* Có thể nói tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả nhân vật Thuý Kiều: Tác giả miêu tả chân dung Thuý Vân trước để làm nổi bật chân dung Thuý Kiều, ca ngợi cả hai nhưng đậm nhạt khác nhau ở[r]
Trang 1HẦN I: NỘI DUNG ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI Bảng hệ thống các tác giả, tác phẩm văn học trung đại đã học ở lớp 9
- Khẳng định vẻ đẹp tâmhồn truyền thống củangười phụ nữ Việt Nam
- Niềm cảm thương sốphận bi kịch của họ dướichế độ phong kiến
- Truyện truyền kỳviết bằng chữ Hán
- Kết hợp những yếu
tố hiện thực và yếu tố
kỳ ảo, hoang đườngvới cách kể chuyện,xây dựng nhân vật rấtthành công
Lê, chúa Trịnh suy tàn
Tuỳ bút chữ Hán, ghichép theo cảm hứng
sự việc, câu chuyệncon người đương thờimột cách cụ thể, chânthực, sinh động
- Hình ảnh anh hùng dântộc Quang TrungNguyễn Huệ với chiếncông thần tốc vĩ đại đạiphá quân Thanh mùaxuân 1789
- Sự thảm hại của quântướng Tôn Sĩ Nghị và sốphận bi đát của vua tôi
Lê Chiêu Thống phảnnước hại dân
- Tiểu thuyết lịch sửchương hồi viết bằngchữ Hán
- Cách kể chuyệnnhanh gọn, chọn lọc
sự việc, khắc hoạnhân vật chủ yếu quahành động và lời nói
Cuộc đời và tính cáchNguyễn Du, vai trò và vịtrí của ông trong lịch sửvăn học Việt Nam
- Giới thiệu tác giả,tác phẩm Truyện thơNôm, lục bát
- Tóm tắt nội dung
Trang 2Vân Kiều của
Trung Quốc
cốt chuyện, sơ lượcgiá trị nội dung vànghệ thuật (SGK)
a Chị em Thuý
Kiều
Nguyễn Du (TK 18-19)
Trân trọng ngợi ca vẻđẹp của chị em ThuýKiều Vẻ đẹp toàn bíchcủa những thiếu nữphong kiến Qua đó dựcảm về kiếp người tàihoa bạc mệnh
- Thể hiện cảm hứngnhân văn văn NguyễnDu
Nghệ thuật ước lệ cổđiển lấy thiên nhiênlàm chuẩn mực để tả
vẻ đẹp con người.Khắc hoạ rõ nét chândung chị em ThuýKiều
xuân
Nguyễn Du (TK 18-19)
Bức tranh thiên nhiên, lễhội mùa xuân tươi đẹp,trong sáng
Tả cảnh thiên nhiênbằng những từ ngữ,hình ảnh giàu chấttạo hình
c Kiều ở lầu
Ngưng Bích
Nguyễn Du (TK 18-19)
Cảnh ngộ cô đơn buồntủi và tấm lòng thuỷchung, hiếu thảo rấtđáng thương, đáng trântrọng của Thuý Kiều
- Miêu tả nội tâmnhân vật thành côngnhất
- Bút pháp tả cảnhngụ tình tuyệt bút
Sinh mua
Kiều
Nguyễn Du (TK 18-19)
- Bóc trần bản chất conbuôn xấu xa, đê tiện của
Mã Giám Sinh
- Hoàn cảnh đángthương của Thuý Kiềutrong cơn gia biến
- Tố cáo xã hội phongkiến, chà đạp lên sắc tài,nhân phẩm của ngườiphụ nữ
Nghệ thuật kểchuyện kết hợp vớimiêu tả ngoại hình,
cử chỉ và ngôn ngữđối thoại để khắc hoạtính cách nhân vật(Mã Giám Sinh)
5 Lục Vân Tiên
cứu Kiều
Nguyệt Nga
Nguyễn Đình Chiểu (TK19)
- Vài nét về cuộc đời, sựnghiệp, vai trò củaNguyễn Đình Chiểutrong lịch sử văn học
- Là truyền thơ Nôm,một trong những tácphẩm xuất sắc củaNĐC được lưu
Trang 3- Tóm tắt cốt chuyệnLVT
- Khát vọng hành đạogiúp đời sống của tácgiả, khắc hoạ nhữngphẩm chất đẹp đẽ củahai nhân vật : LVT tài
ba, dũng cảm, trọngnghĩa, khinh tài ; KNNhiền hậu, nết na, ân tình
truyền rộng rãi trongnhân dân
- Nghệ thuật kểchuyện, miêu tả rấtgiản dị, mộc mạc,giàu màu sắc NamBộ
Lục Vân Tiên
gặp nạn
Nguyễn Đình Chiểu (TK 19)
- Sự đối lập giữa thiện
và ác, giữa nhân cáchcao cả và những toantính thấp hèn
- Thái độ, tình cảm vàlòng tin của tác giả đốivới nhân dân lao động
- Nghệ thuật kểchuyện kết hợp với tảnhân vật qua hànhđộng, ngôn ngữ, lờithơ giàu cảm xúc,bình dị, dân dã, giàumàu sắc Nam Bộ
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích “Truyền kỳ mạn lục” - Nguyễn Dữ)
A KIẾN THỨC CƠ BẢN
I Tác giả:
- Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở Hải Dương.
- Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỷ XVI, là thời kỳ Triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng
hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiếnkéo dài
- Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi ThanhHoá Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đương thời
II Tác phẩm:
1 Xuất xứ: “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyện thứ 16 trong số 20 truyện nằm
trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ “Truyền kỳ mạn lục” Truyện có nguồn gốc từ một
truyện cổ dân gian trong kho tàng cổ tích Việt Nam “Vợ chàng Trương”
2 Thể loại: Truyện truyền kỳ mạn lục (ghi chép tản mạn những truyện kỳ lạ vẫn được lưu
truyền) Viết bằng chữ Hán
Trang 43 Chủ đề: Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ
đẹp truyền thống của những phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến
4 Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh Chồng nàng là
Trương Sinh phải đi lính sau khi cưới ít lâu Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏ vừa chăm sóc
mẹ chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất Trương Sinh trở về, nghe lời con, nghi vợ thấttiết nên đánh đuổi đi Vũ Nương uất ức gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, được thần RùaLinh Phi và các tiên nữ cứu Sau đó Trương Sinh mới biết vợ bị oan Ít lâu sau, Vũ Nương gặpPhan Lang, người cùng làng chết đuối được Linh Phi cứu Khi Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửichiếc hoa vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng Trương Sinh nghe theo, Vũ Nương
ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ rồi biến mất
5 Bố cục: 3 đoạn
- Đoạn 1:… của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ Nương, sự xa cách vì chiến
tranh và phẩm hạnh của nàng trong thời gian xa cách
- Đoạn 2: … qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương.
- Đoạn 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương và Phan Lang trong đội Linh Phi Vũ Nương
được giải oan
III Giá trị nội dung của tác phẩm: (Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc)
1 Giá trị hiện thực:
- Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền, chà đạp sốphận người phụ nữ (Đại diện là nhân vật Trương Sinh)
- Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận phụ nữ: chịu nhiều oan khuất và bế tắc
- Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm cho cuộc sống củangười dân càng rơi vào bế tắc
2 Giá trị nhân đạo:
a Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua nhân vật Vũ Nương
Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ đời sống và tính cáchnhân vật
Ngay từ đầu, nàng đã được giới thiệu là “tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”.
Chàng Trương cũng bởi mến cái dung hạnh ấy, nên mới xin với mẹ trăm lạng vàng cưới về
Cảnh 1: Trong cuộc sống vợ chồng bình thường, nàng luôn giữ gìn khuôn phép nên dù chồng
nàng đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức nhưng gia đình chưa từng phải bất hoà
Cảnh 2: Khi tiễn chồng đi, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa
đằm thắm Nàng “chẳng dám mong” vinh hiển mà chỉ cầu cho chồng “khi về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Vũ Nương cũng thông cảm cho những nỗi gian lao, vất vả mà chồng
Trang 5sẽ phải chịu đựng Và xúc động nhất là những lời tâm tình về nỗi nhớ nhung, trông chờ khắc khoảicủa mình khi xa chồng Những lời văn từng nhịp, từng nhịp biền ngẫu như nhịp đập trái tim nàng -trái tim của người vợ trẻ khát khao yêu thương đang thổn thức lo âu cho chồng Những lời đsothấm vào lòng người, khiến ai ai cũng xúc động ứa hai hàng lệ.
Cảnh 3: Rồi đến khi xa chồng, nàng càng chứng tỏ và bộc lộ nhiều phẩm chất đáng quý Trước
hết, nàng là người vợ hết mực chung thuỷ với chồng Nỗi buồn nhớ chồng vò võ, kéo dài qua nămtháng Mỗi khi thấy “bướm lượn đầy vườn” – cảnh vui mùa xuân hay “mây che kín núi” – cảnhbuồn mùa đông, nàng lại chặn “nỗi buồn góc bể chân trời nhớ người đi xa Đồng thời, nàng làngười mẹ hiền, hết lòng nuôi dạy, chăm sóc, bù đắp cho đứa con trai nhỏ sự thiếu vắng tình cha.Bằng chứng chính là chiếc bóng ở phần sau câu chuyện mà nàng vẫn bảo đó là cha Đản Cuốicùng, Vũ Nương còn bộc lộ đức tính hiếu thảo của người con dâu, tận tình chăm sóc mẹ chồng giàyếu, ốm đau Nàng lo chạy chữa thuốc thang cho mẹ qua khỏi, thành tâm lễ bái thần phật, bởi yếu
tố tâm linh đối với người xưa là rất quan trọng Nàng lúc nào cũng dịu dàng, “lấy lời ngọt ngào khôn khéo, khuyên lơn” Lời trăng trối cuối cùng của bà mẹ chồng đã đánh giá cao công lao của Vũ Nương đối với gia đình: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ” Thông
thường, nhất là trong xã hội cũ, mối quan hệ mẹ chồng – con dâu là mối quan hệ căng thẳng, phứctạp Nhưng trước người con dâu hết mực hiền thảo như Vũ Nương thì bà mẹ Trương Sinh không
thể không yêu mến Khi bà mất, Vũ Nương đã “hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình” Có thể nói, cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn ngủi nhưng nàng đã làm
tròn bổn phận của người phụ nữ: một người vợ thuỷ chung, một người mẹ thương con, một ngườidâu hiếu thảo Ở bất kỳ một cương vị nào, nàng cũng làm rất hoàn hảo
Cảnh 4: Khi bị chồng nghi oan, nàng đã tìm mọi cách để xoá bỏ ngờ vực trong lòng Trương
Sinh
+ Ở lời nói đầu tiên, nàng nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòngchung thuỷ trong trắng của mình Cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là nàng đã cố gắng hàn gắn,cứu vãn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ
+ Ở lời nói thứ hai trong tâm trạng “bất đắc dĩ”, Vũ Nương bày tỏ nỗi thất vọng khi không hiểu
vì sao bị đối xử tàn nhẫn, bất công, không có quyền tự bảo vệ mình, thậm chí không có quyền đượcbảo vệ bởi những lời biện bạch, thanh minh của hàng xóm láng giềng Người phụ nữ của gia đình
đã mất đi hạnh phúc gia đình, “thú vui nghi gia nghi thất” Tình cảm đơn chiếc thuỷ chung nàng dành cho chồng đã bị phủ nhận không thương tiếc Giờ đây “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồn xa”, cả nỗi nhớ chờ chồng mà hoá đá trước đây cũng không còn Vậy thì cuộc đời còn
gì ý nghĩa nữa đối với người vợ trẻ khao khát yêu thương ấy?
Trang 6+ Chẳng còn gì cả, chỉ có nỗi thất vọng tột cùng, đau đớn ê chề bởi cuộc hôn nhân đã không còncách nào hàn gắn nổi, mà nàng thì phải chịu oan khuất tày trời Bị dồn đến bước đường cùng, saumọi cố gắng không thành, Vũ Nương chỉ còn biết mượn dòng nước Hoàng Giang để rửa nỗi oannhục Nàng đã tắm gội chay sạch mong dòng nước mát làm dịu đi tức giận trong lòng, khiến nàngsuy nghĩ tỉnh táo hơn để không hành động bồng bột Nhưng nàng vẫn không thay đổi quyết địnhban đầu, bởi chẳng còn con đường nào khác cho người phụ nữ bất hạnh này Lời than của nàngtrước trời cao sông thẳm là lời nguyện xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng như đứchạnh của nàng Hành động trẫm mình là hành động quyết liệt cuối cùng, chất chứa nỗi tuyệt vọngđắng cay nhưng cũng đi theo sự chỉ đạo của lý trí.
+ Được các tiên nữ cứu, nàng sống dưới thuỷ cung và được đối xử tình nghĩa Nàng hết sức cảmkích ơn cứu mạng của Linh Phi và các tiên nữ cung nước Nhưng nàng vẫn không nguôi nỗi nhớcuộc sống trần thế – cuộc sống nghiệt ngã đã đẩy nàng đến cái chết Vũ Nương vẫn là người vợyêu chồng, người mẹ thương con, vẫn nặng lòng nhung nhớ quê hương, mộ phần cha mẹ, đồngthời vẫn khao khát được trả lại danh dự Bởi vậy mà nàng đã hiện về khi Trương Sinh lập đàn giảioan Thế nhưng “cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ”, Vũ Nương khôngquay trở về trần gian nữa
Tóm lại: Vũ Nương là một người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiền thục lại đảm đang, tháo vát, thờ
kính mẹ chồng rất mực hiếu thảo, một dạ thuỷ chung với chồng, hết lòng vun đắp cho hạnh phúcgia đình Nàng là người phụ nữ hoàn hảo, lý tưởng của mọi gia đình, là khuôn vàng thước ngọc củamọi người phụ nữ Người như nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, vậy mà lại phảichết oan uổng, đau đớn
b Vì sao Vũ Nương phải chết oan khuất? Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?
Những duyên cớ khiến cho một người phụ nữ đức hạnh như Vũ Nương không thể sống mà phảichết một cách oan uổng:
- Nguyên nhân trực tiếp: do lời nói ngây thơ của bé Đản Đêm đêm, ngồi buồn dưới ngọn đèn
khuya, Vũ Nương thường “trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản” Vậy nên Đản mới ngộ nhận đó làcha mình, khi người cha thật chở về thì không chịu nhận và còn vô tình đưa ra những thông tinkhiến mẹ bị oan
- Nguyên nhân gián tiếp:
+ Do người chồng đa nghi, hay ghen Ngay từ đầu, Trương Sinh đã được giới thiệu là người
“đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”, lại thêm “không có học” Đó chính là mầm mống của bi
kịch sau này khi có biến cố xảy ra Biến cố đó là việc Trương Sinh phải đi lính xa nhà, khi về mẹ
đã mất Mang tâm trạng buồn khổ, chàng bế đứa con lên ba đi thăm mộ mẹ, đứa trẻ lại quấy khóc
không chịu nhận cha Lời nói ngây thơ của đứa trẻ làm đau lòng chàng: “Ô hay! Thế ra ông cũng
Trang 7là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít” Trương Sinh gạn hỏi đứa bé lại đưa thêm những thông tin gay cấn, đáng nghi: “Có một người đàn ông đêm nào cũng đến” (hành động lén lút che mắt thiên hạ), “mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đảng ngồi cũng ngồi” (hai
người rất quấn quýt nhau), “chẳng bao giờ bế Đản cả” (người này không muốn sự có mặt của đứabé) Những lời nói thật thà của con đã làm thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng TrươngSinh
+ Do cách cư xử hồ đồ, thái độ phũ phàng, thô bạo của Trương Sinh Là kẻ không có học, lại
bị ghen tuông làm cho mờ mắt, Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điềuphi lý trong lời nói con trẻ Con người độc đoán ấy đã vội vàng kết luận, “đinh ninh là vợ hư”.Chàng bỏ ngoài tai tất cả những lời biện bạch, thanh minh, thậm chí là van xin của vợ Khi VũNương hỏi ai nói thì lại giấu không kể lời con Ngay cả những lời bênh vực của họ hàng, làng xómcũng không thể cời bỏ oan khuất cho Vũ Nương Trương Sinh đã bỏ qua tất cả những cơ hội đểcứu vãn tấn thảm kịch, chỉ biết la lên cho hả giận Trương Sinh lúc ấy không còn nghĩ đến tìnhnghĩa vợ chồng, cũng chẳng quan tâm đến công lao to lớn của Vũ Nương đối với gia đình, nhất làgia đình nhà chồng Từ đây có thể thấy Trương Sinh là con đẻ của chế độ nam quyền bất công,thiếu lòng tin và thiếu tình thương, ngay cả với người thân yêu nhất
+ Do cuộc hôn nhân không bình đẳng, Vũ Nương chỉ là “con nhà kẻ khó”, còn Trương Sinh là
“con nhà hào phú” Thái độ tàn tệ, rẻ rúng của Trương Sinh đối với Vũ Nương đã phần nào thể
hiện quyền thế của người giàu đối với người nghèo trong một xã hội mà đồng tiền đã bắt đầu làmđen bạc thói đời
+ Do lễ giáo hà khắc, phụ nữ không có quyền được nói, không có quyền được tự bảo vệ mình.
Trong lễ giáo ấy, chữ trinh là chữ quan trọng hàng đầu; người phụ nữ khi đã bị mang tiếng thất tiếtvới chồng thì sẽ bị cả xã hội hắt hủi, chỉ còn một con đường chết để tự giải thoát
+ Do chiến tranh phong kiến gây nên cảnh sinh ly và cũng góp phần dẫn đến cảnh tử biệt Nếu
không có chiến tranh, Trương Sinh không phải đi lính thì Vũ Nương đã không phải chịu nỗi oantày trời dẫn đến cái chết thương tâm như vậy
Tóm lại: Bi kịch của Vũ Nương là một lời tố cáo xã hội phong kiến xem trọng quyền uy của kẻ
giàu có và của người đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tác giả đối với
số phận oan nghiệt của người phụ nữ Người phụ nữ đức hạnh ở đây không những không đượcbênh vực, trở che mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lý; chỉ vì lời nói thơ ngây của đứa trẻ
và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng hay ghen tuông mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình
IV Giá trị nghệ thuật:
1 Một số nét nghệ thuật đặc sắc của Chuyện người con gái Nam Xương
- Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc biệt là chi tiết chiếc bóng Đây là sự khái quát hoátấm lòng, sự ngộ nhận và sự hiểu lầm của từng nhân vật Hình ảnh này hoàn thiện thêm vẻ đẹp
Trang 8nhân cách của Vũ Nương, đồng thời cũng thể hiện rõ nét hơn số phận bi kịch của Vũ Nương nóiriêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung.
- Nghệ thuật dựng truyện Dẫn dắt tình huống truyện hợp lý Chi tiết chiếc bóng là đầu mối câu
chuyện lại chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở cuối truyện, tạo sự bất ngờ, bàng hoàng cho người đọc
và tăng tính bi kịch cho câu chuyện
- Có nhiều sự sáng tạo so với cốt truyện cổ tích "Vợ chàng Trương" bằng cách sắp xếp thêm
bớt chi tiết một cách độc đáo
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được xây dựng qua lời nói và hành động Các lời trần
thuật và đối thoại của nhân vật sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ nhưng vẫn khắc hoạ đậm nét và chânthật nội tâm nhân vật
- Sử dụng yếu tố truyền kỳ (kỳ ảo) làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm Yếu tố kỳ ảo,
hoang đường làm câu chuyện vừa thực vừa mơ, vừa có hậu vừa không có hậu, làm hoàn chỉnh vẻđẹp của Vũ Nương
- Kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sự + biểu cảm (trữ tình) làm nên một áng văn xuôi tự sự
còn sống mãi với thời gian
2 Ý nghĩa của chi tiết kỳ ảo
* Các chi tiết kỳ ảo trong câu chuyện:
- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa
- Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được cứu giúp; gặp lại Vũ Nương, được
sứ giả của Linh Phi rẽ đường nước đưa về dương thế
- Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh, huyền ảo rồi lại biến
đi mất
* Cách đưa các chi tiết kỳ ảo:
- Các yếu tố này được đưa vào xen kẽ với những yếu tố thực về địa danh, về thời điểm lịch sử,những chi tiết thực về trang phục của các mỹ nhân, về tình cảnh nhà Vũ Nương không người chămsóc sau khi nàng mất… Cách thức này làm cho thế giới kỳ ảo lung linh, mơ hồ trở nên gần vớicuộc đời thực, làm tăng độ tin cậy, khiến người đọc không cảm thấy ngỡ ngàng
* Ý nghĩa của các chi tiết kỳ ảo:
- Cách kết thúc này làm nên đặc trưng của thể loại truyện truyền kỳ
- Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của Vũ Nương: nặng tình, nặng nghĩa, quan tâm đếnchồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự
- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện
- Thể hiện về ước mơ, về lẽ công bằng ở cõi đời của nhân dân ta
- Chi tiết kỳ ảo đồng thời cũng không làm mất đi tính bi kịch của câu chuyện Vũ Nương trở về
mà vẫn xa cách ở giữa dòng bởi nàng và chồng con vẫn âm dương chia lìa đôi ngả, hạnh phúc đã
Trang 9vĩnh viễn rời xa Tác giả đưa người đọc vào giấc chiêm bao rồi lại kéo chúng ta sực tỉnh giấc mơ giấc mơ về những người phụ nữ đức hạnh vẹn toàn Sương khói giải oan tan đi, chỉ còn một sựthực cay đắng: nỗi oan của người phụ nữ không một đàn tràng nào giải nổi Sự ân hận muộn màngcủa người chồng, đàn cầu siêu của tôn giáo đều không cứu vãn được người phụ nữ Đây là giấc mơ
-mà cũng là lời cảnh tỉnh của tác giả Nó để lại dư vị ngậm ngùi trong lòng người đọc và là bài họcthấm thía về giữ gìn hạnh phúc gia đình
-> Yêu cầu trả lời ngắn gọn, giải thích rõ yêu cầu của đề bài; các ý có sự liên kết chặt chẽ; trìnhbày rõ ràng, mạch lạc
TRUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH
- Ông sống vào thời buổi đất nước loạn lạc nên muốn ẩn cư Đến thời Minh Mạng nhà Nguyễn,vua vời ông ra làm quan, ông đã mấy lần từ chức, rồi lại bị triệu ra
- Phạm Đình Hổ để lại nhiều công trình biên soạn khảo cứu có giá trị thuộc đủ các lĩnh vực: vănhọc, triết học, lịch sử, địa lý… tất cả đều bằng chữ Hán
II Tác phẩm:
1 Ý nghĩa nhan đề: Vũ trung tuỳ bút (tuỳ bút viết trong những ngày mưa)
2 Thể loại: Tác phẩm gồm : 88 mẩu chuyện nhỏ, viết theo thể tuỳ bút, hiểu theo nghĩa là ghi
chép tuỳ hứng, tản mạn, không cần hệ thống, kết cấu gì Ông bàn về các thứ lễ nghi, phong tục, tậpquán… ghi chép những việc xảy ra trong xã hội lúc đó, viết về một số nhân vật, di tích lịch sử,khảo cứu về địa dư, chủ yếu là vùng Hải Dương quê ông Tất cả những nội dung ấy đều được trìnhbày giản dị, sinh động và rất hấp dẫn Tác phẩm chẳng những có giá trị văn chương đặc sắc mà còncung cấp những tài liệu quý về sử học, địa lý, xã hội học
3 Hoàn cảnh: Tác phẩm được viết đầu đời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX)
4 Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích:
* Giá trị nội dung: "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh" phản ánh đời sống xa hoa của vua
chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê - Trịnh
* Giá trị nghệ thuật: Phạm Đình Hổ thành công ở thể loại tuỳ bút, sự ghi chép chân thực, sinh
động, giàu chất trữ tình Các chi tiết miêu tả chọn lọc, đắt giá, giàu sức thuyết phục, tả cảnh đẹp tỉ
Trang 10mỉ nhưng lại nhuốm màu sắc u ám, mang tính dự báo Giọng điệu tác giả gần như khách quannhưng cũng đã khéo léo thể hiện thái độ lên án bọn vua quan qua thủ pháp liệt kê.
B PHÂN TÍCH VĂN BẢN
1 Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan lại hầu cận được miêu tả như thế nào?
a) Thói ăn chơi xa xỉ, xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê – Trịnh được Phạm Đình Hổ miêu tả rất cụ thể, sinh động Cuộc sống của chúa là cuộc sống giàu sang đến
tột đỉnh
- Chúa cho xây nhiều cung điện, đền đài ở khắp mọi nơi, để thoả ý thích chơi đèn đuốc “ngắm
cảnh đẹp”, ý thích đó biết bao nhiêu cho vừa, vì vậy “việc xây dựng đình đài cứ liên miên”, hao
tiền, tốn của
- Chúa bày ra nhiều cuộc dạo chơi tốn kém ở các li cung (cung điện lâu đài xa kinh thành)
Những cuộc dạo chơi của chúa ở Tây hồ được miêu tả tỉ mỉ: Diễn ra thường xuyên “ tháng ba bốn lần”, huy động rất nhiều người hầu hạ “binh lính dàn hầu bốn mặt hồ” – mà Hồ Tây thì rất rộng.
Không chỉ là dạo chưoi đơn thuần, mà còn là nghi lễ tiếp đón tưng bừng, độc đáo, những trò chơi
lố lăng (tổ chức hội chợ, cho quan nội thần cải trang thành đàn bà bày bán hàng), chùa Trấn Quốc,nơi linh thiêng của phật giáo cũng trở thành nơi hoà nhạc cua rbọn nhạc công cung đình
- Dùng quyền lực để tìm và cướp lấy các của quý trong thiên hạ như trân cầm dị thú, cổ mộcquái thạch… (chim quý, thú lạ, cây cổ thụ, những hòn đá có hình dáng kỳ lạ, chậu hoa, cây cảnh)
về tô điểm cho nơi ở của chúa
* Tác giả chọn một cảnh điển hình của cuộc cướp đoạt ấy là cảnh lính tráng trở một cây đa cổthụ về phủ chúa (đây là một chi tiết tiêu biểu làm rõ chủ đề) Tác giả miêu tả kỹ lưỡng, công phu
bằng những từ ngữ sống động, một giọng văn thật nặng nề: “Cây đa to, cành lá rườm rà, được rước qua sông”… như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ đến vài trượng, phải một cơ binh mới khiêng nổi, lại có bốn người đi kèm, đều cầm gươm đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng đi cho đều tay” Người viết tuỳ bút, danh nho Phạm Đình Hổ đã đưa ra những sự việc cụ
thể, chân thực và khách quan, không bình luận mà các hình ảnh, chi tiết hiện lên đầy ấn tượng.Những chi tiết kể, tả chân thực cho thấy phủ chúa là nơi bày ra những trò chơi tốn kém và hếtsức lố bịch Để phục vụ cho sự ăn chơi ấy thì tiền của, công sức, mồ hôi nước mắt và thậm chí cảmạng sống của nhân dân phải hao tốn biết bao nhiêu mà kể
b) Ấn tượng nhất là cảnh đêm nơi vườn nhà chúa qua đoạn văn “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu, vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường”.
Cảnh được miêu tả là cảnh thực nhưng âm thanh lại gợi cảm giác ghê rợn trước một cái gì tantác, đau thương như không phải trước cảnh đẹp yên tĩnh, phồn thực “triệu bất tường” tức là điềm
gở, điềm chẳng lành Hình ảnh ẩn dụ tả cảnh bất thường của đêm thanh cảnh vắng như báo trước
Trang 11sự suy vong tất yếu của một triều đại chỉ biết chăm lo đến chuyện ăn chơi hưởng lạc trên mồ hôi,nước mắt và cả xương máu của dân lành Cảm xúc chủ quan của tác giả đến đây mới được bộ lộ.
2 Sự tham lam nhũng nhiễu của bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa
- Thời chúa Trịnh Sâm, bọn quan lại hầu cận trong phủ chúa rất được sủng ái, bởi chúng có thểgiúp chúa đắc lực trong việc bày các trò ăn chơi, hưởng lạc Do thế, chúng cũng ỷ thế nhà chúa màhoành hành, tác oai, tác quái trong nhân dân
- Để phục vụ cho sự hưởng lạc ấy, chúa cũng như các quan đã trở thành những kẻ cướp ngày.Chúng ra sức hoành hành trấn lột khắp nơi trong thành tìm đồ vật, cây cối đẹp, con thú cướp về
trang trí cho phủ chúa lộng lẫy xa hoa : "bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy" "trong phủ, tuỳ chỗ điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ, trông như bến bể đầu non" Chúa có những vật quý ấy thì bao người dân bị ăn cướp trắng trơn Bọn quan lại thường "mượn gió bẻ măng, ngoài dọ dẫm", dò xem nhà nào có vật quý thì
biên vào hai chữ "phụng thủ", đem cho người đến lấy phăng đi Rồi vừa ăn cướp vừa la làng,chúng còn doạ giấu vật của phụng để doạ lấy tiền của dân Người dân vừa bị cướp vật quý vừa bịđòi tiền, có khi lại còn phải tự tay phá huỷ những thứ mình đã chăm sóc, nuôi trồng để tránh khỏitai vạ Còn bọn hoạn quan đối với chúa thì được thưởng, được khen, được thăng quan tiến chức,bổng lộc ních đầy túi, một công mà lợi cả đôi đường
- Đoạn văn cuối là chi tiết kể rất thật về gia đình của chính tác giả: bà mẹ của tác giả đã phải saichặt đi một cây lê và hai cây lựu quý, rất đẹp trong vườn nhà mình để tránh tai vạ Đây không chỉ
là điều tác giả mắt thấy tai nghe mà còn là điều ông đã trải qua, nên rất có sức thuyết phục Cảmxúc của tác giả (thái độ bất bình, phê phán) cũng được gửi gắm một cách kín đáo qua đó
3 Theo em thể văn tuỳ bút trong bài có gì khác với thể truyện mà các em đã học ở tiết trước (Chuyện người con gái Nam Xương).
Giống nhau: đều thuộc thể loại văn xuôi trung đại
Khác nhau:
- Hiện thực của cuộc sống được thông
qua số phận con người cụ thể, cho nên
thường có cốt truyện và nhân vật
- Cốt truyện được triển khai, nhân vật
được khắc hoạ nhờ một hệ thống chi
tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng bao
gồm chi tiết sự kiện, xung đột, chi tiết
nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi
tiết tính cách… thậm chí cả những chi
- Nhằm ghi chép về những con người,những sự việc cụ thể, có thực, qua đótác giả bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, nhậnthức, đánh giá của mình về con người
và cuộc sống
- Sự ghi chép ở đây là tuỳ theo cảmhứng chủ quan, có thể tản mạn, khôngcần gò bó theo hệ thống, kết cấu gì,nhưng vẫn tuân theo một tư tưởng cảm
Trang 12tiết tượng, hoang đường xúc chủ đạo (Ví dụ: Thái độ phê phán
thói ăn chơi xa xỉ và tệ nhũng nhiễunhân dân dân của bọn vua chúa và lũquan lại hầu cận)
- Lối ghi chép của tùy bút giàu chất trữtình hơn ở các loại ghi chép khác (nhưbút ký, ký sự)
4 Trình bày cảm nhận của em về tình trạng của đất nước ta thời vua Lê - chúa Trịnh?
- Cảnh vật trong phủ chúa là cảnh xa hoa, lộng lẫy, bóng bẩy, điểm xuyết bày đủ thứ
- Đi kèm với cảnh xa hoa như thế thì cuộc sống trong phủ cũng rất bóng bẩy, chúa chơi đủ các
loài “chân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian” Đúng là cá trời
Nam sang nhất là đây” (Lê Hữu Trác) Cuộc sống ấy vương giả, thâm nghiêm, đầy quyền uy nhưng
"kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường", báo trước sự suy vọng sụp đổ tất yếu của một triều đại chỉ
biết ăn chơi, không lo nghĩ gì cho nhân dân
- Con người trong phủ chúa đa dạng, nhưng phần lớn là những kẻ ăn chơi, hoang dâm vô độ, vôtrách nhiệm thậm chí là vô lương tâm, không còn nhân tính Chúng chỉ biết ăn cướp của dân đểních cho đầy túi, để thoả cái thú vui chơi đèn đuốc hay chơi chậu hoa cây cảnh của mình
-> Từ đây có thể thấy rằng thời đại phong kiến Lê – Trịnh là thời đại thối nát, mục ruỗng Vua
và quan đều chỉ lo vui chơi, lo bày trò – những trò lố lăng, kịch cỡm và vô cùng tốn kém, quan thìnịnh hót, cướp của dân về dâng cho chúa ; chúa thì mải hưởng thụ cuộc sống xa hoa, phú quý Còn
"nhân dân" họ không chỉ chịu đói chịu khổ mà còn phải chịu ấm ức bởi bị bóc lột, bị ăn cướp trắngtrơn tiền bạc và những đồ mà họ yêu quý, nâng niu Triều đại ấy sụp đổ là một lẽ tự nhiên khôngthể tránh khỏi
Trang 13HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG TRÍ
Ngô Gia Văn Phái
A KIẾN THỨC CƠ BẢN
I Tác giả: Ngô Gia Văn Phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay
thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1753-1788), làmquan thời Lê Chiêu Thống, và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quan dưới chiều nhà Nguyễn
II Tác phẩm:
1 Nhan đề: “Hoàng Lê nhất thống chí” viết bằng chữ Hán ghi chép về sự thống nhất của
vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê Nó không chỉdừng lại ở sự thống nhất của vương triều nhà Lê, mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai đoạn lịch
sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầuthế kỷ XIX Cuốn tiểu thuyết có tất cả 17 hồi
2 Thể loại: (chí là một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).
Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chươnghồi
3 Hoàn cảnh: hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.
4 Khái quát nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến
công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát củavua tôi Lê Chiêu Thống
- Nghệ thuật: Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ thể, gây được ấn tượng mạnh.
5 Đại ý và bố cục:
* Đại ý: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự thảm bại nhục nhã
của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân
* Bố cục: 3 đoạn
- Đoạn 1: (từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng cháp năm Mậu Thân (1788)”): Được
tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và thân chinh cầm quân dẹp giặc.
- Đoạn 2: (“Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh… vua Quang Trung tiến binh đến
Thăng Long, rồi kéo vào thành”): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
- Đoạn 3: (“Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê… cũng lấy làm xấu hổ”): Sự đại bại của quân
tướng nhà Thanh và tình trạng thảm bại của vua tôi Lê Chiêu Thống.
6 Tóm tắt hồi 14 “Hoàng Lê nhất thống chí”
Trang 14- Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và cho ngườivào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.
Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm hai đạo thuỷ bộ
Ngày 25 tháng Chạp, làm lễ lên ngôi lấy hiệu là Quang Trung, trực tiếp chỉ đạo hai đạo quân
tiến ra Bắc
- Ngày 29 tháng Chạp, quân Tây Sơn ra đến Nghệ An, Quang Trung cho dừng lại một ngày,
tuyển thêm hơn 1 vạn tinh binh, mở một cuộc duyệt binh lớn
- Ngày 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân Quang Trung đã
khẳng định : "Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh" Cũng trong ngày 30, giặc giã
chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây dựng đất nước mười năm sau chiếntranh Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn mùng 7 sẽ có mặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn.Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp tục lên đường Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặpđám do thám của quân Thanh, Quang Trung ra lệnh bắt hết không để sót một tên
- Rạng sáng ngày 3 Tết, nghĩa quân bí mật bao vây đồn Hạ Hồi và dùng mưu để quân Thanh
đầu hàng ngay, hạ đồn dễ dàng
- Rạng sáng ngày mùng 5 Tết, nghĩa quân tấn công đồn Ngọc Hồi Quân giặc chống trả quyết
liệt, dùng ống phun khói lửa ra nhằm làm ta rối loạn, nhưng gió lại đổi chiều thành ra chúng tự hạimình Cuối cùng, quân Thanh phải chịu đầu hàng, thái thú Điền châu Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử
- Trưa mùng 5 Tết, Quang Trung đã dẫn đầu đoàn quân thắng trận tiến vào Thăng Long Đám
tàn quân của giặc tìm về phía đê Yên Duyên gặp phục binh của ta, trốn theo đường Vịnh Kiều lại
bị quân voi ở Đại áng dồn xuống đầm Mực giày xáo, chết hàng vạn tên Một số chạy lên cầu phao,cầu phao đứt, xác người ngựa chết làm tắc cả khúc sông Nhị Hà Mùng 4 Tết nghe tin quân TâySơn tấn công, Tôn Sỹ Nghị và Lê Chiêu Thống đã vội vã bỏ lên biên giới phía bắc Khi gặp lạinhau, Nghị có vẻ xấu hổ nhưng vẫn huyênh hoang Cả hai thu nhặt tàn quân, kéo về đất Bắc
Trang 15- Trong hồi thứ 14 của tác phẩm, hình tượng người anh hùng Quang Trung hiện lên thật cao đẹpvới khí phách hào hùng, trí tuệ sáng suốt và tài thao lược hơn người.
II Thân bài:
1 Trước hết Quang Trung là một con người hành động mạnh mẽ quyết đoán:
- Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là con người hành động một cách xôngxáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết
- Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông
không hề nao núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”.
- Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: “tế cáo trời đất”, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại binh ra Bắc…
2 Đó là một con người có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:
* Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang
mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Nguyễn Huệ đã quyết định
lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là Quang Trung
Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội bộ, hội tụ anh tài và quan trọng hơn
là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
* Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và ta:
- Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác” Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”.
- Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảmchống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn xưa như: Trưng nữ Vương, ĐinhTiên Hoàng, Lê Đại Hành…
- Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người Phù
Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính chí tình, vừa nghiêm khắc: “cácngười đều là những người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn.Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, khôngtha một ai”
* Sáng suốt trong việc sét đoán bê bối:
- Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông
rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này Đúng ra thì “quân thua chém tướng” nhưng không
hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏthành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt màcòn được ngợi khen
Trang 16- Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sĩ “đa mưu túc trí”
việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lựclượng, vừa gây cho địch sự chủ quan Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéoléo để dẹp việc binh đao
3 Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng:
- Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc
như đinh đóng cột “phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.
- Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kếhoạch 10 tới ta hoà bình Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay
được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó Nếu “chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng”.
4 Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người:
- Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc.Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế hoạch từ 25 tháng chạp đếnmùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tiết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức 2 ngày
- Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ chức của ngườicầm quân
5 Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận:
- Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa Ông làm tổng chỉ huychiến dịch thực sự
- Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh những trận thậtđẹp, thắng áp đảo kẻ thù
- Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được khắc hoạ
lẫm liệt: trong cảnh “khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng.
- Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt,nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại
III Kết bài
Với ý thức tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc, những người trí thức – các tác giả NgôGia Văn Phái là những cựu thần chịu ơn sâu, nghĩa nặng của nhà Lê, nhưng họ đã không thể bỏqua sự thực là ông vua nhà Lê yếu hèn đã cõng rắn cắn gà nhà và chiến công lẫy lừng của nghĩaquân Tây Sơn, làm nổi bật hình ảnh vua Quang Trung - người anh hùng áo vải, niềm tự hào lớn của
cả dân tộc Bởi thế họ đã viết thực và hay đến như vậy về người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ
Trang 17II Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả như thế nào? Em có nhận xét gì về lối văn trần thuật ở đây?
1 Đối lập với hình ảnh nghĩa quân Tây Sơn là chân dung của kẻ thù xâm lược.
- Tôn Sỹ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:
+ Kéo quân vào Thăng Long dễ dàng “ngày đi đêm nghỉ” như “đi trên đất bằng”, cho là vô sự,
không đề phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm
+ Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết tình hình thực hư ra sao Dù
được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn không chút đề phòng suốt mấy ngày Tết “chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất chắc”, cho quân lính mặc sắc vui chơi.
- Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không
kịp mặc giáp… chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, xin
ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, “quân sĩ các doanh nghe thấy đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều”, “đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa” Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, “đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.
* Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống động với
nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù Ngòi bút miêu tả khách quannhưng vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trướcthắng lợi của Sơn Tây
2 Số phận thảm hại của bọn vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân
- Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ màđem vận mệnh của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nỗi sỉnhục của kẻ đi cầu cạnh, van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, và kết cục cũng phảichịu chung số phận bi thảm của kẻ vọng quốc
- Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, “luôn mấy ngày không ăn” May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn Đuổi kịp Tôn
Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đếnTrung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tànnơi đất khách quê người
Nghệ thuật: Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh Ngòi bút đậm chút xót
thương của tác giả bề tôi trung thành của nhà Lê
Trang 18 So sánh ngòi bút của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà
Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống) có gì khác biệt? Giải thích vì sao có sự khác biệt đó?
- Tất cả đều là tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại rất khác nhau:
- Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc
áo giáp”, “tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau…”, ngòi bút miêu tả khách
quan nhưng vẫn hàm chứa tâm trạng hả hê, sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của
lũ cướp nước
- Ở đoạn văn dưới, nhịp điệu có chậm hơn, tác giả dừng lại miêu tả tỉ mỉ những giọt nước mắtthương cảm của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi Lê Chiêu Thống, cuộc theíet đãi thịnh
tình “giết gà, làm cơm” của kẻ bề tôi… âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót Là những cựu
thần của nhà Lê, các tác giả không thể không mủi lòng trước sự sụp đổ của một vương triều màmình từng phụng thờ, tuy vẫn hiểu đó là kết cục không thể tránh khỏi
- Hiệu là Thanh Hiên
- Quê ở làng Tiên Điền – huyện Nghi Xuân – tỉnh Hà Tỹnh
- Sáng tác nhiều tác phẩm chữ Hán và chữ nôm
+ 3 tập thơ chữ Hán gồm 243 bài
+ Tác phẩm chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh thường gọi là Truyện Kiều Hãy nêu những nét chính về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du đã có ảnh hưởng tới việc sáng tác Truyện Kiều.
Trang 19Gia đình Nguyễn Du là gia đình đại quý tộc nhiều đời làm quan và có truyền thống văn chương.Nhưng gia đình ông cũng bị sa sút Nhà thơ mồ côi cha năm 9 tuổi, mồ côi mẹ năm 12 tuổi Hoàncảnh đó cũng tác động lớn tới cuộc đời Nguyễn Du.
c Cuộc đời:
Nguyễn Du có năng khiếu văn học bẩm sinh, ham học, có hiểu biết sâu rộng và từng trải, có vốnsống phong phú với nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, nhiều con người số phận khácnhau Ông từng đi sứ sang Trung Quốc, qua nhiều vùng đất Trung Hoa rộng lớn với nền văn hoárực rỡ Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng tới sáng tác của nhà thơ
Nguyễn Du là con người có trái tim giàu lòng yêu thương Chính nhà thơ đã từng viết trong
Truyện Kiều “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Mộng Liên Đường Chủ Nhân trong lời Tựa
Truyện Kiều cũng đề cao tấm lòng của Nguyễn Du với con người, với cuộc đời: “Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía, ngậm ngùi, đau đớn đến đứt ruột…” Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi,
tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy
Về sự nghiệp văn học của Nguyễn Du:
- Xuất xứ Truyện Kiều :
* Viết Truyện Kiều Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm
Tài Nhân (Trung Quốc)
* Tuy nhiên phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định thành côngcủa tác phẩm:
- Nội dung : Từ câu truyện tình ở TQ đời Minh biến thành một khúc ca đau lòng thương người
bạc mệnh (vượt xa Thanh Tâm Tài Nhân ở tinh thần nhân đạo)
Trang 203 Thể loại: Truyện Nôm: loại truyện thơ viết bằng chữ Nôm Truyện có khi được viết bàng thể
thơ lục bát Có hai loại truyện Nôm: truyện nôm bình dân hầu hết không có tên tác giả, được viết trên cơ sở truyện dân gian; truyện Nôm bác học phần nhiều có tên tác giả, được viết trên cơ sở cốt
truyện có sẵn của văn học Trung Quốc hoặc do tác giả sáng tạo ra Truyện Nôm phát triển mạnh
mẽ nhất ở nửa cuối thể ký XVIII và thế kỷ XIX
4 Ý nghĩa nhan đề:
Truyện Kiều có 2 tên chữ bán và 1 tên chữ nôm
- Tên chữ hán: Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân: tên của 3 nhân vật trong
truyện: Kim Trọng, Thuý Vân, Thuý Kiều
Đoạn trường tân thanh: tiếng kêu mới về nỗi đau thương đứt ruột: bộc lộ chủ đề tác phẩm
(tiếng kêu cứu cho số phận người phụ nữ)
- Tên chữ nôm: Truyện Kiều: Tên nhân vật chính - Thuý Kiều (do nhân dân đặt).
5 Tóm tắt Truyện Kiều.
a Phần thứ nhất : Gặp gỡ và đính ước.
Vương Thuý Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia đình trung lưulương thiện, sống trong cảnh "êm đềm trướng rủ màn che" bên cạnh cha mẹ và hai em là ThuýVân, Vương Quan Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Kiều gặp chàng Kim Trọng "phong
tư tài mạo tót vời" Giữa hai người chớm nở một mối tình đẹp Kim Trọng dọn đến ở trọ cạnh nhàThuý Kiều Nhân trả chiếc thoa rơi, Kim Trọng gặp Kiều bày tỏ tâm tình Hai người chủ động, tự
do đính ước với nhau
b Phần thứ hai : Gia biến và lưu lực
Trong khi Kim Trọng về Liêu Dương chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan Kiều nhờ Vântrả nghĩa cho Kim Trọng còn nàng thì bán mình chuộc cha Nàng bị bọn buôn người là Mã GiámSinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh Sau đó, nàng được Thúc Sinh – một khách làngchơi hào phóng – cứu vớt khỏi cuộc đời kỹ nữ Nhưng rồi nàng lại bị vợ cả của Thúc Sinh là HoạnThư ghen tuông, đầy đoạ Kiều phải trốn đến nương nhờ nơi cửa Phật Sư Giác Duyên vô tình gửinàng cho Bạc Bà - một kẻ buôn người như Tú Bà, nên Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh Tại đây,nàng gặp Từ Hải, một anh hùng đội trời đạp đất Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán Domắc lừa quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến Từ Hải bị giết Kiều phải hầu đàn hầu rượu HồTôn Hiến rồi ép gả cho viên thổ quan Đau đớn, tủi nhục, nàng trẫm mình ở sông Tiền Đường vàđược sư Giác Duyên cứu, lần thứ hai Kiều nương nhờ cửa Phật
c Phần thứ ba: Đoàn tụ:
Sau nửa năm về chịu tang chú, Kim Trọng trở lại tìm Kiều Hay tin gia đình Kiều gặp tai biến
và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng vô cùng đau đớn Tuy kết duyên với Thuý Vân nhưngchàng vẫn không thể quên mối tình đầu say đắm Chàng quyết cất công lặn lội đi tìm Kiều Nhờ
Trang 21gặp được sư Giác Duyên mà Kim, Kiều tìm được nhau, gia đình đoàn tụ Chiều theo ý mọi người,Thuý Kiều nối lại duyên cũ với Kim Trong nhưng cả hai cùng nguyện ước “Duyên đôi lứa cũng làduyên bạn bầy”.
III Giá trị tác phẩm
* Giá trị nội dung, nghệ thuật của Truyện Kiều :
1 Giá trị nội dung:
a Giá trị hiện thực:
a1 Truyện Kiều phản ánh bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và thế lực hắc ám chà đạp lên quyền sống của con người.
* Bọn quan lại :
- Viên quan xử kiện vụ án Vương Ông vì tiền chứ không vì lẽ phải
- Quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến là kẻ bất tài, nham hiểm, bỉ ổi và trâng tráo
* Thế lực hắc ám:
- Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… là những kẻ táng tận lương tâm Vì tiền, chúng sẵn sàngchà đạp lên nhân phẩm và số phận con người lương thiện
-> Tác giả lên tiếng tố cáo bộ mặt xấu xa bỉ ổi của chúng
a2 Truyện Kiều phơi bày nỗi khổ đau của những con người bị áp bức, đặc biệt là người phụ nữ.
- Vương Ông bị mắc oan, cha con bị đánh đập dã man, gia đình tan nát
- Đạm Tiên, Thuý Kiều là những người phụ nữ đẹp, tài năng, vậy mà kẻ thì chết trẻ, người thìđoạ đày, lưu lạc suốt 15 năm
-> Truyện Kiều là tiếng kêu thương của những người lương thiện bị áp bức, bị đoạ đày
b Giá trị nhân đạo:
- Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc trước những khổ đau của conngười Ông xót thương cho Thuý Kiều – một người con gái tài sắc mà lâm vào cảnh bị đoạ đầy
“Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
- Là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất cao đẹp của con người như nhan sắc, tài hoa, trídũng, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, vị tha…
- Ông trân trọng đề cao vẻ đẹp, ước mơ và khát khao chân chính của con người như về tình yêu,hạnh phúc, công lý, tự do…
- Ông còn tố cáo các thế lực bạo tàn đã chà đạp lên quyền sống của những con người lươngthiện, khiến họ khổ sở, điêu đứng
-> Phải là người giàu lòng yêu thương, biết trân trọng và đặt niềm tin vào con người Nguyễn Dumới sáng tạo nên Truyện Kiều với giá trị nhân đạo lớn lao như thế
2 Giá trị nghệ thuật:
Trang 22Truyện Kiều được coi là đỉnh cao nghệ thuật của Nguyễn Du.
- Về ngôn ngữ: là ngôn ngữ văn học hết sức giàu và đẹp, đạt đến đỉnh cao ngôn ngữ nghệ thuật
- Tiếng Việt trong Truyện Kiều không chỉ có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (bộclộcảm xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của ngôn từ)
- Với truyện Kiều, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc.
+ Ngôn ngữ kể chuyện có 3 hình thức: trực tiếp (lời nhân vật), gián tiếp (lời tác giả), nửa trựctiếp (lời tác giả mang suy nghĩ, giọng điệu nhân vật) Nhân vật trong truyện xuất hiện với cả conngười hành động và con người cảm nghĩ, có biểu hiện bên ngoài và thế giới bên trong sâu thẳm.+ Thành công ở thể loại tự sự, có nhiều cách tân sáng tạo, phát triển vượt bậc trong ngôn ngữthơ và thể thơ truyền thống
+ Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc hoạ nhân vật qua phương thức tự sự, miêu tả chỉ bằngvài nét chấm phá mỗi nhân vật trong Truyện Kiều hiện lên như một chân dung sống động Cáchxây dựng nhân vật chính diện thường được xây dựng theo lối lý tưởng hoá, được miêu tả bằngnhững biện pháp ước lệ, nhưng rất sinh động Nhân vật phản diện của Nguyễn Du chủ yếu đượckhắc hoạ theo lối hiện thực hoá, bằng bút pháp tả thực, cụ thể và rất hiện thực (miêu tả qua ngoạihình, ngôn ngữ, hành động… của nhân vật)
- Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đa dạng, bên cạnh bức tranh thiên nhiên chân thực sinh động(Cảnh ngày xuân), có những bức tranh tả cảnh ngụ tình đặc sắc (Kiều ở lầu Ngưng Bích)
Chép thuộc "Chị em Thuý Kiều”:
Đầu lòng hai ả tố Nga,Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vời,Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,