BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHLÊ VĂN CHƯƠNG TỔ CHỨC HỌC VIÊN LĨNH HỘI KIẾN THỨC CƠ BẢN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1945 LỚP 12 Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN CHƯƠNG
TỔ CHỨC HỌC VIÊN LĨNH HỘI KIẾN THỨC CƠ BẢN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1945 (LỚP 12)
Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN CHƯƠNG
TỔ CHỨC HỌC VIÊN LĨNH HỘI KIẾN THỨC CƠ BẢN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1945 (LỚP 12)
Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN THỊ CÔI
NGHỆ AN – NĂM 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu vàkết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sửdụng và đề tài này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Lê Văn Chương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Ban Giám hiệu, Trưởng khoa đào tạo Sau Đại học, Trưởng Khoa Lịch sử, Chủnhiệm chuyên ngành Lý luận và Phương pháp Dạy học môn Lịch sử, cùng tập thểgiảng viên của Trường Đại học Vinh, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, đã giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Ban Giám hiệu và Phòng Tổ chức cán bộ Trường Đại học Sài Gòn đã tạo điềukiện về cơ sở vật chất tốt cho việc học tập
Ban Giám đốc các Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận 1, quận 2, quận 12,quận Bình Thạnh và quận Thủ Đức đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiến hành khảosát thực trạng tình hình học tập bộ môn lịch sử, thực nghiệm sư phạm ở các lớp 12.Ban Giám đốc, Lãnh đạo cùng các anh (chị) chuyên viên phòng Giáo dụcthường xuyên Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đã động viên tinhthần, tạo điều kiện về thời gian cho tôi học tập cũng như những đóng góp quý báutrong Luận văn này
Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TS Nguyễn Thị Côi, người đãtrực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Những thiếu sót trong luận văn là điều không thể tránh khỏi, do đó, tôi rất mongđón nhận những ý kiến đóng góp, phê bình của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Nghệ An, tháng 08 năm 2012
Tác giả
Lê Văn Chương
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 10
4 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI 10
5 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 11
6 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
7 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 12
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 12
9 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
10 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 14
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC CHO HỌC VIÊN LĨNH HỘI KIẾN THỨC CƠ BẢN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYẾN……… 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Quan niệm về kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử 14
1.1.2 Xuất phát điểm của vấn đề 20
1.1.3 Vai trò ý nghĩa của việc tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở các trung tâm giáo dục thường xuyên 26
Trang 71.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên 28
1.2.2 Thực trạng đối tượng học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên 34
1.2.3 Kinh nghiệm thực tiễn và những vấn đề cần giải quyết 38
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CHO HỌC VIÊN LĨNH HỘI KIẾN THỨC CƠ BẢN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 - 1945 (lớp 12) Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……… 40
2.1 Vị trí, mục tiêu của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945……… 40
2.2 Xác định nội dung kiến thức lịch sử VN giai đoạn 1919 – 1945……… 42
2.2.1 Một số yêu cầu khi xác định kiến thức cơ bản ……… 42
2.2.2 Nội dung kiến thức cơ bản Lịch sử VN giai đoạn 1919 – 1945……… 45
2.3 Một số biện pháp sư phạm……… 48
2.3.1 Yêu cầu khi lực chọn và sử dụng các biện pháp……… 48
2.3.1.1 Biện pháp lựa chọn phải phù hợp với đặc trưng bộ môn ……… 48
2.3.1.2 Biện pháp lựa chọn phải đáp ứng mục tiêu dạy học……… 49
2.3.1.3 Biện pháp lựa chọn phải phát huy tính tích cực của học viên …… 50
2.3.1.4 Các biện pháp lựa chọn phải được sử dụng linh hoạt……… 51
2.3.2 Một số biện pháp sư phạm để tổ chức hướng dẫn học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở các trung tâm giáo dục thường xuyên…… 55
2.3.2.1 Vận dụng dạy học nêu vấn đề ……… 55
2.3.2.2 Tổ chức cho học viên khai thác đồ dùng trực quan……… 67
2.3.2.3 Tổ chức cho học viên làm việc với sách giáo khoa……… 75
2.3.2.4.Tổ chức cho học viên củng cố, ôn tâp kiến thức 82
Trang 82.3.2.5 Tổ chức kiểm tra đánh giá và hướng dẫn cho học viên tự kiểm tra đánh giá
kết quả lĩnh hội kiến thức cơ bản 86
2.4 Thực nghiệm sư phạm 93
2.4.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 93
2.4.2 Đối tượng thực nghiệm 93
2.4.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 94
2.4.4 Phương pháp tiến hành 94
2.4.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 95
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Theo Luật Giáo dục ban hành năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hoà Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam thì Giáo dục thường xuyên nằm trong hệ thống giáo dụcquốc dân Về tên gọi, từ năm 1945 – 1959, ngành học này gọi là Bình dân học vụ;
từ năm 1959 – 1990 gọi là Bổ túc văn hoá, từ 1990 – 1994 gọi là Giáo dục Bổ túc
và tại chức, từ năm 1994 đến nay được mang một cái tên mới là Giáo dục thườngxuyên hay còn gọi là Giáo dục không chính quy Dù ở bất cứ giai đoạn nào, tên gọinào thì Giáo dục thường xuyên cũng mang đặc thù chung của ngành học và luôn cónhững nét riêng biệt Khác với nhà trường trong hệ thống Giáo dục chính quy,phương thức hoạt động của Giáo dục thường xuyên là đa dạng, đa phương, linhhoạt nhưng lại rất hiệu quả trong việc nâng cao dân trí cho người lao động, như
Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) đã chỉ rõ: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ
để cải thiện cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” [ 46 ,tr.20]
Cũng như các bộ môn khác ở trường trung học phổ thông, bộ môn lịch sử ởcác trung tâm giáo dục thường xuyên có nhiệm vụ trang bị cho học viên nhữngkiến thức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, từng bước giáo dục truyềnthống yêu nước, lòng tự hào về truyền thống hào hùng bất khuất trong dựng nước
và giữ nước của cha ông ta và rèn luyện các kỹ năng học tập theo yêu cầu đặt ra
Đối tượng học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên không thuầnnhất như học sinh phổ thông Đối tượng này khá chênh lệch về trình độ đầu vào,lứa tuổi, tâm sinh lý cũng khác nhau, thời gian đến lớp không hoàn toàn giốngnhau, mục tiêu và động cơ học tập cũng rất khác nhau Vì vậy, xác định và tổ chứccho học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên lĩnh hội kiến thức cơ bảntrong dạy học lịch sử là rất cần thiết và bổ ích
Trang 10Dù nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhưng Giáo dục thường xuyênvẫn chưa được xã hội nhìn nhận và đánh giá đúng về đặc thù, chức năng của cáctrung tâm giáo dục thường xuyên, do đối tượng học khá phức tạp với đủ mọi thànhphần nên không ít người thường gắn những gì thiếu thiện cảm, không đầu tưnghiên cứu nhiều cho loại hình đào tạo này Đối với bộ môn lịch sử thường đượcxem là môn phụ, chỉ học thuộc lòng là đủ nên việc tổ chức dạy học còn mang tínhqua loa chiếu lệ đối phó với chương trình và thi cử là chính…
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học bộ môn Lịch sử nói riêng, việcxác định kiến thức cơ bản cho học viên là vấn đề rất quan trọng vì nó sẽ giúp họcviên nắm vững những kiến thức cơ bản nhất của bộ môn trên cơ sở hiểu rõ các sựkiện, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử…, từ đó bồi dưỡng cho họ lòng yêunước, niềm tự hào dân tộc, ý thức xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945 giúp chúng ta nhận thức được mộtgiai đoạn hào hùng của Lịch sử dân tộc: đó là sự lựa chọn đúng đắn con đường giảiphóng dân tộc, giai đoạn đánh dấu sự ra đời và trưởng thành của giai cấp côngnhân Việt Nam thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai đoạnkhẳng định sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta trong việc vận dụng Học thuyếtcủa Chủ nghĩa Mác – Lênin về Lý luận cách mạng vô sản vào hoàn cảnh cụ thể củanước ta, đưa nước ta từ một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến trở thành mộtnước độc lập, đưa dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Tổ chức cho học viênlĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945(Lớp 12) ở các trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố Hồ Chí Minh” làm đềtài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
2.1 Ở nước ngoài: thông qua một số nguồn tài liệu dịch, chúng tôi tiếp cậnđược các công trình nghiên cứu sau:
N.G Đai – Ri với công trình “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”, NXB
Giáo dục – Hà Nội năm 1973 Tác giả đã nêu lên các phương thức giải quyết giờ
Trang 11học lịch sử theo hướng mới của lý luận dạy học Xô Viết thời bấy giờ; chuẩn bị giờhọc với sự phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh Đặc biệttác giả đã đưa ra một sơ đồ đơn giản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa nội dungsách giáo khoa với bài giảng của giáo viên, giữa bài giảng của giáo viên với việc tựhọc của học sinh Tác giả cũng cho rằng: nhiệm vụ đầu tiên trong chuẩn bị giờ học
là xác định xem nội dung nào của Sách giáo khoa sẽ đưa vào hay không đưa vàobài giảng, nội dung nào cần bổ sung và vì sao phải bổ sung; làm sao cho nhữngbiến cố và quá trình lịch sử được miêu tả và giải thích một cách rõ ràng nhất Vớicách xử lý như thế, giáo viên mới đạt được mục đích mở rộng thông tin và truyềnđạt một cách trọn vẹn những nội dung quan trọng, cơ bản của một giai đoạn lịch sửnhất định
T.A.Ilina, Giáo dục học, Tập I, NXB Giáo dục, 1978 (người dịch Nguyễn
Hữu Chương) Ở công trình này, tác giả đã chỉ rõ những nguyên lý chung của giáodục học và lý luận dạy học, tác giả đã lên án lý luận dạy học và tâm lý học tư sản
cho rằng: “di truyền và những năng lực trí tuệ, tưởng chừng như chúng quyết định trước đường đời và những khả năng học vấn của con người”(tr.39) Theo quan
điểm của tâm lý học và sinh học của các nhà giáo dục học Xô viết thời bấy giờ cho
rằng: “Tất cả những phẩm chất tâm lý cá nhân là những phẩm chất tự tạo tức là được hình thành và phát triển suốt đời trong quá trình cơ thể tác động qua lại với môi trường bên ngoài, trước hết là với môi trường xã hội” (tr.40) Như vậy theo
quan điểm mácxít, vẫn không phủ nhận yếu tố di truyền và cho rằng ảnh hưởng củamôi trường xã hội là quan trọng nhất và có tác dụng quyết định
I.F Kharlamốp với công trình “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1978 Ở công trình này tác giả đã phân
tích rõ bản chất của quá trình dạy học và đề cập đến nhiều nguyên tắc, biện pháp
sư phạm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học để đạt mục đíchcao nhất, trong đó, tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết tạo sựhưng phấn trong học tập cho học sinh
Trang 12GS.TS.Êxipôp với công trình “Những cơ sở của lý luận dạy học” (tập I),
người dịch Nguyễn Ngọc Quang, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội năm 1971 Ởcông trình này tác giả đã tổng kết đầy đủ nhất về lý luận trí dục và dạy học Ở đây,tác giả đã xem xét những cơ sở của nội dung trí dục, phương pháp và những hìnhthức tổ chức việc dạy học ở trường phổ thông, làm sáng tỏ những cơ sở củaphương pháp luận, tâm lý học và lý luận dạy học
2.2 Ở trong nước
Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (1976), tập I, NXB Giáo dục, tác
giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị đã trình bày vấn đề tạo biểu tượng và hình thànhkhái niệm, nêu quy luật, bài học lịch sử trong chương VII Qua đó, các tác giả đãchỉ rõ những yếu tố của kiến thức cơ bản và quá trình hình thành tri thức lịch sửcho học sinh phổ thông
Công trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do GS.TS Phan Ngọc Liên (chủ
biên), GS.TS Nguyễn Thị Côi, PGS.TS Trịnh Đình Tùng (2 tập), Nhà xuất bản Đạihọc Sư phạm, năm 2002, tái bản, có sửa chữa bổ sung năm 2009 Ở hai công trìnhnày, các tác giả đã xác định đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của phương pháp dạyhọc lịch sử, từ đó xác định mục tiêu bộ môn, nguyên tắc xây dựng chương trình vàbiên soạn sách giáo khoa trường trung học phổ thông Từ lý luận và thực tiễn dạyhọc lịch sử, các tác giả đã xây dựng được các con đường, biện pháp sư phạm đểthực hiện hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
GS Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Lại Đức
Thụ, Nguyễn Văn Phong với công trình “Thiết kế bài giảng Lịch sử ở trường trung học phổ thông”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1999 Ở công trình
này, các tác giả đã nêu rõ phần lý luận cơ bản về những loại bài học thường đượctiến hành ở trường trung học phổ thông, nhằm giúp giáo viên nâng cao trình độnhận thức để làm cơ sở cho việc giảng dạy có hiệu quả Đồng thời, công trình cũng
đề xuất cách thiết kế một số bài giảng cụ thể thuộc các loại khác nhau như: bài vềchính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, bài tổng kết ôn tập, làm bài thi, cách sử dụngtài liệu tham khảo…ở các lớp 10, 11, 12 Đây không phải là giáo án soạn sẵn, cũng
Trang 13không phải là bài hướng dẫn của sách giáo viên mà ở đây chỉ cung cấp cho giáoviên những nhận thức về quan điểm tư tưởng chính trị, nội dung khoa học và địnhhướng về phương pháp giảng dạy, trên cơ sở đó, giáo viên sáng tạo trong hoạtđộng giáo dục của mình.
Ở cuốn giáo trình: “Hình thành tri thức lịch sử cho học sinh trung học phổ thông”, Trung tâm đào tạo từ xa – Đại học Huế ban hành năm 2001 do GS Phan
Ngọc Liên chủ biên, cũng đã đề cập và phân tích khá cụ thể quan niệm về chuẩnkiến thức, chuẩn kỹ năng, về tính cơ bản, kiến thức cơ bản, những căn cứ, nguyêntắc để xác định trình độ chuẩn kiến thức lịch sử, nội dung các kiến thức cơ bản,chuẩn trong chương trình và Sách giáo khoa
GS.TS Nguyễn Thị Côi với công trình “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
năm 2006 Tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh đến hiệu quả bài học lịch sử thể hiệntrên cả ba mặt: kiến thức, giáo dục và phát triển Công trình dành phần lớn nộidung để đi sâu làm rõ những con đường, biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệuquả dạy học lịch sử nói chung, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử nói riêng
Các giáo trình “Bài học lịch sử ở trường trung học phổ thông” (Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường, Trung tâm Đào tạo từ xa, Huế, 1996), “Bài học lịch sử và việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử ở trường trung học phổ thông”
(Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Hữu Chí), đều đã khẳng định nội dung bài học vừa sức,trong đó yếu tố lựa chọn kiến thức cơ bản là một biện pháp quan trọng, góp phầnnâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông
PGS TS Nguyễn Thị Côi: “Làm thế nào để học sinh nắm vững kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục số 172 (kỳ 2 –
9/2007), ở công trình này, một lần nữa tác giả đã khẳng định vị trí vai trò của bộmôn lịch sử trong trường phổ thông trong việc góp phần phát triển con người toàndiện vừa có tri thức khoa học, vừa có tư tưởng đạo đức đúng đắn, từ đó, tác giả đãđưa ra một số ý kiến quan trọng và đề xuất một số biện pháp chủ yếu giúp học sinhnắm vững kiến thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Trang 14GS TS Nguyễn Thị Côi: “Một số phương hướng, biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục số 202 (kỳ
2 – 11/2008), từ thực tiễn việc dạy và học môn lịch sử ở trường phổ thông, tác giả
đã đưa ra một số định hướng cũng như các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy
và học bộ môn Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị thiết thực đối vớicác cấp quản lý giáo dục phải đặt môn lịch sử vào đúng vị trí của nó, thông quanhững quy định cụ thể về thời lượng dạy học, quy chế chuyên môn, kiểm tra đánhgiá…
GS.TS Nguyễn Thị Côi: “Thiết kế kế hoạch bài học Lịch sử ở trường phổ thông theo tinh thần đổi mới”, Tạp chí Giáo dục số 221 (kỳ I – 9/2009) đã nói rõ
bản chất của việc thiết kế kế hoạch bài học theo tinh thần đổi mới đó là: chúng tachuyển từ mô hình dạy học lấy động lực bên ngoài là giáo viên để phát triển họcsinh, sang mô hình dạy học lấy động lực bên trong là học sinh làm trung tâm, nhằmphát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của người học, trong đó chủ yếu là tư duymột cách tốt nhất dưới sự điều khiển và hướng dẫn của giáo viên
Lại Thị Thu Thúy với chuyên đề: Thực trạng và giải pháp đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên, trích trong kỷ yếu Hội
thảo khoa học Quốc gia về dạy học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam, NXBGiáo dục VN, mã số 81812 H2, ở công trình này, tác giả đã phân tích sâu sắc thựctrạng việc dạy và học môn lịch sử, thực trạng đối tượng học viên cũng như đội ngũgiáo viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên, từ đó, tác giả đã mạnh dạn đưa
ra một số biện pháp sư phạm để tổ chức việc dạy và học môn lịch sử đạt được hiệuquả cao Tuy nhiên, công trình chỉ đưa ra những biện pháp sư phạm còn sơ lược,chưa đi vào cụ thể vấn đề
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các Luận án Tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ,các tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề cập như:
Tưởng Phi Ngọ: “Tổ chức học sinh lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử thế giới hiện đại, giai đoạn 1917 – 1945, lớp 11 THPT” – Luận án Tiến sĩ –
Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2011, tác giả đã đưa ra những biện pháp tổ chức
Trang 15cho học sinh lĩnh hội kiến thức cơ bản như: định hướng kiến thức cơ bản cho họcsinh, hướng dẫn học sinh giải bài tập nhận thức, sử dụng tài liệu tham khảo ngoàisách giáo khoa để làm sáng tỏ kiến thức cơ bản, tổ chức hướng dẫn học sinh củng
cố kiến thức cơ bản, tổ chức kiểm tra đánh giá và hướng dẫn học sinh tự kiểm trađánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức cơ bản…nhưng đối tượng để tổ chức hướng dẫn
là học sinh lớp 11 trung học phổ thông
Chu Thị Hưng: “Tổ chức cho học sinh lĩnh hội chuẩn kiến thức trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 trường trung học phổ thông – chương trình chuẩn”
Luận văn Thạc sĩ – Đại học Huế - Đại học Sư phạm, năm 2010, đã đưa ra một sốbiện pháp tổ chức dạy học như: chia nhóm, khai thác đồ dùng trực quan, sử dụng
hệ thống câu hỏi gợi mở…và đối tượng để tổ chức, hướng dẫn là học sinh lớp 10trung học phổ thông
“Chương trình giáo dục phổ thông môn lịch sử” do Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành, NXB Giáo dục, 2006, đã làm rõ những vấn đề như mục tiêu, nội dungdạy học bộ môn theo từng lớp; mức độ chương trình, phương pháp dạy học, kiểmtra đánh giá, việc vận dụng chương trình theo vùng, miền và các đối tượng học
sinh Công trình trên đã nhấn mạnh “Cần đảm bảo để mọi học sinh đều đạt được chuẩn kiến thức và kỹ năng bộ môn Những học sinh có năng khiếu về Lịch sử hoặc có nhu cầu học Lịch sử sâu hơn, được khuyến khích và được tạo điều kiện để phát triển năng khiếu” Phần lớn nội dung của công trình là xác định chuẩn kiến
thức, kỹ năng mà học sinh cần đạt qua các khóa trình lịch sử từ lớp 4 đến lớp 12.Đây cũng là tài liệu rất quan trọng, đặt cơ sở cho việc xác định kiến thức cơ bảntrong dạy học lịch sử của đề tài Luận văn
Mới đây nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành bộ tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Lịch sử”, Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam năm 2009 Đây là bộ tài liệu trình bày khá đầy đủ về chuẩn kiến thức, kỹnăng, giới thiệu chung về Chuẩn, trong đó làm rõ khái niệm về chuẩn kiến thức, kỹnăng và các mức độ kiến thức cần đạt ở học sinh Chuẩn kiến thức, kỹ năng vừa là
Trang 16căn cứ, vừa là mục tiêu của việc giảng dạy và tổ chức kiểm tra đánh giá theo tinhthần đổi mới trong trường phổ thông hiện nay.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và các bài viết ở nhiều góc độ nghiêncứu khác nhau đã đề cập việc lựa chọn kiến thức cơ bản môn lịch sử cho học sinh ởnhiều mức độ, cấp học khác nhau và việc tổ chức dạy học theo hướng phát huytính tích cực cho học sinh Tuy nhiên, chưa có một công trình, chuyên đề haychuyên khảo nào nghiên cứu về việc “ Tổ chức học viên lĩnh hội kiến thức cơ bảntrong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945 (lớp 12) ở các Trung tâmGiáo dục thường xuyên thành phố Hồ Chí Minh”, đây là lý do chúng tôi chọn đềtài và giải quyết trong luận văn này
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quá trình dạy học lịch sử ở Trung tâmGiáo dục thường xuyên ở thành phố Hồ Chí Minh nói chung, việc tổ chức cho họcviên lĩnh hội kiến thức cơ bản môn lịch sử lớp 12 phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 175.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của việcxác định và tổ chức cho học viên giáo dục thường xuyên lĩnh hội kiến thức cơ bản,
đề tài đi sâu nghiên cứu xác định nội dung kiến thức cơ bản và đề xuất những biệnpháp sư phạm chủ yếu để tổ chức cho học viên ở các trung tâm giáo dục thườngxuyên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 –
1945 (Lớp 12)
5.2 Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu (Lý luận Giáo dục học, Tâm lý học, Lý luận và phương pháp dạyhọc lịch sử, để xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài
- Tiến hành điều tra, khảo sát tình hình dạy học lịch sử ở các Trung tâm Giáodục thường xuyên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm rõ thực trạng củaviệc tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản môn lịch sử, phân tích kết quảđiều tra, rút ra kết luận khái quát
- Nghiên cứu Sách Giáo khoa lịch sử lớp 12 để xác định kiến thức cơ bảntrong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945
- Đề xuất các biện pháp sư phạm tổ chức cho học viên giáo dục thườngxuyên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 –
1945 (lớp 12) và tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi củanhững biện pháp đã đề xuất
6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
6.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
về nhận thức và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung, về dạy học lịch sửnói riêng
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu: để thực hiện những nhiệm vụ mà đề tàiđặt ra, chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
6.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sưu tầm và phân tích tổnghợp một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Hồ Chí Minh về
Trang 18giáo dục, các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục, đọc các công trìnhkhoa học về giáo dục học, tâm lý học, giáo dục lịch sử, các tài liệu lịch sử liênquan.
Nghiên cứu chương trình, Sách Giáo khoa lịch sử lớp 12 để xác định kiếnthức cơ bản cần tổ chức cho học viên lĩnh hội và đề xuất các biện pháp tổ chức lĩnhhội kiến thức
6.2.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn: thông qua quan sát, thăm dò, phỏng vấngiáo viên, học viên; lập phiếu test để đánh giá thực trạng việc dạy và học bộ mônlịch sử hiện nay nói chung, vấn đề tổ chức cho học viên giáo dục thường xuyênlĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử nói riêng Soạn bài và tiến hànhthực nghiệm sư phạm ở một số trung tâm giáo dục thường xuyên để khẳng địnhtính khả thi của đề tài
6.2.3 Sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý kết quả thực nghiệm
sư phạm và rút ra kết luận
7 Giả thuyết khoa học:
Nếu giáo viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên áp dụng các biệnpháp sư phạm theo những yêu cầu mà đề tài đưa ra sẽ góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học môn lịch sử nói chung, phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 –
- Xác định đúng kiến thức cơ bản trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam giaiđoạn 1919 – 1945 phù hợp với đặc điểm đối tượng học viên
Trang 19- Đề xuất được các biện pháp sư phạm nhằm tổ chức cho học viên lĩnh hộikiến thức cơ bản phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945.
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
9.1 Ý nghĩa khoa học: đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận dạy học
bộ môn về vấn đề xác định và tổ chức cho học viên các trung tâm giáo dục thườngxuyên lĩnh hội kiến thức cơ bản
9.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bồi dưỡngnăng lực dạy học cho bản thân và đồng nghiệp để nâng cao chất lượng dạy học bộmôn, từ kết quả nghiên cứu này, giáo viên tham gia giảng dạy lịch sử ở các trungtâm giáo dục thường xuyên có thể vận dụng được vào thực tiễn dạy học của mình
10 Cấu trúc luận văn:
Ngoài Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận vănđược cấu trúc thành 2 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức cho học viên lĩnh hội kiếnthức cơ bản trong dạy học lịch sử ở các trung tâm giáo dục thường xuyên
- Chương 2: Một số biện pháp tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trongdạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1919 – 1945 (lớp 12).Thực nghiệm sư phạm
Chương 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở các trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 20Trong học tập bộ môn lịch sử ở các trung tâm giáo dục thường xuyên, họcviên tiếp nhận những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, đó là những kiến thức
cơ bản nhất, tương đối ổn định trong nghiên cứu, phù hợp với chương trình vàkhông thuộc những vấn đề còn đang tranh luận trong giới khoa học hoặc nhữngvấn đề còn mới chưa được kiểm nghiệm Vì vậy, nhiều vấn đề về mặt sư phạmđược đặt ra và giải quyết khi lựa chọn các thành tựu, kết quả nghiên cứu để đưavào chương trình giảng dạy trong trường phổ thông nói chung, ở các trung tâmgiáo dục thường xuyên nói riêng, đó là những quan niệm về kiến thức cơ bản mônlịch sử, mục tiêu của bộ môn lịch sử trong nhà trường nói chung với việc xác địnhnhững kiến thức cơ bản, những yêu cầu đối với việc tiếp nhận kiến thức của họcviên Với cơ sở lý luận này, chúng tôi đã điều tra, khảo sát thực tiễn tình hình dạyhọc lịch sử ở các trung tâm giáo dục thường xuyên, từ đó có thể đề xuất nhữngphương hướng để giải quyết vấn đề và các biện pháp sư phạm mà Luận văn đưa ra
để áp dụng chung cho việc dạy và học bộ môn lịch sử ở các trung tâm giáo dụcthường xuyên thành phố Hồ Chí Minh
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.Quan niệm về kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở trung tâm giáo dục thường xuyên
Nội hàm khái niệm “kiến thức” nói chung được hiểu tuỳ thuộc nhiều vào vị
trí của con người trong trong một thời đại và một giai cấp nhất định, như vậy kháiniệm “kiến thức” và “tri thức” ở một mức độ nào đó không hoàn toàn đồng nhấtvới nhau
Vậy “tri thức” là sự tái hiện trong tư tưởng của con người đối tượng được
nhận thức về các vấn đề của đối tượng ấy như những hình dạng thuộc tính, nhữngmối quan hệ, những quy luật vận động và phát triển của đối tượng Tri thức đượcthể hiện ra bên ngoài qua hệ thống ngôn ngữ hoặc bằng những ký hiệu khác Trithức được hình thành như vậy còn mang tính cảm tính tự nhiên và chưa đi sâu vàobản chất của đối tượng, nhưng nó đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt, đưa conngười thoát khỏi thế giới động vật để đến với thế giới loài người
Trang 21Tri thức khoa học là sự phản ánh trình độ của con người về nhận thức đối
tượng để vạch rõ bản chất của đối tượng, từ đó rút ra các quy luật tác động đến đốitượng cũng như các quy luật được vận hành trong bản thân nội tại của đối tượng.Như vậy, tri thức khoa học là tư duy của con người đã đạt đến trình độ khái quáthoá và trừu tượng hoá ở trình độ cao
Tri thức lịch sử chỉ toàn bộ những nhận thức, hiểu biết của con người về quá
khứ xã hội loài người và dân tộc, là sự phản ánh hiện thực lịch sử vào trong óc củacon người Tri thức lịch sử có thể đúng, cũng có thể sai Tri thức lịch sử xuất hiệnngay từ khi con người bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh, nó không ngừngđược tích lũy phản ánh qua các dạng khác nhau từ thấp lên cao: qua truyền thuyết,thần thoại, hoạt động văn hóa, lễ hội…qua các công trình văn hóa vật chất, tư liệuthành văn
Kiến thức là những hiểu biết của con người về tự nhiên, cộng đồng xã hội và
chính bản thân mình Trong xã hội loài người, do nhiều mối quan hệ chồng chéolên nhau nên ngay từ đầu những hiểu biết này còn khá thô sơ, mang tính chủ quan
vá nó phản ánh trình độ nhận thức còn khá thấp kém, chỉ là truyền cho nhau những
kinh nghiệm được tích luỹ trong cuộc sống Ở góc độ này, kiến thức là những tri
thức tương đối hoàn chỉnh, có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống của mỗi conngười và của cộng đồng được lưu truyền từ đời này sang đời khác Kiến thứcthường mang tính xã hội, mang ý nghĩa giáo dục và có tác dụng lớn đối với đờisống con người và xã hội Khi tri thức trở thành khoa học thì kiến thức cũng pháttriển dần thành kiến thức khoa học, là cơ sở của giáo dục Như vậy, nếu xét ở ýnghĩa giáo dục thì kiến thức đã mang tính khoa học, được lựa chọn sao cho phùhợp với trình độ của người được giáo dục, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
Những quan điểm giáo dục nêu trên đã kế thừa và phát triển các quan niệmđúng đắn về “Tri hành hợp nhất” (kết hợp giữa biết và làm) Tiếp thu những kinhnghiệm của cha ông, những quan niệm khoa học và tiến bộ của thời đại, chúng tadựa trên quan điểm lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa trên nền tảng của
Trang 22tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và của Nhà nước về giáo dục nóichung, về kiến thức và lĩnh hội kiến thức nói riêng.
“Khái niệm“Kiến thức lịch sử” không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm
“khoa học lịch sử” Kiến thức lịch sử phát triển theo trình độ nhận thức lịch sử củacon người” [36 tr.182] kiến thức lịch sử hẹp hơn tri thức lịch sử, nó cũng là nhữnghiểu biết của con người về lịch sử xã hội loài người và lịch sử của dân tộc đã diễn
ra trong quá khứ, được khoa học lịch sử xác nhận và ghi chép lại Nói cách khác,kiến thức lịch sử là những hiểu biết của con người về quá khứ đạt tới chân lý tươngđối, nếu xét về tính chất thì nó là khoa học Lịch sử Từ những kiến thức này, chúng
ta truyền đạt lại cho các thế hệ sau bằng nhiều hình thức và mức độ khác nhau,chính là truyền đạt những quy luật khách quan và xác thực về những sự kiện đãxảy ra trong quá khứ của lịch sử loài người và của lịch sử dân tộc Đây là điều kiện
để con người tồn tại và phát triển, vì trong mỗi con người đang sống đều tồn tạinhững dấu ấn, giá trị, bài học của một quá khứ nhất định Chính vì vậy, nhận thứclịch sử là một nhu cầu không thể thiếu của con người trong xã hội Theo chủ nghĩaMác – Lênin thì nhận thức lịch sử phải dựa trên cơ sở những sự kiện khách quan,chính xác, trong đó C Mác đã chỉ rõ: sự kiện là điểm xuất phát, là chỗ dựa củaviệc nghiên cứu chứ không phải là ý tưởng
Kiến thức cơ bản bộ môn lịch sử ở các trường trung học phổ thông nói chung, ở các trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng:
“Kiến thức cơ bản là kiến thức tối ưu, cần thiết cho việc hiểu biết của học sinh về lịch sử (thế giới và dân tộc) Nó gồm nhiều yếu tố: sự kiện lịch sử, các niên đại, địa danh lịch sử, nhân vật lịch sử, các biểu tượng, nhân vật lịch sử, các biểu tượng khái niệm lịch sử, các quy luật, nguyên lý, phương pháp học tập và vận dụng kiến thức Nói đến lịch sử trước hết phải nói đến sự kiện lịch sử, những sự kiện đó lại vô cùng phong phú, diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định” [36 tr.183].
Từ khái niệm trên, ta thấy kiến thức lịch sử ở trường phổ thông nói chung lànhững hiểu biết về quá khứ lịch sử đã được khoa học xác nhận, được các nhà
Trang 23nghiên cứu lựa chọn và ghi chép lại trong sách giáo khoa Nó bao gồm các sự kiện,biểu tượng, khái niệm, quy luật lịch sử…và nhiều yếu tố liên quan như thời gian,không gian, con người, diễn biến sự kiện xảy ra…làm cho việc nhận thức lịch sửđược cụ thể, toàn diện và có hệ thống Chính nhờ những kiến thức đó mà học sinh
có thể tái hiện lại bức tranh của quá khứ xã hội loài người cũng như của dân tộc,với những nét chung nhất, điển hình nhất Tuy nhiên, sách giáo khoa luôn lạc hậu
so với hiện thực lịch sử đang diễn ra, do đó, khi sử dụng sách giáo khoa lịch sử,giáo viên cần phải cập nhật những kiến thức mới từ thực tiễn đang diễn ra để giảmthiểu sự lạc hậu nói trên
Như vậy kiến thức cơ bản, chính là những kiến thức mà học sinh cần nắmvững để đạt yêu cầu học tập, phù hợp với trình độ nhận thức và phù hợp vớichương trình Trong sách giáo khoa hiện hành vẫn tồn tại kiến thức không cơ bản,đây cũng là những kiến thức quan trọng, nhưng do điều kiện về thời gian có hạn,giáo viên không thể tổ chức cho học sinh lĩnh hội ở trên lớp mà chỉ có thể hướngdẫn các em về nhà đọc thêm, nhằm làm rõ, bổ sung và giúp các em hiểu sâu sắchơn những kiến thức cơ bản của bài học mà giáo viên đã cung cấp
Trong chương trình Giáo dục phổ thông biên soạn theo tinh thần đổi mớihiện nay, khái niệm kiến thức cơ bản trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nóiriêng được hiểu bằng khái niệm Chuẩn kiến thức, kỹ năng Vậy Chuẩn kiến thức,
kỹ năng là gì?
“Chuẩn kiến thức, kỹ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun).” [8, tr.5] Như vậy chuẩn kiến thức, kỹ
năng là khái niệm không phải để chỉ những kiến thức tiêu chuẩn, mẫu mực, đúngđắn nhất mà bất cứ ai cũng phải tuân thủ, đây là khái niệm để chỉ những yêu cầutối thiểu nhất cần đạt về kiến thức của các môn học nói chung, của bộ môn lịch sửnói riêng sau một quá trình dạy học trên cơ sở học sinh (học viên) chủ động, tíchcực lĩnh hội dưới sự hướng dẫn của người thầy, căn cứ theo phân phối chươngtrình cho mỗi lớp, mỗi cấp học Vì vậy, để cho học sinh (học viên) đạt được
Trang 24“chuẩn kiến thức” chúng ta phải xác định được khối lượng kiến thức cần thiết, vừa
đủ đó chính là kiến thức cơ bản Như vậy, khái niệm “chuẩn kiến thức” gần vớikhái niệm “kiến thức cơ bản” và chỉ khác nhau ở chỗ: “kiến thức cơ bản” nghiêng
về xác định kiến thức phản ánh sự phát triển của xã hội loài người, còn “chuẩnkiến thức” nhấn mạnh đến những yêu cầu phải đạt được đối với học sinh ở mỗi lớphọc, cấp học Tuy nhiên để đạt được “chuẩn kiến thức, kỹ năng” cũng phải bảođảm các yêu cầu như: phải giúp học sinh (học viên) nắm đầy đủ các sự kiện, nhânvật lịch sử nổi bật; những kiến thức ấy phải mang tính toàn diện, tiêu biểu Nhữngkiến thức có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để học sinh có thể vận dụng vào học tập
và cuộc sống thực tiễn và có tác dụng tốt trong việc hình thành nhân cách cho họcsinh (học viên) Như vậy, “chuẩn kiến thức” thuộc về nội dung và “kỹ năng” thuộc
về phương pháp Ở một góc độ nào đó thì “chuẩn kiến thức, kỹ năng” là sự cụ thểhoá các chủ đề của chương trình môn học theo từng cấp học Vì vậy, chuẩn kiếnthức, kỹ năng là cơ sở để quản lý dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng mônhọc nhằm đảm bảo tính thống nhất và khả thi của chương trình
Tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản môn Lịch sử là quá trình dạy học tích cực.
Lý luận dạy học đã chỉ rõ: “Quan điểm đảm bảo tính cơ bản đòi hỏi tăng cường tính thực hành, khả năng vận dụng, chú trọng dành thời gian và ưu tiên cho việc tổ chức các hoạt động học tập để phát triển các năng lực cho học sinh” [33,
tr.309] Điều đó có nghĩa, để giúp học viên nắm được những nội dung cốt lõi, thenchốt có ý nghĩa nhất về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, đạt được trình độ cơ bản
về kiến thức, kỹ năng và thái độ theo quy định của chương trình, thì giáo viên phải
tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản thông qua các hoạt động học tậphướng vào phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
Mặt khác, cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã hội loài người, thế hệtrẻ cũng có sự phát triển nhanh hơn về nhận thức và tri thức của mình, như tiếp cận
công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông…Do đó, “Trong học tập, học sinh không thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận
Trang 25các giải pháp đã có sẵn được đưa ra Như vậy, ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu và cũng là một quá trình: sự lĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng Để hình thành và phát triển phương thức học tập tự lập ở học sinh một cách
có chủ định thì cần thiết phải có sự hướng dẫn đồng thời tạo các điều kiện thuận lợi”[3, tr.7] Từ những thay đổi trong sự phát triển tâm – sinh lý của học sinh (nói
chung) hiện nay, cộng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và khoa học côngnghệ, đòi hỏi quá trình dạy học nói chung, dạy học lịch sử trong các trung tâm giáodục thường xuyên thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phải là một quá trình dạy họctích cực thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp học viên tự lựcchiếm lĩnh kiến thức
Tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử ở cáctrung tâm giáo dục thường xuyên là một quá trình dạy học tích cực, có nghĩa là quátrình đó phải phát huy được những năng lực cá nhân của học viên, quá trình nàyhoàn toàn khác với lối dạy học học truyền thống thụ động, giáo viên đọc, học viênchỉ có biết chép như trước đây Thái độ học tập thụ động, tiếp thu bài một cách thụđộng, không hề có phản ứng tích cực trở lại trong quá trình học tập, đối với ngườihọc, đó sẽ là một sức ì về tâm lý, áp lực tâm lý sẽ cản trở sự lĩnh hội tri thức, cảntrở quá trình hình thành thái độ và niềm tin của người học trong quá trình học tập.Quan niệm dạy học chỉ là sự truyền thụ, thông báo hoặc giảng giải kiến thức trongsách giáo khoa, tức là nói cho học viên nghe rồi ghi chép…dẫn đến lối học tập thụđộng của học viên như trên đã không còn phù hợp trong thực tế dạy học và giáodục hiện nay, nhất là trong điều kiện khoa học công nghệ và công nghệ thông tinphát triển như hiện nay Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên theohướng dạy tự học, dạy cách học cho học viên, nhằm chuyển từ phương pháp dạyhọc thụ động sang phương pháp dạy học tích cực, phát huy sự năng động, tự giácchủ động và sáng tạo của người học là xu hướng tất yếu hiện nay
1.1.2.Xuất phát điểm của vấn đề tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức
cơ bản trong dạy học lịch sử
Trang 26Mục tiêu dạy học: Mục tiêu dạy học nói chung, dạy học bộ môn lịch sử nói
riêng là cái “đích” hướng tới của giáo viên và học sinh, do đó mục tiêu chươngtrình môn lịch sử hiện nay ở trường trung học phổ thông cũng như ở các trung tâmgiáo dục thường xuyên là nhằm giúp học viên đạt được:
Về kiến thức:
- Giúp học viên nắm được những nét chính về quá trình phát triển của lịch
sử thế giới và của dân tộc trên cơ sở biết những sự kiện nổi bật nhất của từng giaiđoạn lịch sử, hiểu được nội dung cơ bản của từng thời kỳ
- Giúp học viên biết những sự kiện quan trọng, những nội dung cơ bản củalịch sử loài người từ nguồn gốc đến nay, đặc biệt là những sự kiện, những vấn đề
có liên quan mật thiết đến lịch sử của dân tộc
- Từng bước xây dựng cho học viên phương pháp luận về nhận thức xã hộinhư; kết cấu xã hội loài người, vai trò của lao động sản xuất trong sự tiến hoá củaloài người và của xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và của cá nhân trong cáccuộc cách mạng xã hội…
Về kỹ năng:
Bước đầu hình thành những kỹ năng cần thiết cho việc học tập bộ môn như:
kỹ năng làm việc độc lập với sách giáo khoa và các nguồn sử liệu, các loại đồ dùngtrực quan; biết phân tích, đánh giá và so sánh các sự kiện hoặc nhân vật lịch sử;vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn; từng bước hình thànhnăng lực phát hiện, đề xuất và giải quyết đúng đắn những vấn đề nảy sinh trongquá trình học tập môn lịch sử
Về thái độ, tư tưởng và tình cảm:
Có tình yêu quê hương đất nước gắn liền với niềm tin tất thắng của Chủnghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc và trân trọng đối với những di sản lịch sử trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước; có thái độ trân trọng đối với các dân tộc, cácnền văn hoá trên thế giới, có tinh thần quốc tế chân chính, yêu chuộng hoà bình vàtình hữu nghị giữa các dân tộc; có niềm tin về sự phát triển từ thấp đến cao, từ lạc
Trang 27hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc Bước đầu hình thànhnhững phẩm chất cần thiết của một người công dân: có thái độ tích cực vì xã hội,
vì cộng đồng, biết yêu lao động sản xuất, có đủ đức, đủ tài để góp phần xây dựng
và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới
Đặc trưng của kiến thức Lịch sử: Kiến thức lịch sử có những nét đặc thù
so với kiến thức của nhiều môn học khác, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại,tính cụ thể, tính thực tiễn, tính toàn diện…Đây chính là những căn cứ để giáo viênlựa chọn kiến thức cơ bản và tổ chức cho học viên ở các trung tâm giáo dục thườngxuyên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử
Tính quá khứ: nghĩa là “Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người
từ lúc con người và xã hội hình thành đến nay Tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nên nó mang tính quá khứ” [36, tr.176] Vì là chuyện đã xảy ra nên chúng ta không thể trực tiếp quan
sát hay tiếp xúc, mà chúng ta chỉ nhận thức được một cách gián tiếp thông qua các
sử liệu, hiện vật lịch sử còn lưu lại “Lịch sử mang tính quá khứ, muốn giúp học sinh nắm vững kiến thức, phải khôi phục lại bức tranh lịch sử để tạo ra những ấn tượng khó quên trong trí óc của các em Việc kết hợp lời nói của giáo viên và học sinh với đồ dùng trực quan nhằm tạo biểu tượng cụ thể, sinh động về sự kiện lịch
sử là một trong những biện pháp giúp học sinh nhớ nhanh, nhớ lâu kiến thức”[ 16,
tr 30]
Tính không lặp lại: nghĩa là, mỗi sự kiện bao giờ cũng chỉ diễn ra trong một
không gian và thời gian nhất định rồi sẽ chấm dứt để làm cơ sở cho sự xuất hiệnnhững sự kiện mới Có những sự kiện, hiện tượng tưởng chừng như đang lặp lại,
nhưng đó là “sự lặp lại trên cơ sở cái không lặp lại” [36, tr.177] Nếu như lịch sử
lặp lại nguyên xi thì xã hội sẽ không phát triển và nếu như không lặp lại ở nhữngđặc trưng cơ bản thì con người sẽ không có sự kế thừa, không rút ra được nhữngbài học kinh nghiệm từ quá khứ để phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu hiệnthực lịch sử, dựa vào quy luật lịch sử để dự đoán cho sự phát triển ở tương lai
Trang 28Tính cụ thể: nghĩa là lịch sử thế giới và cả lịch sử dân tộc, bao giờ cũng diễn
ra bằng các sự kiện, nhân vật, thời gian và không gian cụ thể Lịch sử của mỗi quốcgia, dân tộc đều có những nét riêng biệt do điều kiện cụ thể của quốc gia, dân tộc
ấy quy định Trong quy luật phát triển chung của lịch sử thế giới, lịch sử của cácdân tộc cũng bị tác động mạnh mẽ, nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc giadân tộc không hoàn toàn giống nhau Chính vì vậy, trong dạy học lịch sử, học sinhkhông trực tiếp chứng kiến các sự kiện lịch sử đang diễn ra, hoặc không thể tiếpxúc với nhân vật của quá khứ, do đó giáo viên phải giúp người học tạo nên nhữngbiểu tượng lịch sử cụ thể thông qua những tài liệu, sự kiện lịch sử chính xác, khoahọc và điển hình nhất Biểu tượng lịch sử càng cụ thể, càng chân thực sẽ là cơ sởcho việc hình thành những khái niệm khoa học, phù hợp với yêu cầu và trình độnhận thức của học viên
Đồng thời, lịch sử xã hội loài người là hệ thống các sự kiện, hiện tượng vềkinh tế, đấu tranh xã hội… được diễn ra theo một trình tự thời gian nhất định và cómối liên hệ trước sau theo một quy luật riêng của lịch sử Những sự kiện này lại cómối quan hệ nội tại chằng chịt với nhau, do đó, giáo viên phải có biện pháp sưphạm để giúp học viên nắm vững những tri thức lịch sử mang tính hệ thống vàhoàn chỉnh
Khi nhận thức lịch sử, người học phải tuân theo lôgic của sự phát triển đểhiểu một cách chính xác, có hệ thống các sự kiện lịch sử chứ không phải tiếp cậntừng sự kiện riêng lẻ, rời rạc, tức là phải đi từ “sử” đến “luận” trong sự thống nhất
giữa lôgic và lịch sử Căn cứ theo “tính giai cấp của giai cấp vô sản và tính khoa học của lịch sử là hoàn toàn nhất trí giữa “sử” và “luận” có sự thống nhất cao
độ Từ đặc điểm này mà trong giảng dạy lịch sử, người giáo viên phải đảm bảo thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể chính xác, đáng tin cậy và không có sự kiện, hiện tượng nào không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của sự kiện đó” [ 36, tr.180]
Trong cuốn “Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh đã khái quát vấn đề nhận thứclịch sử bằng hai câu thơ:
Trang 29“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [43, tr 221]
Theo Giáo sư Phan Ngọc Liên, có thể xem hai câu thơ trên là biểu hiện củanguyên tắc phương pháp luận và yêu cầu về dạy học lịch sử
Tính thực tiễn: Lịch sử xã hội loài người là quá trình hình thành, tồn tại và
phát triển của những hoạt động, lao động sản xuất, đấu tranh xã hội; lịch sử là bảnthân cuộc sống của quá khứ, còn kiến thức lịch sử là sự hiểu biết về cuộc sốngchân thực của quá khứ ấy Học lịch sử không chỉ dừng lại để hiểu biết quá khứ màtrên cơ sở đó để hiểu rõ hiện tại, định hướng đúng đắn cho sự phát triển ở tươnglai Từ đặc điểm này ta thấy “học” phải đi đôi với “hành” và “lý luận” phải gắn với
“thực tiễn” Thực tế cho thấy việc dạy và học lịch sử hiện nay vẫn còn quan niệm
“môn sử chỉ là môn học thuộc lòng”, muốn học sử chỉ việc nhớ lâu, nhớ nhanh là
đủ, từ đó nhiều đề kiểm tra đánh giá học sinh chỉ kiểm tra phần ghi nhớ, có khi cònđánh đố người học
Tính toàn diện: Lịch sử xã hội là bản thân cuộc sống hiện thực được biểu
hiện trên khắp các lĩnh vực của xã hội loài người như: kinh tế, chính trị, văn hoá,giáo dục, tư tưởng…chính vì vậy, kiến thức lịch sử phải mang tính toàn diện Thực
tế cho thấy, sách giáo khoa lịch sử hiện hành vẫn còn nặng về các cuộc chiến tranh,các lĩnh vực khác tuy có đề cập nhưng còn rất ít
Như vậy, tổ chúc cho học sinh nói chung, học viên ở các trung tâm giáo dụcthường xuyên nói riêng lĩnh hội kiến thức cơ bản trong học tập bộ môn lịch sửkhông thể không dựa vào những đặc trưng của kiến thức lịch sử để lựa chọn biệnpháp sư phạm thích hợp
Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học viên giáo dục thường xuyên: Với
mục tiêu tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi đối tượng trong xã hội, các trung tâmgiáo dục thường xuyên đã thu hút nhiều đối tượng, thuộc các thành phần khác nhautrong xã hội tham gia học tập Do đó, học viên đến với các trung tâm giáo dụcthường xuyên rất đa dạng, phong phú về độ tuổi, hoàn cảnh gia đình, trình độ, kinhnghiện, vốn hiểu biết thực tế và cả về động cơ cũng như nhu cầu học tập: Ở độ tuổi
Trang 30phổ thông, thường là những đối tượng không đủ điểm để vào lớp 10 trường cônglập và không đủ tiền để vào học ở các trường ngoài công lập, đối tượng độ tuổi từ
20 trở lên có một số đặc điểm khác với học sinh phổ thông như: có tính tự lập cao(đây là điểm mạnh của họ so với học sinh phổ thông) là những người tham gia laođộng sản xuất vừa đi làm vừa đi học nên thường có vốn hiểu biết về xã hội, có vốnsống và thái độ làm việc cũng như học tập sẽ nghiêm túc hơn, đối tượng bỏ họcphổ thông lâu ngày, giờ đã quá tuổi học phổ thông, đối tượng “bắt buộc” học phổcập giáo dục theo quy định của Nhà nước Ngoài ra còn có những đối tượng đặcbiệt khác đó là những học viên ở các trại Cai nghiện và chữa bệnh thuộc Lực lượngThanh niên xung phong và Sở Lao động – Thương binh, Xã hội thành phố quảnlý…Đối tượng học đến từ nhiều nguồn khác nhau, nên trình độ nhận thức cũng rấtkhác nhau, do đó đặc điểm tâm lý nhận thức cũng rất khác nhau Quá trình nhận
thức của học viên cũng tuân theo quy luật nhận thức chung đó là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn…” Tuy
nhiên, thực tế ở các trung tâm giáo dục thường xuyên cho thấy sự nhận thức củahọc viên còn rất hạn chế và thụ động, vừa học vừa đi làm nên không có thời gianđầu tư nghiên cứu để lĩnh hội kiến thức một cách độc lập Đối với các đối tượng đihọc vào buổi tối, sau một ngày làm việc thường mệt mỏi nên việc tiếp thu bài cũngrất hạn chế và học để đối phó là chính Đối với bộ môn lịch sử, các đối tượng nàythường xem là môn phụ, một môn học rất khô khan với vô số các sự kiện nên việctiếp thu kiến thức càng trở nên khó khăn và “khó nuốt” Chính vì vậy, tổ chứchướng dẫn học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử nói chung, ởcác trung tâm giáo dục thường xuyên là cần thiết và nên làm
Yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng:
Đổi mới hiện nay là một xu thế tất yếu khách quan vì xuất phát từ cơ sởkhoa học và cơ sở thực tiễn sau đây:
Một là, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với việc đào tạonguồn nhân lực trong giai đoạn mới Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công
Trang 31nghiệp hoá và hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành mộtnước công nghiệp, hội nhập vào cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợicủa công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người, lànguồn lực người Việt Nam được phát triển về số và chất lượng trên cơ sở mặt bằngdân trí được nâng cao Giáo dục và Đào tạo phải đổi mới để đào tạo những thế hệ
có đầy đủ phẩm chất và năng lực được hình thành trên nền tảng kiến thức vữngchắc, kỹ năng thành thạo
Hai là, do sự phát triển nhanh mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ.Các lý thuyết, các thành tựu mới đã nhanh chóng ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
và lao động sản xuất, từ đó buộc chương trình, sách giáo khoa phải luôn được xemxét và điều chỉnh Trình độ học vấn mà nhà trường phổ thông trang bị không thểthâu tóm được mọi tri thức, vì vậy phải coi trọng dạy học sinh phương pháp tiếpcận tri thức, trên cơ sở đó mà học tập suốt đời
Ba là, đối tượng giáo dục có thay đổi Những kết quả nghiên cứu tâm sinh lýhọc sinh và điều tra xã hội học cho thấy, gần đây trên thế giới cũng như ở nước ta,thanh thiếu niên đã có những thay đổi lớn trong tâm sinh lý và nhận thức: Do xuthế hội nhập, giao lưu quốc tế và sự phát triển của các phương tiện truyền thôngnên giới trẻ hiện nay hiểu biết nhiều hơn, tiếp thu được nhiều nguồn thông tin đadạng, phong phú Thế hệ học sinh hiện nay linh hoạt và thực tế hơn các thế hệtrước, họ không thoả mãn với vai trò tiếp thu thụ động, không chấp nhận vớinhững giải pháp có sẵn mà đã nảy sinh yêu cầu lĩnh hội độc lập các tri thức và pháttriển kỹ năng, chiếm lĩnh trí tuệ
Bốn là, do xu thế cải cách đổi mới giáo dục trên thế giới, từ cuối thế kỷ XX,nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành cải cách đổi mới giáo dục, tập trung chủyếu vào bậc trung học phổ thông mà trọng điểm là chương trình và sách giáo khoa.Việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa của các nước trên thế giớitheo các xu hướng sau đây: Quan tâm đến việc đáp ứng yêu cầu của sự phát triểnkinh tế xã hội và cạnh tranh quốc tế trong tương lai, góp phần thực hiện yêu cầubình đẳng và công bằng về cơ hội giáo dục Nhấn mạnh việc giữ gìn bản sắc văn
Trang 32hoá dân tộc, kế thừa truyền thống tốt đẹp của mỗi quốc gia trong xu thế toàn cầuhoá Giúp trẻ em phát triển tri thức cơ bản, hình thành và phát triển khả năng tưduy phê phán, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, thói quen năng lực tự học,thói quen và năng lực vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn Từ xuhướng đổi mới giáo dục nói trên, ở các trung tâm giáo dục thường xuyên cũng phảiđổi mới phương pháp dạy và học nói chung, trong việc dạy và học lịch sử nóiriêng, không thể duy trì mãi lối dạy học theo kiểu “đọc” “chép” mà phải tăngcường các biện pháp dạy học nêu vấn đề, sử dụng đồ dùng trực quan để tạo sựhứng thú trong học tập lịch sử, bước đầu giúp học viên tự giác, độc lập chiếm lĩnhnhững kiến thức cơ bản nhất của bộ môn.
1.1.3.Vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản
Vai trò việc tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản.
“Trong dạy học lịch sử, chúng ta thường gặp một mâu thuẫn là khối lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh thì nhiều mà thời gian và trình độ học sinh có hạn Không giải quyết tốt mâu thuẫn này sẽ dẫn đến tình trạng quá tải, mà một trong những biểu hiện thường gặp là nặng nề về sự kiện, ôm đồm, vượt quá trình
độ và yêu cầu của chương trình” [36, tr.103] Việc này, ở các trung tâm giáo dục
thường xuyên càng có ý nghĩa khi thời lượng dành cho hoạt động dạy học trên lớp
và trình độ học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên lại rất hạn chế Trên
cơ sở mục tiêu dạy học của bộ môn, đặc điểm của kiến thức lịch sử, trình độ nhậnthức của học viên, việc tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạyhọc lịch sử là một biện pháp góp phần giải quyết được mâu thuẫn trên, từng bướcnâng cao chất lượng dạy và học và thực hiện tốt mục tiêu dạy học bộ môn
Ý nghĩa việc tổ chức học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản.
Trước hết, tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch
sử là cơ sở để giúp các em nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của bộ môn, theoquy định của chương trình Đó là hệ thống kiến thức tối thiểu mà học viên cùngmột cấp học trên phạm vi cả nước phải đạt được Trên nền tảng đó, học viên khôngngừng nâng cao hiểu biết của mình về quá khứ, có thể vận dụng những hiểu biết ấy
Trang 33vào cuộc sống thực tiễn Ở đây, học viên cũng phải đi từ “biết” đến “hiểu” sâu sắc
lịch sử Nói cách khác, các em không những nắm vững phần “sử” mà còn vữngvàng sâu sắc trong phần “luận”, đồng thời cũng tránh được hiện tượng quá tải, gây
nhàm chán và giảm chất lượng học tập bộ môn Ví dụ, khi dạy bài 12 “Phong trào
dân tộc, dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925, khi dạy đến mục: hànhtrình cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, với sự kiện tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốcđọc được Bản sơ thảo Luận cương của Lênin về: Vấn đề dân tộc và thuộc địa Sựkiện này đã có ý nghĩa rất sâu sắc đối với cuộc đời hoạt động của Người nói riêng
và của dân tộc Việt Nam nói chung
Tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản cũng là cơ sở để thực hiện
kỹ năng trong dạy học lịch sử, góp phần phát triển các năng lực nhận thức, kỹnăng, kỹ xảo của học viên nói chung và rèn luyện các thao tác cũng như chất lượngcủa tư duy nói riêng Thực tiễn việc dạy học lịch sử hiện nay cho thấy, do xác địnhkhông đúng những kỹ năng cần thiết phải hình thành cho học viên qua dạy họctừng nội dung, chương, bài cụ thể nên giáo viên thường lúng túng, dẫn đến việcxem nhẹ vai trò của việc phát triển các kỹ năng cho học viên trong học tập bộ môn.Việc xác định đúng và có biện pháp phù hợp để rèn luyện kỹ năng nhận thức chohọc viên trong dạy học lịch sử là yếu tố quan trọng nhằm khắc phục những thiếusót trên
Tổ chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản là phương thức tốt để hìnhthành kiến thức với niềm tin, gợi lên những cảm xúc lịch sử, tạo cơ sở để bồi
dưỡng tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học viên Ví dụ, khi dạy bài 12 (như ví dụ
trên), sau khi đã tìm hiểu cuộc đời hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từnăm 1917 đến năm 1925, chắc hẳn các em sẽ thấy được công lao vĩ đại của Ngườitrong việc tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đó là con đường cáchmạng vô sản Sự kiện này, sẽ giúp các em bồi dưỡng lòng kính yêu vô bờ bến đốivới Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, dấy lên niềm tự hào dân tộc và xây dựng niềm tinvững chắc vào con đường cứu nước mà Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn lựa
Trang 34Lý luận và tình hình thực tiễn cho thấy, trong dạy học lịch sử ở các trungtâm giáo dục thường xuyên từ lâu vốn tồn tại hai thái cực: hoặc là coi nhẹ việc giáodục tư tưởng, đạo đức, hoặc là thực hiện việc giáo dục này một cách giáo điều hìnhthức Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng học viêncảm thấy giờ học lịch sử nặng nề, sáo rỗng và quay lưng lại với bộ môn Để khắcphục tình trạnh này và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đáp ứng được nhữngyêu cầu của mục tiêu đào tạo thì giáo viên phải xác định đúng đắn hướng thái độcho học viên qua việc dạy những nội dung cụ thể Việc tổ chức học viên lĩnh hộikiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử phải gắn bó mật thiết vối hướng thái độ, đócũng là thực hiện nguyên lý giáo dục “thông qua dạy chữ để dạy người”.
Mặt khác, “Con người chỉ thực sự nắm vững những điều mà chính mình đã giành được bằng hoạt động của bản than, học sinh sẽ chỉ ghi nhớ, nắm vững được những gì đã trải qua trong hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó các
em đã phải có những cố gắng trí tuệ và khát vọng học tập”[ 33, tr.320] Vì vậy, tổ
chức cho học viên lĩnh hội kiến thức cơ bản trong dạy học lịch sử thông qua cácphương pháp dạy học tích cực có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng caochất lượng dạy học bộ môn, nhất là trong xu hướng đổi mới mạnh mẽ phương phápdạy học như hiện nay
bố môn thi tốt nghiệp, nếu có môn lịch sử thì lập tức tăng thêm từ 2 đến 4 tiết/tuần
để giáo viên tổ chức ôn tập và dò bài Với cách làm như vậy, ta thấy lãnh đạo đơn
Trang 35vị chỉ chạy theo thành tích là chính, nên trong giai đoạn này, giáo viên chỉ biết nhồinhét kiến thức và học sinh thường có hiện tượng “bội thực”, nên việc tổ chức họcviên lĩnh hội kiến thức chỉ là hình thức “đọc – chép”, học viên thụ động lĩnh hộikiến thức, dần dần các em cảm thấy “chán sử” và “sợ sử” Các nhà giáo dục học thì
cho rằng: “Việc dạy học ở nhà trường đòi hỏi trước hết học sinh phải hoạt động tư duy có tính mục đích, buộc nó phục tùng một nhiệm vụ nhất định Học sinh tìm lời giải cho câu hỏi mà giáo viên đặt ra, giữ cho tư duy diễn biến theo hướng nhất định là hướng giải quyết nhiệm vụ đó” [ 20, tr.27] Đối với giáo viên, khi dự tuyển
công chức và nhận công tác thường không chọn về dạy ở các trung tâm giáo dụcthường xuyên, nếu vì một lý do nào đó được điều về thì họ cảm thấy bỡ ngỡ, xa lạ,khi gặp học viên buổi tối thường là cán bộ, công nhân viên vừa đi làm vừa đi học,nên đây là trở ngại đầu tiên cho những giáo viên trẻ mới ra trường Một khi tâm lýgiáo viên chưa ổn định thì khó mà dành toàn tâm toàn ý cho việc giảng dạy nóichung, nhất là giảng dạy bộ môn lịch sử nói riêng Thực tế cho thấy việc dạy vàhọc bộ môn Lịch sử ở các trung tâm giáo dục thường xuyên hiện nay chủ yếu là đểđối phó với thành tích là chính
Thực trạng việc dạy và học lịch sử hiện nay ở các trung tâm giáo dục thường xuyên:
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 24 trung tâm giáo dụcthường xuyên cấp quận, huyện; 3 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp thành phố;
3 trung tâm giáo dục thường xuyên trực thuộc các Sở, Ngành khác quản lý; 15phân hiệu bổ túc văn hoá nằm trong các trường trung học phổ thông, cao đẳng vàđại học, nâng tổng số lên 45 đơn vị Lực lượng giáo viên cơ hữu môn lịch sử củagiáo dục thường xuyên là 42, giáo viên thỉnh giảng từ các trường phổ thông trênđịa bàn lân cận là 31 giáo viên, nâng tổng số giáo viên tham gia giảng dạy bộ mônlịch sử ở các đơn vị giáo dục thường xuyên là 73 Hằng năm, số lượng bình quânthí sinh dự thi tốt nghiệp bổ túc trung học phổ thông dao động từ 11.000 thí sinhđến 13.000 thí sinh, nếu lấy bình quân là 12.000 thí sinh, mỗi lớp 12 có 45 thí sinhthì ta thấy bình quân là 266 lớp/73 giáo viên, nếu lấy bình quân thì mỗi giáo viêndạy 4 lớp 12 với 180 học viên, đây là con số lý tưởng, theo chúng tôi là không quá
Trang 36tải và chấp nhận được trong việc tổ chức hướng dẫn học viên lĩnh hội kiến thức cơbản môn lịch sử nói chung.
Về năng lực dạy học của giáo viên nói chung, giáo viên giảng dạy môn lịch
sử ở trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng cần được xem xét, đánh giá trênnhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, hai nội dung trên cho phép chúng tađánh giá một cách tương đối chính xác thực trạng năng lực dạy học của người giáoviên là ở trình độ nắm vững kiến thức và kỹ năng dạy học Đây là hai nội dung gắn
bó chặt chẽ với nhau, là hai bộ phận quan trọng nhất cấu thành năng lực dạy họccủa người giáo viên Kết quả khảo sát vào tháng 3 năm 2012, thông qua dự giờthăm lớp một số đơn vị như: Dự giờ cô Nguyễn Kim Trang giáo viên Trung tâmGiáo dục thường xuyên quận 1, cô Nguyễn Thị Như Liêm giáo viên Trung tâmGiáo dục thường xuyên quận 8, cô Nguyễn Thị Mai Trang giáo viên Trung tâmGiáo dục thường xuyên quận 10, cô Đỗ Thị Nương giáo viên Trung tâm Giáo dụcthường xuyên quận 12, thầy Nguyễn Văn Mai giáo viên Trung tâm Giáo dụcthường xuyên huyện Hóc Môn, thầy Nguyễn Văn Gặp giáo viên Trung tâm giáodục thường xuyên huyện Củ Chi…đã cho thấy: giáo viên bộ môn lịch sử ở cáctrung tâm giáo dục thường xuyên nắm vững kiến thức bộ môn, giàu nhiệt huyết vàtận tâm với nghề Tuy nhiên, về kỹ năng xác định kiến thức cơ bản, kỹ năng tổchức dạy học nhất là tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp, kỹ năng hướng dẫnhọc viên tìm hiểu lịch sử địa phương, kỹ năng hướng dẫn học viên hoạt động ngoạikhoá, kỹ năng tổ chức ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên…nóichung là phương pháp dạy học lịch sử của một bộ phận giáo viên còn chưa đápứng tốt yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học môn lịch sử
Qua kết quả điều tra, khảo sát 30 giáo viên hiện đang giảng dạy lịch sử ở cáctrung tâm giáo dục thường xuyên quận, huyện và các phân hiệu bổ túc văn hoátrong trường trung học phổ thông, cũng như các phân hiệu bổ túc văn hóa nằmtrong các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố, chúng tôi đã rút ra một
số nhận xét qua bảng kết quả điều tra dưới đây:
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA GIÁO VIÊN
Trang 37Số GV trả lời Tỉ lệ %
1
Theo Thầy (cô), thái độ học tập của học viên với bộ
môn lịch sử như thế nào?
3,326,756,713,3
2
Theo Thầy (cô), kiến thức cơ bản trong dạy học bộ
môn lịch sử được hiểu là
A tất cả kiến thức của khoa học lịch sử
B tất cả kiến thức trong sách giáo khoa
C kiến thức tối thiểu mà học sinh cần đạt
D kiến thức chuẩn mực, đúng đắn nhất
21414
6,646,746,7
3
Thầy (cô), có thường xuyên xác định kiến thức cơ bản
khi soạn giáo án:
A Thường xuyên
B Chỉ khi có sự kiểm tra chuyên môn
C Chỉ với những bài quan trọng
D Không xác định
282
93,36,7
C Sách giáo khoa, phân phối chương trình, sách giáo
viên, chuẩn kiến thức kỹ năng
D Sách giáo khoa, phân phối chương trình
1
3206
3,3
1066,720
5
Theo Thầy (cô), có cần thiết cung cấp tất cả những kiến
thức có trong sách giáo khoa không?
6,713,463,316,6
Trang 38Trong dạy học lịch sử, để tổ chức cho học viên lĩnh hội
kiến thức cơ bản, Thầy (cô) thường sử dụng:
A thuyết trình, diễn giải
B dạy học nêu vấn đề
C sử dụng hệ thống câu hỏi
D sử dụng đồ dùng trực quan
E kết hợp các dạng hoạt động học tập
F hướng dẫn học viên sử dụng sách giáo khoa và các
loại tài liệu lịch sử liên quan khác
G kết hợp các phương pháp trên tuỳ theo nội dung bài
dạy
H thường xuyên hướng dẫn học viên củng cố kiến thức
K kết hợp kiểm tra đánh giá với hướng dẫn học viên tự
kiểm tra đánh giá
1617
15
3,3203,323,4
50
7
Theo Thầy (cô), những phương pháp hoặc biện pháp
nào sau đây có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực
học tập của học viên?
A Thuyết trình, diễn giải
B Dạy học nêu tình huống có vấn đề
C Sử dụng hệ thống câu hỏi
D Sử dụng đồ dùng trực quan
E Dạy học theo nhóm
F Hướng dẫn học viên sử dụng sách giáo khoa và các
loại tài liệu lịch sử liên quan khác
2156241
6,750206,713,43,3
8
Theo Thầy (cô), chương trình, sách giáo khoa hiện nay
có quá tải không?
A Quá tải
B Vừa đủ
C Chỉ quá tải ở một số bài
D Không quá tải
20271
66,86,623,33,3
9 Nếu quá tải, theo Thầy (cô) là do
Trang 39A thời lượng cho bộ môn ít
B ôm đồm quá nhiều sự kiện
C trình độ học viên yếu không tiếp thu được
D giáo viên không xác định được kiến thức cơ bản
10182
33,3606,7
10
Theo Thầy (cô), phần lịch sử Việt nam giai đoạn 1919
– 1945 có vai trò như thế nào trong việc giáo dục lịch
8020
Thứ nhất, hầu hết ý kiến thầy (cô) (56%) đều khẳng định học viên đều có
phản ứng bình thường với bộ môn lịch sử, một số (26,7%) yêu thích học bộ môn,
cá biệt có (3,3%) học viên rất thích, cũng có một số (13,3%) học viên quay lưngvới bộ môn lịch sử
Thứ hai, có (46,7%) giáo viên tuy đã nhận thức được những kiến thức tối
thiểu mà học viên cần đạt, nhưng còn bám sát vào sách giáo khoa và khung phânphối chương trình một cách máy móc, thiếu linh hoạt
Thứ ba, vì quá ôm đồm kiến thức trong sách giáo khoa, nên có 66,7% giáo
viên cho rằng chương trình sách giáo khoa quá tải, nặng nề Vì thiếu kinh nghiệmtrong việc xác định kiến thức cơ bản và tổ chức cho học viên lĩnh hội nên một bộphận giáo viên tỏ ra khó khăn, lúng túng trong việc chuyển tải những kiến thứctrong sách giáo khoa
Thứ tư, hầu hết giáo viên (80%) đều cho rằng Lịch sử Việt Nam giai đoạn
1919 – 1945 có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục Lịch sử dân tộc cho họcviên
Thứ năm, trong dạy học lịch sử chỉ có (50%) giáo viên kết hợp các dạng
hoạt động học tập tuỳ theo nội dung bài dạy ở trên lớp, đa số còn lại thì lúng túng,hoặc phiến diện ở một biện pháp nào đó
Trang 401.2.2 Thực trạng đối tượng học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên.
Đối tượng học viên ở các trung tâm giáo dục thường xuyên có thể chia làmhai đối tượng để thấy rõ thực trạng học viên ở các trung tâm giáo dục thườngxuyên thành phố Hồ Chí Minh
- Đối tượng còn ở độ tuổi phổ thông (từ 16 đến 18 tuổi), đối tượng này hầuhết là không đạt điểm đậu vào lớp 10 công lập, không đủ điều kiện về kinh tế đểvào lớp 10 hệ ngoài công lập, chuyển trường nhưng chưa có hộ khầu để vào cônglập Các đối tượng này được bố trí học vào ban ngày như công lập và phải học 7môn bắt buộc đó là: Văn, Toán, Lý, Hoá, Sinh, Sử, Địa cùng với 3 môn khuyếnkhích học (vì ba môn này không tham gia vào tính điểm xếp loại trong học bạ,thường thì tổ chức học theo chương trình thi để lấy chứng chỉ cấp độ A, B) đó là:Anh văn, Tin học và Giáo dục công dân Thời lượng học các môn cũng tươngđương như ở khối công lập Tuy nhiên, so với công lập về tâm lý nhận thức, kỹnăng, thái độ…ngoài một số ít học viên có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, còn lạiphần lớn đối tượng này, nhận thức còn hạn chế, ít tự giác chủ động lĩnh hội kiếnthức, học viên lĩnh hội kiến thức một cách thụ động, thái độ học tập mang tính đốiphó với giáo viên bộ môn và đối phó với các kỳ thi là chính
- Đối tượng học viên từ 18 tuổi trở lên (hầu hết là những người còn đang làmviệc), các môn học bắt buộc và khuyến khích cũng tương tự như đối tượng học banngày, lịch học của đối tượng này được bố trí sau giờ hành chánh thường thì từ 18giờ đến 21 giờ Điều kiện và thời gian học tập thường diễn ra sau một ngày làmviệc vất vả nên khi đến lớp, học viên thường tỏ ra mệt mỏi, thiếu hứng thú học tập,cách tiếp thu cũng tỏ ra chậm chạp và mệt mỏi Nếu giáo viên ra bài tập về nhàhoặc sưu tầm tài liệu bổ sung cho bài học thì họ không có thời gian để thực hiện.Sau buổi học, về đến nhà thì thời gian đã là 22 đến 23 giờ đêm nên học viên khôngthể xem lại bài đã học Vì là đối tượng lớn tuổi đi học, nên thường rất ngại hỏi giáoviên, nhất là những giáo viên trẻ những vấn đề còn thắc mắc khi lĩnh hội kiến thức
từ phía giáo viên Đối tượng này thường có tư tưởng an phận, học để đối phó hoặc