Từ những thực trạng trên cần tiến hành nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, đặc biệt là tìm ra bộ giống cây trồng mới phù hợp có tiềm năng năng suất, chất lượng cao đáp ứ
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -
NGUYỄN THÀNH TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG VÙNG ĐẤT BÃI
VEN SÔNG LAM HUYỆN HƯNG NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC S NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2014
Trang 22
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - -
NGUYỄN THÀNH TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG VÙNG ĐẤT BÃI
VEN SÔNG LAM HUYỆN HƯNG NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC S NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60 62 01 10
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Trần Ngọc Lân
NGHỆ AN, 2014
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Trung
Trang 44
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Vinh, Khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Nông – Lâm – Ngư; cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Trần Ngọc Lân – Người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn
về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới UBND huyện Hưng Nguyên, Phòng nông nghiệp, phòng tài nguyên môi trường, phòng thống kê, lãnh đạo ban ngành các xã, cùng toàn thể nhân dân đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Th.S Hoàng Đức Ân – Phó trưởng phòng nông nghiệp huyện Hưng Nguyên đã dành thời gian hướng dẫn, giới thiệu cho tôi tiếp cận địa bàn và giải quyết được các vấn đề nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng toàn thể anh chị em cán
bộ công ty cổ phần đầu tư và phát triển Stevia Á Châu đã giúp đỡ tôi trong việc triển khai, bố trí các mô hình thí nghiệm
Cuối cùng, tôi xin chân thành tới gia đình, người thân, bạn bè, các anh chị
em học viên lớp Cao học K20 - Khoa học cây trồng đã chia sẻ, động viên, khích
lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của Thầy
Cô và bạn bè Song do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi được những thiếu sót
Vì vậy, tôi rất mong được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của Thầy Cô và các bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Trung
Trang 51.1.6 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa 11
Trang 66
1.4 Một số kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới 25
2.1.1 Bố trí thí nghiệm đồng ruộng và các biện pháp kỹ thuật áp dụng 35 2.1.1.1 Thử nghiệm mô hình trồng cây ớt cay trong vụ Đông – Xuân
2.1.1.2 Thử nghiệm mô hình trồng cây bí đỏ nhật trong vụ Hè Thu trên
2.1.1.3 Thử nghiệm mô hình trồng cây cà rốt trong vụ Đông trên vùng
3.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội
đến cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ của huyện Hưng Nguyên 41
3.1.3 Chính sách hỗ trợ nông nghiệp và phát triển nông thôn 54
Trang 73.2.2.1 Cơ cấu cây trồng vụ Xuân vùng đất bãi ven sông Lam năm 2013 64 3.2.2.2 Cơ cấu cây trồng vụ Hè Thu vùng đất bãi ven sông Lam năm 2013 65 3.2.2.3 Cơ cấu cây trồng vụ Đông vùng đất bãi ven sông Lam năm 2013 67 3.2.2.4 Cơ cấu cây trồng vụ Đông vùng đất bãi ven sông Lam năm 2013 68 3.2.3 Cơ cấu một số giống cây trồng chính trên vùng bãi ven sông Lam 69 3.2.4 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh cây trồng hiện có 72
3.3 Đề xuất chuyển đổi, lựa chọn công thức luân canh cây trồng
theo hướng sản xuất hàng hóa nâng cao hiệu quả kinh tế 77
3.4.1 Kết quả xây dựng mô hình trồng cây ớt cay Đông – Xuân trên
3.4.2 Kết quả xây dựng mô hình trồng cây bí đỏ nhật vụ Hè Thu trên
3.4.3 Kết quả xây dựng mô hình trồng cây cà rốt trong vụ Đông trên
3.5 Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện chuyển đổi cơ cấu
Trang 88
3.5.1 Công tác quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch nông nghiệp 90
Phụ lục 2: Năng suất và giá bán các loại cây trồng
Phụ lục 3: Giá trị kinh tế của các loại cây trồng tính trên đơn vị 1 ha
Phụ lục 4: Giá trị kinh tế các công thức luân canh hiện có tính trên đơn vị 1 ha
Phụ lục 5: Đề xuất chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Phụ lục 6: Chi phí vật chất và công lao động
Trang 99
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 1010
DANH MỤC CÁC HÌNH
3.4 Diện tích sử dụng các loại đất vùng bãi ven sông Lam năm 2013 48 3.5 Cơ cấu kinh tế các ngành huyện Hưng Nguyên giai đoạn 2010 - 2013 51 3.6 Cơ cấu lao động trong các ngành huyện Hưng Nguyên năm 2013 54 3.7 Cơ cấu cây trồng vụ Xuân trên vùng đất bãi ven sông Lam năm 2013 65 3.8 Cơ cấu cây trồng vụ Hè Thu trên vùng đất bãi ven sông Lam
năm 2013
67
3.9 Cơ cấu cây trồng vụ Đông trên vùng đất bãi ven sông Lam năm 2013 69
Trang 12Trong những năm qua tình hình sản xuất nông nghiệp ở đây đã có những bước chuyển biến tích cực Sản xuất nông nghiệp đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Đặc biệt là việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất là việc đưa các giống cây, con mới vào sản xuất, làm tăng đáng kể năng suất cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, nhìn chung năng suất cây trồng vẫn còn thấp so với tiềm năng năng suất của giống, bên cạnh đó chưa khai thác hết điều kiện tự nhiên để tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích Có nhiều nguyên nhân như: Chưa xác định được bộ giống cây trồng hợp lý; hệ số sử dụng đất hàng năm còn thấp; sản xuất thiếu sự hướng dẫn về kỹ thuật đồng bộ; trình độ thâm canh của nông dân ở các xã không đồng đều, đầu tư về phân bón ít về số lượng và không cân đối; công nghệ chế biến sau thu hoạch còn rất thô sơ, chưa hình thành được vùng nguyên liệu phục vụ cho chế biến công nghiệp hàng hoá…vv
Theo người dân địa phương trước đây mưa lũ chủ yếu tập trung vào trung
và hạ tuần tháng 9 và đầu tuần tháng 10, mùa hè rất ít xảy ra hạn hán, dựa vào quy luật thời tiết khá ổn định nên người dân có thể chủ động canh tác từ 2 – 3 vụ/năm Tuy nhiên trong những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu và tác động của nạn khai thác cát trái phép đã làm thay đổi dòng chảy, nhiều diện tích đất canh tác bị sạt lở, một số diện tích bị cát hóa không còn khả năng canh tác Bên cạnh đó hệ thống thủy lợi chưa được đầu tư xây dựng đúng mức, nguồn nước cung cấp cho cây trồng chủ yếu là phụ thuộc vào nước trời Vụ Hè Thu mực nước ngầm xuống thấp, nắng nóng gây hạn nghiêm trọng ở giai đoạn đầu của cây con và ngập úng vào cuối vụ gây thiệt hại về năng suất và sản lượng cây trồng, cho nên vào vụ Hè Thu và vụ Đông phần lớn diện tích vùng đất bãi bị bỏ
Trang 1313
hoang và chủ yếu làm bãi chăn thả gia súc, chỉ một phần nhỏ diện tích được đưa vào sản xuất Vấn đề đặt ra là luân canh 2 – 3 vụ/năm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng tại sao diện tích canh tác của vùng đất bãi ngày càng bị thu hẹp, một
số công thức luân canh cây trồng có doanh thu đạt rất cao nhưng vẫn không thể nhân ra diện rộng
Từ những thực trạng trên cần tiến hành nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, đặc biệt là tìm ra bộ giống cây trồng mới phù hợp có tiềm năng năng suất, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sản xuất đại trà, nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành các vùng chuyên canh tập trung, gắn với công nghiệp chế biến Mở rộng các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, đáp ứng đủ nhu cầu các sản phẩm nông nghiệp cho địa bàn tại chỗ và cung cấp cho các vùng phụ cận, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
Dựa vào nguồn lợi tự nhiên đất đai, khí hậu và điều kiện kinh tế xã hội, phương hướng nhiệm vụ phát triển nông nghiệp của vùng chúng tôi thực hiện
nghiên cứu đề tài " Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp chuyển đổi cơ
cấu cây trồng vùng đất bãi ven sông Lam thuộc huyện Hưng Nguyên” để chủ
động khai thác các nguồn lợi tài nguyên, vốn, lao động, thị trường, đây là vấn đề
có ý nghĩa thiết thực đối với định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn và là việc làm cần thiết cho trước mắt và lâu dài
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các nguồn lực phát triển và hiện trạng cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ nhằm đề xuất giải pháp thay đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ hướng đến phát triển nông nghiệp xanh và hiệu quả kinh tế trên vùng đất màu bãi ven sông Lam thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
Đối tƣợng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Hiện trạng hệ thống cây trồng trên vùng đất bãi: Cơ cấu mùa vụ, các công thức luân canh, cơ cấu giống cây trồng hiện có và hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng hằng năm
Trang 1414
- Các hộ nông dân ở một số xã đại diện
- Các giống cây trồng
Nội dung nghiên cứu
Điều tra, phân tích đánh giá hiện trạng
- Các yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội chi phối hình thành cơ cấu cây trồng hàng năm
- Thực trạng cơ cấu cây trồng hàng năm
- Một số giống cây trồng chính đang được trồng
Đề xuất cải tiến cơ cấu cây trồng hàng năm phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người dân
Thử nghiệm cải tiến cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế
- Thử nghiệm mô hình trồng ớt cay vụ Đông – Xuân năm 2013
- Thử nghiệm mô hình trồng cây bí đỏ nhật vụ Hè Thu năm 2013
- Thử nghiệm trồng cây cà rốt vào vụ Đông năm 2013
Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ phù hợp, phát triển bền vững, sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, làm cơ sở để nhân rộng mô hình trên địa bàn huyện Hưng Nguyên
Trang 1515
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1 Khái niệm về hệ thống cây trồng
Theo Zandstra và cộng sự (CS) (1981) Hệ thống cây trồng (HTCT) là
hoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần
có để sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi
trường Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý, sinh học, kỹ thuật,
lao động và quản lý
(Nuồn Zandstras 1981)
Hình 1.1 Các thành phần của hệ thống nông nghiệp
Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1984) HTCT là thành phần các giống và
loài cây được bố trí trong không gian và thời gian của hệ sinh thái nông
nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội
Theo tác giả, cơ cấu cây trồng (CCCT) là nội dung chính của hệ thống cây
trồng Bố trí cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm sắp xếp
CÂY TRỒNG
CÔNG THỨC LUÂN CANH
Trang 1616
lại hoạt động của hệ sinh thái Một CCCT hợp lý chỉ khi nó lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và né tránh các điều kiện bất lợi về thiên tai, lợi dụng các đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh, cỏ dại, đảm bảo sản lượng cao và tỷ lệ hàng hóa lớn, đảm bảo phát triển tốt về chăn nuôi và các ngành kinh tế hỗ trợ, sử dụng hợp lý lao động, tài nguyên thiên nhiên, vật tư, phương tiện
Do đặc tính sinh học của cây trồng và môi trường sống luôn biến đổi nên HTCT mang đặc tính động Vì vậy, nghiên cứu HTCT không thể dừng lại ở một không gian và thời gian nhất định rồi kết thúc mà là việc làm thường xuyên, liên tục để tìm ra xu thế phát triển, yếu tố hạn chế và những giải pháp khắc phục để chuyển đổi HTCT nhằm mục đích khai thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh tế - xã hội phục vụ cuộc sống con người (Đào Thế Tuấn, 1984) [34]
Các nghiên cứu trong việc hoàn thiện hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng cần dùng phương pháp phân tích hệ thống để tìm ra điểm hẹp hay là chỗ thắt lại của hệ thống Đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của hệ thống cần được tác động sửa chữa, khai thông để hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn (Đào Châu Thu, 2014) [23]
Hoàn thiện hệ thống hoặc phát triển HTCT mới, trên thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh cây trồng, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, nhằm đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [25]
Theo tác giả Phạm Chí Thành và CS (1996) [21] thì hệ thống cây trồng là yếu tố động:
- Động theo thời gian: Ở nền nông nghiệp tự cung tự cấp thì hệ thống cây trồng phục vụ cho sự tự cung, tự cấp, ở nền nông nghiệp hàng hóa thì hệ thống cây trồng phục vụ cho kinh tế thị trường
Trang 17- Hệ thống cây trồng do các hộ nông dân thực hiện phải xuất phát từ điều kiện kinh tế của nông dân để đưa ra hệ thống cây trồng hợp lý
1.1.2 Khái niệm cơ cấu cây trồng
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây trồng có trong vùng, ở một thời điểm nhất định, nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp và phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp phù hợp với điều kiện, kinh tế - xã hội của mỗi vùng nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (Đào Thế Tuấn, 1984) [33]
Cơ cấu cây trồng là một trong những nội dung quan trọng của một hệ thống biện pháp kỹ thuật gọi là chế độ canh tác Ngoài cơ cấu cây trồng, chế
độ canh tác bao gồm chế độ luân canh, làm đất, bón phân, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại Cơ cấu cây trồng là yếu tố căn bản nhất của chế độ canh tác, vì chính nó quyết định nội dung của các biện pháp khác (Đào Thế Tuấn, 1984) [33]
Cơ cấu cây trồng là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian
và thời gian, tức là mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong từng vụ và giữa các vụ khác nhau trên một mảnh đất, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục
vụ cho nhu cầu của con người Quá trình xây dựng mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải xuất phát từ chính nền sản xuất truyền thống chứ không thể tách rời thực tế Do đó, cấu trúc của một cơ cấu cây trồng hợp lý không những phát triển sản xuất một cách có lợi nhất mà còn bảo vệ đất đai và môi trường sinh thái (Phạm Chí Thành và CS, 1996) [21]
Trang 1818
Xác định cơ cấu cây trồng còn là nội dung phân vùng sản xuất nông nghiệp Muốn làm công tác phân vùng sản xuất nông nghiệp, trước hết phải xác định cơ cấu cây trồng hợp lý nhất đối với mỗi vùng Đây là công việc không thể thiếu được nếu chúng ta xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn (Đào Thế Tuấn, 1962) [30]
1.1.3 Khái niệm cơ cấu cây trồng hợp lý
Theo Lý Nhạc và CS (1987) [14] cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của vùng Cơ cấu cây trồng còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho ngành trồng trọt phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hàng hóa và hiệu quả kinh tế cao Cơ cấu cây trồng là một thực tế khách quan, nó được hình thành
từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hôi cụ thể và vận động theo thời gian
Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, có tính chất xác định lẫn nhau, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm, hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (Đào Thế Tuấn, 1978) [31]
Cơ cấu cây trồng hợp lý còn biểu hiện là việc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất về lợi thế điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo
vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [31]
Dựa trên quan điểm sinh thái học Đào Thế Tuấn (1978) [32] cho rằng,
bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng hợp lý cần thỏa mãn các yêu cầu về chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm
Trang 1919
hàng hóa cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả cao
Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của từng vùng Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất (Phạm Chí Thành và CS, 1996) [21]
1.1.4 Khái niệm về chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là sự thay đổi theo tỷ lệ % của diện tích gieo trồng, nhóm cây trồng, của cây trồng trong nhóm hoặc tổng thể và nó chịu sự tác động, thay đổi của yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng là quá trình thực hiện bước chuyển từ hiện trạng
cơ cấu cây trồng cũ sang cơ cấu cây trồng mới (Đào Thế Tuấn, 1978) [32]
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính là phá vỡ thế độc canh trong trồng trọt nói riêng và trong nông nghiệp nói chung, để hình thành một cơ cấu cây trồng mới phù hợp và có hiệu quả kinh tế cao hơn, dựa vào đặc tính sinh học của từng loại cây trồng và điều kiện cụ thể của từng vùng (Lê Duy Thước, 1997) [24]
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là trung tâm của chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn Mục tiêu của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng là:
- Phát triển nhân rộng diên tích những giống, loài phù hợp với mục đích
và điều kiện của từng vùng cụ thể
- Tổ hợp lại các công thức luân canh, xen canh, gối vụ Sắp xếp lại các cây trồng và giống cây trồng đảm bảo cho các hợp phần trong hệ thống tương tác với nhau, thúc đẩy nhau phát triển nhằm khai thác tốt nhất về lợi thế và điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ được môi trường và các hệ sinh thái (Nguyễn Duy Tính, 1995) [26]
Trang 2020
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải được bắt đầu bằng việc phân tích hệ thống canh tác truyền thống Chính kết quả đánh giá phân tích đặc điểm của cây trồng tại khu vực nghiên cứu mới tìm ra những điểm hạn chế và lợi thế so sánh để đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lý, khi thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải căn cứ vào yêu cầu của thị trường
- Phải khai thác hiệu quả các tiềm năng về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng
- Bố trí cơ cấu cây trồng phải biết lợi dụng triệt để những đặc tính sinh học của mỗi loại cây trồng, để bố trí cây trồng phù hợp với các điều kiện ngoại cảnh, nhằm giảm thiểu tối đa sự phá hoại của dịch bệnh và các điều kiện thiên tai khắc nghiệt gây nên
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
Về mặt kinh tế, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo có hiệu quả kinh tế, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao
Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại hoặc đưa ra những hệ thống cây trồng mới Hướng vào các hợp phần tự nhiên, sinh học, kỹ thuật, lao động, quản lý, thị trường, để phát triển cơ cấu cây trồng trong những điều kiện mới nhằm đem lại hiệu quả kinh tế
Bố trí cơ cấu cây trồng là xây dựng một hệ sinh thái nhân tạo Mối quan
hệ giữa các sinh vật và cây trồng cộng sinh, ký sinh Vì vậy, cải tiến cơ cấu cây trồng tạo nên những quan hệ tỷ lệ mới phù hợp nhất, có hiệu quả, phát triển bền vững hệ sinh thái (Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, 2000) [22]
1.1.5 Luân canh cây trồng
Để đáp ứng nhu cầu nhiều mặt ngày càng gia tăng của con người đòi hỏi ngành nông nghiệp phải sản xuất ra ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm có chất lượng cao và cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp
Trang 2121
chế biến nông sản, hàng hóa …vv Chúng ta cần tiến hành quy hoạch lại công tác sản xuất, xây dựng chế độ luân canh cây trồng nhằm tăng vụ hợp lý cho từng vùng, có thể làm giảm sự căng thẳng của thời vụ, điều hòa được nhân lực, theo đúng chủ trương, đường lối phát triển của vùng cũng như việc tăng năng suất của cây trồng, làm giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất, tăng đồng vốn, tăng độ phì nhiêu cho đất …vv
Theo Lý Nhạc (1979) [14] thì luân canh cây trồng là sự luân phiên cây trồng theo không gian và thời gian Trong đó:
- Luân canh về không gian là luân phiên nơi trồng của một loại cây trồng nào đó nhằm tạo điều kiện để cây trồng tránh được khả năng dùng để sản xuất liên tục trên mảnh đất qua nhiều năm
- Luân canh theo thời gian là sự luân phiên cây trồng theo mùa vụ Vụ sau, năm sau trồng những cây không giống vụ trước hay năm trước
Chế độ luân canh tăng vụ của một vùng bao gồm thành phần cây trồng,
tỷ lệ diện tích từng loại cây trồng trong một thời kỳ nhất định và biến đổi theo điều kiện kỹ thuật, kinh tế, xã hội của vùng Vì vậy chúng ta có thể căn cứ vào từng loại cây trồng trong công thức luân canh để xác định định mức về lao động, vật tư thích hợp
Theo Lý Nhạc (1979) [14], luân canh cây trồng hợp lý có tác dụng trực tiếp đến sự phát triển nông nghiệp của một vùng Vì vậy cần giải quyết được những mâu thuẫn trong luân canh, tạo được chế độ luân canh tăng vụ hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, tập quán canh tác, nhu cầu sản xuất của một vùng Chế độ luân canh cây trồng hợp lý đòi hỏi cơ cấu cây trồng ở vùng đó phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đó là phải chọn lọc được các thành phần giống cây trồng phù hợp, tuần tự luân phiên với các giống cây trồng trước và sau theo các điều kiện cụ thể của vùng nhằm tạo ra mối quan hệ hữu
cơ, phát huy hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại cây trồng đó, đồng thời cho cả hệ thống cây trồng
Trang 2222
Vai trò của chế độ luân canh cây trồng mang lại hiệu quả
- Tạo điều kiện tăng năng suất cây trồng một cách toàn diện và liên tục
- Nâng cao độ phì nhiêu của đất và điều hòa dinh dưỡng cho cây trồng
- Điều hòa được nhân lực, phân bón, sức kéo …
- Phòng trừ sâu, bệnh hại và cỏ dại gây hại cho cây trồng
- Tạo cơ sở vật chất để thay đổi cơ cấu của sản xuất nông nghiệp đồng thời tạo điều kiện phát triển ngành nghề phụ: Giảm được giá thành nông sản
và tăng hiệu quả kinh tế
1.1.6 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa
Sau khi tiến hành nghiên cứu về cơ cấu cây trồng vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, tác giả Đào Thế Tuấn và các cộng sự đã đưa ra nhận định về những yêu cầu đạt được của một cơ cấu cây trồng hợp lý là phải:
- Khai thác tốt nhất các điều kiện khí hậu và tránh hoặc giảm được những tác hại của thiên tai đối với cây trồng
- Khai thác tốt nhất các điều kiện về đất đai, bảo vệ và bồi dưỡng độ phì nhiêu của đất
- Khai thác tốt các đặc tính sinh học của cây trồng nhằn đạt được hiệu quả sản xuất cao nhất
- Tránh được tác hại của sâu, bệnh, cỏ dại và các tác nhân sinh học khác, với phương pháp sử dụng ít nhất các biện pháp hóa học
- Đảm bảo tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao
- Đảm bảo hỗ trợ cho các ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên (Đào Thế Tuấn, 1989) [37]
Như vậy, nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng một nền nông nghiệp đa canh, tạo nhiều nông sản, hàng hóa cũng như các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Từ những năm 1990 trở lại đây nông nghiệp và phát triển nông thôn đã giành được nhiều kết quả đáng nghi nhận Trước hết đó là đưa nước ta từ một
Trang 23Thực hiện đa dạng hóa cây trồng, khắc phục những mặt còn hạn chế, khó khăn của điều kiện tự nhiên, lựa chọn và xây dựng phát triển sản phẩm đặc sản, hàng hóa của từng vùng, nâng cao quy mô sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất tạo thành vùng có nông sản thực phẩm hàng hóa tập trung trọng điểm
Phát huy đặc điểm lợi thế của từng vùng, xây dựng một số mô hình nông nghiệp mới đa năng với sợ tham gia, hỗ trợ gắn kết của các ngành kinh
tế khác như: Du lịch sinh thái, thương mại, dịch vụ, vui chơi, giải trí …
Khuyến khích và bảo hộ phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác xã, định hướng và hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển, đề cao tính chuyên môn hóa, tính chuyên nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp chế biến tiêu thụ nông sản, thực phẩm ký hợp đồng kinh tế với nông hộ
Việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa phải gắn với phát triển bền vững Bởi vì phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng và nhiều khi có tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội Điều cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện được chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường, để giữ gìn những tài nguyên cơ bản nhất cho thế hệ sau (dẫn theo hội nghị Khoa học đất Việt Nam, 2000) [10] Nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn, cải thiện môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (FAO, 1989) [42]
Trang 2424
Theo tác giả Trần Đức Viên (1998) [38] Nông nghiệp bền vững là tiền
đề và điều kiện cho định cư lâu dài Nếu không thiết lập được hệ thống sản xuất ổn định, tồn tại lâu dài, đáp ứng nhu cầu mọi mặt của nông hộ như thức
ăn cho con người và gia súc, nơi ở … và một hệ sinh thái tốt lành làm môi trường sống tươi đẹp cho con người, thì nông dân sẽ bỏ mảnh đất ấy và di chuyển tới nơi khác
Phát triển bền vững (trong lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư) là bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn di truyền động – thực vật, là môi trường không bị suy thoái, kỹ thuật phù hợp, kinh tế phát triển và một xã hội chấp nhận được (Dẫn theo tác giả Trần Đức Viên, 2005) [39]
Để đảm bảo cho sự phát triển nông nghiệp lâu bền, chúng ta phải xem xét trên cả 3 phương diện: Bền vững về sinh thái (môi trường), kinh tế và xã hội
- Bền vững về sinh thái: Trong phát triển nông nghiệp, con người đã thay thế hệ sinh thái tự nhiên bằng hệ sinh thái nhân tạo (hệ thống nông nghiệp) làm giảm tính bền vững vốn có của nó Hệ thống nông nghiệp đưa thêm vào các nguồn năng lượng phụ (như lao động, phân bón, năng lượng hóa thạch, động vật …vv) Để tăng cường sự bền vững của hệ thống nông nghiệp chúng ta cần hạn chế việc sử dụng nguồn năng lượng thương mại, tái tạo sự đa dạng sinh học nhưng không làm giảm năng suất của cây trồng
- Bền vững kinh tế - xã hội: Trong quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang hệ thống nông nghiệp thị trường, người nông dân gặp rất nhiều khó khăn và rủi ro, vì vậy làm giảm tính bền vững của hệ thống như lao động dư thừa ở nông thôn, sự bấp bênh của thị trường nông sản …vv
Tóm lại điều quan trọng nhất phát triển nền nông nghiệp hàng hóa gắn với sự phát triển nông nghiệp bền vững là phải biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện tài nguyên môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế
hệ và hạn chế rủi ro do các yếu tố gây nên
Ngành trồng trọt cần phải tìm mọi biện pháp để bảo vệ và nâng cao năng suất cây trồng theo 2 khả năng sau: (1) sản xuất thâm canh ở những vùng
Trang 251.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu cây trồng
Theo Mai Văn Quyền (1996) [20] thì các yếu tố cơ bản tác động đến cơ cấu cây trồng bao gồm các yếu tố tự nhiên (đất đai, khí hậu, chế độ thủy văn
…vv) và các yếu tố kinh tế, xã hội, trong đó các yếu tố tự nhiên vừa là điều kiện, vừa là môi trường sản xuất Mỗi yếu tố đều có vai trò quan trọng, quyết định chi phối đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng, do vậy phải nghiên cứu, nắm vững quy luật chuyển biến của tự nhiên để bố trí cây trồng hợp lý, lợi dụng tối
đa các mặt ưu thế, hạn chế và né tránh những bất lợi
1.2.1 Khí hậu và cơ cấu cây trồng
Khí hậu có tác động mạnh mẽ đến cây trồng và cơ cấu cây trồng, đặc biệt là yếu tố nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng
- Nhiệt độ và cơ cấu cây trồng: Cây trồng sinh trưởng và phát triển nhờ
một loạt các phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể cây trồng Các phản ứng này chỉ tiến hành tốt trong phạm vi nhiệt độ thích hợp Ở nhiệt độ thấp hơn hoặc cao hơn nào đó phản ứng sẽ dừng lại, sự sống của cây trồng cũng sẽ ngừng theo Mỗi loại cây trồng đều có khoảng nhiệt độ thích hợp cho cây trồng phát triển Mỗi loại cây trồng, bộ phận của cây sẽ phát triển tốt ở nhiệt
độ thích hợp và chỉ an toàn ở một nhiệt độ nhất định, giới hạn đó được khống chế bởi các điểm tới hạn nhiệt độ tối đa và tối thiểu, giới hạn nhiệt độ này
Trang 2626
thay đổi tùy thuộc vào từng loại cây trồng khác nhau Để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, phù hợp với nhiệt độ ưa thích của cây, tác giả Đào Thế Tuấn đã chia cây trồng ra làm 3 loại: Cây ưa nóng thường sinh trưởng và phát triển, ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ 200C như lạc, lúa, đay, mía … Cây ưa lạnh là những cây sinh trưởng và phát triển, ra hoa, kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 200C như lúa
mỳ, khoai tây, xu hào, bắp cải …vv Những cây trung gian là những cây sinh trưởng và phát triển tốt, ra hoa, kết quả ở xung quanh khoảng nhiệt độ 200C
Để hoàn thành chu kỳ sinh trưởng, mỗi cây trồng cần đạt được tổng tích
ôn nhất định Tổng tích ôn này phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng và yêu cầu nhiệt độ cao hay thấp của mỗi loại cây trồng
- Lượng mưa: Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng và
cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Lượng nước cây lấy được chủ yếu từ đất, vì vậy cần cung cấp đủ độ ẩm cho đất đối với từng loại cây trồng
cụ thể Trong sản xuất nông nghiệp, lượng mưa cung cấp một phần đáng kể cho nhu cầu nước của cây trồng, đặc biệt là những vùng không có hệ thống thủy lợi chủ động Để sản xuất nông nghiệp có hiệu quả đòi hỏi cần nắm quy luật của mùa mưa để tận dụng, khai thác và lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lý
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm có liên quan đến sinh trưởng và năng suất
cây trồng Độ ẩm không khí quá cao sự thoát hơi nước của cây trồng khó khăn, độ mở khí khổng hẹp lại, lượng CO2 xâm nhập vào cây giảm xuống dẫn đến làm giảm cường độ tích lũy chất khô, do đó làm giảm năng suất cây trồng
Độ ẩm không khí cao còn tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh và sâu bệnh hại phát triển Tác hại của độ ẩm quá thấp kèm theo nhiệt độ cao làm cho cây trồng phải thoát hơi nước nhiều, hô hấp tăng gây tiêu phí chất khô, giảm năng suất sinh học của cây trồng Độ ẩm không khí thấp còn làm giảm sức sống của hạt phấn, cản trở quá trình thụ phấn của cây, do đó làm giảm tỷ lệ hoa có ích, tăng tỷ lệ hạt lép dẫn tới giảm sản lượng thu hoạch Đó là những trường hợp những ngày có gió Phơn Tây Nam (gió Lào) ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
- Ánh sáng: Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lượng cho mọi sự sống
trên trái đất Cây trồng cũng cần được cung cấp năng lượng cho quá trình tổng
Trang 2727
hợp chất hữu cơ, ánh sáng là nhân tố kích thích, điều khiển quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng Cần xác định yêu cầu về cường độ chiếu sáng và khả năng cung cấp ánh sáng từng thời gian trong năm để bố trí
cơ cấu cây trồng cho phù hợp Đối với bức xạ, người ta chia thành 02 nhóm cây là cây ưa sáng và cây ưa bóng râm Còn đối với quang chu kỳ, người ta chia cây trồng thành nhóm cây ngắn ngày (ra hoa, kết quả trong điều kiện ngày ngắn – có số giờ nắng dưới 12 giờ/ngày) và nhóm cây ngày dài (ra hoa, kết quả trong điều kiện ngày dài – số giờ nắng trên 12 giờ/ngày ) Nhóm cây trung gian có phản ứng yếu với quang chu kỳ
Căn cứ vào diễn biến của các yếu tố khí hậu trong một năm hoặc trong một thời kỳ, đồng thời căn cứ vào yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng của từng loại cây trồng để bố trí cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng thích hợp, nhằm né tránh các điều kiện bất thuận, phát huy được tiềm năng năng suất của cây trồng (Trần Đức Hạnh và CS, 1997) [7]
1.2.2 Đất đai và cơ cấu cây trồng
Theo tác giả Lê Thái Bạt (1991) [1], Bùi Quang Toàn (1993) [27], cho rằng Đất đóng vai trò quan trọng như một tác nhân tiếp nhận và tích lũy tài nguyên từ thành phần khác của hệ sinh thái Đất là giá thể, là môi trường cho
sự ra rễ của cây trồng, là nguồn dự trữ và cung cấp nước, dinh dưỡng khoáng
để cây trồng có thể sinh trưởng và phát triển
Từ những mối liên hệ giữa cây trồng với môi trường và quản lý nông nghiệp Bill Mollison (1994) [2] đã đề ra phương pháp nghiên cứu hệ thống công thức luân canh cây trồng mới với hệ thống canh tác đơn giản để thay thế
hệ thống canh tác cũ, nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng sinh học, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, ô nhiễm môi trường
Một nền nông nghiệp bền vững cần sử dụng những đặc điểm của cảnh quan và cấu trúc, sử dụng diện tích một cách ít nhất, đáp ứng được các mục tiêu nhằm khai thác tối ưu tiềm năng đất đai, nâng cao độ phì của đất và đảm bảo lợi ích của người nông dân Việc phát triển đa dạng giống cây trồng cùng
Trang 2828
với việc bố trí lại cơ cấu cây trồng hợp lý tùy thuộc vào địa hình, thành phần
cơ giới, chế độ nước, tính chất lý, hóa tính của đất để bố trí cơ cấu cây trồng
1.2.3 Giống và cơ cấu cây trồng
Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có đặc điểm kinh tế, sinh học
và các tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng sinh thái khác nhau và điều kiện kỹ thuật phù hợp Vì vậy, giống cây trồng phải mang tính khu vực hóa, tính di truyền đồng nhất và không ngừng thỏa mãn nhu cầu của con người (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [9]
Theo tác giả Phạm Văn Phê và Nguyễn Thị Lan (2001) [16] thì những nguyên tắc cần được áp dụng trong việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý cho các vùng sinh thái khác nhau là:
- Hệ thống cây trồng phải sử dụng tốt nhất nguồn lợi nhiệt: Có thể dựa vào tổng nhiệt độ của từng loại cây trồng cần để sắp xếp các công thức luân canh cây trồng cho từng vùng
- Hệ thống cây trồng phải sử dụng tốt nhất nguồn lợi bức xạ: Cần bố trí thế nào để cây trồng có tiềm năng năng suất cao ở thời điểm ra hoa và chín vào lúc có nguồn lợi bức xạ cao nhất
- Hệ thống cây trồng phải sử dụng tốt nhất nguồn lợi nước
- Hệ thống cây trồng phải thích hợp với điều kiện đất đai và sử dụng tốt nhất điều kiện đất đai
- Hệ thống cây trồng phải tránh được thiệt hại do các điều kiện khó khăn về khí hậu, đất đai, sâu bệnh hại
- Hệ thống cây trồng phải bồi dưỡng độ màu mỡ cho đất
- Hệ thống cây trồng phải đảm bảo việc sử dụng lao động hợp lý
1.2.4 Quần thể sinh vật và cơ cấu cây trồng
Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, ngoài những thành phần sống chủ yếu là cây trồng, còn có các thành phần khác nhau như cỏ dại, sâu, bệnh, các nhóm vi sinh vật, các nhóm côn trùng, động vật
…vv Các thành phần sống này cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng
Trang 2929
Theo tác giả Lý Nhạc và CS (1987) [14] thì khi bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ theo nguyên tắc:
- Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng
- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống tác hại đối với cây trồng do các vi sinh vật gây nên
Trong quần thể cây trồng, quần thể chủ đạo của cơ cấu cây trồng cơ những đặc điểm chủ yếu sau:
- Mật độ quần thể do con người quy định trước lúc gieo trồng
- Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà chịu sự điều chỉnh của con người
- Sự phân bố không gian tương đối đồng đều vì do con người điều khiển
- Độ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người Trong cơ cấu cây trồng cũng xảy ra sự cạnh tranh cùng loài hoặc khác loài Vì vậy cần phải xác định mật độ gieo trồng hợp lý và các biện pháp điều chỉnh quần thể để giảm sự cạnh tranh cùng loài Sự cạnh tranh khác loài cũng xảy ra khi ta trồng xen hoặc giữa cây trồng và cỏ dại Cho nên khi xác định cơ cấu cây trồng chúng ta cần chú ý đến các vấn đề sau:
- Xác định thành phần cây trồng và giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất
- Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt né tránh tác hại của cỏ dại, sâu, bệnh
1.2.5 Nông hộ và cơ cấu cây trồng
Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1984) [34] nông hộ là một đơn vị kinh tế
tự chủ và đã góp phần to lớn vào sự phát triển sản xuất nông nghiệp của nước
ta trong những năm qua Tất cả những hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ Do vậy, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng thực chất là sự cải tiến sản xuất nông nghiệp ở các hộ nông dân Do đó nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn
Kinh tế nông hộ là kinh tế của một hộ nông nghiệp sống ở nông thôn, bao gồm cả thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp
Trang 3030
Hộ nông dân là các hộ gia đình có tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động trong gia đình Hộ nông dân có những đặc điểm chính như sau:
- Hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ từ tự cấp đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định đến quan hệ giữa các nông hộ và thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau, nên khó giới hạn được thế nào là nông hộ thuần túy Vì vậy, nông dân tái sản xuất giản đơn nhờ vào ruộng đất thông qua cải tiến cơ cấu cây trồng, nhờ đó mà tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, phục vụ lợi ích chung của xã hội nên cần thiết phải có chính sách xã hội đầu tư thích hợp Hộ nông dân không phải là hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục đích và cơ chế hoạt động khác nhau Căn cứ vào mục đích và cơ chế hoạt động của nông
hộ để phân biệt các kiểu hộ nông dân khác nhau
+ Kiểu nông hộ hoàn toàn tự cấp: Ở kiểu hộ này, người nông dân ít có phản ứng thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư
+ Kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có trao đổi một phần nông sản lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả (chủ yếu là giá vật tư)
+ Kiểu nông hộ hoàn toàn sản xuất hàng hóa, có mục đích lợi nhuận Mục tiêu sản xuất của hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh,
cơ cấu cây trồng, quyết định mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động
Trang 3131
+ Giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Khi mới chuyển sang sản xuất hàng hóa, nông dân bắt đầu sản xuất những loại cây trồng phục vụ cho nhu cầu của thi trường, sản xuất theo hướng đa canh nên giảm bớt rủi ro
Nhìn chung các nông hộ ở huyện Hưng Nguyên đều nằm trong các kiểu nông hộ nêu trên
1.2.6 Hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng
Sau khi xác định cơ cấu cây trồng cần tính toán giá trị kinh tế Cơ cấu cây trồng mới cần đạt giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ và đáp ứng tính bền vững của hệ thống Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồng chủ yếu, cần bố trí cây trồng bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng Về mặt kinh tế phải đạt được các yêu cầu sau:
- Bảo đảm yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
- Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên
- Đảm bảo việc đầu tư lao động và kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao
- Đảm bảo giá trị sử dụng và giá trị cao hơn cơ cấu cây trồng cũ
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một
số các chỉ tiêu như: năng suất, giá thành, thu nhập Khi đánh giá giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng cần dựa vào năng suất bình quân của cây trồng và giá cả thu mua của thị trường Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến những điều kiện ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm cũng như các điều kiện về khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý và các điều kiện kinh tế - xã hội khác
1.2.7 Thị trường
Thị trường là tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi Thị trường là trung tâm của các hoạt động kinh tế (dẫn theo Hồ Gấm, 2003) [6]
Thị trường là thước đo hiệu quả của sản xuất nông nghiệp hàng hóa, và
là mục tiêu lâu dài cho nông nghiệp phát triển Thị trường có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao
Trang 3232
hơn Cải tiến cơ cấu cây trồng chính là điều kiện, là yêu cầu cần thiết để mở rộng thị trường
Thị trường là động lực chính thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song
nó có mặt hạn chế là nếu để cho thị trường phát triển một cách tự phát sẽ dẫn tới sự mất cân đối ở một giai đoạn, một thời điểm nào đó Chính vì vậy cần có những chính sách của nhà nước điều tiết kinh tế vì mô, nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường
Muốn phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, cần phải gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế, có chính sách bảo hộ, có luật thương mại nhằm khuyến khích, bảo vệ sản xuất trong nước, tạo điều kiện hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới
1.2.8 Quản lý vĩ mô của nhà nước
Nhà nước xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách nhằm giúp nông dân khi mới bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cũng như chính sách khen thưởng để khuyến khích những hộ, những địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng thành công, có hiệu quả
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, quản lý vĩ mô của nhà nước có vai trò hết sức quan trọng Một thể chế quản lý vĩ mô ổn định và mềm dẻo, linh hoạt sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Nhà nước thực hiện chức năng của mình bằng cách chịu trách nhiệm phần lớn sản xuất các mặt hàng có tầm vĩ mô, có khả năng điều tiết cho những vùng khó khăn, sử dụng công cụ thuế và ngân sách, điều tiết thu nhập
và kiềm chế các hoạt động làm tổn hại đến nền kinh tế - xã hội Có cơ chế, chính sách đúng đắn, xây dựng kết cấu hạ tầng vững mạnh và định hướng thị trường đúng đắn sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển
1.3 Các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu trong hệ thống được đề cập đến rất sớm, một số phương pháp nghiên cứu phổ biến như phương pháp mô hình hóa, phân tích kinh tế, phương pháp chuyên khảo… Tuy nhiên, bất kỳ một đề xuất
Trang 3333
nào về đổi mới kỹ thuật nông nghiệp đều cần được xem xét dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn đẻ người nông dân dễ sử dụng và đạt hiệu quả cao Champer (1989) [41] đã đề xuất hướng nghiên cứu bắt đầu từ nông dân
theo mô hình “nông dân trở lại nông dân” Điểm xuất phát bắt đầu từ sự lựa
chọn của nông dân, nông dân trực tiếp tham gia các hoạt động nghiên cứu cùng với nhà khoa học và phổ biến, chuyển giao kiến thức, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất cho các nông dân khác trong vùng Một số cách trong hướng nghiên cứu này là nghiên cứu có định hướng tới nông dân nghèo; coi trọng kiến thức của nông dân nghèo; đặt người nông dân vào việc kiểm tra và có vai trò đảo ngược tình thế
FAO (1992) [43] đưa ra phương pháp phát triển hệ thống canh tác và cho đây là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển các hệ thống nông nghiệp và cộng đồng nông thôn trên cơ sở phát triển bền vững, việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt phải được bắt đầu từ phân tích hệ thống canh tác nông nghiệp truyền thống
Những nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác của FAO là một nỗ lực nhằm bổ sung và hoàn thiện cho các tiếp cận đơn lẻ Xuất phát điểm của hệ thống canh tác là nhìn nhận cả nông trại như một hệ thống; phân tích toàn bộ hạn chế và tiền năng; xác định các nghiên cứu thích hợp theo thứ tự ưu tiên và những thay đổi cần thiết được thể chế vào chính sách; thử nghiệm trên thực tế đồng ruộng, hoặc mô phỏng các hiệu ứng của nó bằng các mô hình hóa trong trường hợp chính sách thay đổi Sau đó tiến hành phân tích, dánh giá hiệu quả hiện tại trên quy mô toàn nông trại và đề xuất hướng cải tiến, phát triển của nông trại trong thời gian tới
Tác giả Phạm Chí Thành và CS (1996) [21] đã giới thiệu các phương pháp mô tả hệ thống nông nghiệp theo các bước sau:
Mô tả nhanh điểm nghiên cứu, bao gồm phương pháp không dùng phiếu điều tra và có dùng phiếu điều tra
Phương pháp thu thập thông tin từ nhóm người am hiểu về chuyên đề nào đó hoặc kiểm chứng lại thông tin đã có từ trước (KIP)
Trang 34Khảo sát và chẩn đoán (những nguyên lý và thực hành)
Sau khi thu thập thông tin, phải tiến hành xử lý, phân tích số liệu và trình bày kết quả các cuộc điều tra, khảo sát
Phạm Chí Thành (1996) [21] và Mai Văn Quyền (1996) [20] đã đúc kết các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu cơ cấu cây trồng bao gồm:
- Tiếp cận từ dưới lên trên (bottom - up) là dùng phương pháp quan sát phân tích tìm điểm ách tắc của hệ thống để xác định phương pháp can thiệp thích hợp và có hiệu quả Trước đây, thường dùng phương pháp tiếp cận từ trên xuống, phương pháp này tỏ ra không hiệu quả vì nhà nghiên cứu không thấy được hết các điều kiện của nông dân, do đó giải pháp đề xuất thường không phù hợp và được thay thế bằng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
- Tiếp cận hệ thống (System approach): Đây là phương pháp nghiên cứu dùng để xem xét các vấn đề trên quan điểm hệ thống, nó giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật hiện tượng
- Tiếp cận theo quá trình phát triển lịch sử từ thấp lên cao: Phương pháp này coi trọng phân tích động thái của sự phát triển cơ cấu cây trồng trong lịch sử Vì qua đó, sẽ xác định được sự phát triển của hệ thống trong tương lai, đồng thời giúp ho việc giải quyết nhanh các trở ngại phù hợp với hướng phát triển đó
Năm 1981, Zandstra H.G và CS [45] đã đề xuất một phương pháp nghiên cứu cơ cấu cây trồng trên nông trại Các tác giả đã chỉ rõ: Sản lượng hàng năm trên một đơn vị diện tích đất có thể tăng lên bằng cách cải thiện
Trang 3535
năng suất cây trồng hoặc trồng tăng thêm các cây trồng khác trong năm Nghiên cứu cơ cấu cây trồng là tìm kiếm giải pháp để nâng cao sản lượng bằng 02 cách
Phương pháp nghiên cứu cơ cấu cây trồng này về sau được Viện Nghiên cứu Lúa Quốc Tế (IRRI) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong mạng lưới Hệ thống cây trồng Châu Á (Asian Cropping System Network - ACSN) sử dụng và phát triển Quá trình nghiên cứu liên quan đến một loạt các hoạt động trong nông trại Tổ chức thực hiện theo các bước sau:
- Chọn điểm: Địa điểm nghiên cứu là một hoặc vài loại đất Tiêu chí để chọn điểm nghiên cứu là có tiềm năng năng suất, đại diện cho vùng rộng lớn, nông dân sẵn sàng hợp tác Sẽ rất thuận lợi nếu chọn điểm nghiên cứu được chính phủ ưu tiên, vì chương trình sản xuất sau này sẽ được dễ dàng hơn
- Mô tả điểm: Điểm nghiên cứu sau khi được chọn sẽ được mô tả về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng cơ cấu cây trồng hiện tại cần phải được đánh giá cụ thể
- Thiết kế cơ cấu cây trồng: Mô hình cây trồng được thiết kế trên những đặc điểm của nghiên cứu, nhằm đạt được sản lượng, lợi nhuận cao, ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái
- Thử nghiệm cây trồng mới: Cơ cấu cây trồng mới được thử nghiệm trên ruộng của nông dân, nhằm xác định khả năng thích nghi và ổn định của chúng Chỉ tiêu theo dõi gồm năng suất nông học, hiệu quả sử dụng đất, yêu cầu về tài nguyên (lao động, vật tư, và hiệu quả kinh tế)
- Đánh giá sản xuất thử: Những mô hình cây trồng có năng suất và hiệu quả được xác định dựa trên kết quả thử nghiệm, sau đó được đưa vào sản xuất thử nhằm đánh giá khả năng thích nghi trên diện rộng của mô hình triển vọng trước khi xây dựng những chương trình sản xuất ở quy mô lớn hơn
- Chương trình sản xuất: Sau khi xác định được cơ cấu cây trồng thích hợp nhất và những biện pháp kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các tổ chức khuyến
Trang 3636
nông với sự giúp đỡ của chính quyền, xây dựng một chương trình quảng bá, thực hiện chương trình sản xuất
Mạng lưới HTCT Châu Á khi đưa ra hướng dẫn quá trình thiết kế và
thử nghiệm HTCT cũng chỉ ra rằng “Nghiên cứu HTCT cải tiến cho một vùng
bao gồm cả thâm canh, thay thế cây trồng năng suất thấp và đưa vào những
kỹ thuật tham canh cải tiến Ở những nơi kỹ thuật thâm canh còn hạn chế hoặc chưa có sẵn, các nhà nghiên cứu hệ thống cây trồng sẽ thực hiện được các thử nghiệm đơn giản trên ruộng nông dân” (IRRI,1984)[44]
1.4 Một số kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp thuần túy, đời sống, các hoạt động kinh tế - xã hội, thậm chí cả nền văn minh từ xa xưa đã gắn với trồng trọt, chăn nuôi Vì vậy, có thể nói rằng những nghiên cứu về cơ cấu cây trồng và hệ thống nông nghiệp ở nước ta gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của đất nước
Lịch sử Việt Nam đã ghi lại, từ thời Hùng Vương người dân đã di chuyển từ vùng gò đồi xuống vùng đồng bằng ven biển để khai hoang, xây dựng đồng ruộng sản xuất nông nghiệp và hình thành nên các thôn, bản, làng
Trong cuốn “Vân đài loại ngữ”, tác giả Lê Quý Đôn – một học giả nổi tiếng
của Việt Nam đã ghi chép nhiều về giống lúa tẻ, lúa nếp mà dân ta thường gieo cấy từ thời tiền Lê (980 - 1005) (Bùi Huy Đáp, 1985) [4]
Thời Nam – Bắc phân tranh (1533 – 1788) và tiếp sau là các thời vua
triều Nguyễn (1802 – 1945) có những bậc “Thần Hoàng” nổi tiếng như
Nguyễn Lộ, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huệ đã đưa dân
đi khai khẩn đất đai ở các vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, xây dựng các công trình thủy lợi tưới tiêu và cải tạo đất, lựa chọn hệ thống cây trồng, bố trí mùa vụ sản xuất, quy hoạch sử dụng đất lâu bền
Các công trình nghiên cứu về hệ thống cây trồng đã được các nhà khoa học Nông Nghiệp Việt Nam bắt đầu nghiên cứu từ những năm 1960, đặc biệt
Trang 37Tác giả Bùi Huy Đáp (1977) [3] đã đề cập vấn đề luân canh, tăng vụ, xen canh, trồng gối để sử dụng tối ưu nguồn lợi đất đai, khí hậu Cũng theo ông khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng trên đất canh tác chủ yếu nhờ nước trời ở miền Bắc đã đề xuất cơ cấu cây trồng là: Cây màu vụ Đông và vụ Xuân rồi sản xuất lúa, trong vụ Xuân trồng các loại cây màu có thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau tùy theo trồng mùa sớm hay mùa chính vụ Đây là chế độ canh tác có sử dụng triệt để tiềm năng của các loại đất cao hạn cấy 01 vụ lúa mùa phụ thuộc nước trời Trên chân đất chuyên màu của vùng đất bãi ven sông, hệ thống cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao là ngô Thu – Đông (rau màu Thu – Đông) – ngô Xuân (Đậu tương, rau đậu các loại…) Ngay sau khi nước rút tiến hành trồng ngô Thu – Đông (hoặc rau, đậu sớm…), sau đó trồng ngô Xuân (hoặc đậu tương, rau đậu các loại) Trong hệ thống luân canh trên đất bạc màu ở miền Bắc Việt Nam, cây vụ Đông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, nhờ vụ Đông mà đất trồng được che phủ trong suốt thời kỳ khí hậu khô hạn (trong điều kiện khô hạn, đất màu bị thoái hóa nhanh nhất, đồng thời các chất hữu cơ phân hủy mạnh) Cây vụ Đông làm tăng độ ẩm đất
từ 30% - 50% so với không trồng cây vụ Đông Đất bạc màu có trồng cây vụ Đông đều làm tăng năng suất cây trồng vụ sau một cách rõ rệt
Vụ Đông ở miền Bắc là vụ thích hợp với cây trồng cạn (trùng với mùa khô) Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1984) [34], vụ Đông thích hợp với các loại cây trồng ngắn ngày có nguồn gốc ôn đới như khoai tây, hành tây, bắp cải, su hào, cà chua…vv, và một số cây trồng khác như thuốc lá, khoai lang, ngô, đậu tương…vv
Trang 3838
Cải tiến cơ cấu cây trồng trong thời gian tới cần tập trung nghiên cứu
bố trí lại HTCT thích hợp với các điều kiện đất đai, và chế độ nước khác nhau, phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và đồng bộ nhằm khai thác cao nhất các nguồn lợi tự nhiên, lao động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư Một số cây trồng, giống cây trồng mới được mở rộng diện tích sản xuất một cách thích hợp, tạo điều kiện thâm canh, luân canh và tăng vụ Đa dạng hóa cây trồng và loại cây trồng là biện pháp tích cực để nâng cao tính ổn định của hệ thống nông nghiệp (Trần Đình Long, 1997) [13]
Điều kiện sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn nhiều khó khăn, chịu nhiều rủi ro, năng suất, sản lượng cây trồng thấp và không ổn định Một số giống cây trồng của địa phương có khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận, năng suất ổn định nhưng thường lại thấp, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng của con người Do vậy cần có những bộ giống tốt, năng suất cao, ổn định, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng
Vũ Tuyên Hoàng (1995) [8] khi nghiên cứu, chọn tạo giống lúa cho các vùng khô hạn, ngập úng, chua phèn đã nhận xét: So với các vùng thâm canh, các vùng khó khăn còn có yêu cầu thêm về giống mới thích hợp hơn nữa, đặc biệt là tính chống chịu Đối với các vùng khó khăn, công tác cải tạo đất và nguồn nước tưới luôn luôn cần thiết kết hợp với giống và các biện pháp kỹ thuật thích hợp để tăng năng suất cây trồng
Mỗi khu vực đều có điều kiện sinh thái, đất đai, khí hậu và chế độ thủy văn khác nhau, do vậy các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở mỗi khu vực cho các kết quả khác nhau
- Vùng trung du, miền núi phía Bắc: Đậu tương và Lạc là những cây
công nghiệp ngắn ngày, ngoài giá trị kinh tế cao còn có vai trò quan trọng trong việc cải tạo và bảo vệ đất trồng, do đó chúng là những cây trồng quan trọng trong việc xây dựng hệ thống nông nghiệp bền vững, đặc biệt là canh tác trên đất dốc Vì vậy, nhiều tác giả đã nghiên cứu vai trò của cây đậu tương và cây lạc trong cơ cấu cây trồng vùng trung du, miền núi phía Bắc Nhiều mô
Trang 3939
hình trồng xen đậu tương với cây ăn quả ở giai đoạn cây chưa khép tán đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và có tác dụng cải tạo đất rõ rệt
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Khi nghiên cứu mô phỏng chiến lược
phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng đã khẳng định rằng để phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng sản xuất hàng hóa, bền vững và ổn định cần thực hiện theo các hướng sau: (1) Tăng sản xuất lương thực, (2) Tăng sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, (3) Tạo việc làm mới
để ổn định đời sống nhân dân
Nhiều nghiên cứu cho thấy, trên đất 2 vụ lúa, đưa cơ cấu vụ lúa Xuân với các giống lúa ngắn ngày tạo ra một khoảng thời gian trống giữa 2 vụ lúa, tạo điều kiện để xây dựng một hệ thống cây trồng có hiệu quả cao nhất trên đất 2 vụ lúa Đồng thời đề xuất một số cơ cấu cây trồng cụ thể cho vùng đồng bằng sông Hồng trên đất 2 vụ lúa chủ động nước:
+ Lúa Xuân – lúa Mùa – màu vụ Đông (ngô, khoai tây, khoai lang ) + Lúa Xuân – lúa Mùa – màu vụ Đông (cà chua, su hào, bắp cải …) + Lúa Xuân – lúa Mùa – Bèo dâu
+ Lúa Xuân – Điền thanh – lúa Mùa – Bèo dâu
Chế độ canh tác trên từng bước được mở rộng ở châu thổ sông Hồng và các vùng khác của cả nước, đã tạo chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực, thực phẩm ở nước ta (Đào Thế Tuấn, 1987) [36]
Tác giả Võ Minh Kha, Trần Thế Tục, Lê Thị Bích (1996) [11] đã đánh giá tiềm năng sản xuất 3 vụ/năm trên chân đất phù sa châu thổ sông Hồng, địa hình cao không được bồi đắp hằng năm có đủ điều kiện về tài nguyên đất và nhân lực có thể áp dụng hệ thống luân canh 3 – 4 vụ cây ngắn ngày một năm Đưa hệ số sử dụng đất từ 2,4 lên 2,49 hoặc 2,6 lần Còn Tạ Minh Sơn (1996) [17] đã điều tra đánh giá hệ thống cây trồng trên các nhóm đất khác nhau ở đồng bằng sông Hồng và kết luận: Các hệ thống cây trồng 3 – 4 vụ/năm bằng các loại cây rau cao cấp đạt giá trị cao nhất (trên 60 triệu đồng/ha/năm) Hiện nay, những hệ thống cây trồng có giá trị thu nhập cao là các hệ thống trên đất chuyên màu, đất 2 màu – 1 vụ lúa và đất 2 vụ lúa – 1 vụ màu
Trang 40- Vùng đồng bằng Sông Cửu Long: Nhiều nghiên cứu khoa học của
trường Đại học Cần Thơ (1990) [28] và một số nghiên cứu khác cho thấy khả năng thâm canh, tăng vụ và đa dạng hóa cây trồng ở vùng phù sa chủ động nước ven sông Tiền, sông Hậu cần phải đi đôi với việc đổi mới cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý nhằm sử dụng rất nhiều nước vào mùa khô
Theo tác giả Trần An Phong (1996) [18] cho rằng, khả năng thâm canh, tăng vụ và đa dạng hóa cây trồng ở vùng phù sa chủ động nước ven sông Tiền, sông Hậu cần phải đi đôi với việc đổi mới cơ cấu cây trồng Còn tác giả Tào Quốc Tuấn (1994) [40] khi nghiên cứu xác định cơ cấu cây trồng hợp lý cho vùng phù sa ngọt ven sông Tiền, sông Hậu có nhận xét: Các mô hình chuyên canh lúa đều sử dụng rất nhiều nước vào mùa khô Trong khi đó các mô hình luân canh 1 vụ lúa – 1 vụ màu, cây ăn quả hay mía sử dụng tiết kiệm nước hơn
Nguyễn Văn Lạng (2002) [12], khi nghiên cứu cơ sở khoa học xác định
cơ cấu cây trồng hợp lý đã đánh giá được tiềm năng đất, nước, khả năng bố trí cây trồng theo diện tích và đề xuất nhiều mô hình luân canh, xen canh, thâm canh hợp lý, có hiệu quả cao tại huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Lăk
Hồ Gấm (2003) [6] đã nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Đak Mil, tỉnh Đăk Lak và cho rằng cơ cấu cây trồng, hiệu quả kinh tế của các loại hình sản xuất, của các nhóm nông hộ rất khác nhau phụ thuộc vào nguồn lực các nông hộ, hệ thống cây trồng chính
mà nông hộ sử dụng và thị trường giá cả nông sản
Cũng vấn đề đánh giá nông hộ, theo tác giả Phạm Chí Thành và CS (1996)[21] đã chia hộ nông dân thành các nhóm theo đất và vốn như sau: nhiều vốn – nhiều đất; nhiều đất – ít vốn; ít đất – ít vốn, ít đất – nhiều vốn;