đứa ba hào”, “ít nhất cũng hai đồng bạc”…
Khi có người đến hỏi, mụ ta mặc cả, kề cà từng tí một mà chẳng cần để ý đến sắc mặt ai
Trang 11Chả biết từ lúc nào, lọt vào tay mụ mối, gia nhập kiếp người ở, con người đã đánh mất
đi quyền tự do, làm chủ của chính mình Chưa kể, sau khi được mối lái, trở thành người làm công, cuộc đời “không bằng giá súc vật” Chính nhân vật “tôi” cũng đã phải thốt lên:
“Thật vậy, tôi thấy vài con chó còn được chủ mua thịt bò cho ăn Có khi con chó mỗi tháng khiến chủ tốn kém hơn một đứa tôi tớ trong nhà” Phận làm con ở, những con
người thấp bé ấy chỉ có một mong muốn “và một cửa đãi mình cho vừa phải, đừng bắt
mình làm quá sức, đừng đánh mình, chửi mình” là được Mong ước đó tưởng như hết
sức bình thường nhưng trong xã hội lúc ấy, qua bao mảnh đời của họ, chúng ta lại thấy không dễ gì thực hiện được
Bên cạnh mụ mối, sự tha hóa còn được thể hiện ở những ông bà chủ mà đa số họ đều
là những người tiếp cận nền văn hóa, giáo dục phương Tây hay chí ít là đang tận hưởng lối sống “rất Tây” Tưởng chừng như những con người ấy sẽ mang một tư tưởng của thời đại mới, tự do, tân thời nhưng không Đó không khác gì những con sâu mọt của xã hội với lối sống bệ rạc, bê trễ, dâm ô qua lời kể của những thằng ở, con sen Có gia đình chủ
nhà 3 thế hệ thế mà ăn cơm, mỗi người “thổi một niêu”, “ai cũng có thức ăn riêng của
người ấy”, tuy cùng ănh với nhau nhưng nếu ai đưa đũa xâm phạm đĩa thức ăn của người
khác thì tức thì “sẽ có cái lườm đến nổ trời”, trót ăn vài miếng thì tức khắc sẽ bị nói móc
nói mỉa chẳng kể trên dưới, đúng sai Có nhà chủ người ở vì phơi quần áo điện giật bị động kinh, tức khắc thải ra khỏi nhà, cũng có nhà chủ dâm ô, lăng loàn với cả người ở hay ăn quỵt công sức, kiếm cớ không trả lương dù thằng ở chỉ là một thằng bé Cái xấu
xa ẩn núp trong từng gia cảnh khác nhau khiến những phận người “cơm thầy cơm cô” mỗi khi làm điều gì sai cũng phải lo lắng tột độ, thậm chí phải bỏ trốn vì sợ hãi Hạng chủ ăn không nói có, tôi tớ chỉ làm vỡ một cái lọ cổ mà nhờ đến cảnh sát lùng sục, sau
đó gán thêm cho nó tội ăn cắp – một cái tội mà nó không hề phạm phải và luôn mồm càu
nhàu: “Hai ba trăm bạc của người ta chứ ít à?” Thế mới thấy, người ta sẵn sàng dìm
chết một con người trong nhà khám bằng đủ mọi thủ đoạn chỉ vì nhỡ làm phật ý mình
Đọc Cơm thầy cơm cô, người ta thấy được những gì gọi là hài hước, bi đát, rùng rợn
trong những vết thương xã hội lúc bấy giờ, xót xa cho những số phận con người bị xã hội
“chó đểu” chà đạp, giẫm nát Ông đã tạo dựng nên một thế giới hỗn loạn, bát nháo với những lời nguyền rủa, chua cay độc địa cũng như những lời trải lòng, hồi tưởng của nhân vật Cách thức tiếp cận hiện thực trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng cũng là cả một sự
tìm tòi, khám phá, góp phần không nhỏ trong việc tạo nên giá trị cho thiên phóng sự Cơm
thầy cơm cô
Trang 122.1.1.2 Bộ mặt tàn bạo, dâm đãng, đồi truỵ của bọn nhà chủ
Ở đoạn cuối chương 9 của tác phẩm, khi tác giả có gặp mặt Nguyễn Công Hoan để bàn về cái việc “tả chân” trong phóng sự, Vũ Trọng Phụng nói: “Kể ra làm một thiên phóng sự về chủ nhà và đày tớ thì dễ có nhiều lắm Nhất là về chỗ chủ nhà độc ác với đày tớ.”
Rõ ràng khi viết tác phẩm Cơm thầy cơm cô, nhà văn đã “gom” cho mình đủ kiến
thức và hiểu biết về cuộc sống cùng cực của những kiếp người làm thuê, đi ở, mà rõ ràng nhất là cảnh chủ nhà đày đọa, bóc lột, lợi dụng thân xác và sức lực người làm với đủ mọi chiêu trò tàn nhẫn
Bộ mặt tàn bạo, bần tiện của bọn chủ
Chủ cũng muôn loại chủ, nhưng đều là những gia đình có điều kiện thuê mướn người
về làm việc vặt trong gia đình Những con người làm thuê, vốn là những người có hoàn cảnh khốn khó, cùng cực, tìm đến thứ “ánh sáng đô thị” những mong có công việc và trang trải cho gia đình họ Thứ họ bán đi chính là công sức lao động đổi lấy thứ đồng lương ít ỏi mà những kẻ thuê họ vẫn mặc cả kì kèo từng chút một Ngay từ chương đầu, trong căn phòng tối tăm của hàng cơm, số phận bi đát của những người cơm thầy cơm cô dần hé lộ với biết bao chuyện buồn chuyện khổ: nào là đi làm bị chủ mắng chủ đánh hàng ngày, lương 4 hào một tháng ăn không đủ Nhà chủ bần tiện, tị nạnh nhau từng miếng ăn thì nói gì đến việc đối đãi tử tế với người làm
Gía trị công sức làm ra rẻ bèo đã đành nhưng cái giá trị làm người của những kẻ “cơm thầy cơm cô” thì không thể chua xót hơn – còn không bằng súc vật Chính tác giả cũng phải thừa nhận những con chó trong nhà chủ còn làm chủ tốn kém hơn bọn tôi tớ Là vì bọn chủ thấy lượng người lao động nghèo quá dư thừa, là vì họ quá khổ sở mà nhắm mắt chấp nhận đồng tiền không đủ sống, là vì họ chẳng còn nơi nào để dựa dẫm nên bọn chúng cứ mặc sức bòn rút, hoạnh họe từng xu, từng hào? Thế nên trong phiên chợ người
ở, già có, trẻ có, con nít có, thì cái giá trị của họ cũng được đong đi đếm lại chẳng bao nhiêu Bọn trẻ nít dưới 12 tuổi và bà vú già may thì được nuôi cơm chứ đừng nói đến lương, còn những cô vú trẻ thì được ba đồng
Như đã quen với điều đó, người làm không dám mơ ước đến cái tiền công xứng đáng với mình, mà chỉ dám mơ tới cái việc người ta đối đãi với mình cho ra con người: “Tôi chỉ cầu một cửa đãi mình cho vừa phải, đừng bắt mình làm quá sức, đừng đánh mình, đừng chửi mình.” Lời mong ước của một cái “thân ba vạ” vừa tội nghiệp vừa đáng thương Nhưng phủ nhận toàn bộ mong ước nhỏ bé của anh người làm kia, bộ mặt tàn ác của bọn chủ vẫn còn được tác giả vạch trần, từng chút một, thẳng thừng mà đau đớn trước bao câu chuyện mà chính tác giả còn không dám tin là có thật
Trang 13Trước hết là họ bị bóc lột công sức lao động quá mức, lượng công việc hoàn toàn đối nghịch với đồng lương và bữa cơm họ được ăn hàng ngày, cái Đũi vốn gọi là “ăn đói, làm no” Bản thân nó hàng ngày cũng phải giặt độ ba chậu quần áo, với đủ thứ mùi ô uế của một con mẹ già me Tây hư hỏng Rồi đi làm con sen cho một nhà giàu, nơi mà nó những tưởng sẽ tử tế và phóng khoáng thì rút cuộc lại “keo bẩn” và “chó đểu” vô cùng Hàng ngày không cho người làm ăn đủ no, lại còn đong đếm từng miếng thịt, chỉ cần biết
bị thiếu miếng nào thì sẽ lôi ra đánh, ra chửi không thương tiếc Còn thằng bé ho lao, được hứa trả công mỗi tháng năm hào nhưng phải làm quần quật với những công việc nặng nhọc, để rồi mụ chủ ki kiết ấy kiếm chuyện chửi mắng suốt ngày, chỉ đơn giản là
để cho người làm không chịu được nữa xin thôi mà mụ ta quỵt lương Có anh đầu trọc đi làm thuê chỉ việc chăm sóc cho chó nhà chủ, nhưng cũng phải làm những công việc nhục nhã không bằng chó, là phải lấy giấy bản vệ sinh phóng uế cho nó
Trăm bề cực khổ là vậy, bị đánh bị chửi bị bóc lột, họ còn phải đối mặt với sự nhẫn tâm, vu vạ của bọn nhà chủ Cô gái ngờ nghệch vì ở quê ra không được chủ dặn dò mà phơi quần áo lên dây điện, bị điện giật đến động kinh, bị chủ thải ra Tìm đến nhà khác làm, vì căn bệnh tai ác mà làm vỡ bình hoa, bị chủ là một ả tân thời bắt đền nên phải chạy trốn Cô ta báo lính mật thám lùng bắt, còn vu cho thêm tội ăn cắp Cuộc đời con sen bị động kinh thê thảm trong trí nhớ của tác giả: “Không bao giờ tôi quên được cái lúc con sen động kinh bị xích và một cái tát vào gáy nó của cô ả tân thời.” Anh đầu trọc lâm vào cảnh tù tội cũng chỉ vì đi giao thuốc phiện cho tên chủ, bị bắt được và phải chịu nhận thay cái án cho hắn
Chẳng ai đồng cảm, chẳng ai xót thương cho những con người sinh ra làm người nhưng kiếp sống không bằng vật nuôi trong nhà Họ cũng có thể nói là những con người lao động thiện lương, bằng chính công sức của mình, nhưng bị chà đạp, bị vùi dập, bị đối
xử tàn tệ, bị đánh chết Mong muốn tìm chút miếng cơm manh áo cho bản thân và cho gia đình cũng chẳng được thực hiện, khi mà bọn chủ vô lương tâm và hèn hạ đã hành hạ
họ, đưa họ đến một cuộc đời còn bi đát hơn nhiều là bệnh tật, là tù tội
Bộ mặt dâm đãng, đồi trụy của bọn chủ
Bóc lột sức lao động, chúng như những con quỷ khi mà còn lợi dụng thân xác của chính những người đi ở, những người mà chúng xem như còn thua cả súc vật thì nay lại trở thành đồ chơi tình dục cho chúng Chua xót cho cuộc đời con Đũi, thứ dẫn nó trở thành một con sen biết lẳng lơ, biết dùng thân xác để trả thù, để kiếm tiền cũng chính là trò chơi bệnh hoạn của mụ chủ khi bắt đứa con gái nhà quê mới 13 tuổi đầu bị hãm hiếp bởi nhân tình của ả là một thằng Tây đen Bước vào đời với quá khứ kinh hoàng và đau thương như thế, đã khiến con Đũi chỉ còn một mong muốn lớn lao là được trở thành một
Trang 14cô đầu, không phải là một cô đầu chân chính mà là một cô đầu được chiều chuộng, được
ôm ấp bởi bọn đàn ông nhiều tiền của hư hỏng Cô trả thù nhà chủ ác nghiệt bằng cách giúp cô chủ mới dậy thì hư thân mất nết sớm động tình, bằng cách gian dâm với cậu chủ chỉ mới 12 tuổi nhưng dâm dục để cậu ta lớn lên cũng không thể thành người Chính những kẻ đồi bại là bọn nhà chủ đã dùng thân xác của những người làm thuê để thỏa mãn
và mua vui đã tạo nên bao số phận thảm thương mà cũng bị tha hóa dần về cả nhân phẩm: ông chủ quý con sen hơn vợ, tiểu thư cho thằng nhỏ kỳ lưng, con sen bị ông thám hiếp dâm,…
Bột mặt tàn ác của bọn nhà chủ được tác giả dùng bằng chính lời kể của những người
“cơm thầy cơm cô”, chân thực và đáng sợ đến nỗi tác giả phải thốt lên “hãi hùng kinh ngạc về loài người” Chúng có phải con người? Bộ mặt thật cuả chúng bị vạch ra với hết thảy những sự tàn ác, dâm đãng, bần tiện, gian manh của những kẻ có tiền Mà tác giả phải đặt câu hỏi liệu những bậc hiền triết có thể nhìn thấu bản chất của những người mà chúng ta cho là người như chúng bằng chính những người “cơm thầy cơm cô” không?
“Người phu xe biết hết mọi sự tàn ác của loài người hơn là một nhà học giả, người bồi sâm biết hết mọi sự dâm đãng của loài người hơn là một nhà giải phẫu học Và một kẻ đi
ở thì biết rõ những tính tình của loài người hơn là một nhà văn sĩ tả chân” Chỉ có những người bị bóc lột mới chỉ ra bộ mặt tàn ác của kẻ bóc lột, Vũ Trọng Phụng đặt ra một dấu hỏi lớn cho bài phóng sự, liệu những nhà văn sĩ tả chân có thể trần thuật rõ ràng và chân thực điều đó nếu không lắng nghe và trải qua những điều mà họ phải chịu đựng?
2.1.1.3 Sự độc ác, mất nhân tính của bọn buôn người
Vũ Trọng Phụng gọi nghề nghiệp của bọn buôn người này là nghề “bóp cổ” người Bọn buôn người ở đây là ai, chính là mụ làm nghề đưa người ở, cũng có thể gọi là nghề
“cò” Công việc của mụ là tìm mối những người muốn thuê người ở và giới thiệu những người nghèo khổ từ tứ xứ cho họ, mụ sẽ thẩm định chất lượng của bọn người ở, mức lương, và ăn “tiền quà” từ những người muốn thuê Thế nhưng mụ cũng hùa vào bọn nhà chủ bần tiện, định mức lương rẻ bèo cho những người lao động thật thà dân quê, cốt để
dễ mối được người làm, mụ cũng sẽ có tiền quà Mụ cũng bọn chủ kì kèo từng hào từng
xu với mức lương rẻ mạt để người lao động phải chấp nhận Thế nên những em bé, những
bà vú già, chỉ cần được có cơm ăn là may, còn lương thì không công Những anh thanh niên trẻ khỏe may mắn hơn, được chừng độ ba, năm hào Mụ cũng khôn khéo để nâng mức giá của “sản phẩm” nếu biết bên nhà chủ đang rất thiếu người, cần thay người gấp như nhà cô ký đền cần tìm người ở vú Cũng là một hạng ăn tiền trơ tráo trên công sức của người khác nhưng mụ cũng tỏ ra rất biết ăn nói, dạy dỗ đạo lý cho người ở nhằm lấy lòng bọn nhà chủ Do đó mà Vũ Trọng Phụng kết luận cái giá trị làm người của những người “cơm thầy cơm cô” không còn dựa vào sức làm việc của chính họ nữa mà phụ
Trang 15thuộc vào chính cái “đầu lưỡi” của mụ buôn người không bao giờ biết nói thật, lươn lẹo
và bịa chuyện để được việc cho mình
2.1.2 Không gian “nhà chứa” – Những góc khuất ít người biết đến
Nhà chứa ở đây là hàng cơm, nơi mà mụ đưa người gửi tác giả đến ở vài hôm trong lúc chờ có việc làm Quán hàng cơm chứa hàng chục người nhập cư chen chúc sinh sống
có quang cảnh không lấy gì làm sạch sẽ: “Các ngài chỉ cần biết rằng một hàng cơm như nghìn vạn hàng cơm khác, nghĩa là khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là lập tức thấy buồn nôn buồn ọe Nó là mùi cá mè, mùi thịt trâu, thịt lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng
bò, mùi me chua, mùi dưa khú ” Những ấn tượng nhơ bẩn về một nơi dùng để ăn uống, sinh sống cũng có một tác dụng cho người đọc liên tưởng đến số phận những con người
ở đó Tạm gọi là nhà trọ của hàng cơm có căn buồng chật hẹp bùn quánh và nhớp nháp cho những người có khả năng trả tiền trọ và một nơi gọi là “đằng sau” cho những người không có khả năng chi trả ở, mà lí do để mụ chủ hàng cơm vẫn chứa chấp bọn họ cũng không phải vì tình người gì mà vì đã tính toán xem kiếm được chút lợi lộc gì từ những con người bần cùng đó: “Không phải bọn chủ hàng cơm là phúc đức gì, song chứa chấp thì bọn khố rách áo ôm này có đi xoay xở hoặc hành khất được xu nào ắt là về cũng phải mua cơm của họ.” Thậm chí là: “Nếu lại đi trộm cắp được đồ vật gì, ắt là bọn chủ hàng sẵn lòng tiêu thụ cho ngay.”
“Hơn một chục người đã có mặt tại đó Dưới ánh sáng trăng vằng vặc, họ nằm hoặc ngồi trên những manh chiếu nát rải trên đống gỗ lim vuông.” Tất cả bọn họ, những con người khốn khổ cùng sinh sống trong một điều kiện chật hẹp và thiếu vệ sinh: “Chung quanh chỉ có những bức tường cao ngất ngưởng, bẩn thỉu vào bậc nhất với những mái nhà đen sì sì Bên tay phải chỗ chúng tôi nằm là một cái chuồng gà, trước mặt là một cái cống nước đen, đọng hầu như kinh niên, và bên tay trái là chỗ cho những người tứ xứ trút
ra ngoài những cái thừa trong bụng.” Nhưng đối với họ, trong túi không còn một xu, với trang phục thê thảm và bộ mặt mỏi mệt vì chặng đường đến với “kinh thành” thì như vậy cũng đã hù hợp rồi Ngay tại sân sau này, những kiếp người tối tăm vẫn mơ ước về tương lai được đổi đời Họ đều là những con người lâm vào cảnh nghèo túng vì thiên tai, vì gánh nặng con cháu, vì bị chính gia đình đẩy ra mà phải tìm con đường mưu sinh cơ cực nên thành thị khắc nghiệt Hàng cơm chính là đích đến cho chuỗi ngày “cứ đi” của họ, hòng tìm thấy tương lai tươi sáng hơn cho mình, nhưng cũng có thể, với sự khắc nghiệt của xã hội thành thị, có thể đây sẽ là ngã ba cho họ, nơi mà còn hai hướng đi nhà văn ái ngại cho họ: “Đàn bà sẽ đi đến Dục tình Đàn ông sẽ đi đến Hình phạt”
Đối lập với khung cảnh nhơ nhớp và đen tối của hàng cơm là “ánh sáng mặt trăng”
và “ánh sáng kinh thành” Hai hình ảnh này ước mơ về cuộc sống sung túc của những người nhập cư và cũng là điều mà họ không thể chạm tới được: “Có lẽ những đêm không trăng không sao, người nhà quê vùng Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hòa
Trang 16Bình mỗi khi ra sân, quay về một phía trời, đã thấy có một vùng hào quang sáng rực Đó
là Hà Nội, nơi nghìn năm văn vật, dân giàu, tiền nhiều của lắm, dễ kiếm sinh nhai Người nhà quê cứ việc bỏ làng mà đi! Một ngày kia rồi sẽ được nằm trong một xó sân, ngửi mùi nước cống, mùi cứt gà và cứt người, nhịn đói nằm co mà nhìn trời, như đêm nay, có cả ánh sáng trăng vằng vặc.”
Có thể nói, ở đây nhà văn đã sớm phát hiện những hậu quả tha hóa, phi nhân hóa, gây
ra bởi sự di dân, sự nhập cư, là những hiện tượng mà quy mô sẽ tăng lên hàng chục hàng trăm lần khi xã hội ta bước sang thời công nghiêp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa
2.2 Thử tìm hiểu giá trị nội dung của các hình tượng “nhân vật vùng lên” 2.2.1 Cái Đũi
Nhân vật con sen Đũi là một người xuất thân từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm Lúc đầu con sen Đũi là một cô gái quê xinh đẹp, hiền lành, ngây thơ,trong sáng, không
ham vật chất, không tham danh lợi: “Điều cần nhất của tôi là muốn cho cái Đũi trở lại
với những tính tình trong sạch của cô gái quê ngây thơ”, “Tôi muốn tìm trong cái Đũi những dấu vết cũ của một cô gái nhà quê, ngoan ngoãn, hay làm, có những cái mơ màng bình dị (mặc dầu là sát mặt đất), nhưng mà là trong sạch, suốt đời không dám nghĩ đến cái bả vật chất, những vẻ phồn hoa của đời, nhẫn nhục mà sống với một người chồng cục mịch, và chỉ biết có việc chịu khó làm ăn” Nhân vật con sen Đũi được sinh ra trong một
gia đình giàu có, cha là lí trưởng nhưng sau đó của cải trong nhà bán hết để trang trải cho cuộc sống nhưng vẫn không đủ nên cái Đũi phải bỏ quê hương lên thành thị kiếm sống:
“Cái Đũi đem thân đi ở là vì những sự hủ bại ở chốn hương thôn Năm nó lên mười tuổi,
bố nó là một bác Nhiêu gai ngạnh trong làng Năm lên 12, cái Đũi là con một bác Lý trưởng cứng cổ ra phết Thế rồi từ khi ông Lý là ông Lý, thì cũng như từ khi loài người
là loài người, của cải của ông Lý cứ việc từ trong nhà “đội nón ra đi” Ruộng cả, ao liền của ông Lý bán hết sạch sành sanh, cái Đũi phải ra tỉnh đi ở”
Con sen Đũi từ bỏ quê hương lên thành thị kiếm sống với số phận long đong, tủi nhục, phải sống cuộc sống khổ cực, bị đối xử một cách tệ bạc, làm việc cực nhọc, vất vả, quần
quật cả ngày, không có thời gian nghỉ ngơi, luôn bị chủ chưởi mắng, ức hiếp : “Cái Đũi
vớ ngay phải mẹ chủ là một me Tây hết duyên, về già Cái Đũi phải ăn đói, làm no và mỗi ngày giặt độ ba chậu quần áo, trong thơm nức những mùi ô uế Mỗi ngày độ ba trăm lần, mụ chủ cái Đũi khi gọi đến đầy tớ là phải gọi cả “tiên sư cha” đầy tớ ra, lấy oai Mấy hôm đầu cái Đũi nghĩ đến mẹ, oán giận bố, rồi muốn tự tử ” Cuộc sống của con
sen Đũi còn trở nên khổ sở hơn khi mẹ chủ me Tây cho một tên Tây cưỡng hiếp Đũi, làm
cho Đũi đánh mất trinh tiết: “Anh ơi, tôi lúc ấy mới 13 tuổi đầu, mà nó nhét giẻ vào mồm
tôi, giữ hai chân tôi cho thằng oẳn cứ việc hiếp lấy hiếp để” Sau khi bị cưỡng hiếp, con
Trang 17sen Đũi đã ra ngoài phố khóc lóc, kể lai để xin ông đội xếp, xử tội tên quan tây vì tội cưỡng hiếp nhưng vì con sen Đũi chỉ là một người thấp cổ bé họng trong xã hội, một con sen đi ở đợ,không có tiếng nói trong xã hôi, không có quyền lực gì trong giới thượng lưu nên ông đội xếp không bênh vực cho con sen Đũi, mà đứng về phía tên quan Tây la mắng
và hù dọa con sen Đũi Qua đó, ta thấy cuộc đời của con sen Đũi thật khổ cực, đau đớn, không được xã hôi thượng lưu trân trọng, con sen Đũi giờ đây trở thành một món hàng
để mua đi bán lại, một thứ đồ chơi rẻ tiền của tên quan Tây Xã hội thượng lưu chốn Hà Thành là một xã hội suy đồi về đạo đức và nhân phẩm, một xã hội có sự phân biệt chủ tớ một cách nặng nề, một xã hội mà đồng tiền chi phối tất cả nên những người làm đầy tớ như con sen Đũi phải chấp nhận bị đối xử một cách bất công, không được lên tiếng để đòi lại công bằng cho mình và vì vậy mà cuộc sống của con sen Đũi trở nên đen tối và bế tắc, và chính cái xã hội thương lưu kệch cỡm và thối nát đó đã làm con sen Đũi trở nên tha hóa
Sau khi bị một tên Tây cưỡng hiếp, con sen Đũi từ một cô gái quê hiền lành, chân chất, thật thà, trở thành một cô gái khôn ngoan, thành thục trong việc khiêu dâm: “Sau khi bị cái tai họa của chú oẳn, con bé lại được lợi trông thấy vì hiểu biết sự đời, đến nỗi một cô gái quê hiền lành mà trở nên một ả thiện nghệ trong việc khiêu dâm và mãi dâm”
Sự tha hoá của con sen Đũi được thể hiện rất rõ khi con sen Đũi đi làm con sen cho một gia đình giàu có, có nhiều của cải nhưng lại vô cùng keo kiệt và bủn xỉn Gia đình nhà giàu đó bắt con sen Đũi phải làm hết việc này đến việc khác, không được nghỉ ngơi, mà
cũng không được ăn no, lại còn thường xuyên bị đánh đập vô cớ: “Ông cự bà sao lại
không dặn con sen đi mua một hào thịt quay thì phải mua hai lần, mỗi lần một gói năm
xu, để cho nhà hàng phải thêm thì mua được rẻ Bữa ấy giận cá chém thớt, ông chủ cũng gọi con sen ra tặng cho mười hai cái bạt tai, mặc dầu nó chẳng đáng tội tình gì” Để
phản kháng lại bọn nhà giàu đã ức hiếp mình, con sen Đũi đã làm cho đứa con gái bà chủ mới 18 tuổi trở nên hư hỏng và đồng thời lợi dụng việc giới thiệu bạn tình cho cô chủ để
kiếm tiền phục vụ cho mình: “Bà chủ có cô con gái dậy thì, mới 18 tuổi lửa tình sớm
bốc, lúc nào cũng lồng lộn đĩ rạc Hay ngồi lê để kể chuyện nhảm tiểu thư cứ bị những chuyện tiếu lâm của thích cho đến phải đi lùng lấy giai, tiểu thư đã có dăm bảy cậu tình nhân mối lại Thư đi từ lại, cứ mỗi lá thư, cái Đũi lại được một hào, ăn quà mỏi cả răng
mà vẫn không tiêu hết xu” Không những lợi dụng để kiếm chác và làm hư con gái ông
bà chủ, con sen Đũi còn thông minh, khôn ngoan trong việc khiêu dâm với đứa con trai
12 tuổi - con ông bà chủ để kiếm tiền và trả thù sự nhẫn tâm, độc ác của ông bà chủ đối
với mình: “Bà chủ còn cậu con trai tuổi mới 12 mà trong cặp sách đi nhà trường lúc nào
cũng đầy những ảnh dâm dục Biết thế, cái Đũi cứ rình những lúc đêm khuya, cậu mà cầm đèn vào nhà sau, thì trên tấm chõng tre, hai cái đùi non trắng hếu của con sen lại
Trang 18phô ra như đấu xảo! Từ đêm ấy trở đi, có đêm cậu đi tiểu đến tám mươi nhăm lần Đến lần thứ tám mươi sáu, cậu vừa nhịn thở, rón rén để tay vào một cái đùi non, thì con sen ngồi nhỏm ngay dậy, tỉnh ngủ một cách bất ngờ Cậu bịt miệng nó bằng một đồng bạc Sau khi trả tiền rồi, mặt cậu như điên, rồi nằm xuống chõng, ôm ghì lấy con sen Cứ thế mãi! Thế mãi!”
Qua những hành động đó, đã cho ta thấy được sự tha hóa của con sen Đũi, đó chính
là sự tha hóa về nhân cách, đánh mất bản tính lương thiện, hiền lành Nhân vật con sen Đũi từ nông thôn ra thành thị kiếm sống với những tham vọng sinh tồn và đổi đời, đã biến mình trở thành một con người tha hóa về nhân cách, trở thành một con người thủ đoạn, mưu mô để từng bước nhảy lên tầng lớp thượng lưu, nhưng rồi lại chìm sâu trong
sự tha hóa tột cùng không lối thoát, song cô không cam chịu, không để cho chủ đè đầu cưỡi cổ, cô tìm cách phản kháng bằng cách trả thù lên hai con của ông bà chủ mình Nhân vật con sen Đũi là tiêu biểu cho những người đi ở đợ trong xã hội thượng lưu lúc bấy giờ, bị phân biệt đối xử một cách bất công, bị tha hóa và đánh mất bản tính lương thiện vốn có, trở thành một con người gian xảo, khôn ngoan, mưu mô và đầy toan tính để đạt được mục tiêu của mình là gia nhập vào giới thượng lưu, là nắm đia vị cao quý trong
xã hội Hơn thế nữa, ở cái Đũi ta thấy được sự không khuất phục, không cam chịu, phản kháng, vùng vẫy để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng hơn
2.2.2 Các nhân vật vùng lên khác
Mỗi một nhân vật trong Cơm thầy cơm cô qua lời kể của nhân vật tôi là một số phận,
một cuộc đời khác nhau Đó là cuộc sống của một thằng ở vì chủ sai mang thuốc phiện lậu mà phải ở tù oan ; đó là cuộc sống của một con sen ngu độn vì phơi áo ướt vào dây điện mà bị giật rồi bị động kinh nên bị chủ sa thải, rồi lại tiếp tục làm thuê cho một nhà khác cũng vì lên cơn động kinh mà làm vỡ lọ quý của chủ nhà rồi bị vu cho là ăn cắp, rồi
bị bắt Rất nhiều mẫu hạng về giới cơm thầy cơm cô được liệt kê ra như:
“Có những đứa đầy tớ bị chủ nhà đánh chết
Có những con sen được ông chủ quý hơn vợ
Có những thằng nhỏ bỏ thuốc độc định giết cả nhà chủ nhà
Có những anh bếp nhổ đờm vào nồi cá kho
Có những vú già quyền hành như mẹ "cậu mợ"
Có những thằng nhỏ được kỳ lưng cho các tiểu thư
Có những anh xe được ngủ giường Hồng kông với bà chủ
Có những đứa ở lúc chủ chết khóc như khóc bố mẹ
Có những đứa liều mạng cứu chủ