1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 (KHẢO SÁT QUA 6 TIỂU THUYẾT: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH – BẢO NINH, THIÊN SỨ PHẠM THỊ HOÀI, ĐI TÌM NHÂN VẬT – TẠ DUY ANH, THOẠT KỲ THỦY – NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG, VÀ KHI TRO BỤI – ĐOÀN MINH PHƯỢNG, T MẤT TÍCH – THUẬN)

177 64 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 390,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 (KHẢO SÁT QUA 6 TIỂU THUYẾT: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH – BẢO NINH, THIÊN SỨ PHẠM THỊ HOÀI, ĐI TÌM NHÂN VẬT – TẠ DUY ANH, THOẠT KỲ THỦY – NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG, VÀ KHI TRO BỤI – ĐOÀN MINH PHƯỢNG, T MẤT TÍCH – THUẬN) CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. 1. Khái quát về tiểu thuyết 1. 1. 1. Khái niệm “Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng. ” 7, tr. 387. 1. 1. 2. Đặc điểm Tính chất văn xuôi: Là một thể loại thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi, vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại tiểu thuyết. Tính chất đó đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống. Nghệ thuật kể truyện: Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm. Thông thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện. Tuy sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng “tôi”, cũng có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn trần thuật. Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng “tôi” được “san sẻ” cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm.

Trang 1

BỘ MÔN VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY

Đề tài:

TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975

(KHẢO SÁT QUA 6 TIỂU THUYẾT:

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH – BẢO NINH, THIÊN SỨ - PHẠM THỊ HOÀI, ĐI TÌM NHÂN VẬT – TẠ DUY ANH,

THOẠT KỲ THỦY – NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG,

VÀ KHI TRO BỤI – ĐOÀN MINH PHƯỢNG, T MẤT TÍCH – THUẬN)

GVHD: TS Phạm Thị Thùy Trang

Ca học: Chiều thứ 5 – A103 ADV

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 – 2017

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN ST

3 Lê Phúc Nguyên Chi (Không hoạt động nhóm) K40 606 004

11 Hồ Thị Thu Phương (Nhóm trưởng) K40 606 037

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1 1 Khái quát về tiểu thuyết 7

1 1 1 Khái niệm 7

1 1 2 Đặc điểm 7

1 1 3 Phân loại 9

1 2 Các yếu tố của tác phẩm tự sự 11

1 2 1 Cốt truyện 11

1 2 2 Lời kể 12

1 2 3 Ngôi kể 12

1 2 4 Điểm nhìn trần thuật 13

1 3 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội tác động đến văn học Việt Nam sau 1975 14

1 4 Quá trình vận động của nền văn học Việt Nam sau 1975 15

1 4 1 Giai đoạn 1975 – 1985 15

1 4 2 Giai đoạn 1986 – 1991 15

1 4 3 Giai đoạn từ 1992 đến nay 16

1 5 Vài nét khái quát về một số tác giả, tiểu thuyết tiêu biểu của văn học Việt Nam sau 1975 17

1 5 1 Bảo Ninh và “Nỗi buồn chiến tranh” 17

1 5 1 1 Tác giả Bảo Ninh 17

1 5 1 2 Tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” 17

1 5 2 Phạm Thị Hoài và “Thiên sứ” 19

1 5 2 1 Tác giả Phạm Thị Hoài 19

1 5 2 2 Tác phẩm “Thiên sứ” 20

1 5 3 Tạ Duy Anh và “Đi tìm nhân vật” 23

1 5 3 1 Tác giả Tạ Duy Anh 23

1 5 3 2 Tác phẩm “Đi tìm nhân vật” 24

Trang 4

1 5 4 Nguyễn Bình Phương và “Thoạt kỳ thủy” 27

1 5 4 1 Tác giả Nguyễn Bình Phương 27

1 5 4 2 Tác phẩm “Thoạt kỳ thủy” 28

1 5 5 Đoàn Minh Phượng và “Và khi tro bụi” 30

1 5 5 1 Tác giả Đoàn Minh Phượng 30

1 5 5 2 Tác phẩm “Và khi tro bụi” 30

1 5 6 Thuận và “T mất tích” 33

1 5 6 1 Tác giả Thuận 33

1 5 6 2 Tác phẩm “T mất tích” 34

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 36

2 1 “Nỗi buồn chiến tranh” - Bảo Ninh 36

2 1 1 Đặc điểm nội dung 36

2 1 1 1 Chủ đề 36

2 1 1 2 Hình tượng nhân vật 36

2 1 2 Đặc điểm nghệ thuật 49

2 1 2 1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 49

2 1 2 1 Kết cấu 56

2 1 2 3 Ngôi kể - Lời kể 58

2 1 2 4 Giọng điệu 61

2 1 2 5 Điểm nhìn trần thuật 62

2 2 “Thiên sứ” - Phạm Thị Hoài 62

2 2 1 Đặc điểm nội dung 62

2 2 1 1 Chủ đề 62

2 2 1 2 Hình tượng nhân vật 63

2 2 2 Đặc điểm nghệ thuật 72

2 2 2 1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 72

2 2 2 2 Kết cấu 77

Trang 5

2 2 2 3 Ngôi kể - Lời kể 79

2 2 2 4 Giọng điệu 81

2 2 2 5 Điểm nhìn trần thuật 84

2 3 “Đi tìm nhân vật” - Tạ Duy Anh 84

2 3 1 Đặc điểm nội dung 84

2 3 1 1 Chủ đề 84

2 3 1 2 Hình tượng nhân vật 85

2 3 2 Đặc điểm nghệ thuật 90

2 3 2 1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 90

2 3 2 2 Kết cấu 91

2 3 2 3 Ngôi kể - Lời kể 96

2 3 2 4 Giọng điệu 101

2 3 2 5 Điểm nhìn trần thuật 105

2 4 “Thoạt kỳ thủy” - Nguyễn Bình Phương 106

2 4 1 Đặc điểm nội dung 106

2 4 1 1 Chủ đề 106

2 4 1 2 Hình tượng nhân vật 107

2 4 2 Đặc điểm nghệ thuật 115

2 4 2 1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 115

2 4 2 2 Kết cấu 118

2 4 2 3 Ngôi kể - Lời kể 119

2 4 2 4 Điểm nhìn trần thuật 119

2 5 “Và khi tro bụi” - Đoàn Minh Phượng 120

2 5 1 Đặc điểm nội dung 120

2 5 1 1 Chủ đề 120

2 5 1 2 Hình tượng nhân vật 120

2 5 2 Đặc điểm nghệ thuật 125

2 5 2 1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 125

Trang 6

2 5 2 2 Kết cấu 126

2 5 2 3 Ngôi kể - Lời kể 128

2 5 2 4 Giọng điệu 133

2 5 2 5 Điểm nhìn trần thuật 134

2 6 “T mất tích” - Thuận 135

2 6 1 Đặc điểm nội dung 135

2 6 1 1 Chủ đề 135

2 6 1 2 Hình tượng nhân vật 135

2 6 2 Đặc điểm nghệ thuật 141

2 6 2 1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 141

2 6 2 2 Kết cấu 144

2 6 2 3 Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật 145

2 6 2 4 Giọng điệu 147

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 148

3 1 Khái quát chung về những đặc điểm cơ bản của văn học việt nam sau 1975 148

3 1 1 Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa 148

3 1 2 Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên tinh thần nhân bản, dẫn đến sự nổi trội của khuynh hướng thế sự - đời tư 148

3 13 Văn học phát triển phong phú, đa dạng, hướng tới tính hiện đại nhưng không kém phần phức tạp 148

3 2 Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1975 149

3 2 1 Đặc điểm nội dung 150

3 2 2 Đặc điểm nghệ thuật 154

3 3 Điểm khác biệt giữa tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 và tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1975 158

KẾT LUẬN 166

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 169

Trang 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 1 Khái quát về tiểu thuyết

1 1 1 Khái niệm

“Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại

và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết

có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng ” [7, tr 387]

1 1 2 Đặc điểm

- Tính chất văn xuôi: Là một thể loại thuộc phương thức tự sự, tính chấtvăn xuôi, vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại tiểuthuyết Tính chất đó đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toànvẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với nhữngsắc màu thẩm mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đếntận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống

- Nghệ thuật kể truyện: Giống như các hình thái tự sự khác như truyệnngắn, truyện vừa, tiểu thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính củatác phẩm Thông thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhânvật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện Tuy

sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự,nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phongcách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng “tôi”, cũng

có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểmnhìn trần thuật Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết

là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gianhoặc nhân vật xưng “tôi” được “san sẻ” cho nhiều nhân vật trong cùng một tácphẩm

Trang 9

- Khả năng phản ánh toàn vẹn hiện thực: Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyếtchính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúcgần gũi nhất với hiện thực Là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự,tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng nhưchiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thựctrong tác phẩm của mình

Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không chỉcho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khảnăng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đisâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật

- Hư cấu nghệ thuật: Hư cấu nghệ thuật cũng được coi là một đặc trưng củathể loại, là một thao tác nghệ thuật không thể thiếu trong tư duy sáng tạo củatiểu thuyết Hư cấu cho phép tác phẩm tái hiện những thời đại lịch sử phát triểntrong câu chuyện hư cấu, không hiện thực như sử họcvà những nhân vật hoàntoàn không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu ngoài đời như những tác phẩm thuộc thể

ký Trong vô vàn những gương mặt đời thường và giữa muôn ngàn biến cố củalịch sử, nhà văn khi trước tác một tác phẩm tiểu thuyết đã thực hiện những biệnpháp nghệ thuật đồng hóa và tái hiện bức tranh đời sống bằng phương thức chọnlọc, tổng hợp và sáng tạo Khi đó, hư cấu nghệ thuật, đối với tiểu thuyết đã trởthành yếu tố bộc lộ rõ rệt phẩm chất sáng tạo dồi dào của nhà văn

- Tính đa dạng về sắc độ thẩm mỹ: Tính đa dạng về màu sắc thẩm mỹ cũng

là một đặc trưng tiêu biểu của thể loại Các thể loại văn học khác thường chỉ tiếpnhận một sắc thái thẩm mỹ nào đó để tạo nên âm hưởng của toàn bộ tác phẩm,như bi kịch là cái cao cả, hài kịch là cái thấp hèn, thơ là cái đẹp và cái lý tưởng

Ở tiểu thuyết không diễn ra quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mỹ khi tiếp nhậnhiện thực mà nội dung của nó thể hiện sự pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau của cácsắc độ thẩm mỹ khác nhau: cái cao cả bên cái thấp hèn, cái đẹp bên cái xấu, cáithiện lẫn cái ác, cái bi bên cạnh cái hài…

Trang 10

- Bản chất tổng hợp: Ở phương diện cuối cùng, tiểu thuyết là một thể loạimang bản chất tổng hợp Nó có thể dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuậtnhững phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ (những rungđộng tinh tế), kịch (xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệthuật của những loại hình ngoại biên như hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanhâm), điêu khắc (sự cân xứng, chi tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức mànhiện thực); và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâmhọc, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng khác.

v v Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợpnày của thể loại, như Tolstoi với tiểu thuyết-sử thi, Dostoevski với thể loại tiểuthuyết-kịch, Solokhov với tiểu thuyết anh hùng ca-trữ tình, Roman Roland vớitiểu thuyết-giao hưởng…

1 1 3 Phân loại

Phân chia loại thể tiểu thuyết theo nội dung, đề tài đã có từ xa xưa tronglịch sử văn học các nước phương Tây cũng như phương Đông Chẳng hạn, cáctài liệu về lịch sử tiểu thuyết ở Trung Quốc nói đến các loại tiểu thuyết sau:

- Tiểu thuyết chí quái: những tác phẩm kể những chuyện quái dị Có thể kể

đến Sưu Thần Ký, Liệt dị truyện đời Lục Triều…

- Tiểu thuyết chí nhân: ghi về lời nói, việc làm của người thường có ý nghĩa

tiêu biểu, như Thế thuyết tân ngữ…

- Tiểu thuyết truyền kỳ thịnh hành thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, như

Cổ kính ký, Bạch Viên truyện, Tiễn đăng tân thoại, Ngu sơ tân chí…

- Tiểu thuyết thoại bản đời Tống, Nguyên, Minh, tiêu biểu là các tác phẩmcủa Phùng Mộng Long, Lăng Mông Sơ…

- Tiểu thuyết chương hồi: những tiểu thuyết trường thiên bao gồm nhiềuhồi, đầu mỗi hồi có “hồi mục”, là một hoặc hai câu thất ngôn dự báo tình tiếtchính của hồi, mỗi hồi viết về một sự kiện chủ yếu và kết thúc hồi có lời dẫn dắtđến hồi tiếp Căn cứ theo dung lượng có thể chia tiểu thuyết chương hồi thành

Trang 11

loại lớn (trên 100 hồi) và loại nhỏ (khoảng 2-3 chục chương hồi trở lại) Loạilớn thường bao gồm tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử như Tam quốc diễn nghĩa,Đông Chu liệt quốc; tiểu thuyết truyền kỳ anh hùng như Thủy hử; tiểu thuyết

thần ma như Tây du ký; tiểu thuyết tình đời như Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng; tiểu thuyết châm biếm như Chuyện làng Nho; tiểu thuyết công án như Long đồ công án; tiểu thuyết võ hiệp như truyện kiếm hiệp, tiền thân của những

tác phẩm tiểu thuyết Kim Dung sau này Tiểu thuyết chương hồi loại nhỏ có thểbao gồm tiểu thuyết tài tử giai nhân kể những mối tình của trai gái, thể hiện ước

mơ hạnh phúc lứa đôi; tiểu thuyết khiển trách vạch trần những ung nhọt xã hộinhư tác phẩm Quan trường hiện hình ký

Còn ở phương Tây, tiểu thuyết xuất hiện đa dạng tùy theo đặc điểm vănhọc dân tộc Tuy nhiên, thường thấy các thể sau:

- Tiểu thuyết hiệp sĩ (chevalric romance): là thể loại văn học tao nhã thờitrung đại xuất hiện ở Trung và Nam Âu, nhân vật chính là hiệp sĩ đi lập công vìvinh quang và vì người tình Tiêu biểu là các tiểu thuyết về vua Arter, câuchuyện Tristan và Iser

- Tiểu thuyết du đãng (picaresque novel): nhân vật trung tâm là những kẻbợm nghịch xuất thân từ dưới đáy xã hội, thường có óc thông minh, hài hước,hay chơi khăm ông chủ bà chủ Có thể kể đến tác phẩm Gil Blas ở Santillannecủa Alain-René Lesage

- Tiểu thuyết đen (roman noir), còn gọi là tiểu thuyết kinh dị (gothic novel):xuất hiện ở Anh vào cuối thế kỷ 18, với cốt truyện kết hợp các motif kinh dị,cạm bẫy, hồn ma, sức mạnh siêu nhiên với niềm hoài niệm quá vãng Nhà văn

Mỹ Edgar Allan Poe sau này đã tiếp tục với loại thể tiểu thuyết này trong nhiềutác phẩm của mình

- Tiểu thuyết trinh thám (roman detective): nhân vật chính là thám tử, cốttruyện là điều tra vụ án, tình tiết được giữ bí mật cho đến kết thúc tác phẩm.Tiêu biểu là tác phẩm của Conan Doyle

Trang 12

- Tiểu thuyết lịch sử (historical novel): lấy nhân vật, sự kiện lịch sử là đềtài, tuy có hư cấu một số nhân vật hay tình tiết phụ nhưng về cơ bản là tôn trọng

sự thật lịch sử Pie Đại đế của Tolstoi thuộc dạng này

- Tiểu thuyết giáo dục: học hỏi, kể về quá trình trưởng thành của một conngười như David Corpefil của Dickens

- Tiểu thuyết luận đề (problem novel): thông qua nhân vật và sự kiện trìnhbày một vấn đề chủ yếu

- Tiểu thuyết tâm lý (psychological fiction): đặt trọng tâm ở miêu tả diễnbiến tâm lý, động cơ, cảnh ngộ của nhân vật Các tiểu thuyết của Henry Jamesthuộc dạng này

- Tiểu thuyết tự truyện (autobiographical novel): nhà văn tự kể lại đời mìnhmột cách khách quan, trung thực, thịnh hành ở thế kỷ 19 như bộ ba tác phẩmThời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi của M Gorki

Bên cạnh đó, cũng tồn tại những quan niệm khác, như theo M M Bakhtin,thể loại tiểu thuyết trải qua các hình thức như tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyếtkhảo nghiệm, tiểu thuyết truyện ký và tiếp đến là tiểu thuyết giáo dục

Các nhà nghiên cứu hiện nay còn chia tiểu thuyết thành các dạng tiểuthuyết gia đình, tiểu thuyết nông dân, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết quan sát thếgiới, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết thư tín,tiểu thuyết nhật ký, tiểu thuyết dòng ý thức, tiểu thuyết tư liệu…

Việc phân loại tiểu thuyết theo đề tài về cơ bản không tránh khỏi có chỗchồng chéo khi trong thực tế một tiểu thuyết có thể vừa thuộc dạng này vừathuộc dạng khác, nhất là những sáng tác trong thời hiện đại

1 2 Các yếu tố của tác phẩm tự sự

1 2 1 Cốt truyện

Cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trongtác phẩm tự sự và tác phẩm kịch thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách

Trang 13

trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tácphẩm

Tiểu thuyết khác truyện ngắn trung đại, truyện vừa, “tiểu thuyết đoản thiên” là ở cốt truyện đóng vai trò chủ yếu Các yếu tố, lời nói thúc đẩy cốt

truyện phát triển, làm rõ mọi chi tiết và nhân vật trong nó Nó xóa bỏ nội dunggiữa người trần thuật và nội dung trần thuật; nó miêu tả hiện tại cùng thời, nhìnnhận, tiếp xúc nhân vật một cách gần gũi Nó giúp họ có cái nhìn nhiều chiều, đachủ thể, hấp thu mọi lời nói tạo nên cuộc đối thoại giữa các giọng khác nhau.Kết cấu tiểu thuyết thường là kết cấu để ngỏ

Tiểu thuyết là thể loại đa dạng về mặt thẩm mĩ, có khả năng tổng hợp vàthu hút vào bản thân nó những đặc trưng và sắc thái thẩm mĩ của nhiều loại hình

nghệ thuật khác “Ðức tính căn bản của tiểu thuyết là ăn được mọi thứ, nó đồng hóa mọi loại tác phẩm khác vào mình” (Ph Mác xô- Nhà nghiên cứu tiểu thuyết

Pháp)

1 2 2 Lời kể

Ngôn từ trong tác phẩm là một kiểu lời nói (lời văn) nghệ thuật do nhà vănsáng tạo trên cơ sở sản phẩm xã hội mà ông ta tiếp thu được Lời văn nghệ thuậtnày chính là đối tượng của sự tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn học

Ðặc điểm chung của văn học nghệ thuật là phản ánh cuộc sống bằng hìnhtượng nhưng trong mỗi bộ môn và loại hình nghệ thuật khác nhau, các hìnhtượng có những đặc điểm cụ thể riêng Những đặc điểm cụ thể đó của hìnhtượng được qui định bởi chất liệu và phương tiện riêng

Lời tác giả và lời nhân vật Lời tác giả thường chính là lời trần thuật hoặcmiêu tả còn lời nhân vật là lời mà nhân vật trực tiếp nói lên trong tác phẩm Lời trực tiếp và lời gián tiếp Lời trực tiếp phù hợp là lời mà nhân vật nghĩsao, nói vậy Lời trực tiếp không phù hợp là lời nhân vật nghĩ một dằng, nói mộtnẽo, nghĩ ít, nói nhiều hoặc ngược lại Theo Bakhtin, lời gián tiếp có thể chialàm 2 loại: lời gián tiếp một giọng và lời gián tiếp 2 giọng Lời gián tiếp một

Trang 14

giọng là lời tái hiện hay bình phẩm các hiện tượng của thế giới theo ý nghĩakhách quan vốn có của chúng theo ý đồ của tác giả, không liên quan gì đến ýthức, suy nghĩ của người khác về chúng

1 2 3 Ngôi kể

Người kể chuyện là yếu tố thuộc thế giới miêu tả Đó là một người do nhàvăn tạo ra để thay mình thực hiện hành vi trần thuật Khác với người kể chuyệntrực tiếp lộ diện như trong diễn xướng dân gian, có thể sử dụng các yêu tố phingôn ngữ như ánh mắt, người kể chuyện trong văn bản viết ẩn mình trong dòngchữ Người kể chuyện ấy có thể kể bằng ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ

ba

1 2 4 Điểm nhìn trần thuật

Điểm nhìn trần thuật là vấn đề cơ bản, then chốt của kết cấu Điểm nhìn là

vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiện tượng trong tác phẩm.Trong tác phẩm tự sự, tương quan giữa nhà văn và chủ đề trần thuật hay giữađiểm nhìn của người trần thuật với những gì anh ta kể là điều đặc biệt quantrọng

Điểm nhìn nghệ thuật (the point of view) là vấn đề cơ bản, then chốt củakết cấu Điểm nhìn là vị trí, chỗ đứng để xem xét, miêu tả, bình giá sự vật, hiệntượng trong tác phẩm Trong tác phẩm tự sự, tương quan giữa nhà văn và chủ đềtrần thuật hay giữa điểm nhìn của người trần thuật với những gì anh ta kể là điềuđặc biệt quan trọng

Có thể hiểu điểm nhìn là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phùhợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của anh ta Nó là vị trí dùng để quansát, cảm nhận, đánh giá

Điểm nhìn trần thuật được phân chia trên 2 bình diện:

- Xét về bình diện trường nhìn trần thuật được chia thành 2 loại: trườngnhìn tác giả và trường nhìn nhân vật

Trang 15

+ Trường nhìn tác giả: Người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sátđối tượng Kiểu trần thuật này mang tính khách quan tối đa cho lời trần thuật + Trường nhìn nhân vật: Người trần thuật nhìn sự vật, hiện tượng theo quanđiểm của một nhân vật trong tác phẩm Trần thuật theo điểm nhìn nhân vật mangđậm sắc thái tâm lý, chất trữ tình hoặc châm biếm do sự chi phối trực tiếp bởiđịa vị, hiểu biết, lập trường của nhân vật

- Xét về bình diện tâm lý, có thể phân biệt thành điểm nhìn bên trong vàđiểm nhìn bên ngoài:

+ Điểm nhìn bên trong: Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kínhcủa một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật + Điểm nhìn bên ngoài: Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị tríbên ngoài có khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật

Sự phân biệt trên đây hoàn toàn mang tính tương đối vì hầu như không cótác phẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn mà các điểm nhìn được di động, sửdụng linh hoạt, phối hợp với nhau phục vụ cho ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ

1 3 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội tác động đến văn học Việt Nam sau 1975

Ngày 30/4/1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã kétthúc toàn thắng Đất nước thu về một mối, uy tín của Việt Nam trên trường quốc

tế mở rộng (quan hệ với 97 nước trên thế giới) Đất nước bước vào thời kỳ mới.Đại hội lần thứ tư, 5, 6, 7, 8 được tiến hành định kỳ, mỗi nhiệm kỳ đại hội đềuđặt ra cho đất nước những nhiệm vụ mới Kỷ nguyên hòa bình, thống nhất và sựtrở lại của cuộc sống đời thường, những khát vọng hạnh phúc, tự do muôn thuởcủa con người cá nhân

Đồng thời, cơ chế thị trường cũng tác động đến quá trình hội nhập kinh tế văn hóa: Sự chấm dứt của nền văn hóa bao cấp và sự trở lại của đời sống vănhọc dân chủ, mang tính cạnh tranh; sự du nhập ồ ạt của những luồng tư tưởng,

Trang 16

-văn hóa hiện đại trên thế giới; sự hình thành của một công chúng đọc đa dạng,với thị hiếu thẩm mỹ phức tạp

Đặc biệt đại hội đảng lần thứ VI (1986), Nghị quyết về mới nền văn học làyêu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước Đặc biệt từ nghịquyết VI của đảng luôn luôn đặt cho văn học nghệ thuật một nhiệm vụ mới quan

trọng đó là: “Bảo đảm tự do dân chủ cho mọi sáng tạo cuả văn học nghệ thuật, tạo điều kiện làm việc thuận lợi để phát huy hiệu quả của lao động nghệ thuật”.

Văn nghệ phải biết cổ vũ cái tốt phê phán cái sấu, chống các khuynh hướng tráivới đường lối văn nghệ của Đảng Công cuộc đổi mới đã đáp ứng đúng nguyệnvọng của các nhà văn và độc giả cũng như quy luật phát triển khách quan củalịch sửvà nó trở thành phong trào mạnh mẽ Như vậy hoàn cảnh lịch sử mới đãtạo nên một nền văn học có những thay đổi rõ nét có chiều sâu, phát triển theohướng đổi mới, dân chủ phát triển mạnh mẽ gây được sự chú ý của dư luận

1 4 Quá trình vận động của nền văn học Việt Nam sau 1975

1 4 1 Giai đoạn 1975 – 1985

Giai đoạn chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang

nền văn học thời hậu chiến

Sau ngày đất nước thống nhất, lịch sử VN chuyển qua một thời đại mới,nhưng văn học nghệ thuật vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến,với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Diễn ra sự vận động ngầm của đời sống văn học, với những trăn trở vật vã,tìm tòi thầm lặng ở một số nhà văn mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống và có ýthức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình Đó là những người đi tiên phongtrong công cuộc đổi mới văn học

Tác phẩm tiêu biểu: kịch Rừng trúc (1978) và Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979) của Nguyễn Đình Thi, tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985) của Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết Gặp gỡ cuối

Trang 17

năm (1981) của Nguyễn Khải, kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt (1984), Tôi và chúng ta (1985) của Lưu Quang Vũ, tập thơ Ánh trăng (1984) của Nguyễn Duy, tập thơ Tự hát (1984) của Xuân Quỳnh, tập thơ Hoa trên đá (1984) của Chế Lan Viên, tập thơ Người đàn bà ngồi đan (1985) của Ý Nhi…

Truyện ngắn và tiểu thuyết nở rộ, tập trung phản ánh những xung đột,

khủng hoảng dữ dội của xã hội và tâm hồn con người: tiểu thuyết Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu, tập truyện ngắn Tướng về hưu (1988) của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết Bến không chồng (1990) của Dương Hướng, tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) của Nguyễn Khắc Trường, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (1990) của Bảo Ninh…

1 4 3 Giai đoạn từ 1992 đến nay

Quá trình đổi mới văn học chậm và trầm lắng lại, đi vào chiều sâu Cao tràođổi mới của văn học Việt Nam dần chậm lại, chuyển sang những tìm tòi về hìnhthức nghệ thuật Tuy nhiên, vẫn xuất hiện những tác phẩm đáng chú ý như tập

truyện ngắn Khi người ta trẻ (1993) của Phan Thị Vàng Anh, tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2001) của Nguyễn Xuân Khánh, tiểu thuyết Cơ hội của Chúa (1999) của Nguyễn Việt Hà, truyện ngắn Cánh đồng bất tận (2003) của Nguyễn Ngọc

Tư, tập truyện Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (2000) của Nguyễn Ngọc Thuần,

Trang 18

tiểu thuyết Mười lẻ một đêm (2006) của Hồ Anh Thái, hồi ký Thượng đế thì cười (2003) của Nguyễn Khải…

Cuộc “nổi loạn” trong văn học của một số cây bút rất trẻ như Vi Thuỳ

Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh khuấy động đời sống vănhọc

1 5 Vài nét khái quát về một số tác giả, tiểu thuyết tiêu biểu của văn học Việt Nam sau 1975

1 5 1 Bảo Ninh và “Nỗi buồn chiến tranh”

1 5 1 1 Tác giả Bảo Ninh

Bảo Ninh sinh ngày 18 tháng 10 năm 1952, tại Nghệ An Ông tên thật làHoàng Ấu Phương, là nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm tạo được tiếng vang

lớn, trong đó thành công nhất là “Nỗi buồn chiến tranh”

Ông có thời gian từng đi bộ đội từ năm 1969 đến năm 1975 Năm 1987,

ông ra mắt tác phẩm đầu tiên là “Trại bảy chú lùn” Năm 1991, tiểu thuyết ”Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh (in lần đầu năm 1987 với nhan đề “Thân phận của tình yêu”), được tặng Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam

1 5 1 2 Tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh”

“Nỗi buồn chiến tranh” (1991) của Bảo Ninh được tặng Giải thưởng Hội

Nhà văn Việt Nam và được xem như một tác phẩm đánh dấu một thành côngcủa tiểu thuyết Việt Nam Viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ nay đã trở thànhlịch sử, tác giả không miêu tả chiến tranh như sự kiện đang xảy ra ở hiện thực

mà như đang hiện ra trong ký ức, trong suy tưởng Trong “Nỗi buồn chiến tranh”, Bảo Ninh muốn nhìn chiến tranh qua đôi mắt của chính mình, của một

người lính bình thường đã từng ở mặt trận

Năm 2005, tác phẩm này lại được tái bản với nhan đề ban đầu là “Thân phận của tình yêu”, đến năm 2006 tái bản với nhan đề “Nỗi buồn chiến tranh”

Trang 19

Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh

Hảo, xuất bản năm 1994 với nhan đề “The sorrow of war”, được nhiều nhà phê

bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh Đây

là một trong số ít sách nói về chiến tranh từ quan điểm phía Việt Nam được xuấtbản và phổ biến rộng rãi ở đây Một điều đáng khâm phục là Bảo Ninh đã trìnhbày quan điểm của mình mà không hề lên án bởi phía bên kia Tiểu thuyết cũng

đã được chuyển ngữ và giới thiệu ở 18 quốc gia trên thế giới Vào tháng 8 năm

2016, nhà văn Bảo Ninh được nhận giải thưởng văn học Sim Hun của Hàn Quốccũng với tác phẩm này

“Nỗi buồn chiến tranh” là một tác phẩm dễ làm người đọc ám ảnh vì câu

chữ sâu xa, đau đớn, tàn khốc của một đời chiến binh với từng đoạn hồi ức đứtđoạn bởi cảm xúc, bởi những đoạn đời ngắn ngủi mà cho dù cố ghép lại cũngkhông thể liền mạch Tiểu thuyết là dòng hồi ức của người lính về chiến tranh vàthời tuổi trẻ đã trải qua trong bom đạn; là lòng tiếc thương vô hạn đối với nhữngngười cùng thế hệ với mình đã nằm xuống, là ám ảnh về thân phận con ngườitrong thời buổi loạn ly và thông qua thân phận là sự tái hiện đầy xót xa về quákhứ, những suy tư nghiền ngẫm về con đường dấn thân của cả một thế hệ sinh ratrong chiến tranh

 Tóm tắt tác phẩm

“Nỗi buồn chiến tranh” là câu chuyện viết về cuộc đời và tình yêu trong

những năm trong và sau cuộc kháng chiến chống Mỹ của Kiên Kiên, chàng họcsinh trường Bưởi ở Hà Nội, mang trong mình tình yêu đẹp đẽ, trong sáng củatuổi 17 với Phương, cô bạn học từ niên thiếu của anh Rời khỏi mái trường, Kiêntình nguyện gia nhập quân ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc Ngàylên đường, Phương đã đưa Kiên một chặng đường dài Trên chuyến tàu hàng ra

tuyền tuyến, Phương bị cưỡng bức Cảm thấy ở Phương “thái độ điềm nhiên, khinh nhờn và thờ ơ lãnh đạm” sau biến cố ấy, Kiên đã bỏ rơi cô tham gia vào

cuộc chiến Trải qua mười năm khốc liệt, Kiên may mắn sống xót trở về với

Trang 20

cuộc sống hòa bình Tuy nhiên những vết thương trên thân thể và trong tâm hồnanh không thể hàn gắn được Anh không thể hòa nhập với dòng chảy và cuộcsống đương đại, trở thành nhà văn cấp phường kỳ quặc, khó hiểu Anh bắt tayvào viết tiểu thuyết, viết về chính cuộc chiến mà anh từng tham gia, với nhữngđồng đội, với những vui buồn, khốc liệt, với mối tình day dứt ở Phương vànhững sự thật ghê gớm đã ám ảnh suốt quãng đời còn lại của anh

Trong hành trình tâm tưởng của Kiên, ký ức về những người đồng đội luôngắn liền với cái chết Tất cả những sự kiện đó đã được anh đưa vào cuốn tiểuthuyết của mình Người duy nhất có mối quan tâm đến cuốn tiểu thuyết này làmột người đàn bà sống trên tầng gác áp mái

Cùng với những trăn trở về quá khứ, mảnh đời còn lại sau mười năm bị lửađạn của chiến tranh dằn xé lại bị móng vuốt cả tình yêu xé nát Ngày về Kiêngặp Phương, muốn cùng cô quay lại thời yêu nhau bất chấp tất cả bất chấp sựkhác nhau giữa hai người quá lớn Thế nhưng bây giờ Phương đã buông mìnhtrong trụy lạc, cô đi theo người tình đã định với nàng một lễ cưới Chán chườngcuộc sống hiện tại, Kiên tự tay đốt cuốn tiểu thuyết mình viết ra Anh ra đi Mớbản thảo như cuộc sống hỗn độn với cảm hứng chủ đạo là sự rối bời, mà anh đểlại được người đàn bà câm và cất giữ

Ngoài tác phẩm “Thiên sứ” được ca ngợi trên phạm vi quốc tế, Phạm Thị Hoài còn xuất bản những tiểu luận và hai tuyển tập truyện ngắn là “Mê lộ”

Trang 21

(1989) và “Man Nương” (1995) Ngoài ra, bà còn một tác phẩm khác là “Marie Sến” (1996) Bà là một dịch giả nổi tiếng về văn chương Đức Bà đã dịch những

tác phẩm của Franz Kafka, Bertolt Brecht, Thomas Bernhard và FriedrichDürrenmatt sang tiếng Việt Bà còn là người biên soạn quyển Trần Dần – Ghi:1954-1960 (Paris, TD Mémoire, 2001), một tuyển tập các bài báo của Trần Dần.Những tiểu luận và truyện ngắn của bà xuất hiện trong những tạp chí vănchương ở Hoa Kỳ, Úc, Thụy Sĩ và Đức, ngoài ra còn xuất hiện trong một số

tuyển tập về truyện Việt Nam đương đại như “Night, Again và Vietnam: A Traveler's Literary Companion”; “Sunday Menu”, một tuyển tập truyện ngắn

của bà do Tôn Thất Quỳnh Du dịch sang tiếng Anh được xuất bản lần đầu tại

Pháp năm 1977 với tựa đề “Menu de dimanche”, còn bản tiếng Anh “Sunday Menu” thì do Pandarus Books xuất bản tại Úc năm 2006 và được University of

Hawaii Press xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 2007

1 5 2 2 Tác phẩm “Thiên sứ”

Năm 1988, quyển tiểu thuyết đầu tay của Phạm Thị Hoài được xuất bản tại

Hà Nội với tựa đề ”Thiên sứ” Sau đó, quyển sách này bị chính quyền Việt Nam cấm lưu hành Năm 1993, bản dịch ”Thiên sứ” bằng tiếng Đức đã đoạt giải

“Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất” của tổ chức Frankfurter LiBeraturpreis trao

tặng hàng năm cho tiểu thuyết xuất bản tại Đức Riêng bản dịch tiếng Anh thìđoạt giải Dinny O'Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000 Cũng trongnăm này, Phạm Thị Hoài rời Việt Nam sang Berlin, nơi bà đang sống và làmviệc hiện nay Ở Berlin, 2001 bà sáng lập tạp chí Talawas trên Internet có tầm

ảnh hưởng lớn Trong lời bạt bản dịch ”Thiên sứ” của Tôn Thất Quỳnh Du, ông viết về Phạm Thị Hoài như sau: “Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài khiến đọc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai Những viên chức văn hóa của Việt Nam phản đối cái nhìn phê phán của bà về nước Việt Nam hiện tại, bà đã vi phạm bởi sự thiếu tôn trọng truyền thống và phạm phải những điều cấm kỵ của xã hội […]” Mặc dù bị công kích trên diễn

Trang 22

đàn công khai, Phạm Thị Hoài chưa bao giờ là bị cáo về sự bất đồng quan điểmchính trị Thay vào đó, những kẻ phỉ báng đã buộc tội bà là có cái nhìn bi quan

quá đáng về Việt Nam, rằng bà đã sỉ nhục “sứ mệnh thiêng liêng của một nhà văn”, thậm chí bà còn viết “dung tục” nữa Nhưng, ngay cả những nhà phê bình

mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một nhà văn có con mắt u ám trongviệc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hước, song lại có thính giác tốt về nhịp điệucủa tiếng Việt

“Thiên sứ” là cuốn tiểu thuyết gồm 19 chương cùng với một đoạn kết.

Trong 19 chương ấy, trừ chương 15 (Thơ Ph) và chương 18 (Nhật kí chị Hằng)

thì còn lại toàn bộ tác phẩm là lời kể của cô bé Hoài Chính vì thế, “Thiên sứ”

không phải thuật chuyện mà trình bày những ý thức của con người, cụ thể ở đây

là của cô bé Hoài trước một thực trạng của cuộc sống bao quanh cô Giữa cácchương có sự đổi phông, bối cảnh rời rạc, không có trật tự nhất quán, không đitheo một trình tự câu chuyện, nội dung của chương sau không phải là sự viếttiếp chương khác Nó như là những mảnh ghép lộn xộn của một bức tranh lậpthể khó hiểu, những mảnh vỡ của cuộc đời, những tư tưởng chắp nối, chất chồngtrong đầu của người kể

 Tóm tắt tác phẩm

Hoài – nhân vật chính vừa là người kể chuyện và cũng là điểm nhìn của tácphẩm là một cô bé mãi mãi ở độ tuổi mười bốn với chiều cao một mét, gắn liềnvới hình ảnh bím tóc đuôi sam và cân nặng ba mươi ki-lô-gam Vì cô đã trút mộtlần kinh nguyệt một lần duy nhất trong đời vào một buổi rửa tội dài năm tiếngđồng hồ, cô sẽ không bao giờ trở thành đàn bà và chẳng bao giờ trở thành ngườilớn, thế giới của những con người mà cô không muốn mình đặt chân đến Côngviệc duy nhất có ý nghĩa trong đời có ý nghĩa với cô mà cô chính là đứng ròng

rã bên cửa sổ nhìn dòng người ra vào cái nhà máy rượu và phân họ thành hailoại: người có homo-A là những kẻ biết yêu và homo-Z là những kẻ không biếtyêu Khi kết thúc truyện thì cô lại biến thành một người đàn bà xinh đẹp, lộng

Trang 23

lẫy ở độ tuổi hai mươi chín Qua lời kể của Hoài, những nhân vật khác xuấthiện: những con người với những tính cách và số phận khác nhau Đồng thời,qua đó, thực trạng xã hội cũng được tác giả phơi bày

Hằng là chị gái sinh trước Hoài một phút, một người con gái thông minh,tài giỏi, xinh đẹp nhưng lại mang trong mình một nỗi buồn, một nỗi cô đơnchẳng ai có thể hiểu được Chị sống sa đọa với những mối tình chớp nhoáng, sauvẫn có một tình yêu không trọn vẹn với nhà thơ Ph và cuối cùng lấy một nhânviên bộ ngoại giao làm chồng – một người chồng cuồng giấy toilet Đó là mộtcuộc hôn nhân không tình yêu

Bố Hoài là một người coi trọng cái danh dự và uy tín của gia đình cán bộnhưng mẹ Hoài thì chỉ quan tâm đến những vấn đề nhỏ nhặt, đời thường như cáimái nhà bị dột mỗi ngày mưa, những cái chân bàn, chân ghế đang bị lung lay.Gia đình Hoài chỉ có những tiếng càu nhau ồn ã của bố mẹ, còn những cái ôm,cái hôn là thứ xa xỉ

Bé Hon, thành viên cuối của gia đình Hoài đã đến một cách kì lạ và ra đi

mãi mãi Bé Hon như một “Thiên sứ” mang theo bên mình những tình cảm

trong sáng, những nụ cười ấm áp, những cái hôn nồng ấm và muốn gửi đến thếgiới loài người, lúc đầu họ có chút thích thú nhưng cuối cùng đã khước từ đinhững tình cảm nồng ấm đấy

Anh Hạc một con người đạp đổ đi cái danh dự, uy tín của gia đình cán bộ

mà lâu nay bố của anh giữ gìn, một người sau cùng có đầy đủ vật chất với hệthống lô đề trùm ở miền Bắc lúc bấy giờ nhưng cuối cùng cũng chỉ mong muốn

có được một cô vợ hiền, những đứa con ngoan và một mái nhà êm ấm

Anh Hùng một kĩ sư máy tính điện tử tốt nghiệp bằng đỏ từ Nga trở về đãcứu vớt lấy cái danh dự của gia đình mà bố Hoài luôn đề cao Nhưng lại ngãmình, điên dại vì một cô vũ nữ gốc lai và dù sau này khi lấy một giảng viêntiếng Nga thông minh, xinh đẹp và ngôn hạnh nhưng anh vẫn không thể gạt khỏi

kí ức về mối tình điên cuồng kéo dài ba tuần với cô vũ nữ ấy Nhưng rồi chính

Trang 24

tình yêu với cô vũ nữ ấy đã phá vỡ đi con đường công danh đang lát đá hoacương của anh Cuối cùng anh đã chọn lựa cho mình một cuộc sống an toàn, mộtcuộc đời đã được lập trình sẵn

Nhà thơ Ph, người đứng ngoài tất cả những cuộc ẩu đã của cuộc sống, của

xã hội con người Người chỉ biết làm thơ, yêu đương và mơ mộng Nhưng dùyêu, vẫn đứng ngoài tất cả Anh yêu Hoài nhưng không giành và giữ lấy tìnhyêu đó cho mình

Thầy Hoàng, một thầy giáo từng miệt mài với bục giảng, từng say mê vớiVicto Hugo Nhưng rồi buông bỏ nghề giáo để đi tìm vật chất, chỉ có một điềuanh ta không buông chính là niềm say mê Hằng Anh ta đã chiếm đoạt Hằng vàsau đó ra đi Khi anh trở về có trong tay khối tài sản lớn, anh ta tìm đến Hằngnhưng mãi mãi vấn không thể có được Khối tài sản của anh sau một ván bài thìtoàn bộ đã rơi vào tay anh Hạc

Quang lùn, một người đàn ông 1m26, đam mê quyền lực quản lí, tôn thờduy nhất sức mạnh của các nguyên tắc và ý chí Anh ta không bao giờ vượt rakhỏi những nguyên tắc đã định sẵn của mình Dù là có tình cảm với Hoài nhưnganh cương quyết không để tình yêu lấn át lý trí Anh không dấng thân vào cuộctình đó, anh ra đi và thực hiện sứ mệnh phục vụ cho Đảng, cho Cách mạng củamình

1 5 3 Tạ Duy Anh và “Đi tìm nhân vật”

1 5 3 1 Tác giả Tạ Duy Anh

Tạ Duy Anh sáng tác với các bút danh Lão Tạ, Chu Quý, Quý Anh, BìnhTâm Tên khai sinh của ông là Tạ Viết Dũng, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1959 xãHoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cũ (nay là huyện Chương Mỹ,thành phố Hà Nội)

Sau khi tốt nghiệp trường trung cấp thí nghiệm đất đá, ông về làm cán bộgiám sát bê-tông các công trình ngầm tại Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình và bắtđầu viết văn từ đó

Trang 25

Những năm 80 (thế kỷ XX), một số truyện ngắn đầu tay của ông được đăngtrên báo Lao động cùng với bút danh Tạ Duy Anh Sự kiện bước ngoặt đánh dấuviệc ông trở thành nhà văn chuyên nghiệp là trở thành học viên khoá IV (1989 -1992) trường Viết văn Nguyễn Du Tạ Duy Anh đã hoàn thành xuất sắc khoáhọc ở trường với vị trí đồng thủ khoa (cùng nhà văn Võ Thị Xuân Hà) Ôngđược giữ lại trường công tác với vị trí giảng viên Bộ môn Sáng tác tới năm

2000 Hiện nay Tạ Duy Anh là cán bộ biên tập của Nhà xuất bản Hội Nhà văn

Tạ Duy Anh đạt được nhiều giải thưởng trong sáng tác như Giải truyệnngắn nông thôn báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp và Đài Tiếng nói Việt Nam tổchức; Giải C cuộc thi truyện ngắn năm 1989-1990 của tạp chí Văn nghệ Quân

đội với tác phẩm “Xưa kia chị đẹp nhất làng”; Giải nhì trong cuộc thi viết

“Tương lai vẫy gọi” của báo Thiếu niên Tiền phong cho câu truyện ngắn “Bức tranh của em gái tôi”; hai giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng cho hai tập truyện: “Quả trứng vàng” và “Vó ngựa trở về”; giải thưởng văn học Thủ đô

2012 cho tập truyện ngắn Lãng du

Tạ Duy Anh ở trong số không nhiều nhà văn của thời kỳ Đổi mới nhậnđược mối quan tâm thường xuyên nhất của người đọc trong và ngoài nước

Trong các tác phẩm của anh, “Đi tìm nhân vật” là tiểu thuyết tạo ra hứng thú

khám phá cùng nhiều cách tiếp cận về thủ pháp, thông điệp nghệ thuật cũng nhưnhững khía cạnh về tư tưởng, thẩm mỹ, ngôn từ, tính thể loại, sự phá cách củacấu trúc…

1 5 3 2 Tác phẩm “Đi tìm nhân vật”

Tạ Duy Anh đã viết “Đi tìm nhân vật” trong vòng mười năm (hoàn tất năm 1999), sau khi viết truyện ngắn “Bước qua lời nguyền” (1989), truyện dài “Lão Khổ” (1992) Tác phẩm này của nhà văn Tạ Duy Anh từng được cấp giấy phép

xuất bản năm 2002 của NXB Văn hóa Dân tộc và được tái bản tại Hoa Kỳ vào

năm 2003 Trong “Vài nét về tác phẩm” in ở đầu sách, Đi tìm nhân vật” được

Trang 26

đánh giá là một tác phẩm hư cấu với những sự việc diễn biến trong một thời gian

và ở một không gian hoàn toàn không xác định

Mặc dù đây là cuốn tiểu thuyết đặc sắc với nhiều cách tân trong ngôn ngữ,bút pháp, cách đặt vấn đề nóng trong xã hội của tác giả những tác phẩm nối

tiếng như “Bước qua lời nguyền”, “Lão Khổ” nhưng đáng tiếc là nó đã

không được nhiều người đón nhận Có thể vì nhan đề sách không tạo được sựchú ý của người đọc Cũng có thể vì nhiều nguyên nhân khác Bố cục, cáchdựng chuyện hơi lạ thường; bối cảnh và tình tiết trong chuyện; các nhân vậttrùm lấp, chồng chéo nhau cũng như không khí ẩm mốc, trầm mặc, u uất phủ lêntoàn bộ tác phẩm dễ gây cảm giác u hoài, buồn chán, khiến người đọc không đủkiên nhẫn đọc hết Ít nhất một lần Đọc để thấy được giá trị tự thân ẩn giấu bêntrong và đàng sau công trình tri thức của anh và cũng để thấu rõ nỗi bất hạnhkinh hoàng về thân phận con người dưới chế độ cộng sản Nhiều độc giả, trong

số có các trí giả, những nhà văn, nhà thơ đã nói với người viết những dòng này

về cảm giác kể trên khi đọc cuốn tiểu thuyết của Tạ Duy Anh

Với những sự kiện, những nhân vật xa xôi, mơ hồ, tuồng như nội dung sáchkhông ăn nhập với bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại Nói cho đúng, nó mù mờ,

hư ảo như chuyện cổ tích, với đoạn cuối của một mối thù truyền kiếp từ thuởnào xa lắm, khiến người đọc rất dễ có tiên kiến về tính không xác định thời gian

và không gian của những tình tiết trong tác phẩm Và có lẽ đấy cũng chính làdụng tâm của tác giả họ Tạ, không ngoài mục tiêu để tác phẩm của anh thoátkhỏi mạng lưới kiểm duyệt tinh vi và khe khắt của những ông quan văn nghệnhà nước Tuy vậy anh cũng chỉ đánh lừa được họ trong một thời gian ngắn Vìthế, khi tác phẩm vừa in xong, mặc dù u mê nhưng những tay bồi bút của chế độ

đã phát hiện kịp thời để ra lệnh thiêu hủy toàn bộ công trình được làm nên bằngtim óc của anh Sau đó vừa ra đã bị cấm phát hành vì bị nhiều ý kiến phê phánthái độ tiếp cận, mô tả đời sống xã hội của tác giả Tác phẩm bị khai trừ ngay

khi nó chào đời cùng với cuốn hồi ký “Nhớ lại” của Bùi Xuân Quý

Trang 27

 Tóm tắt tác phẩm

Tác phẩm “Đi tìm nhân vật” kể về một nhân vật có tên là Chu Quý, anh là

một nhà báo chuyên quan tâm về vấn đề cái chết Trong một lần tình cờ anh đọcđược một bài báo viết về cái chết dã man và đầy thương tâm của một thằng béđánh giày ở phố G và anh đi đến quyết định điều tra về cái chết của thằng bé Trong hành trình tìm đáp án cho đời mình, anh đã viết một bài tham luận

tầm cỡ quốc gia với chủ đề “Sự uyển chuyển trong tính cách người Việt” Tại

đây, anh đã gặp được tiến sĩ N (nhà văn) một người nhưng có hai bộ mặt khácnhau Ông ở ngoài đời là một người đàn ông mẫu mực, hoàn hảo có lý tưởngnhưng bên trong lại là một kẻ cô đơn đến cực độ Đây lí đó về sau ông tự sát vàgiết chết người vợ xinh đẹp kém anh hơn chục tuổi của mình

Một ngày nọ, Chu Quý được Trần Bân - một nhà văn – hẹn gặp qua lá thư

và anh được nghe kể về cuốn sách mà ông đang viết Trần Bân đã tìm thấy ở anhnhững nét giống với nhân vật của ông, nhân vật mà ông đã tìm kiếm trong suốtcuộc đời mình Nhờ thế, anh đối diện lại cái chết đầy bí ẩn của dòng họ mình.Mỗi thế hệ dòng họ anh đều là độc đinh và tất cả đều bị giết bởi một lời nguyềnnhưng chỉ riêng anh là sống sót Tuy nhiên, anh lại không dám đối mặt với quákhứ, mọi khi chạm đến anh điều muốn bỏ cuộc Chính vì thế, nó đã trở thành bikịch trong cuộc đời anh, anh là một kẻ khiếm khuyết và bệnh hoạn trong tâmhồn vì không dám đối diện với sự thật, với chính mình và cuộc sống của anh rơivào vực sâu không lối thoát Đến khi một gặp một cô gái sống ở khu tập thể bịmọi người coi là dở người tự nguyện hiến dâng cuộc đời trinh nguyên cho anhnhưng anh đã bất lực Ít lâu sau, bản năng đàn ông anh nổi dậy khi anh bóp chết

con chim bồ câu với ý nghĩ rằng con chim bồ câu đó là “Thiên sứ” đến cứu rỗi linh hồn anh Nhưng ngay sau đó, anh cảm thấy tội lỗi và đã “cưỡng hiếp” cô gái dở người và giết chết “Thiên sứ”

Sau cái chết của tiến sĩ N, Chu Quý quay lại phố G, anh cảm thấy hoanghoang khi nghe người dân ở đây kể về một kẻ lừa đảo mượn cớ là nhà báo đi

Trang 28

điều tra về cái chết và tướng mạo khá giống với bản thân anh Kể cả người đãtừng gặp trò chuyện cùng anh cũng đã cảnh báo anh về kẻ lừa đảo đó, khiếnchính bản thân anh cũng không tài nào hiểu được đâu là mình đâu là hắn Khitrở về, anh viết một tờ báo về chuyện ở phố G, nhưng nó lại làm anh hoanghoang, lo sợ vì tên lừa đảo kia có đặc điểm giống như anh

Để kiểm chứng xem anh có là chính mình không anh đã đến gặp ThảoMiên - cô gái gọi cao cấp ở phố G người mà anh thầm yêu khi vừa gặp Càngtìm hiểu anh càng bẽ bàng khi phát hiện cuộc đời đau khổ của nàng và nàng làngười đã hiến dâng cuộc đời trinh trắng cho Trần Bân, biết lí do nàng rời khỏinhà ông để trở thành gái gọi hạng sang Anh biết được tình yêu đơn phương củaông Bân dành cho vợ tiến sĩ N và giải mã được cuốn nhật kí của ông Bân

Cuối cùng, Thảo Miên hẹn gặp Chu Quý ở cổng Vòm, nhưng anh đã đếntrễ hẹn khoảng một tiếng, nàng đã tự thiêu và kết thúc của đời đầy bi kịch củamình

1 5 4 Nguyễn Bình Phương và “Thoạt kỳ thủy”

1 5 4 1 Tác giả Nguyễn Bình Phương

Nguyễn Bình Phương tên khai sinh là Nguyễn Văn Bình sinh ngày

29-12-1965 tại thị xã Thái Nguyên Trong chiến tranh, gia đình ông sơ tán về xã LinhNham, thuộc huyện Đồng Hưng tỉnh Thái Nguyên Đến năm 1979, ông mới trởlại thành phố

Thái Nguyên, có lẽ chính vùng đất quê hương đã nuôi dưỡng vun đắp nêntrong Nguyễn Bình Phương một kho tàng những câu chuyện về nông thôn vànông dân trong các tác phẩm của mình, nên không khí nông thôn trong tiểuthuyết của anh dường như mang dáng dấp của nơi anh sinh trưởng Năm 1985,học hết phổ thông trung học ông vào bộ đội Năm 1989, Nguyễn Bình Phươngthi vào trường viết văn Nguyễn Du Sau khi tốt nghiệp khóa IV trường viết văn,ông đi công tác một năm tại đoàn kịch nói quân đội, sau đó là biên tập viên củanhà xuất bản Quân đội với cấp bậc đại úy Hiện nay ông là Đảng viên Đảng

Trang 29

cộng sản Việt Nam, là Hội viên của Hội nhà văn Việt Nam Đến năm 2004, ôngchuyển về công tác ban thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội và hiện là trưởng banthơ của tạp chí này

Bắt đầu viết văn từ năm 1986 – 1987, những sáng tác đầu tay là những tập

thơ và cho tới nay có những tác phẩm được xuất bản như: “Khách của trần gian” (Trường ca NXB Văn học 1986), “Lam chướng” (1992), “Xa thân” (1997), “Từ chết sang trời biếc” (2001), “Thơ Nguyễn Bình Phương” (2005).

Đặc biệt, đầu năm 2010 thơ của ông cùng với một số nhà thơ tiểu biểu khác như

Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy… được chọn dịch trong “Tuyển tập thơ Việt Nam” được xuất bản ở Thủy Điển vào tháng 3 năm 2010, cho đến nay đã

nhận được những phản hồi tích cực từ những tờ báo lớn của Thụy Điển

Ngoài ra, ông còn viết một số tiểu luận, truyện ngắn, bút ký tiêu biểu như

truyện ngắn “Đi” (in trên văn nghệ trẻ số ra ngày 10/1/1999), bút ký “Lững thững với ngàn năm” (2009) Thành công của Nguyễn Bình Phương phải kể đến tiểu thuyết: “Bả giời” (năm 1991, NXB Quân đội Nhân dân, 2004 tái bản),

“Vào cõi” (NXB Thanh niên (1991), “Những đứa trẻ chết già” (NXB Văn học 1994), “Người đi vắng” (NXB Văn học 1999), “Trí nhớ suy tàn” (NXB Thanh Niên 2000), “Thoạt kỳ thủy” (NXB Hội Nhà văn 2004), “Ngồi” (NXB Đà Nẵng

2006)

1 5 4 2 Tác phẩm “Thoạt kỳ thủy”

“Thoạt kỳ thủy”, tác phẩm mới nhất của Nguyễn Bình Phương, viết xong

từ tháng 8 năm 1995, nhưng đến tám năm sau, tháng 8 năm 2003, tác giả mới

“chỉnh sửa” lại để in và để được in, nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã phát hành tại

Hà Nội đầu năm 2004 Phần “chỉnh sửa” cũng mất hàng trăm trang Đối với một cuốn sách nhỏ, 163 trang, “chỉnh sửa” như thế là nhiều và có lẽ đó là một

trong những lý do khiến người đọc đôi lúc có cảm tưởng hụt hẫng, khó hiểu

Nếu “Thoạt kỳ thủy” được in cùng thời với tập trường ca “Khách của trần gian” (Nxb Văn Học, Hà Nội, 1996) thì có lẽ người đọc dễ tiếp nhận hơn, vì thơ

Trang 30

“dẫn” cho văn, văn “vận” vào thơ, bởi Bình Phương là nhà văn có “căn” thơ

và giữa hai tác phẩm lấp ló những đầu mối chung của một “luận đề”, nếu chúng

ta công nhận có một luận đề trong “Thoạt kỳ thuỷ”

“Thoạt kì thủy” là tiểu thuyết với dung lượng ngắn nhưng đằng sau số lượng từ chữ “ít ỏi”, “khiêm tốn” ấy chất chứa bao bí ẩn, huyền bí hoặc thậm chí ma quái khó hiểu đối với người đọc “Thoạt kì thủy” dẫn dắt người đọc vào

một thế giới mông lung, mờ ảo, khó đoán định Đó là thế giới của vô thức, bảnnăng trong mỗi con người, là thế giới hoang vu nguyên thủy, sơ khai Đó là thếgiới mà thời gian chông chênh, chấp chới Đó là thế giới mà ngôn ngữ đối thoạigiữa con người với con người rời rạt khó hiểu, không ăn khớp với nhau, mỗingười theo đuổi một dòng mạch bất tận, vô bờ, xa xăm

 Tóm tắt tác phẩm

Câu chuyện diễn ra bắt đầu bằng việc con cú bị bắn và rơi xuống sông Câuchuyện tiếp tục với gia đình ông Phước và bà Lên, đó là một gia đình nghèo,ông Phước là một con nghiện rượu, bà Liên thì đang mang bầu Bà Liên làmviệc ở bãi đập đá và chiều hôm đó Liên đã hạ sinh đứa bé trai đó là Tính, lúctrăng lên

Khi Tính lên bốn vợ chồng ông Bồi có đứa con gái tên là Thương và vợchồng ông Điện cũng có một đứa con gái tên là Hiền Còn Tính không học hành,

mà theo ông Điện làm nghề chọc tiết lợn và chơi với bọn người điên ÔngPhước có ý định muốn Tính lấy Hiền làm vợ vì ông rất thích Hiền, một cô gáixinh đẹp ngoan hiền

Tính, không biết vì lý do gì, đã đốt nhà ông Điện và dẫn đến cái chết củaông Vì quá đau lòng nên vợ của ông Điện cũng ra đi theo ông, chỉ còn lại mìnhHiền Sau việc ông Điện chết Tính không còn việc làm nên đã nghe lời ôngPhước đi làm thợ rèn, nhưng cũng không được và Tính theo mẹ đi đập đá Tuyvậy, Tính vẫn mãi không thể nào quên được hình ảnh chọc tiết của ông Điện

Trang 31

Vì thương Hiền còn lại một mình nên bà Liên muốn Hiền làm con dâu củamình, nhưng ông Bồi cũng muốn Hiền làm con dâu của mình, cuối cùng Hiền đãchọn Tính để lấy làm chồng

Hiền lấy Tính nhưng Tính vẫn không đụng chạm tới Hiền và mãi chưa làmchuyện giữa hai vợ chồng Cả xóm đồn đãi chuyện Hiền và Tính, Hiền lo lắngbất an, mỗi tối cố gắng để được gần Tính để được thực hiện nghĩa vụ làm vợnhưng Tính không quan tâm Một hôm uống rượu say Tính đã giết chết mộtthằng bé điên, cả gia đình lo sợ và khóc lóc vì Tính, nhưng may Tính không đi

Tính sống như người điên, ngày ngày đi đập đá, đi qua nhà Hưng hỏi vềviệc cắn cổ thằng Tây, luôn bị ám ảnh bởi chọc tiết nên rất thích nhìn yết hầucủa Hiền và những người xung quanh Tính bị ám ảnh đến nổi mỗi tối là xáchdao chọc tiết của ông Điện đi mà chọc tiết heo Và từ đó heo trong vùng cứ chếthàng loạt không ai biết được thủ phạm, duy chỉ có duy nhất Hiền Hiền đâm ra

sợ Tính, muốn can ngăn nhưng không được Giữa những câu chuyện luôn xuấthiện hình ảnh con cú đang trôi lơ lửng trên mặt nước, có lúc nó cử động, có lúcmắt nó lim dim và nhận biết xung quanh Có lúc con cú kêu thành những tiếngnhỏ, mắt đảo thành vòng, cánh đập vùng vẫy

Tiếp đến là chiến tranh cả xóm phải cho con đi nhập ngũ bảo vệ đất nước,Tính và Hưng không được đi vì bị cho là không tỉnh táo Tuyển được người điđáng giặc, ông Sung cho huấn luyện một tuần để đem lên biên giới Thời giancũng trôi qua đến Tết, mọi người hăng hái vui vẻ đi sắm Tết Lính dân quân,trong đó có Nam chỉ huy đội quân, luôn tìm cách tiếp cận nhưng bị Hiền chống

cự Hưng trộm cây súng ông Sung và binh lính tìm mãi không được Và cuốicùng Hưng đã lên cò và giết chết ông Phùng trên lúc ông đi lên phố mua côm-lê.Sau khi giết ông Phùng, Hưng cũng chết khi đập đầu vào cây dúi vì thấy con

bướm trắng và gọi đó là “mẹ” Sau đó tất cả tân binh lên đường trong sự đau xót

của người thân Tiếp đó Tính cầm dao chọc thẳng vào yết hầu ông Khoa, rồi tự

Trang 32

kết liễu bản thân bằng con dao đó Cuối cùng là sự xuất hiện hình ảnh con cútrên dòng sông và cố gắng dùng sức để bay nhưng không biết bay đi đâu

1 5 5 Đoàn Minh Phượng và “Và khi tro bụi”

1 5 5 1 Tác giả Đoàn Minh Phượng

Đoàn Minh Phượng sinh năm 1956 tại thành phố Hồ Chí Minh Bà có hai

tác phẩm nổi bật là “Và khi tro bụi” và “Mưa ở kiếp sau” Đoàn Minh Phượng vừa là một nhà văn vừa là một đạo diễn phim với bộ phim “Hạt mưa rơi bao lâu” Bà sống ở hải ngoại 10 năm mới trở về Việt Nam và năm 2007 Đoạt giải thưởng Hội Nhà văn VN 2007 với tiểu thuyết “Và khi tro bụi”

1 5 5 2 Tác phẩm “Và khi tro bụi”

 Tóm tắt tác phẩm

Nhân vật chính tên là An Mi là một phụ nữ có chồng mất trong một tai nạngiao thông trên con đường đầy sương mù Chị không muốn sống nữa và quyếtđịnh tìm đến cái chết Một cái chết chủ động, chị cũng không biết bao giờ mình

sẽ chết và chết theo cách nào

Chị chọn cuộc sống trên những con tàu, lang thang khắp châu Âu Chị thảhồn mình theo những kí ức cũ về quá khứ Một lần dừng chân, chị quyết địnhnhất thiết phải mua ngay một quyển sổ để chị ghi lại hình ảnh của mình, để địnhnghĩa chính xác mình là ai trước khi từ giã cuộc đời

Bởi vì cho đến lúc đó chị chỉ là một đứa trẻ mồ côi, đến từ đất nước cóchiến tranh Chị là một khách lạ ở xứ sở châu Âu, một con người không có quêhương giống như một hạt cỏ gió đưa đến bám rễ trên vách đá, chị biết thân phậncủa mình rất dễ vỡ

Chị vội vàng xuống ga lúc khuya để đi tìm mua một cuốn sổ tay nhưngđiều đó hoàn toàn không thể thực hiện Chị vào một khách sạn và yêu cầu đượcmua cuốn sổ trong quầy hàng nhưng không có nhân viên bán hàng ở đó Chị nài

nỉ anh trực đêm hãy bán cuốn sổ tay đó Và anh ấy đã mang cho chị một cuốn sổ

Trang 33

tay thật đẹp Chị lên tàu lật cuốn sổ, viết vài dòng chữ, rồi chị chán nản khôngmuốn viết tiếp và chị muốn vứt cuốn sổ đi

Nhưng cuốn sổ đã mở đầu cho những bất ngờ liên tiếp Người trực đêmkhách sạn đã không bán mà tặng chị cuốn sổ ấy Trong đó có chứa cả một câuchuyện lạ lùng và bi thương của chính anh ta về người mẹ bị chính người chagiết hại và thủ tiêu cái xác xuống hồ nước mùa đông, người em trai Marcuschứng kiến cảnh cha giết mẹ nên sợ hãi bỏ trốn vào rừng và lạc mất Người chagiết mẹ để đến với người tình là cô giáo Sophie và cô giáo Sophie biết hết mọi

bí mật nhưng luôn che dấu Anh chàng trực đêm khách sạn ấy tên là Michael,anh ấy đi tìm em trai mình, gặp gỡ nó một vài lần và khi quyết định đưa emmình về thì người em hoàn toàn mất tích không dấu vết Chính câu chuyện bithương ấy đã thôi thúc An Mi đi tìm sự thật để tìm lại công bằng cho nhữngmảnh đời xấu số Hành trình đi tìm cái chết của chị biến thành một cuộc kiếmtìm để ngăn một cái chết khác

Chị đến khách sạn để tìm Michael nhưng anh ấy đã nghỉ việc, chị quyếtđịnh về vùng quê mà Michael đã sinh sống, chị tìm cô giáo Sophie và hỏi về mọiđiều có trong cuốn sổ mà Michael đã đưa cho cô nhưng Sophie phủ nhận mọiđiều và nói là do Michael tưởng tượng ra, mẹ của Michael là Anita nghiện ngập

đã bỏ nhà đi và dắt theo đứa em trai Marcus Cô không tin điều đó là sự thật, côhỏi thông tin ở những ngôi nhà xung quang và nhận được nhiều luồng tin tráichiều về người đàn bà tên Anita và những thị phi giữa cha Michael – Sophie –Michael mối tình tay ba ghê tởm

An Mi vô tình đến một trại trẻ mồ côi và bắt gặp một đứa trẻ tên là Marcusvới những đặc điểm y hệt như những gì chàng Michael đã viết trong cuốn sổ,tuy nhiên Marcus luôn lầm lì ít nói và không chịu mở lời về quá khứ của mình.Chính điều này đã khiến trái tim cô đồng cảm vì cô cũng là trẻ mồ côi, được yêuthương bởi một gia đình theo Thiên Chúa giáo và một ngày kia người cha nuôi

đã tự kết liễu cuộc đời mình bằng một phát súng Người mẹ nuôi luôn bảo rằng

Trang 34

“Do ông ấy yêu mày, nên ông ấy phải tự sát” nhưng cô biết chắc rằng người cha

nuôi chết chính vì ông ấy thấy chán nản, áp lực trong cuộc sống Vì từ sự thươngcảm ấy, An Mi quyết định đến tìm người cha của Michael – Kempf để hỏi về sựthật Sự thật là ông ấy đang hấp hối trên giường bệnh Ông ấy đã thổ lộ hếtnhững bí mật về cái chết của vợ mình và giao cho cô chìa khóa nhà của mình

An Mi tới gặp Michael để nói về sự thật ấy thì Michael lại phủ nhận những gìcậu ấy viết và cậu ấy đang có cuộc sống hạnh phúc bên cô giáo Sophie

An Mi quyết định đến ngôi nhà của Kempf, cô sống tạm ở đấy và phát hiện

ra một căn phòng chứa những đồ vật cũ của Anita trong đó quý giá nhất và câyđàn hồ cầm An Mi cũng từng đánh đàn những vẫn không thể nào đánh ra nhữngnốt nhạc đẹp như Anita, hằng đêm tại căn nhà ấy cô vẫn hay thấy hồn ma củaAnita hiện về và nhờ cô tìm lại Marcus Và vài hôm sau Michael đến để yêu cầu

An Mi rời khỏi căn nhà của cha cậu An Mi rời khỏi căn nhà và mang theo câyđàn hồ cầm của Anita để mang đến trại trẻ mồ côi nơi Marcus đang sống Côđánh bài hát mà Anita để lại trong cuốn sổ cho Marcus nghe nhưng cậu bé vẫnkhông mấy phản ứng Cô quyết định đưa cây đàn cho Marcus dưới sự chấpthuận của hiệu trưởng trại mồ côi Cô nhận ra rằng, cô giúp Marcus, Michael…tấc cả đều xuất phát từ tình thương của một người mẹ và cô nhận định mình làAnita, mình đang sống cho cuộc đời của Anita Cô thấy hoảng sợ Cô đã nỗ lựchết sức mình để kéo họ ra khỏi cơn mơ, sự vô cảm, sự cúi đầu chấp nhận sốphận, chấp nhận dối trá, đánh tráo… Để làm được điều đó, cô phải nhảy vàocuộc sống của họ như một con thiêu thân nhảy vào lửa, nhưng chính ở đây, cô

đã sững sờ, đau đớn nhận ra: Cô không thuộc về thế giới của họ, cô không thuộc

về người lạ, cô không thể sống cuộc sống của người khác Cô có làm những điềucao cả nhất như chỉ có cho đi mà không mong nhận lại, cô vẫn bị chối từ Đơngiản vì sự thật mà cô muốn họ nhìn thấy là sự thật mà họ muốn quên đi Côkhông có cuộc sống của cô, cô cũng không sống được cuộc sống của ngườikhác Và cô quyết định uống thuốc ngủ để tự tử

Trang 35

Trong trạng thái mơ màng đi đến cái chết, ký ức của cô gái về cuộc thảmsát ở quê nhà, về cái chết của mẹ, sự hối hận vì đã chạy thoát một mình, bỏ quên

em gái, về người em có lẽ đã thoát chết và còn sống đâu đó nơi quê nhà… chợtbật dậy mãnh liệt trong cô Cô chợt hiểu: người ruột thịt thân yêu - đó mới là lý

do duy nhất để cô tiếp tục sống, đó mới là sợi dây nối cô với cuộc đời Tiếc làsợi dây quá mong manh đã không kéo cô lại được với cuộc sống vì ký ức sốnglại quá muộn màng

1 5 6 Thuận và “T mất tích”

1 5 6 1 Tác giả Thuận

Thuận tên thật là Đoàn Ánh Thuận, sinh năm 1968 tại Hà Nội, hiện đangsống ở Paris, Pháp Thuận là một trong những nhà văn có công góp phần khơidòng chảy tiểu thuyết đương đại trong văn học Việt Nam Chị được coi là hiệntượng tiêu biểu trong làng tiểu thuyết gần đây Hành trình sáng tạo của Thuậnđang khẳng định một sự vận động không ngơi nghỉ của một người cầm bút ýthức với nghề và đặc biệt quan tâm tới nghệ thuật viết

Thuận là nhà văn ngay khi vừa xuất hiện đã gây ngay được tiếng vang từtiểu thuyết đầu tiên của chị So với các nhà văn đương thời, Thuận được đánhgiá là một nhà văn nổi bật Trong tiểu thuyết của mình, Thuận luôn có những thểhiện mới mẻ về tâm thức con người thời đại, mạnh dạn, đưa vào trong tác phẩmnhững vấn đề vốn được coi là nhạy cảm, tế nhị như tình dục, ham muốn bảnnăng

Phá vỡ lối cấu trúc truyền thống, các tiểu thuyết của Thuận thường sử dụngcấu trúc phân mảnh, không chú trọng trình tự thời gian, sự kiện Các nhà phêbình văn học đều đánh giá Thuận đã rất thành công khi không đi theo hình thứctiểu thuyết cổ điển mà mỗi cuốn chị đều có những sáng tạo độc đáo của riêngmình

1 5 6 2 Tác phẩm “T mất tích”

 Tóm tắt tác phẩm

Trang 36

Câu chuyện bắt đầu ngay bằng sự vắng mặt của T Nhân vật “tôi”, một

người đàn ông Pháp một chiều bỗng không thấy người vợ Việt Nam là T trở vềnhà Sau 48 tiếng quy định và tin rằng vợ mình không về nước, cũng chẳng có

người thân nào để đến thăm, “tôi” và cảnh sát khẳng định: “T mất tích” T

chính thức là đối tượng của cơ quan truy tìm người mất tích trên toàn nướcPháp

Cuộc sống biến động với sự kiện đó “Tôi” cảm thấy phiền phức trước sự

nghi ngờ bởi viên đại úy Delon phụ trách việc điều tra, đồng thời không thoảimái khi những người xung quanh nhắc đến sự vắng mặt của T Một buổi tối,

“tôi” nhận được thư ngân hàng từ tài khoản riêng của T và đã có 10 000 euro

chuyển vào đó Anh hoài nghi T có liên quan đến ông chủ Brunel của mình Anh

theo dõi gã và phát hiện những bí mật trong gia đình “quý tộc” đầy thanh cao,

hào nhoáng của gã

Câu chuyện tiếp diễn về đám tang ông bố tuốt dưới miền Nam nước Pháp

mà “tôi” cùng con gái vượt ngàn cây số về dự Đám tang với nhiều bi hài, việc chia tài sản thừa kế khá lạ lẫm và “tôi” từ chối quyền thừa kế Việc “tôi” từ chối là kết quả của quá trình tính toán tỉ mỉ từ người mẹ kế mà “tôi” chưa từng gặp “Tôi” quen y tá Anna, nhân tình của bố “tôi” và có cuộc tình một đêm với

Trang 38

2 1 “Nỗi buồn chiến tranh” - Bảo Ninh

2 1 1 Đặc điểm nội dung

2 1 1 1 Chủ đề

Chủ đề chính của tác phẩm là chiến tranh song hành bên nó là các chủ đề

như tuổi trẻ, tình yêu và nghệ thuật Bảo Ninh cho rằng: “Có những người viết rất phóng túng, rất thật và tôi thuộc loại nhà văn phải chiến đấu để loại trừ cái giả ”

2 1 1 2 Hình tượng nhân vật

 Nhân vật Kiên

 Kiên – con người suy tư, chiêm nghiệm, “sống với thời gian hai

chiều”

Điểm đặc biệt đầu tiên của nhân vật người lính trong tiểu thuyết hậu chiến

là họ không bộc lộ mình trong những sự kiện ác liệt được lấy làm bối cảnh chính

của tác phẩm như một “kiểu nhân vật hành động” mà chủ yếu xuất hiện trong trạng thái suy tư, chiêm nghiệm, “sống với thời gian hai chiều” Người lính

trong tiểu thuyết hậu chiến vừa là con người của thời hiện tại, trực tiếp đối mặtvới cuộc sống thường ngày, vừa là con người của quá khứ trong nhu cầu nhậnthức lại quá khứ ấy Một mặt, họ ý thức rõ ràng về sự tồn tại của bản thân khi đã

đi qua một thời khói lửa với tư cách của người chiến thắng; mặt khác, cái giáphải trả cho chiến thắng ấy nhiều lúc lại dẫn dụ họ ngoái nhìn về quá khứ Chiếntrường xưa với diễn biến của một chiến dịch, một trận càn, những đồng đội thânthiết hay chỉ thoáng biết nhau qua một lần gặp gỡ… khiến những cựu binh sốnglại trong chiến thắng và mất mát, tình yêu và hận thù, sự đầm ấm của tình người

và cả những cay đắng trước sự yếu hèn, bội phản

Trang 39

“Nỗi buồn chiến tranh” mở đầu bằng hình ảnh nhân vật chính – Kiên – ngủ

lại trên thùng xe chứa đầy hài cốt tử sĩ sau một ngày anh cùng đội tìm kiếm hàicốt lùng sục khắp nơi xưa kia là chiến trường ác liệt mà chính anh tham gia.Trong đêm ấy, cả khi ngủ cũng như khi thức, những mộng mị từ ký ức vẫn chậpchờn, vây quyện lấy anh Từng bước, ký ức của Kiên dẫn người đọc quay vềnăm tháng chiến tranh khi anh còn là lính trinh sát, bên cạnh bao đồng đội trẻtrung sôi nổi… Rồi máu, rồi mất mát, những thứ kinh điển của một câu chuyện

kể về chiến tranh sẽ len dần vào câu chữ, không chút bất ngờ, không bằng mộtthủ pháp kể chuyện ấn tượng nào Tất cả đều chỉ là lời tường thuật bình dị, chânthành và đơn giản…

Ở đây, chúng ta sẽ không phải thấy những người lính được hình tượng hóalên thành một thứ gì đó có tinh thần bất diệt và khô khan giáo điều hoặc tìnhcảm gượng ép giả tạo Cái tàn bạo của một cuộc chiến hiện ra khi nó tước đisinh mạng con người, đúng vậy, nhưng kinh khủng hơn là việc nó không ngừng

ám ảnh cả những kẻ sống sót, hoặc tưởng mình sống sót Kiên là một ví dụ nhưthế Khi chiến đấu, anh là một người lính giỏi, có kỹ năng, có lòng can đảm.Anh chiến đấu với kẻ thù, với cái Chết và trở về Khi hòa bình, anh nhận ra tâmtưởng mình đã vĩnh viễn nằm lại trong quá khứ đã qua, thứ đang sống chỉ còn làthân xác mà thôi Bên cạnh đó, nhà văn cũng kể về những ngày không – chiến –tranh của Kiên, khi còn bé và sau khi giải ngũ Cũng như chiến tranh, mối tìnhđầu với cô gái tên Phương cũng đã ám ảnh và góp phần tạo nên những góc cạnhphức tạp trong người cựu binh Chúng ta sẽ thấy cuốn sách là một cánh cửa mởvào tâm hồn của Kiên, ở đó, ký ức, suy nghĩ, tình cảm, mộng mị thảy đều hòalẫn, tương tác với nhau không theo một thứ tự cụ thể nào, cơ hồ cứ nghĩ đếnchuyện gì là lại đặt bút ghi lại ngay chuyện ấy, không màng đến sự logic trướcsau

Quá khứ đã thành sức mạnh ghê gớm kéo Kiên quay cuồng trong những

hồi ức triền miên không dứt, “ngày này qua ngày khác, đêm thâu này thấu đêm

Trang 40

thâu kia” Quá khứ hầu như đã trở thành bầu “sinh quyển” bao bọc đời sống của anh: “Biết bao kỷ niệm bi thảm, bao nhiêu là nỗi đau mà từ lâu lòng đã nhủ lòng là phải gắng cho qua đi, rốt cuộc đều dễ dàng bị lay thức bởi những mối liên tưởng tuồng như là không đâu nảy sinh một cách khôn lường từ muôn vàn những chi tiết tầm thường, rời rạc, vô vị nhất có thể có” của đời sống thường ngày Để đến nỗi, “đêm đêm giữa chừng giấc ngủ, tôi nghe thấy tiếng chân tôi

từ những thuở nào đó rất xa rồi vang lên trên hè phố lát đá” Đối với người lính

ấy, cuộc đời “có khác nào con thuyền bơi ngược dòng sông không ngừng bị đẩy lui vào dĩ vãng” và “tương lai đã nằm lại ở phía sau xa kia rồi”

Bối cảnh mở ra là một trận đánh mở màng vô cùng khốc liệt và bi thảm ởkhu vực mà Kiên cùng đồng đội gọi đó là Truông Gọi Hồn (nơi những sườn dốccủa dãy Trường Sơn) Đó là một trong những nơi mà Kiên và những người đồngđội đã từng chiến đấu và đã nằm lại Bức tranh hiện thực của cuộc chiến tranhhiện lên thật ngột ngạt và căng thẳng Tác giả đã tái hiện một cách chân thực và

sống động những trận càng quét dã man của kẻ thù “một trận đánh thật ghê rợn, độc ác, tàn bạo… mùa khô ấy, nắng to gió lớn, rừng bị ướt đẫm xăng đặc, cuồn cuộn lửa luyện ngục Các đại đội đã tan tác, đang cố co cụm, lại bị đánh tan tác Tất cả bị napan tróc khỏi công sự hóa cuồng, không lính, không quan gì nữa rùng rùng lao chạy trong lượt đạn dày đặc, chết dúi, ngã dịu trên biển lửa Trên đầu trực thăng rà rạp các ngọn cây và gần như thúc họng đại liên vào gáy từng người một mà bắn Máu xối xả, tung tóe ồng ộc, nhoen nhét, trên cái trảng

cỏ hình thoi ở giữa truông, cái trảng mà nghe nói đến ngày nay vẫn chưa lại hồn để mộc lên nổi, thân thể dập vỡ, tanh banh, phùn phụt bì hơi nóng,

- Thà chết không đầu hàng… Anh em, thà chết…!”

Tiểu đoàn trưởng gào to như điên tiết, mắt tái dại, đưa súng ngắn lên, và ngay trước mắt Kiên anh ta tự nộp vào đầu, phọt ra khỏi tai, Kiên liếu lưỡi, kêu

ô ố trong họng Bọn Mĩ xong tới, tiểu liên kẹp bên sườn Đạn dày như đàn ong lửa Kiên nấc to, buông súng ôm lấy một bên hong và quỵ ngã, thong thả lăn

Ngày đăng: 18/03/2021, 12:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w