1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây trồng hiệu quả tại xã tiên yên, huyện quang bình, tỉnh hà giang

101 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vấn đề này, một trong những giải pháp đó làđánh giá hiện trạng và tiềm năng sản xuất của hệ thống cây trồng hiện có tại mộtvùng để tìm ra các hệ thống cây trồng đem lại hiệ

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Phùng Minh Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tậpthể

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đạihọc Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng đãtận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luậnvăn Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Quang Bình, Đảng ủy, Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân và bà con nhân dân xã Tiên Yên, huyện Quang Bình,tỉnh Hà Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôihoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và ngườithân đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thựchiện luận văn

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Phùng Minh Thanh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài .3

1.1.1 Một số khái niệm về hệ thống 3

1.1.2 Hệ thống cây trồng .4

1.1.3 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng 6

1.1.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu hệ thống cây trồng .17

1.1.5 Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 21

1.1.6 Phát triển nông nghiệp bền vững 22

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 24

1.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 24

1.2.2 Những nghiên cứu ở trong nước 27

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đối tượng nghiên cứu 38

2.2 Phạm vi nghiên cứu 38

2.3 Nội dung nghiên cứu .38

2.4 Phương pháp nghiên cứu 38

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 38

2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 40

2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả hệ thống cây trồng 40

Trang 6

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 Điều kiên tư nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu 42

3.1.1 Điều kiện tư nhiên 42

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

3.2 Hiện trạng sử dụng đất ở xã Tiên Yên 46

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên 46

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 47

3.3 Hệ thống cây trồng trên đất nông nghiệp của xã Tiên Yên 49

3.3.1 Hệ thống cây trồng trên đất ruộng chủ động nước 49

3.3.2 Hệ thống cây trồng trên đất ruộng không chủ động nước: 50

3.3.3 Hệ thống cây trồng trên đất soi bãi 50

3.3.4 Hệ thống cây trồng trên đất trồng cây lâu năm 51

3.4 Hệ thống cây trồng tại các nông hộ điều tra trên địa bàn xã Tiên Yên 52

3.4.1 Thông tin chung về các nông hộ điều tra 52

3.4.2 Tình hình sử dụng giống, kỹ thuật canh tác một số cây trồng chính của các nông hộ điều tra trên địa bàn xã Tiên Yên năm 2017 54

3.4.3 Tình hình sắp xếp bố trí khung thời vụ của nông hộ điều tra năm 2017 58

3.4.4 Tình hình sử dụng phân bón trên các cây trồng chính của các nông hộ điều tra năm 2017 61

3.4.5 Chi phí, hiệu quả sản xuất các loại cây trồng chính của các nông hộ điều tra năm 2017 63

3.4.6 Các công thức luân canh chính của các nông hộ điều tra năm 2017 66

3.5 Các giải pháp phát triển HTCT hàng năm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại các vùng nghiên cứu 69

3.5.1.Cơ sở lựa chọn các giải pháp 69

3.5.2 Các giải pháp phát triển HTCT hàng năm tại các vùng nghiên cứu .69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC

Trang 8

8 PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của

Trang 9

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội chủ yếu của xã Tiên Yên

năm 2017 44Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên của xã Tiên Yên năm 2017 46Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã năm 2017 47Bảng 3.4 Năng suất các cây trồng chính trong hệ thống cây trồng trên đất chủ

động nước tại xã Tiên Yên năm 2017 49Bảng 3.5 Năng suất các cây trồng chính trên đất không chủ động nước tại xã

Tiên Yên năm 2017 50Bảng 3.6 Năng suất một số cây trồng chính trên đất soi bãi năm 2017 51Bảng 3.7 Năng suất, sản lượng các loại cây trồng lâu năm trên địa bàn xã Tiên

Yên năm 2017 51Bảng 3.8 Phân loại mức của các nông hộ điều tra trên địa bàn xã Tiên Yên 52Bảng 3.9 Một số thong tin cơ bản của nông hộ điều tra trên địa bàn xã Tiên

Yên năm 2017 53Bảng 3.10 Tình hình sử dụng giống một số cây trồng chính của các nông hộ

điều tra trên địa bàn xã Tiên Yên năm 2017 55Bảng 3.11 Tình hình bố trí khung thời vụ các cây trồng chính trên địa bàn xã

Tiên Yên năm 2017 59Bảng 3.12 Tình hình sử dụng các loại phân bón trên các cây trồng chính của

các nông hộ điều tra năm 2017 62Bảng 3.13 Chi phí lợi nhuận các cây trồng chính trên 1ha đất của nông hộ điều

tra năm 2017 64Bảng 3.14 Các công thức trồng trọt và lợi nhuận thu được của từng công thức

của các nông hộ điều tra năm 2017 66

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ hành chính xã Tiên Yên 42Hình 3.2 Cơ cấu sản phẩm phân theo ngành kinh tế của xã Tiên Yên năm 2017 45Hình 3.3 Tình hình dân số và lao động trên địa bàn xã Tiên Yên năm 2017 45

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, không có khả năng tái tạo, hạnchế về không gian và vô hạn về thời gian sử dụng Trong quá trình phát triển xã hộicon người đã xây dựng các hệ sinh thái nhân tạo, thay thế cho các hệ sinh thái tựnhiên, do đó làm giảm dần tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp Với sức épcủa việc gia tăng dân số, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất đai ngày càng bị tàn phámạnh mẽ Nhiều trường hợp khai thác sử dụng đất một cách tuỳ tiện dẫn đến sảnxuất không thành công Để giải quyết vấn đề này, một trong những giải pháp đó làđánh giá hiện trạng và tiềm năng sản xuất của hệ thống cây trồng hiện có tại mộtvùng để tìm ra các hệ thống cây trồng đem lại hiệu quả cao và đề xuất các công thứcluân canh, xen canh hợp lý nhằm góp phần tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên thiênnhiên để phát triển sản xuất, tăng giá trị tổng sản lượng và tăng lợi nhuận đồng thời

bổ sung dinh dưỡng cho đất Công việc này đòi hỏi phải đánh giá một cách tổnghợp trên nhiều phương diện như: mức độ thích hợp của từng loại cây trồng, khảnăng đầu tư, lợi nhuận thu được, mức tiêu thụ sản phẩm, phong tục tập quán ở từngđịa phương, từng dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái,… từ đó xây dựng và lựachọn các hệ thống cây trồng phù hợp, có triển vọng

Tiên Yên là xã nằm ở phía Nam của huyện Quang Bình - Hà Giang, cáchtrung tâm huyện 24 km Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên 3.181,82 ha, trongđó: đất sản xuất nông nghiệp 868,4 ha; diện tích đất trồng cây hàng năm: 142,0ha; đất lúa 2 vụ là: 386,4 ha; đất trồng cây lâu năm: 106,6 ha Địa bàn xã chia thành

6 thôn bản, với tổng dân số toàn xã là 3.873 nhân khẩu, có 2.970 nhân khẩu tronglao động Hệ thống cây trồng của xã rất đa dạng, phong phú, có nhiều cây ăn quả

có giá trị kinh tế cao như cây cam, quýt, nhãn, vải; cây lương thực, thực phẩmnhư: lúa, ngô, lạc ngoài ra còn rất nhiều cây hoa màu, dược liệu khác Tuynhiên do hệ thống cây trồng trên của xã phát triển không có quy hoạch, không tậptrung, manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, trình độ canh tác của người nông dân còn nhiềuyếu kém và bất cập, thiếu tính liên kết, đầu ra không ổn định Do vậy, để từng

Trang 12

bước chuyển dịch hệ thống cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa và phát triểnnền sản xuất nông nghiệp bền vững, thì công tác nghiên cứu hiện trạng và đềxuất giải pháp hệ thống cây trồng hiệu quả là hết sức cần thiết Xuất phát từ

những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:" Nghiên cứu hiện trạng

và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây trồng hiệu quả tại xã Tiên Yên, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang"

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về hệ thống cây trồng và phát triển hệthống cây trồng

- Đánh giá hệ thống cây trồng tại xã Tiên Yên, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang

- Đánh giá khó khăn, thách thức và yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống cây trồngtại xã Tiên Yên, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang

- Đề xuất các giải pháp cải tiến các hệ thống cây trồng nhằm nâng cao giá trịthu nhập cho nông dân

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đóng góp một số giải pháp và kỹ thuật tiến bộ trong canh tác hệ thống câytrồng phù hợp với điều kiện thực tiễn và tiềm năng, lợi thế của địa bàn xã Tiên Yên.Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là một tài liệu tham khảo bổ ích cho việcnghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thay đổi quy trình, nâng cao trình độ canhtác của người nông dân

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Hệ thống cây trồng (Cropping systems) là một hệ thống quan trọng và là

trung tâm của hệ thống nông nghiệp cho một vùng, vì vậy muốn cho nông nghiệpcủa vùng phát triển, trước hết cần nghiên cứu phát triển hệ thống cây trồng Đểnghiên cứu hệ thống cây trồng được tốt phải đứng trên quan điểm phân tích hệthống và áp dụng các phương pháp phân tích hệ thống

1.1.1 Một số khái niệm về hệ thống

1.1.1.1 Lý thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống được nhiều tác giả nghiên cứu và áp dụng ngày càng rộngrãi trong nhiều ngành khoa học, giúp cho sự hiểu biết, giải thích các mối quan hệtương hỗ Theo Phạm Văn Hiền và Trần Danh Thìn (2009), cơ sở lý thuyết hệ thống

do L Vonbertanlanty đề xướng vào đầu thế kỷ XX đã được sử dụng như một cơ sở

để giải quyết các vấn đề phức tạp, các vấn đề tổng hợp Trong những năm gần đâyquan điểm về hệ thống phát triển mạnh, áp dụng khá phổ biến trong lĩnh vực sinhhọc và nông nghiệp [11]

Theo Phạm Chí Thành và cs (1996) hệ thống (Systems) là một tổng thể có trật

tự các yếu tố khác nhau, có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xácđịnh như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiềumối tương tác Quan điểm hệ thống là sự khám phá đặc điểm của hệ thống đối tượngbằng cách nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tác động qua lại giữa các yếu

tố [31]

1.1.1.2 Hệ thống trồng trọt

Sản xuất trồng trọt là một hoạt động quan trọng trong hệ thống nông nghiệp(HTNN), bởi nó có vai trò quyết định đến các hoạt động khác của hệ thống Hoạtđộng sản xuất trồng trọt trong HTNN tạo ra hệ thống cây trồng tương ứng NguyễnDuy Tính (1995) cho rằng, hệ trồng trọt là hệ phụ trung tâm của HTNN, cấu trúccủa nó quyết định sự hoạt động của các hệ phụ như: chăn nuôi, chế biến Vậy hệthống trồng trọt là gì? [26]

Trang 14

Lý thuyết về hệ thống trồng trọt dựa trên những yếu tố về điều kiện tự nhiên(khí hậu, đất đai), kinh tế - xã hội, thị trường của vùng Hay hệ thống trồng trọt làhoạt động sản xuất cây trồng trong nông trại, bao gồm tất cả các hợp phần cần có

để sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường.Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật,

lao động và quản lý sản xuất (Zandstra et al., 1981; Nguyễn Duy Tính, 1995) [26]

Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn đề phức tạp, vì nó liên quan đếnnhiều tài nguyên và môi trường như: tài nguyên đất, khí hậu, cây trồng, vấn đề sâubệnh, dịch hại, mức đầu tư và trình độ khoa học kỹ thuật nông nghiệp Mục đíchcủa các vấn đề nghiên cứu là nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tàinguyên đất, khí hậu và nâng cao năng suất cây trồng

Theo Phạm Chí Thành và cs (1996) hệ thống trồng trọt bao gồm: (i) Hệthống cây trồng; (ii) hệ thống công thức luân canh; (iii) hệ thống sử dụng phânbón; (iv) hệ thống tưới tiêu; (v) hệ thống bảo vệ thực vật; (vi) hệ thống quản lý… [31]

1.1.2 Hệ thống cây trồng

1.1.2.1 Khái niệm về hệ thống cây trồng (HTCTr)

HTCTr là tổng thể các loại cây trồng trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau,được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian Chuyển đổi hay hoàn thiện HTCTr

là phát triển HTCTr mới trên cơ sở cải tiến HTCTr cũ hoặc phát triển HTCTr mớibằng tăng vụ, tăng cây hoặc thay thế cây trồng để khai thác có hiệu quả hơn tiềmnăng đất đai, con người và lợi thế so sánh trên vùng sinh thái (Nguyễn Duy Tính,1995) [26]

Theo Phạm Văn Hiền và Trần Danh Thìn (2009), nói đến HTCTr đa canh lànói đến: trồng xen, trồng gối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp, vườnhỗn hợp, v.v… Trong đó, hệ thống luân canh cây trồng có vai trò rất lớn, nó gópphần tăng hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích cũng như khai thác tối đa điềukiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Ngoài ra, đây là một trong những biện pháp sử dụng

và bảo vệ nguồn tài nguyên đất, nước một cách có hiệu quả [11]

HTCTr tối ưu không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên mà còn phụthuộc vào quy mô và phần trả lại của sản phẩm cây trồng, giá của chi phí đầu vàobao gồm cả lao động, sự kết hợp giữa các hợp phần công việc, khả năng đầu tư của

Trang 15

nông dân và chiều hướng của rủi ro Quá trình nghiên cứu thực hiện hoàn thiện hệthống cây trồng cần chỉ rõ những yếu tố, nguyên nhân cản trở sự phát triển sảnxuất, tìm ra các giải pháp khắc phục, đồng thời dự báo những vấn đề tác động kèmtheo khi thực hiện về môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng.

1.1.2.2 Hệ thống cây trồng hợp lý

Theo Trần Danh Thìn và Nguyễn Huy Trí (2008), một HTCTr được coi làhợp lý nếu đáp ứng các yêu cầu sau: (i) Đạt tổng sản lượng cao và ổn định qua cácmùa vụ Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá HTCTr hợp lý; (ii) khai thác triệt để

và có hiệu quả điều kiện khí hậu, đất đai trong vùng và hạn chế đến mức thấp nhấtnhững thiệt hại do khí hậu và đất đai gây ra đối với cây trồng; lựa chọn giống vàloài cây trồng để bố trí cho phù hợp với khí hậu và đất đai, không những tận dụngđược các lợi thế mà còn có tác dụng hạn chế những trở ngại do đất đai và khí hậugây ra; (iii) lợi dụng tốt nhất các đặc tính sinh học của cây trồng, tránh được tác hạicủa sâu bệnh và cỏ dại; (iv) thúc đẩy phát triển chăn nuôi và các ngành nghề phụkhác; (v) khai thác triệt để và có hiệu quả các điều kiện kinh tế, xã hội sẵn có đểphát triển bền vững; (vi) phù hợp nguồn lực nông hộ và được nông dân chấp nhận[33]

Theo Phạm Văn Phê và Nguyễn Thị Lan (2001) những nguyên tắc cần được

áp dụng trong việc xác định hệ thống cây trồng hợp lý cho các vùng sinh thái khácnhau là: (i) Hệ thống cây trồng phải sử dụng tốt nhất nguồn nhiệt, bức xạ Có thểdựa vào tổng nhiệt của từng loại cây trồng để sắp xếp các công thức cây trồng củatừng vùng; (ii) sử dụng tốt nhất nguồn nước Trong điều kiện không tưới, cây trồngphụ thuộc vào thời gian mưa Bố trí cây trồng cần được dựa vào lượng nước mưatheo thời gian Trong điều kiện có tưới, khả năng chủ động tưới cho phép mở rộngdiện tích gieo trồng; (iii) thích hợp và sử dụng tốt nhất điều kiện đất; (iv) tránh thiệthại do các điều kiện khó khăn về khí hậu, đất đai, sâu bệnh gây ra; (v) bồi dưỡng độmàu mỡ của đất, tránh thoái hóa đất; (vi) đảm bảo việc sử dụng lao động hợp lý [21]

2.1.1.3 Đặc điểm hệ thống cây trồng

(a) Hệ thống cây trồng được hiểu là: loại cây trồng, giống cây, mùa vụ trồngtrọt, hệ thống công thức luân canh cây trồng ở những điều kiện sinh thái cụ thể

Trang 16

(b) Đặc trưng của hệ thống cây trồng là yếu tố động:

+ Động theo thời gian (hệ thống cây trồng ở nền nông nghiệp tự cung tự cấpkhác với hệ thống cây trồng làm hàng hóa);

+ Động theo không gian, điều kiện sinh thái cụ thể khác nhau thì hệ thốngcây trồng khác nhau (như chân ruộng cao, ruộng trũng, ruộng vàn, ruộng thấp; vùngsinh thái đồng bằng, trung du, miền núi, ven biển );

+ Động theo tiến bộ kỹ thuật (như giống cây trồng, kỹ thuật trồng trọtmới…) và động theo nhu cầu tiêu dùng của xã hội khác nhau

Tại một vùng cụ thể, cây trồng là yếu tố động Chính vì vậy, chúng ta cầnthường xuyên nghiên cứu sự thay đổi của hệ thống cây trồng để đáp ứng với thờigian, sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.3 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng

Theo Phạm Chí Thành (2012) người nông dân trồng trọt loại cây gì, kỹ thuật

áp dụng, luân canh cây trồng như thế nào là tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên (đấtđai, khí hậu ), kinh tế (giao thông, thủy lợi, nhu cầu thị trường) và xã hội (chínhsách phát triển, phong tục tập quán…) Các nhóm yếu tố này được xếp vào nhómyếu tố bên ngoài chi phối các quyết định của người nông dân Nông nghiệp ViệtNam hiện tại còn ở mức sản xuất hàng hóa nhỏ do các hộ nông dân chủ động sảnxuất trên diện tích canh tác của mình Vì vậy, việc lựa chọn HTCTr còn phụ thuộcvào điều kiện cụ thể của nông hộ như: đất đai, lao động, vốn, kỹ năng, trình độ sảnxuất [32]

Điều kiện kinh tế của hộ rất khác nhau đã dẫn đến chất lượng nông sảnkhông đồng đều, hiệu quả sản xuất thấp Hiện nay ở Việt Nam đang xây dựng hệthống sản xuất hàng hóa tập trung (trong xây dựng nông thôn mới) Đặc điểm củasản xuất tập trung (cánh đồng mẫu lớn) sẽ tạo hàng hóa chất lượng cao hơn, nôngdân thu lãi nhiều hơn Dưới đây là một số căn cứ để bố trí HTCTr:

1.1.3.1 Khí hậu

Nông nghiệp có quan hệ qua lại phức tạp với các điều kiện tự nhiên, trong đó

có yếu tố khí hậu Diễn biến khí hậu thường được thể hiện bởi thời tiết, chúng lànhững nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến sản xuất nông nghiệp, được thể hiện qua

Trang 17

năng suất (cao hay thấp) và chất lượng nông sản (tốt hay xấu) Vì vậy, trong nghiêncứu HTCTr, điều cần quan tâm đầu tiên là các yếu tố thời tiết cấu thành khí hậu.Nói đến vai trò của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp, viện sĩ V I Vavilop cho

rằng: "Biết được các yếu tố khí hậu, chúng ta sẽ xác định được năng suất, sản lượng mùa màng, chúng mạnh hơn cả kinh tế, mạnh hơn cả kỹ thuật" Những điều kiện

khí hậu được xác định cho nông nghiệp là ánh sáng, nhiệt độ và nước Ngoài ra,

cũng phải thấy "khí hậu nào, đất nào, cây đó", cho nên khí hậu là yếu tố quyết định sự

phân bố động, thực vật trên trái đất, ngay cả mạng lưới sông ngòi, độ màu mỡ củađất cũng là hệ quả của khí hậu (Dẫn theo Nguyễn Văn Viết, 2009) [38]

* Ánh sáng

Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ của cây.Ánh sáng là yếu tố biến động, ảnh hưởng đến năng suất Cần xác định yêu cầu củacây trồng về cường độ chiếu sáng và khả năng cung cấp ánh sáng từng thời kỳ trongnăm để bố trí cây trồng hợp lý Mỗi cây trồng có yêu cầu ánh sáng khác nhau Cácloại cây quang hợp theo chu trình C4 và chu trình CAM là những cây ưa sáng,đồng thời cũng là cây ưa nóng Các cây quang hợp theo chu trình C3 yêu cầu ánhsáng thấp hơn

* Độ dài ngày

Độ dài ngày dùng để xác định thời gian sinh trưởng của cây, muốn biết khảnăng cung cấp ánh sáng cho cây, cần biết bức xạ và số giờ nắng hàng tháng hoặc sốgiờ nắng bình quân ngày Khi xem xét vai trò của ánh sáng (độ dài ngày ngắn haydài) đối với cây trồng phải xem xét độ dài ngày theo mùa sinh trưởng của cây trồng(Nguyễn Văn Viết, 2009) Để bố trí HTCTr phù hợp, đạt năng suất cao và ổn địnhcần phải căn cứ vào nhu cầu của cây về nhiệt độ và ánh sáng ở giai đoạn cuối vàtình hình nhiệt độ, ánh sáng từng tháng trong năm [38]

* Nhiệt độ

Theo Nguyễn Văn Viết (2009) diễn biến của nhiệt độ có ý nghĩa quyết địnhđến cơ cấu thời vụ gieo trồng khi các điều kiện khác được bảo đảm Từng loại cây,giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh lý của cây phát triển thích hợp và

an toàn trong khoảng nhiệt độ nhất định [38] Cây ưa nóng là những cây trong 2

Trang 18

tháng cuối yêu cầu nhiệt độ trên 200C, cây ưa lạnh là những cây trong 2 tháng cuốiyêu cầu nhiệt độ dưới 200C Nếu không có nhiệt độ phù hợp với đặc tính ưa nhiệtcủa cây dẫn đến năng suất giảm Căn cứ vào yêu cầu nhiệt độ của từng nhóm cây:

ưa nóng, ưa lạnh hay ngày ngắn để bố trí HTCTr trong năm

* Lượng mưa

Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng Cây trồng đòi hỏi mộtlượng nước lớn gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của chúng Lượng nước mà câytiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của một số cây trồng (gọi là hệ số tiêuthụ nước) như ngô: 250-400 đơn vị nước cho 1 đơn vị chất khô, lúa: 500-800 đơn vịnước cho 1 đơn vị chất khô, tiếp đến bông: 300-600, rau: 300-500, cây gỗ: 400-500, (Trần Đức Hạnh và cs., 1997) [10] Hầu hết lượng nước được sử dụng chonông nghiệp là nước mặt, các nguồn này được cung cấp chủ yếu từ lượng mưa hàngnăm Tuỳ theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và khai thác nước đối vớimột vùng cụ thể được xem xét để lựa chọn hệ thống cây trồng thích hợp

1.1.3.2 Đất đai

Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất Bảo vệ, duy trì

và cải tiến nguồn tài nguyên này là tiêu chuẩn để tiếp tục duy trì chất lượng cuộcsống trên trái đất Điều kiện đất đai và khí hậu mang tính chất quyết định để bố trícây trồng hợp lý Nó tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình, độ dốc, chế độ nước ngầm,thành phần cơ giới đất để bố trí một hoặc một số cây trồng phù hợp Hiểu được mốiquan hệ giữa cây trồng với đất sẽ dễ dàng xác định được HTCTr hợp lý ở một vùng

cụ thể

Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ nước,không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng Đất có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp chotrồng cây lấy củ Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù hợp chocác cây ưa nước Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương thường sinh trưởngtốt và cho năng suất cao trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ (Phạm BìnhQuyền và cs., 1992) [23] Bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp hữu hiệu điềukhiển dinh dưỡng đất

Trang 19

Nước ta có khoảng 22 triệu ha đất đồi núi, chiếm 2/3 tổng diện tích tự nhiên,

có độ dốc nhất định Gieo trồng cây ngắn ngày thường làm giảm hàm lượng hữu

cơ và dự trữ mùn, đạm Để phục hồi đất đồi núi, cần bổ sung vào đất một lượng chấthữu cơ mới (phân chuồng, phân xanh, tàn dư cây trồng ) khoảng 10-15 tấn/ha/năm.Chuyển từ cơ cấu độc canh cây ngắn ngày sang đa canh sẽ tăng mạnh lượng hữu cơ

và nhịp độ tuần hoàn hữu cơ trong đất Điều đó góp phần đảm bảo cho sử dụng đấtlâu bền (Nguyễn Văn Bộ, 2001).[2]

1.1.3.3 Cây trồng

Trong hệ sinh thái đồng ruộng, cây trồng là thành phần trung tâm của hệ.Mỗi loại cây có những yêu cầu về điều kiện sống như đất đai, khí hậu khác nhau.Các loại cây trồng có tập đoàn vi sinh vật đất, vi sinh vật cộng sinh và cả các loạisinh vật hại riêng Hơn nữa, mỗi loại cây trồng lại có biện pháp canh tác, kỹ thuậtchăm sóc cụ thể Vì vậy, mỗi vườn cây có thể xem là một hệ sinh thái nông nghiệp.Nhiệm vụ của khoa học cây trồng là sử dụng những nguồn lợi đó một cách tốt nhất(Đường Hồng Dật, 2008) [5]

Khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi, cònvới cây trồng thì con người có thể thay đổi các yếu tố đầu vào, chọn lựa, di thực.Với tiến bộ công nghệ sinh học ngày nay, con người có thể thay đổi bản chất củacây trồng theo ý muốn thông qua các biện pháp như lai tạo, chọn lọc, gây đột biến,nuôi cấy vô tính

Nông nghiệp nước ta thời kỳ xa xưa đã có một cơ cấu cây trồng phong phú,

từ các cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới đến ôn đới Cùng với lúa nước là loại câylương thực chủ yếu, cơ cấu các loại cây trồng bao gồm nhiều loại cây: cây lươngthực, cây có củ, cây ăn quả, cây có sợi đã ngày càng được bổ sung phong phúthêm trong quá trình phát triển sản xuất Sau nhiều năm chọn lọc, di thực, hiện nayngười ta có thể trồng các cây ôn đới trong vụ hè, đặc biệt là rau, cây nhiệt đới trong

vụ đông nhờ biện pháp kỹ thuật canh tác trong nhà có mái che, nhà kính và côngnghệ chọn tạo giống Ví dụ qua quá trình lai tạo, di thực đã chọn tạo ra giống bắpcải có khả năng cuộn trong vụ hè, kỹ thuật canh tác cải tiến có thể trồng su hàotrong vụ hè

Trang 20

1.1.3.4 Hệ sinh thái

Việc xác định chủng loại và từng giống cây trồng phù hợp trong hệ sinh thái

ở từng nơi là rất quan trọng Điều kiện để xác định, quyết định tính phù hợp củachúng tại một địa phương cụ thể là các yếu tố sinh thái (Nguyễn Tất Cảnh và cs.,2001) [3] Ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ sinh thái còn có các thành phầnsống khác như cỏ dại, sâu, bệnh, vi sinh vật, những động vật, côn trùng và nhữngsinh vật có ích khác Các thành phần sống ấy cùng với cây trồng tạo nên một quầnthể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên các mối quan hệ rất phức tạp, tạodựng và duy trì cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế các mặt cóhại, phát huy mặt có lợi đối với con người là vấn đề cần được quan tâm trongHSTNN

1.1.3.5 Khoa học công nghệ

- Tiến bộ kỹ thuật: Bao gồm các quy trình, công nghệ, biện pháp kỹ thuật cụ

thể và quản lý sử dụng đất, sản xuất, thu hoạch, chăm sóc, bảo vệ các loại sản phẩmnông nghiệp Tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt là các kỹ thuật mang lại hiệu quả cụthể trong việc chọn tạo giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, chăm sóc, bón phân, cảitạo và sử dụng đất, bảo vệ thực vật… (Nguyễn Ngọc Nông, 2002).[19]

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng có khác nhau với yêu cầugiống cây khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nôngnghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởngtrực tiếp đến HTCTr Vùng có trình độ kỹ thuật canh tác cao, như hệ thống câytrồng hoa, rau cao cấp như xã Tây Tựu huyện Từ Liêm, Vân Nội huyện Đông Anh -

TP Hà Nội, TP Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng

- Các tiến bộ khoa học - công nghệ: Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản

xuất như đất đai, sinh vật, khí hậu, máy móc, lao động và kinh tế kết hợp với nhau

để tạo ra sản phẩm nông nghiệp Trong thực tế sản xuất, những hộ tiếp cận với tiến

bộ khoa học, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường sẽ ảnh hưởng tới HTCTr.Vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có HTCTr chuyên sản xuất sản phẩmhàng hóa; sản xuất được điều khiển theo thị hiếu của thị trường, kinh tế giảm dầntác động yếu tố tự nhiên

Trang 21

1.1.3.6 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt độngkinh tế Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường trình độ lợidụng các nguồn lực sẵn có trong một hoạt động kinh tế Đây là đòi hỏi khách quancủa nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất cuộc sống của con người ngày mộttăng Do yêu cầu của công tác quản lý kinh tế cần thiết phải phân tích các yếu tốảnh hưởng đến chất lượng các hoạt động kinh tế, do đó đã xuất hiện phạm trù hiệuquả kinh tế Vận dụng vào việc phát triển hệ thống cây trồng bền vững cho thấy cầnphải tận dụng triệt để điều kiện tự nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng, chủng loại câytrồng sao cho hợp lý trên một đơn vị diện tích

Về mặt kinh tế HTCTr cần thỏa mãn các điều kiện: (i) Đảm bảo yêu cầuchuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao; (ii) đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sảnxuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên; (iii) đảm bảothu hút lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế; (iv) đảm bảo chất lượng vàgiá trị hàng hoá cao hơn HTCTr cũ; (v) khi đánh giá hiệu quả kinh tế của HTCTr cóthể dựa vào một số chỉ tiêu: năng suất, tổng sản lượng, giá thành, thu nhập và mứclãi của các sản phẩm hàng hoá Việc đánh giá này rất phức tạp do giá cả sản phẩmluôn biến động theo thị trường

1.1.3.7 Thị trường

Thị trường không phải chỉ do cạnh tranh điều khiển mà còn do sự hợp tác vàtương trợ lẫn nhau Tiếp tục nghiên cứu về thị trường, các nhà xã hội học và chínhtrị học cho rằng thị trường còn do các điều kiện xã hội và chính trị quyết định màkinh tế học trước đó thường quên không đề cập (Đào Thế Tuấn, 2003) [27]

Theo Nguyễn Cúc và Đặng Ngọc Lợi (2007) điều kiện để hình thành thịtrường cần phải có các yếu tố sau đây: (i) Đối tượng trao đổi là hàng hoá, dịchvụ; (ii) đối tượng tham gia trao đổi là người mua, người bán; (iii) điều kiện để thựchiện trao đổi là khả năng thanh toán, địa điểm trao đổi; (iv) có thể chế hoặc tập tục

để đảm bảo hoạt động mua bán được an toàn, nhanh chóng [4]

Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến HTCTr hợp lý Theo cơ chế thị trườngthì HTCTr phải làm rõ được các vấn đề: Trồng cây gì, trồng như thế nào và sản phẩm

Trang 22

của chúng cung cấp ở đâu, cho ai? Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường cótác dụng định hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, với số lượng, chi phí nhưthế nào để đáp ứng được nhu cầu của xã hội và thu được kết quả cao Thông qua thịtrường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến cây trồng, thay đổi giốngcây trồng, mùa vụ cho phù hợp với thị trường Thị trường có tác dụng điều chỉnhHTCTr, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Cải tiến HTCTrchính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường.

Thị trường và sự cải tiến HTCTr có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thịtrường là động lực thúc đẩy cải tiến HTCTr, song nó có mặt hạn chế là nếu đểcho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến sự mất cân đối ở một giai đoạn, một thờiđiểm nào đó Vì vậy, Nhà nước cần có những chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô đểphát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường

Hiện nay, thị trường nông thôn đang phát triển với sự tham gia đắc lực củacác doanh nghiệp tư nhân, kể cả các mặt hàng xuất khẩu Các hộ nông dân ngàycàng phụ thuộc vào thị trường tự do, thiếu hoạt động của hợp tác xã chế biến và tiêuthụ nông sản Nếu các hợp tác xã nắm được khoảng 30% khối lượng hàng hoá thì tưthương sẽ mất độc quyền trong buôn bán

1.1.3.8 Trình độ người dân

Theo Đặng Kim Sơn (2006) nước ta trong thời kỳ đổi mới, các chính sáchmới một lần nữa xác lập vị trí số một của kinh tế hộ nông dân ở nông thôn Trongnông thôn có 3 nhóm hộ chính là: (i) Nhóm hộ sản xuất hàng hoá (chiếm khoảng30%); (ii) nhóm hộ bước đầu đi vào sản xuất hàng hoá nhưng còn ít, quy mô nhỏ(chiếm gần 55%); (iii) nhóm hộ nghèo (chiếm dưới 15%) [24]

Hộ nông dân không phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập hợpcác kiểu nông hộ khác nhau, có mục tiêu và cơ chế hoạt động khác nhau Căn cứvào mục tiêu và cơ chế hoạt động của nông hộ để phân biệt các kiểu hộ nôngdân: Kiểu hộ hoàn toàn tự cấp: Trong điều kiện này người nông dân ít có phản ứngvới thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư; (ii) kiểu nông hộ chủ yếu tựcấp, có bán một phần nông sản đổi lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá

cả (chủ yếu giá vật tư); (iii) kiểu hộ bán phần lớn nông sản, có phản ứng nhiều với

Trang 23

thị trường; (iv) kiểu hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá, có mục tiêu kiếm lợi nhuận như là một xí nghiệp tư bản chủ nghĩa.

Mục tiêu sản xuất của các hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh,

cơ cấu cây trồng, mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm củathị trường Quá trình phát triển của các hộ nông dân trải qua các giai đoạn từ thunhập thấp đến thu nhập cao Ở giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng mộthay một vài cây lương thực chính, năng suất thấp, kỹ thuật thô sơ, rủi ro lớn Do sợrủi ro nên việc tiếp thu kỹ thuật bị hạn chế và thị trường nông thôn là thị trườngchưa hoàn chỉnh Trong giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Lúc mới chuyểnsang sản xuất hàng hoá, nông dân bắt đầu trồng thêm các cây hàng hoá, đa canh đểgiảm bớt rủi ro Nhờ có thêm thu nhập nên có thể đầu tư để cải tiến kỹ thuật vàthâm canh, nếu lao động thừa nhiều có thể phát triển ngành nghề phi nông nghiệp.Theo đó, nông hộ chuyển dần sang hình thức canh tác kiểu trang trại đáp ứng nhucầu tiêu thụ của thị trường Ở những nước công nghiệp phát triển như nước Anh thìhình thức sản xuất có lợi nhất của các nông hộ không phải là hình thành các xínghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà các nông hộ canh tác kiểu trang trại gia đìnhdùng lao động làm thuê Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông -lâm - ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nông dân nhưngmang tính sản xuất hàng hoá

Quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết định

và còn tuỳ vào từng vùng, nhưng yếu tố khó khăn về vốn mang tính quyết địnhnhất Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu lên thì mới tập trung vàomột số ngành nhất định Như vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sảnxuất hàng hoá đã phát triển đến mức cao Hộ nông dân phát triển từ tự cấp sang sảnxuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau và quá trình cải tiến HTCTr gắn với thịtrường được thực hiện ngày càng hoàn thiện hơn Kinh tế hộ nông thôn ở nước tatrong những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng còn những tồn tạikhông nhỏ, đó là: (i) Tỷ lệ hộ nông nghiệp còn cao; (ii) bình quân ruộng đất nôngnghiệp một hộ rất thấp; (iii) trang bị kỹ thuật còn ở mức thấp; (iv) thu nhập củanông hộ chưa ở mức cao; (v) trình độ dân trí vẫn ở mức thấp, nhiều nơi còn rất lạc

Trang 24

hậu, tỷ lệ người mù chữ ở vùng cao, vùng sâu ở mức cao (hơn 50%) Những tồn tạitrên của nông hộ là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển HTCTr, ápdụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ, khắc phục những tồn tại trên nhằm mục tiêuhướng tới phát triển HTCTr hướng bền vững.

1.1.3.9 Chính sách

Nhà kinh tế học người Anh Franks Ellis cho rằng không có một định nghĩa

“duy nhất” về thuật ngữ chính sách Các nhà kinh tế thường nghĩ chính sách là mụctiêu và phương pháp mà Chính phủ đưa ra nhằm tác động vào mức độ của biếnđộng kinh tế như giá, thu nhập, thu nhập quốc dân, tỷ giá hối đoái và từ đó ôngcho rằng chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựachọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tìmkiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó

Muốn quá trình chuyển đổi HTCTr có hiệu quả phải thúc đẩy tất cả các kiểu

hộ nông dân phát triển một cách đồng bộ chứ không thể chỉ thúc đẩy các hộ sảnxuất giỏi Quá trình phát triển kinh tế sẽ phân hoá giàu nghèo, có sự chênh lệnh vềthu nhập giữa nông thôn và thành thị, cần thiết phải rút lao động ra khỏi nôngnghiệp bằng cách phát triển công nghiệp nông thôn và thâm canh tăng vụ để sảnxuất hàng hoá

Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sảnxuất và cải tiến HTCTr là do thiếu thị trường cho nông sản Để giải quyết vấn đề thịtrường, Nhà nước cần tạo môi trường lành mạnh cho thị trường phát triển và xâydựng cơ sở hạ tầng như: giao thông, thuỷ lợi, thông tin

Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi HTCTr có căn cứ và kịp thời, theo PhạmChí Thành và cs (1993); Đặng Vũ Bình và Nguyễn Xuân Trạch (2002) thì Nhànước cần có chính sách về khoa học - công nghệ thông qua nghiên cứu, nhằm thiếtlập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển đổi cây trồng

có hiệu quả và chuyển giao kỹ thuật thích ứng cho nông dân [30, 1]

HTCTr

(a) Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống cây trồng

Theo công ước khung của Liên Hợp Quốc năm 1992 (Bộ Tài nguyên và Môitrường, 2009) biến đổi khí hậu (BĐKH) được định nghĩa: "Biến đổi khí hậu trái đất

Trang 25

là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo".

Theo các nhà khoa học trên thế giới thì Việt Nam là một trong 5 nước chịu

sự tác động nhiều nhất của biến đổi khí hậu Nhiều dự báo BĐKH đồng thời làmthay đổi tình hình an ninh lương thực của nhiều khu vực Những thay đổi về lượngmưa và những sự kiện thời tiết cực đoan sẽ làm giảm diện tích trồng trọt ở nhiềuvùng khác nhau Nước biển dâng cao dẫn đến mất đi những vùng đất ven biển vànạn xâm thực của nước mặn, có thể làm giảm năng suất cây trồng nông nghiệp(Phạm Thị Hồng Vân, 2009) [37]

Nghiên cứu BĐKH ảnh hưởng đến năng suất cây lương thực ở Việt Nam,Mai Văn Trịnh và cs (2010) ghi nhận, tại 7 vùng sinh thái các báo cáo chủ yếucung cấp những biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa và phân bố mưa cho từng vùngsinh thái Những biến đổi khí hậu đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng.Riêng với cây ngô, năng suất ngô sẽ bị giảm mạnh ở vùng Tây Nguyên nhưng tăngnhẹ ở đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long, Đông Nam bộ và Tây Bắc [35]

Trước những thách thức về sản xuất lúa nói chung, vấn đề bố trí vụ lúa ngắnngày, các giống lúa ngắn ngày hay cực ngắn ngày càng có ý nghĩa chiến lược trongđiều kiện BĐKH Việc tạo ra những giống cây trồng thích nghi tốt hơn với khí hậu

đã được tập trung nghiên cứu Trong công tác chọn lọc giống ngũ cốc như lúa mì,lúa mạch, lúa nước thích nghi với điều kiện khô hạn đã được triển khai thông quanghiên cứu sự tích lũy ABA (Bùi Mạnh Cường, 2007a)

Thực tế phát triển cây ngô ở Việt Nam vẫn hạn chế về năng suất, đặc biệt tạinhững vùng canh tác khó khăn, phụ thuộc nước trời Những hạn chế trong nghiêncứu và phát triển công nghệ cây ngô lai ở Việt Nam bao gồm: (i) Canh tác khôngbền vững; (ii) thiếu những giống ngô trong điều kiện sinh thái cụ thể và HTCTrthích hợp của nông dân; (iii) độ phì đất canh tác suy giảm; (iv) sử dụng phân bón,thuốc bảo vệ thực vật không hiệu quả; (v) vấn đề xói mòn rửa trôi đất và hạn hán

Để giải quyết những trở ngại này cần nghiên cứu cả về giống và quản lý cây trồngtổng hợp Đặc biệt những công nghệ chuyên cho cây ngô ở những địa bàn vùng cao,

vùng khó khăn (Dang Thanh Ha et al., 2004) [41]

Trang 26

Các biện pháp tự thích ứng với điều kiện BĐKH của người dân sản xuấtnông nghiệp được mô tả bao gồm: Phục tráng giống địa phương, thay đổi cơ cấugiống, tăng tỷ lệ giống ngắn ngày, điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển dịch cửa cống lấynước, tăng cơ cấu giống chịu mặn, lúa lai, tìm nguồn nước tưới, luân canh,chuyển đổi nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả, thời vụ hóa các công thức luân canh,

mô hình lúa - cá (Mai Văn Trịnh và cs, 2010) [35]

Nền nông nghiệp lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất hiện nay có tác dụngtích cực là kích thích sản xuất tạo ra nhiều nông sản nhưng chất lượng thấp và giátrị sản xuất cũng thấp Điều kiện kinh tế của hộ rất khác nhau dẫn đến chất lượngnông sản không đồng đều, hiệu quả sản xuất thấp

Trong những năm gần đây, Nhà nước có chủ trương xây dựng nông thônmới, sản xuất hàng hóa tập trung theo hướng:

- Liên kết giữa hộ nông dân có ruộng cùng một điều kiện sinh thái và ápdụng một hệ thống canh tác tối ưu để tạo ra giá trị gia tăng tối đa và bền vững

- Mối liên kết giữa nông dân với các nhà khoa học để khoa học trở thànhđộng lực chủ yếu phục vụ sản xuất

- Mối liên kết giữa nông dân với ngân hàng để giải quyết vốn, các nhà kinhdoanh, doanh nghiệp để cung cấp vật tư và tiêu thụ nông sản Sản xuất hàng hóa tậptrung góp phần tiết kiệm đất, có điều kiện để cơ giới hóa toàn diện, chất lượng nôngsản tốt hơn, đem lại hiệu quả kinh tế lớn hơn, hàng hóa sản xuất ra nhiều hơn, nângcao giá trị sản xuất và tiến tới phát triển công nghiệp nông thôn (Phạm Chí Thành,2012) [32]

Theo Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013) về việc Phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nôngnghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững với mục tiêu:

“Duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua tăngnăng suất, chất lượng và giá trị gia tăng“ và có quan điểm chung: “Thực hiện tái cơcấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa đảm bảo các mục tiêu cơ bản

Trang 27

về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển chiều rộnglấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiệnbằng giá trị, lợi nhuận“ Trong Quyết định, nội dung tái cơ cấu ngành trồng trọt cómột số điểm đáng lưu ý:

- Tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tậptrung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huylợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, đặcbiệt là công nghệ nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng biếnđổi khí hậu Tập trung phát triển công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến sâu

và bảo quản sau thu hoạch theo hướng hiện đại nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch vànâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm

- Cơ cấu lại hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ sảnphẩm; khuyến khích doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiêu thụnông sản với nông dân; phát triển các nhóm hộ nông dân hợp tác tự nguyện, liênkết sản xuất theo chuỗi giá trị

Qua đây cho thấy, vấn đề tái cơ cấu trong nông nghiệp nói chung, trồng trọtnói riêng càng khẳng định việc liên kết trong sản xuất giữa các hộ nông dân, nôngdân với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất được bền vững

Tóm lại, hệ thống cây trồng chịu chi phối bởi cả yếu tố tự nhiên và xã hội Các yếu tố này vừa là môi trường, vừa là điều kiện để cải tiến phát triển HTCTr Để đáp ứng tốt nhất mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững phải sử dụng và khai thác một cách hài hòa các lợi thế của môi trường chi phối.

1.1.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu hệ thống cây trồng

Trang 28

đầu từ nông dân theo mô hình “nông dân trở lại nông dân”, Farington và Martin đềxuất hướng “nghiên cứu có sự tham gia của nông dân”; hướng “nghiên cứu bắtđầu từ nông dân” hay “nông dân - đầu tiên - và cuối cùng” được dựa trên sự tập hợp

các ý tưởng của tác giả Champer et al (1989).[7]

Spedding (1975) đã đưa ra 2 phương pháp cơ bản trong nghiên cứu HTCT:(i) Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến hệ thống đã có sẵn, dùng phươngpháp phân tích hệ thống để tìm ra “điểm hẹp” hay chỗ “ thắt lại” của hệ thống, đó

là chỗ có ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến hoạt động của hệ thống, cần tác độngcải tiến, sửa chữa khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn; (ii)nghiên cứu xây dựng hệ thống mới: phương pháp này đòi hỏi phải có đầu tư, tínhtoán và cân nhắc kỹ lưỡng, cách nghiên cứu này cần có trình độ cao hơn để tổ chức,sắp đặt các bộ phận trong hệ thống dự kiến đúng vị trí, trong các mối quan hệ giữacác phần tử để đạt được mục tiêu của hệ thống tốt nhất

Theo Đào Thế Tuấn (2003) nội dung bao hàm của tiếp cận hệ thống gồm: (i)Kiến thức phải xây dựng từ thực tế và tác động vào nó; (ii) chú ý đến các đối kháng,mâu thuẫn không chắc chắn; (iii) quá trình là quan trọng; (iv) các yếu tố có quan hệvới nhau và hợp thành tổng thể; (v) chuyên gia tìm hiểu và học hỏi ở sự việc và conngười; (vi) nghĩ đến nhiều giải pháp có thể thoả thuận; (vii) xây dựng một mô hình

có tính đơn giản, ưu tiên cho yếu tố về chất; (viii) lấy sự thay đổi thực tế là hữuhiệu; (ix) tính liên ngành, tính đa hợp lý và quyết định đa tiêu chuẩn; (x) mục đích

và phương tiện tác dụng ngược lại; (xi) để hiểu một hệ thống phức tạp phải mô hìnhhoá để hiểu biết; (xii) con người là một kiến trúc sư tự do [27]

Phương pháp nghiên cứu HTCTr về sau được Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế(IRRI) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong Mạnglưới Hệ thống Cây trồng châu Á sử dụng và phát triển Quá trình nghiên cứu liênquan đến một loạt các hoạt động trong nông trại, tổ chức thực hiện theo các bướcsau (Hien Bui Huy and Thi Nguyen Trong, 2001; Phạm Văn Hiền và Trần DanhThìn, 2009): [11]

(i) Chọn điểm: địa điểm nghiên cứu là một hoặc vài loại đất Tiêu chí đểchọn điểm nghiên cứu là có tiềm năng năng suất, đại diện cho vùng rộng lớn, nông

Trang 29

dân sẵn sàng hợp tác Sẽ rất thuận lợi nếu chọn điểm nghiên cứu được Chính phủ ưutiên vì chương trình sản xuất sau này sẽ thực hiện dễ dàng hơn.

(ii) Mô tả điểm nghiên cứu: điểm nghiên cứu sau khi chọn sẽ được mô tả

về đặc điểm tự nhiên (khí hậu, đất đai…), kinh tế - xã hội, hiện trạng hệ thống câytrồng cần phải được đánh giá

(iii) Thiết kế hệ thống cây trồng mới: các mô hình cây trồng được thiết kếtrên những đặc điểm của điểm nghiên cứu, nhằm đạt được sản lượng, lợi nhuận cao,

ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái

(iv) Thử nghiệm hệ thống cây trồng mới: cây trồng được thử nghiệm trênruộng nông dân, nhằm xác định khả năng thích nghi và ổn định của chúng Chỉ tiêutheo dõi gồm năng suất nông học, hiệu quả sử dụng đất, yêu cầu về tài nguyên (laođộng, vật tư và hiệu quả kinh tế)

(v) Đánh giá sản xuất thử: Những mô hình canh tác có năng suất và hiệu quảđược xác định dựa trên kết quả thử nghiệm, sau đó đưa vào sản xuất thử nhằm đánhgiá khả năng thích nghi trên diện rộng của mô hình triển vọng trước khi xây dựngnhững chương trình sản xuất ở quy mô lớn hơn

(vi) Chương trình sản xuất đại trà: Sau khi xác định những hệ thống canh tácthích hợp nhất và những biện pháp kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các tổ chức khuyếnnông với sự giúp đỡ của tổ chức chính quyền, xây dựng chương trình quảng bá,thực hiện chương trình sản xuất

1.1.4.2 Phát triển nông nghiệp trên quan điểm hệ thống

Khi nghiên cứu phát triển HTNN phải coi nông nghiệp là một hệ thống để cóthể tác động một cách đồng bộ Xác định và phân tích HTCTr là một nội dung chínhcủa nghiên cứu HTCTr, tác giả Phạm Chí Thành và cs (1993) cho rằng: Hiện đangtồn tại hai quan điểm về phát triển nông nghiệp: (i) Phát triển nông nghiệp theoquan điểm sinh thái, có nghĩa là đặt cây trồng, vật nuôi vào đúng vị trí của nó trongmôi trường đã xác định sao cho có năng suất cao, ổn định và bảo vệ môi trường; (ii)phát triển nông nghiệp theo quan điểm kinh tế thị trường, nghĩa là tự do kinh doanh,lấy lợi ích kinh tế làm mục tiêu chính, nông dân chỉ sản xuất những gì mà kháchhàng cần, họ cạnh tranh trong sản xuất và tiền tệ hoá quá trình sản xuất Cả hai xu

Trang 30

hướng phát triển trên đều có ưu và khuyết điểm riêng Hợp lý hơn cả là phát triểnnông nghiệp theo kinh tế thị trường kết hợp hài hoà với nông nghiệp sinh thái [30]Mỗi quốc gia cũng như mỗi vùng sinh thái có các đặc điểm, điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội khác nhau nên có thể định hướng phát triển nông nghiệp khácnhau Các nước đang phát triển muốn đưa nông nghiệp phát triển với tốc độ tăngtrưởng 1-4%/năm đã áp dụng một trong những mô hình, thuyết sau đây để giảithích quá trình phát triển.

(i) Thuyết mô hình bảo vệ: Thuyết này cho rằng sở dĩ nông nghiệp bị thoáihoá là do độ màu mỡ bị giảm dần và kiệt quệ Muốn tăng năng suất phải phục hồi

và bảo vệ độ màu mỡ của đất bằng luân canh và bón phân;

(ii) Thuyết mô hình thúc đẩy của thành thị công nghiệp: Thuyết này chủtrương nông nghiệp chỉ phát triển mạnh ở vùng quanh và gần thành thị, nguyênnhân chính gây nên hiện tượng này là do thành thị cung cấp vật tư cho nông nghiệpnhưng lại là thị trường tiêu thụ các sản phẩm do nông nghiệp làm ra;

(iii) Mô hình khuyếch tán: Thuyết này cho rằng kỹ thuật tiên tiến và phươngpháp quản lý trong nông nghiệp phổ biến dần từ nông dân này sang nông dân khác,

từ vùng này sang vùng khác như giống cây trồng chẳng hạn nếu tốt sẽ được lantruyền từ trung tâm trước, sau đó sẽ lan sang các vùng xung quanh hoặc từ ngườilàm đầu tiên sang các nông dân khác xung quanh;

(iv) Thuyết mô hình đầu tư hiệu quả cao: Thuyết này cho rằng nông dân cổtruyền sở dĩ không tiếp thu được kỹ thuật mới vì thiếu đầu tư có hiệu quả Tìnhtrạng này được thay đổi khi xuất hiện giống lúa mỳ, ngô có năng suất cao do cáctrung tâm nghiên cứu quốc tế tạo ra Các giống này phản ứng mạnh với phân bón,thuốc trừ sâu, cải tạo đất nên mang lại hiệu quả cao cho nông dân, đã thúc đẩy nông

nghiệp phát triển nhanh và tạo nên “cuộc cách mạng xanh”;

(v) Thuyết mô hình phát triển bị kích thích: Theo thuyết này, sự thay đổi giá

cả trên thị trường kích thích cải tiến kỹ thuật và tạo nên sự phát triển

Để có thể phát triển nông nghiệp Việt Nam bền vững không nên áp dụng đơn

lẻ một trong các thuyết nêu trên mà phải kết kợp đủ các mặt của các thuyết trên mộtcách hài hoà Vì nông nghiệp Việt Nam hiện nay đang trong quá trình phát triển,

Trang 31

chuyển sang sản xuất hàng hoá, đang tìm kiếm thị trường, thu hút đầu tư, cải tiến kỹthuật công nghệ, đặc biệt là công nghệ chế biến nên cần hội tụ đủ cả năm thuyết nêutrên đây để nhanh tiến tới sự phát triển bền vững Thực tiễn nông nghiệp Việt Nam

đã cho thấy thị trường đầu ra là rất quan trọng, nó sẽ quyết định sự phát triển sảnxuất

Tóm lại, phương pháp tiếp cận nghiên cứu cải tiến cây trồng là một tiến trình logic, gồm nhiều bước, mỗi bước có nhiều mục tiêu, nội dung, phương pháp và giải quyết vấn đề có tính chất hệ thống từ đơn giản đến phức tạp Các bước triển khai và hoạt động cơ bản được đề cập và nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng là kinh nghiệm tốt, được vận dụng cho địa bàn nghiên cứu cụ thể.

1.1.5 Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa

Hàng hoá là sản phẩm của lao động Bản chất của sản xuất hàng hoá (SXHH)

là kiểu tổ chức sản xuất, trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầucủa người trực tiếp sản xuất mà là nhu cầu của xã hội thông qua trao đổi mua bán.SXHH ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sựphân công lao động xã hội Sự phân công ấy càng cao thì SXHH càng phát triển,đời sống người dân ngày càng tăng lên, làm cho quá trình trao đổi hàng hoá diễn ramạnh mẽ hơn, SXHH phát triển ngày càng đa dạng hơn

Ra đời và tồn tại SXHH cần có 2 điều kiện, đó là phải có sự phân công laođộng xã hội và hình thành chế độ đa sở hữu về tư liệu sản xuất Đây là hai điều kiệncần và đủ của SXHH Thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có SXHH So vớisản xuất tự cung tự cấp thì SXHH có những ưu thế hơn hẳn (Học viện Hành chínhQuốc gia Hồ Chí Minh, 2000) [13]

Theo Trần Danh Thìn và Nguyễn Huy Trí (2008) số lượng hàng hoá được thịtrường yêu cầu phụ thuộc vào các yếu tố: (i) Thu nhập của người tiêu dùng; (ii) giá

cả hàng hoá; (iii) giá cả các loại hàng hoá có liên quan Ví dụ nếu tăng giá loại hànghoá này sẽ dẫn đến làm tăng số lượng cầu của loại hàng hoá khác; (iv) thị hiếungười tiêu dùng và (v) dân số.[33]

Theo Nguyễn Duy Tính (1995) nền nông nghiệp SXHH là quá trình chuyểnnông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại Hiệnnay, nếu nông hộ không chuyên môn hoá trong sản xuất kinh doanh, không thay đổi

Trang 32

cơ cấu giống và thâm canh tăng vụ, phương thức sản xuất hoặc nâng cao trình độ kỹthuật và quản lý thì kết quả sản xuất sẽ thấp, không có (hoặc ít) sản phẩm để bán rathị trường hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không

có tích luỹ để phòng ngừa rủi ro [26]

Kinh tế học vi mô đã khẳng định: khi tồn tại nền kinh tế thị trường thì cũng

tồn tại nền SXHH Vậy sản xuất hàng hoá là gì? " Đó là việc sản xuất ra những sản phẩm của lao động với mục đích đem bán để thu về giá trị của nó và có giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô" Đối với nông hộ, những sản phẩm

được đưa ra bán ở bên ngoài thì gọi là sản phẩm hàng hoá Đối với hệ thống trồngtrọt, nếu hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thốngTrồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50% gọi là hệ thống trồng trọt thươngmại hoá (sản xuất theo hướng hàng hóa)

Sự phát triển SXHH mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng,các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất, mà cả đời sống tinh thần cũng đượcnâng cao, phong phú và đa dạng hơn Sản xuất nông nghiệp hàng hoá là hướng điđúng đắn giúp người nông dân vừa có thu nhập ngày càng cao, vừa khai thác hợp lýcác lợi thế sẵn có của vùng

1.1.6 Phát triển nông nghiệp bền vững

Năm 2002 tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được tổchức tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) đã đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về pháttriển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ,hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là: phát triển kinh tế, phát triển xãhội và bảo vệ môi trường (Nguyễn Võ Linh và cs, 2007) [16]

Phát triển bền vững cần: (i) Bảo tồn đất, nguồn nước và đa dạng sinh học; (ii)không làm thoái hoá môi trường; (iii) kỹ thuật phải thích hợp; (iv) có giá trị kinh tế;(v) chấp nhận được về mặt xã hội

Theo Trung tâm thông tin về Hệ thống Nông nghiệp (AFSIC) (2006), Quốchội Mỹ đã thông qua điều luật về nền nông nghiệp bền vững được định nghĩa nhưsau: Nền nông nghiệp bền vững là một hệ thống canh tác tổng hợp cây trồng vậtnuôi được áp dụng ở một nơi nhất định trong một thời kỳ dài mà nó sẽ: (i) Thỏa

Trang 33

mãn nhu cầu lương thực và chất sơ cho con người; (ii) tăng cường chất lượng môitrường và cơ sở của nguồn tài nguyên thiên nhiên mà nền kinh tế nông nghiệp dựavào; (iii) sử dụng tổng hợp có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên không hồi phục

và nguồn tài nguyên nông trại một cách thích nghi, tự nhiên; (iv) áp dụng chu trìnhsinh học có kiểm soát; (v) làm bền vững khả năng tồn tại và phát triển quá trìnhhoạt động của nông trại; (vi) tăng cường chất lượng cuộc sống cho nông dân và xãhội nói chung

Có nhiều cách biểu thị các định nghĩa khác nhau, Phạm Văn Phê và NguyễnThị Lan (2001) đã khái quát nội dung nông nghiệp bền vững gồm 3 phần cơ bảnsau: (i) Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở HTNN phùhợp với điều kiện sinh thái và không tổn hại tới môi trường; (ii) bền vững về tổchức quản lý, HTNN phù hợp với các mối quan hệ của con người, kể cả với các thế

hệ mai sau; (iii) bền vững thể hiện tính cộng đồng trong HTNN

Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là phải biết sử dụng hợp lýtài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện tài nguyên môi trường, có hiệu quả kinh tế,năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế

hệ và hạn chế rủi ro

Nông nghiệp bền vững đạt được là nhờ 4 yếu tố: quản lý đất bền vững, côngnghệ được cải tiến, cải thiện tài nguyên môi trường và hiệu suất kinh tế được nângcao, ổn định Quản lý đất bền vững chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trongnông nghiệp bền vững Mục tiêu của quản lý đất bền vững là “Điều hoà các mụctiêu và tạo cơ hội cho việc đạt được kết quả về môi trường, kinh tế và xã hội vì lợiích của không chỉ thế hệ hiện nay mà còn cho các thế hệ trong tương lai” trong khivẫn duy trì và nâng cao chất lượng của tài nguyên đất

Gần đây xuất hiện khuynh hướng “nông nghiệp hữu cơ”, chủ trương dùngmáy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh, pháttriển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hoáchất để phòng trừ sâu bệnh Việc sử dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp có vai tròquan trọng trong việc tăng năng suất cây trồng và phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 34

Các nhà khoa học đã khẳng định, khi trồng trọt đã làm tiêu hao độ phì củađất, nhưng cũng qua trồng trọt cây sẽ hoàn trả lại cho đất một số chất hữu cơ làmtăng độ phì của đất Nếu bố trí hệ thống luân canh phù hợp ta vừa kết hợp giữa sửdụng đất hiệu quả với bồi dưỡng đất Loại hình sản xuất lúa - màu làm đồng ruộngđược xây dựng tốt, cơ cấu luân canh lúa - màu giúp cho đất đai thay đổi môitrường sau mỗi vụ canh tác, làm cho đất thay đổi tốt hơn các chất dinh dưỡng vàloại trừ bớt sâu bệnh.

Thực tế không có ranh giới rõ ràng giữa hệ sinh thái tự nhiên và HSTNN,phân biệt giữa chúng là sự can thiệp của con người (Phạm Văn Phê và Nguyễn ThịLan, 2001) Chính vì thế, mọi hoạt động trong SXNN đều ảnh hưởng đến tính bềnvững của hệ sinh thái Trên cơ sở đó các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản xuấtnông nghiệp cũng phải tuân thủ qui luật khách quan của tự nhiên, vừa bảo vệ môitrường, vừa thoả mãn nhu cầu thiết yếu của con người [21]

Tóm lại, phát triển nông nghiệp nói chung, trong đó có hệ thống cây trồng cần phát triển đảm bảo sự lâu bền cho cả hiện tại và tương lai, hài hòa cả ba mặt chủ yếu liên quan đến đời sống con người, kinh tế - xã hội và môi trường.

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Việc nghiên cứu HTCTr và các biện pháp kỹ thuật canh tác như: trồng xen,trồng gối, thâm canh tăng vụ, kỹ thuật bón phân,…đã được đề cập từ lâu Nhữngnghiên cứu này đã được ứng dụng có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới, góp phầnvào sự phát triển nghiên cứu HTNN, làm tăng năng suất cây trồng, nâng cao đờisống và tạo sự ổn định môi trường

Từ cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, cuộc cách mạng HTCTr được bắt đầu ởmột số nước Tây Âu, chế độ độc canh trong SXNN được thay thế bằng các chế độluân canh cây ngũ cốc và đồng cỏ, đồng thời sử dụng các loại cây họ đậu làm thức

ăn gia súc, kết hợp với nông cụ cải tiến và phân bón đã thực sự nâng cao hiệu quảsản xuất nông nghiệp (Dẫn theo Phạm Chí Thành và cs., 1996) Theo chế độ luâncanh này, HTCTr gồm một số cây chăm sóc giữa hàng như khoai tây, cây lấy củ,ngũ cốc, cỏ ba lá và ngũ cốc vụ hè tăng năng suất gấp 2 lần so với chế độ luân canh

Trang 35

cũ, cụ thể 14-18 tạ/ha Chế độ luân canh mới này bắt đầu được áp dụng rộng rãi vàđem lại nhiều thắng lợi ở nước Anh và sau đó lan ra các nước Bỉ, Hà Lan, Đức,Pháp và tràn sang các nước khác ở Tây Âu [31].

Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và thay đổi công thức trồng trọt đượcquan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới, ở các nước châu Á, đặc biệt ở các nướcĐông Nam Á Sau cuộc “Cách mạng xanh” giữa thế kỷ XX, các nhà khoa học đã laitạo ra nhiều giống cây trồng ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng Nhờ vậy đã gópphần thành công trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ nênHTCTr ngày càng phong phú

Mạng lưới nghiên cứu Hệ thống Cây trồng châu Á được hình thành từ năm

1975 với 4 nước thành viên, đến thập kỷ 80 đã mở rộng ra phạm vi 16 nước, trong

đó có Việt Nam khi tổ chức hội nghị ở Thái Lan vào năm 1981 Các nhà khoa họccủa các nước thành viên đã thống nhất một số giải pháp phát triển cây trồng như: (i)Tăng vụ, bằng các giống lúa ngắn ngày, thu hoạch trước mùa lũ; (ii) thử nghiệmtăng vụ cây màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh, thâm canh, tăngvụ…xác định hiệu quả các công thức luân canh, tìm và khắc phục các yếu tố hạnchế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao

Zandstra et al (1981) đã dẫn số liệu của FAO, để đảm bảo nhu cầu nông sản

ngày một tăng phải thực hiện 3 giải pháp: (i) Mở rộng diện tích, (ii) tăng năng suất

và (iii) đa dạng hoá cây trồng, trong đó thâm canh và đa dạng hoá được coi là quantrọng Nói chung HTCTr luân canh giữa chế độ cây trồng nước và cây trồng cạn,giữa cây lương thực và cây họ đậu, hệ thống luân canh giữa không gian và thời gian

đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và kết luận có hiệu quả

Trung Quốc là một nước có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu của khuvực, nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, nhất là trong công nghệ sảnxuất hạt giống lúa lai, ngô, cây ăn quả, rau đã làm tăng 43% sản lượng ngũ cốc hàngnăm Các biện pháp kỹ thuật như xen canh ngô với lúa mì, sử dụng phân bón hợp lý

đã nâng cao năng suất của các cánh đồng lên 15 tấn/ha (Dẫn theo Nguyễn Tất Cảnh,2001) Ở Trung Quốc, trên các vùng đất lúa 2 vụ, hệ thống cây trồng phổ biến là 2

vụ lúa và 1 vụ lúa mì (hoặc đậu Hà Lan, cải, khoai lang) Trên các vùng đất lúa 1

Trang 36

vụ, HTCTr thường là 1 vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn Theo Xiaobin (2006) đất canhtác nhờ nước trời tại Trung Quốc chiếm trên 50% diện tích đất nông nghiệp hoặc58-85% tổng diện tích đất “có vấn đề” trên toàn quốc, phân bố trên phạm vi 17 tỉnhtại phía Bắc, với trên 22% dân số toàn quốc Hệ thống canh tác phổ biến 1 vụ/nămvới các loại cây trồng chủ yếu: ngô và lúa mỳ [44]

Châu Á được xem là cái nôi của lúa nước, chiếm tới 90% diện tích và sảnlượng lúa thế giới Nhưng trước năm 1985, những nước vùng Đông Nam Á có năngsuất lúa cao nhất không vượt quá 35 tạ/ha (Thái Lan 30,25 tạ/ha, Philippin 29,42 tạ/ha), trong khi đó Nhật Bản năng suất lúa đã đạt 68,82 tạ/ha Nguyên nhân dẫn đếnnăng suất lúa ở Đông Nam Á không cao là do kỹ thuật canh tác ít được cải tiến, đặcbiệt là giống Gần đây, ở một số nước khu vực Đông nam Á đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về HTNN, HTCTr, cơ cấu cây trồng Kết quả nghiên cứu đã góp phầnnâng cao năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất của cây trồng

Ở Thái Lan trong điều kiện thiếu nước, một hệ thống cây trồng lúa xuân - lúamùa hiệu quả kinh tế thấp và chi phí thuỷ lợi quá lớn, hơn nữa do độc canh lúa đãlàm giảm độ phì của đất Bằng việc chuyển dịch cây lúa xuân sang cây đậu tương,giá trị tổng sản phẩm đã tăng lên đáng kể, diện tích tăng gấp 1,5 lần, hiệu quả kinh

tế tăng gấp đôi, độ phì của đất được tăng lên rõ rệt, mang lại thành công lớn trongchuyển dịch cơ cấu cây trồng ở Thái Lan (Dẫn theo Nguyễn Duy Tính, 1995) [26]

Canh tác bảo vệ đất bao hàm các hệ thống trồng trọt nhằm thiết lập môitrường thuận lợi nhất cho cây trồng sinh trưởng phát triển và bảo vệ tài nguyên đất,nước một cách tốt nhất, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội TheoBruinsma (2003) diện tích đất trồng trọt được áp dụng các biện pháp bảo vệ đất trênthế giới ước tính chỉ khoảng 50-60 triệu ha (tương đương 0,2% diện tích đất canhtác toàn cầu) Tại Trung Quốc, theo Lai (2004) số liệu này là khoảng 0,1%

Sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp thế giới luôn khẳng định vai tròcủa công tác chọn tạo giống cây trồng Theo các nhà khoa học Trung Quốc

Shaobing et al (2008); Virmani and Kumar (2009) phát triển lúa lai có ý nghĩa

quan trọng, công nghệ này có thể đáp ứng với tốc độ tăng dân số và phát triển kinh

tế của thế giới Mục tiêu của chương trình phát triển giống lúa lai siêu cao sản

Trang 37

với dạng cây lý tưởng (New plant type) bao gồm: năm 2000 lúa lai siêu cao sản đạtnăng suất 9-10,5 tấn/ha lên 12 tấn năm 2005 và dự kiến phải tăng lên 13,5 tấn/hatrên diện tích lớn vào năm 2015 [45]

Với việc ứng dụng ưu thế lai, cải tiến biện pháp canh tác và công nghệ sinhhọc, năng suất ngô lai trung bình tại Mỹ đã tăng kỷ lục Kết quả năng suất năm

1930 chỉ đạt 1,5 tấn/ha đã tăng lên 9,5 tấn vào năm 2007 Như vậy để tăng năngsuất, tiết kiệm chi phí đầu tư thì cải tiến kỹ thuật canh tác và nhất là tuyển chọn, tạogiống cây trồng mới là những khâu đột phá có tính chất quyết định

Tóm lại, những kết quả nghiên cứu cải tiến HTCTr trong những điều kiện cụ thể ở các nước đã thu được nhiều kết quả khả quan Những nghiên cứu triển khai này cần được tham khảo, chọn lọc vận dụng vào từng địa bàn nghiên cứu cụ thể.

1.2.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Lịch sử phát triển của nước ta gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp.Hàng loạt các giống cây trồng và biện pháp kỹ thuật canh tác về các cây: lúa, lạc,đậu đỗ, ngô, rau màu… ra đời đã góp phần đáng kể vào việc nâng cao năng suất vàsản lượng Do nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng nên việc nghiêncứu giống cây trồng cùng với các biện pháp kỹ thuật được các nhà khoa học nôngnghiệp nước ta quan tâm

Trên đất không có thực vật che phủ, cường độ bốc hơi vật lý nhiều hay ít tùythuộc vào tốc độ gió và độ ẩm trong không khí, bốc hơi nước vật lý gây ra sự dichuyển chất độc ở trong đất (gây chua, mặn ) từ tầng đất dưới lên tầng đất mặt,làm cho đất bị nhiễm độc Đất bị mất nước, độ ẩm trong đất giảm, tốc độ khoánghóa chất hữu cơ xảy ra nhanh, hạn chế quá trình hình thành mùn (bạc màu đất), đấtmất dần khả năng giữ nước, giữ dinh dưỡng Muốn đất giảm thoát hơi nước cần chephủ bằng thực vật tươi hoặc bằng vật che phủ khô để hạn chế bốc hơi nước vật lýcủa đất, hạn chế rửa trôi phân bón, nhằm làm chậm quá trình khoáng hóa chất hữu

cơ, hạn chế quá trình suy thoái đất Biện pháp tốt nhất để cải tạo và giữ gìn chấtlượng đất là các biện pháp luân canh, tái sử dụng tàn dư cây trồng và phân hữu cơnguồn gốc động vật, giảm sử dụng hóa học, tăng cường sử dụng các loài cây chephủ, nhất là cây họ đậu Để chống xói mòn đất, cần tăng cường hoạt động sinh học

Trang 38

để tăng cường các quá trình tái tạo dinh dưỡng, tái tạo các tính chất cơ bản của đấtnhư cấu tượng đất, hàm lượng hữu cơ, độ xốp, hoạt tính sinh học, tăng độ pH đất,giảm độ độc nhôm, sắt Các cation bazơ sẽ trung hòa pH, còn các phần tử mùn sẽliên kết với nhôm và sắt để giảm độ độc trong đất Tất cả những nỗ lực trên đềunhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển cho cây trồng (Thái Phiên

và Nguyễn Tử Siêm, 2002) [22]

Xu hướng trong nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp hiện nay làtập trung nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên các vùng đất bằng cách đưathêm một số loại cây trồng mới vào hệ canh tác nhằm tăng sản lượng nông sản/1đơn vị diện tích canh tác/1 năm với mục đích xây dựng nền nông nghiệp sinh tháiphát triển bền vững (Nguyễn Duy Tính, 1995).[26]

Điều kiện sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn nhiều khó khăn, chịu nhiều rủi

ro (bão, lụt, hạn hán, sâu bệnh…) làm cho năng suất, chất lượng cây trồng thấp vàkhông ổn định, ảnh hưởng lớn đến thị trường hàng nông sản của nước ta Do vậycần có những cơ cấu giống cho phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng cụ thểtheo nguyên tắc “đất nào cây ấy”

Theo Nguyễn Tấn Hinh và cs (2005) đối với hệ thống canh tác chuyên lúatại các tỉnh miền Bắc trên các vùng có điều kiện thâm canh thay thế các giống cũ đãđược sử dụng nhiều năm, khả năng chống chịu kém bằng các giống có TGST trungbình, chịu thâm canh năng suất cao như giống lúa MT163, năng suất đạt 65-75tạ/ha, thậm chí trên 80 tạ/ha Còn trong hệ thống 2 lúa - 1 màu, việc đưa giống ĐB1(giống lúa thuần ngắn ngày có tiềm năng năng suất cao) thay thế giống Khang Dân

18, năng suất trung bình 62,4 tạ/ha, đã tăng 5-12 tạ/ha, đồng thời đảm bảo thời vụgieo trồng vụ đông trong khung thời vụ tốt nhất.[12]

Biện pháp kỹ thuật làm ngô bầu là kỹ thuật được các tổ chức nông nghiệptrên thế giới đánh giá rất cao Biện pháp kỹ thuật này đã rút ngắn thời gian sinhtrưởng của cây ngô trên đất ruộng trong cơ cấu mùa vụ, làm tăng năng suất ngô,thuận tiện bố trí mùa vụ cho các cây trồng vụ xuân và vụ hè thu

Tác giả Trần Danh Thìn (2001) khi nghiên cứu vai trò cây đậu tương, cây lạc

ở một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc đã đưa ra kết luận: sử dụng phân khoáng,

Trang 39

phối hợp giữa đạm, lân và vôi trong thâm canh không những nâng cao năng suất,hiệu quả kinh tế của việc trồng lạc và đậu tương, mà còn có tác dụng tạo ra mộtkhối lượng lớn chất xanh, làm tăng độ che phủ đất và cung cấp nhiều chất hữu cơcho đất qua tàn dư thực vật Điều này có ý nghĩa với việc cải tạo đất đồi thoái hoá,chua, nghèo hữu cơ ở vùng trung du, miền núi.[33]

Tác giả Nguyễn Hữu Thành (2009) nghiên cứu nông nghiệp Bắc Ninh chothấy: sản xuất các loại cây trồng chủ lực của tỉnh là lúa, khoai tây, đậu tương và cácloại rau là phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của tỉnh nhưng chưa có vùng sảnxuất hàng hóa lớn Cơ cấu cây trồng chủ yếu sử dụng các giống có năng suất cao,nhưng chất lượng chưa cao Một số loại cây khoai tây, lạc, đậu tương, ngô chủ yếuvẫn dùng giống cũ, áp dụng biện pháp kỹ thuật truyền thống nên năng suất, hiệu quảkinh tế không cao, bón phân chưa cân đối dẫn đến cây trồng bị sâu bệnh nhiều Tácgiả đã đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông bằng nhập nội giốngAtlantic nguyên chủng, nhân giống trong vụ xuân, sau đó bảo quản trong kho lạnh

để trồng vụ đông đã cho hiệu quả cao nhất Trồng lạc L14 mật độ 40 cây/m2, mỗihốc 2 hạt cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với mật độ 33 cây/m2 Trênđất phù sa glây, kỹ thuật trồng đậu tương đông cải tiến bằng phương pháp gieo vãihoặc gieo trực tiếp vào gốc rạ đúng thời vụ, dùng giống DT84 làm tăng thu nhập sovới canh tác cũ 41,9% Hệ thống luân canh lúa xuân muộn - lúa mùa trung - khoaitây đông cải tiến cho thu nhập cao hơn hệ thống cũ trồng 2 vụ lúa 3,1 lần Trên đấtphù sa không được bồi, hệ thống luân canh 2 vụ màu - một vụ lúa (lạc xuân - lúanếp - khoai tây hoặc rau đông) cho thu nhập gấp 2 lần so với hệ thống canh tác cũ.Trên đất bạc màu, mô hình cải tiến: Lạc xuân (giống L14) - lúa mùa trung (N46) -khoai tây đông (Atlantic) cho thu nhập cao hơn hệ thống cũ trồng 2 vụ lúa 4,85lần [29]

Khi nghiên cứu hệ thống cây trồng tỉnh Bắc Giang, tác giả Nguyễn Bình Nhự(2010) đã chỉ ra rằng: đất ở Bắc Giang nghèo dinh dưỡng, đang biến đổi theo xuhướng nghèo kiệt dần Diện tích đất sản xuất 1-2 vụ chiếm tỷ lệ lớn nên hệ số sửdụng đất thấp (1,25-1,31 lần ở tiểu vùng gò đồi; 2,42-2,48 lần ở tiểu vùng đất bằng).Tác giả đã đề xuất công thức trồng xen cây họ đậu - sắn trên đất gò đồi, độ che phủ

Trang 40

cao nhất đạt 92,8% (đối với trồng xen đậu đen) và 98,0% (với trồng xen lạc), làmtăng độ ẩm đất 4,1-7,2% Lượng sinh khối sau mỗi vụ để lại từ 4,8-5,2 tấn/ha, cholãi thuần cao hơn 1,45-5,85 triệu đồng/ha so với đối chứng trồng sắn thuần Trên đấtvàn cao, việc chuyển đổi công thức luân canh 2 vụ: lạc xuân - lúa chính vụ sangcông thức 3 vụ: lạc xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông cho lãi thuần cao hơn11,1 triệu đồng Trên đất vàn, công thức luân canh mới: Lúa xuân muộn (áp dụngSRI) - đậu tương hè - khoai tây đông (giống và mức phân bón mới) cho lãi thuầncao hơn 7,26 triệu đồng/ha so với công thức cũ (lúa xuân muộn - đậu tương hè -khoai tây đông) [20]

Nghiên cứu hiệu quả kinh tế trồng xen cây bông với cây ngắn ngày, tác giảĐinh Quang Tuyến và cs (2008) cho rằng: tại Cư Jút, Đak Nông, xen bông - đậutương theo kiểu 1:4 cho lãi thuần cao nhất, đạt 17,5 triệu đồng/ha Tại Kông Chro,Gia Lai, bông xen đậu xanh theo kiểu 2:4, lãi thuần đạt 13,3 triệu đồng/ha Trồngbông xen ngô theo kiểu 4:1 mang lại thu nhập và lãi thuần cao ở 2 vùng nghiên cứu

Cư Jút, Đak Nông và Chư Sê, Gia Lai [28]

Việc nghiên cứu chọn tạo ra những giống cây trồng tốt trong từng giai đoạnphát triển của ngành nông nghiệp sẽ có vai trò to lớn, quyết định xúc tiến việc cảitiến HTCTr và nâng cao sản lượng Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển bềnvững, hiệu quả, đáp ứng hội nhập, Việt Nam đã có nhiều chính sách, chương trìnhphát triển chung cho cả nước và mỗi vùng sinh thái, mỗi ngành Đối với ngànhtrồng trọt, phát triển chương trình giống cây trồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Ngày nay, các nhà khoa học nước ta đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống câytrồng mới, có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chống chịu khá với cácđiều kiện ngoại cảnh bất lợi, đã tạo điều kiện cho việc bố trí HTCTr hợp lý Khitổng kết về kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệptrong 20 năm đổi mới của Việt Nam, tác giả Trần Duy Quý (2005) nhận xét: Trongsản xuất nông nghiệp 20 năm qua đã áp dụng những kết quả nghiên cứu cơ bản vàocông tác chọn tạo các giống cây trồng Các nhà khoa học của các viện, các công

ty, tổng công ty đã tiến hành lai tạo, gây đột biến, nhập nội, chọn lọc, tạo ra hàngloạt giống cây trồng phong phú, có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu sâu

Ngày đăng: 16/11/2018, 03:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình, Nguyễn Xuân Trạch (2002). Canh tác kết hợp nhằm phát triển nông thôn bền vững, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Trung tâm nghiên cứu liên ngành phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr.77 Khác
2. Nguyễn Văn Bộ (2001). Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam: Thách thức và cơ hội, Tiếp cận môi trường trong thương mại ở Việt Nam, Liên Hợp Quốc ấn hành, tr.183-188 Khác
3. Nguyễn Tất Cảnh (2001). Nghiên cứu mô hình mô phỏng động thái độ ẩm đất và chẩn đoán nhu cầu tưới nước cho ngô và đậu tương trên đất bạc màu Đông Anh và phù sa sông Hồng Gia Lâm, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, 190 tr Khác
4. Nguyễn Cúc, Đặng Ngọc Lợi (2007). Giáo trình quản lý kinh tế, Nxb Lý luận Chính trị Quốc gia, tr.62-65 Khác
5. Đường Hồng Dật (2008). Đa dạng sinh học nông nghiệp Việt Nam, cơ chế phát triển nông nghiệp bền vững, http:// w ww.va c n e.org.vn Khác
6. Lê Quốc Doanh, Lưu Ngọc Quyến (2007). Nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sử dụng đất ruộng một vụ vùng miền núi phía Bắc, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 7: 79 Khác
7. Phạm Thị Mỹ Dung, Vũ Văn Cảnh (1995). Chính sách nông nghiệp trong các nước phát triển (dịch từ tài liệu Agricultural Policies in Developing Countries, Cambridge University Press), Nxb Nông nghiệp, tr.22 Khác
8. Đặng Bá Đàn (2012). Nghiên cứu cải thiện hệ thống cây trồng hàng năm trên vùng đất xám huyện Krông Bông, tỉnh Đak Lak, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ NN&PTNT - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Thế Đặng (2007). Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của sản xuất chè hữu cơ đến năng suất, chất lượng và một số tính chất đất tại Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học Đất - Hội Khoa học Đất Việt Nam, 28: 32-39 Khác
10. Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm và Nguyễn Văn Viết (1997). Lý thuyết về khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Phạm Văn Hiền, Trần Danh Thìn (2009). Hệ thống nông nghiệp Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Khác
12. Nguyễn Tấn Hinh (2005). Kết quả ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về giống cây trồng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Đồng bằng sông Hồng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Khoa học công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 20 năm đổi mới, Tập 1 Trồng trọt - Bảo vệ thực vật, Nxb Chính trị Quốc gia Khác
13. Học viện hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2000). Giáo trình Kinh tế phát triển(dùng cho hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
14. Nguyễn Thị Hồng (2007). Nông nghiệp thời hội nhập, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, tháng 8/2007 Khác
15. Đặng Hữu (2000). Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nông thôn, Tạp chí Cộng sản, 17: 32 Khác
16. Nguyễn Võ Linh, Trần Thị Loan, Bùi Thị Minh Tuyết, Nguyễn Hùng Cường (2007). Quy hoạch phát triển Nông nghiệp bền vững - Chương trình Nghị sự 21, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Hà Nội Khác
17. Nguyễn Đình Long (2007). Hiệp hội ngành hàng nông sản xuất khẩu ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Thị Lợi (2011). Nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên một số loại đất chính tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luân án Tiến sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Khác
19. Nguyễn Ngọc Nông (2002). Phương pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, Chuyên đề 3 - Một số phương pháp tiếp cận và phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 42 Khác
20. Nguyễn Bình Nhự (2010). Nghiên cứu chuyển đổi hệ thống cây trồng vùng trung du tỉnh Bắc Giang, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Viện Khoa học NN Việt Nam, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w