Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có tới 20% đến 25% là chất thải y tế nguy hại, trong đó có khoảng 15% là chất thải lâm sàng có khả năng gây
Trang 1NGUYỄN SỸ VŨ
Tên đề tài:
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH ĐA KHOA HUYỆN QUẾ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Trang 2dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài:“Đánh giá hiện trạng và đề
xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp
của em đã hoàn thành
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và
hướng dẫn em
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Huệ là
những người trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý
báu cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô chú, anh chị, cán bộ làm việc tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại bệnh viện
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện nhưng khóa luận vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy
cô và các bạn
Thái Nguyên,ngày 05 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Sỹ Vũ
Trang 3CTRYTNH : Chất thải rắn y tế nguy hại
RYT : Rác y tế
ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long
KHCN&MT : Khoa học công nghệ & Môi trường
NIOEH : Viện y học lao động và vệ sinh môi trường
TW : Trung ương
CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
WHO : Tổ chức y tế thế giới
BV : Bệnh viện
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
KHCN : Khoa học công nghệ
CTNH : Chất thải nguy hại
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 4viện tại Việt Nam 6
Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam 7
Bảng 2.3 Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế 12
Bảng 2.4: Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại ở các bệnh viện 17
của một số tỉnh thành phố 17
Bảng 4.1: Tỷ lệ thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 43
Bảng 4.2: Thành phần chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 44
Bảng 4.3: Hiểu biết về mã màu sắc dụng cụ đựng chất thải y tế (n=40) 45
Bảng 4.4: Tình hình phát sinh, phân loại thu gom, xử lý chất thải rắn y tế 46
tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 46
Bảng 4.5: Công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong( n= 40) 47
Bảng 4.6: Công cụ thu gom chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 48
Trang 5Hình 2.2: Chất thải y tế 24
Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An 28
Hình 4.2: Sơ đồ bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An 41
Hình 4.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy của bệnh viện Đa khoa huyện Quế 42
Trang 61.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Một số khái niệm về chất thải rắn y tế 3
2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 3
2.1.3 Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế 5
2.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế 7
2.1.5 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 8
2.1.6 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 10
2.2 Cơ sở pháp lý 13
2.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới và Việt Nam 13
2.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 13
2.3.2 Hiện trang quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 15
2.3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở tỉnh Nghệ An 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An 26
3.3.2 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An 26
Trang 7viện Đa khoa huyện Quế Phong 26
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.4.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa 26
3.4.3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 27
3.4.4 Phương pháp so sánh, xử lý và phân tích số liệu 27
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An 28 4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
4.2 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An 37
4.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
4.2.2 Cơ cấu tổ chức và quy mô của bệnh viện Đa khoa Huyện Quế Phong 40
4.2.3 Chức năng nhiệm vụ của bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 42
4.3 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An 43
4.3.1 Nguồn gốc phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 43
4.3.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 45
4.3.3 Những vấn đề đặt ra trong vấn đề quản lý chất thải rắn y tế đối với bệnh viện 49
4.4 Đề xuất các giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trong bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 49
4.4.1 Nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 50
4.4.2 Giải pháp cho công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong 52
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội càng nhiều, dẫn đến tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt Qua đó, con người đã nhận ra mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động kinh tế – xã hội – môi trường tự nhiên Con người do hoạt động của mình đã làm biến đổi môi trường và sự biến đổi đó đã tác động trở lại sự sống của con người Vì vậy, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội
Việt Nam tuy là một nước đang phát triển, nền kinh tế sản xuất còn lạc hậu tuy nhiên không vì thế mà Đảng và Nhà nước coi nhẹ vấn đề môi trường Nhà nước
có chủ trương loại bỏ các dự án đầu tư gây nguy cơ ô nhiễm cao, bên cạnh đó đưa ra các chính sách nhằm bảo vệ môi trường, một trong những mục tiêu quan trọng đó là việc quản lý về cơ bản các chất thải độc hại trong đó có chất thải y tế, đặc biệt đó là chất thải rắn y tế nguy hại
Theo thống kê của Cục môi trường Việt Nam năm 2004 về chất thải nguy hại mỗi năm của nước ta thải ra ngoài môi trường 10946 tấn/năm, riêng tại TP HCM mỗi năm thải ra môi trường chiếm tới 42% tổng lượng thải của cả nước Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có tới 20% đến 25% là chất thải y tế nguy hại, trong đó có khoảng 15% là chất thải lâm sàng có khả năng gây lây nhiễm và truyền bệnh cao như: kim tiêm, dao mổ, các mô bệnh, bông băng dính máu của bệnh nhân, nhau thai sau khi sinh đẻ…
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả công tác thu gom, quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện cần cụ thể hơn, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác thu gom và quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị
Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An
Từ những thực tế đó, được sự đồng ý và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiêm khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths Nguyễn
Thị Huệ, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp
quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”,
Trang 10nhằm góp phần làm rõ hơn về hiện trạng quản lý chất thải rắn của bệnh viện, tìm ra giải
pháp và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn cho bệnh viện và có các giải pháp xử
lý và khắc phục hợp lý, phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường cho phép, tránh tác
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm chắc các Nghị định, Thông tư, Quyết định, Văn bản hướng dẫn hiện hành về công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác
- Phản ánh đầy đủ, đúng đắn công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong
- Số liệu điều tra, thu thập phải bảo đảm chính xác, khách quan
- Các giải pháp đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của
rõ hơn về hiện trạng chất lượng môi trường cũng như là thành phần, tính độc hại,
nguy hiểm của các chất thải rắn trong y tế hiện này
- Ý nghĩa trong thực tế: Đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong công tác thu gom, quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế Từ đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi, rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý,
thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong ý tế hiện nay
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm về chất thải rắn y tế
- Chất thải y tế (CTYT): Theo qui định về quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành, chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo, chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, khí.(Bộ Y tế, 2007)[6]
- Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không
được tiêu hủy an toàn
- Rác y tế (RYT): Là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải dạng lỏng và khí, được thu gom và xử lý riêng
- Rác sinh hoạt y tế: Là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ…
2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế
2.1.2.1 Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim…
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh (Bộ Y tế, 2008)[7]
2.1.2.2 Chất thải lây nhiễm
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
Trang 12- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài
tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…
- Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất
phóng xạ…
2.1.2.4 Chất thải hóa học nguy hại
Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như
đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như
Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng…
Chất thải hóa học nguy hại gồm:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó
được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử
khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu
Trang 13- Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn
như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…
- Chất gây độc tế bào, gồm: Vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
- Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn
đoán hình ảnh, xạ trị)
2.1.2.5 Các bình chứa có khí áp xuất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy,
CO2, bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng cách (Bộ Y tế, 2007)[6]
2.1.3 Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế
2.1.3.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Xác định nguồn phát sinh chất thải có quan hệ chặt chẽ tới việc quản lý chung vì trong nhiều trường hợp nếu xử lý ngay ở đầu nguồn hiệu quá sẽ cao hơn
Căn cứ vào sự phân loại ở trên có thể thấy chất thải bệnh viện gồm 2 phần chính: Phần không độc hại (chiếm khoảng 85% tổng số chất thải bệnh viện) loại chất thải này chỉ cần xử lý như những chất thải công cộng và sinh hoạt khác Phần còn lại (chiếm 15%) là những chất thải độc hại nguy hiểm, cần có biện pháp xử lý thích hợp
Hình 2.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế bệnh viện
Trang 142.1.3.2 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh
Khối lượng rác thải phát sinh trong bệnh viện tuỳ thuộc vào đặc điểm của bệnh viện (chuyên khoa, số giường bệnh, trình độ công nghệ y tế áp dụng và chất
lượng đánh giá về trình độ sức khoẻ )
Năm 2005, ở Việt Nam tổng lượng chất thải rắn phát sinh là 300 tấn/ngày, trong đó 40 tấn là CTYTNH và chất thải được xử lý kém ( Bộ Y tế, 2009)[8]
Theo PGS.TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý Môi trường y tế cho biết, mỗi ngày các cơ sở y tế trong cả nước thải ra 380 tấn chất thải rắn và lượng chất thải lỏng lên đến 150.000 m3/ngày đêm (Đông Bích, 2010)[3]
Khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có tổng số 1.742 cơ sở khám chữa bệnh với 139 bệnh viện, 140 phòng khám khu vực, 2 bệnh viện và 2 khu phục hồi chức năng, 1.454 trạm y tế phường xã với tổng số giường bệnh trong toàn khu vực là 27.668 giường, khối lượng CTRYT từ bệnh viện có quy mô cấp huyện và bệnh viện đa khoa thải ra môi trường là 41,7 tấn/ngày, trong đó có 8,3 tấn/ngày là CTRYTNH,
Theo Bảng 2.1 đã cung cấp thông tin về việc phát sinh CTYT tại các bệnh viện
và các khoa thuộc bệnh viện trung ương, tỉnh và quận Do tổng số giường bệnh tại các bệnh viện đa khoa, chuyên ngành chiếm tới 150.000 giường bệnh nên lượng chất thải y
tế từ các cơ sở này cũng chiếm tới 70% tổng lượng phát sinh Khối lượng CTYT mỗi ngày trong năm 2010 khoảng 380 tấn/ngày, trong đó 45 tấn/ngày là CTYTNH
Bảng 2.1: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa trong
bệnh viện tại Việt Nam
BV cấp
Khám bệnh 0.97 0.88 0.73 0.86 0.16 0.14 0.11 0.14 Chăm sóc
( Nguồn: Bộ Y tế, 2009)
Trang 152.1.4 Thành phần của chất thải rắn y tế
2.1.4.1 Thành phần vật lý
Thành phần vật lý của chất thải rắn y tế gồm các dạng:
- Đồ bông vải sợi: Gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…
- Đồ giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
- Đồ thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm,…
- Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng,…
- Đồ kim loại: Kim tiêm, dao mổ, hộp đựng,…
- Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc,…
- Rác rưởi, lá cây, đất đá,…
2.1.4.2 Thành phần hóa học
Thành phần hóa học của chất thải rắn y tế gồm các dạng:
- Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất, thuốc thử,…
- Những chất hữu cơ: Đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa,
Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phần C, H, O, N, S, Cl và một phần tro,
Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam
Thành phần rác thải bệnh viện Tỷ lệ %
Thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3.2
Bông băng, bột bó gãy chân 8.8
Chai, túi nhựa các loại 10.1
Trang 162.1.5 Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
Có nhiều phương pháp có thể áp dụng để xử lý và tiêu hủy chất thải y tế Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm nhất định Việc áp dụng các phương pháp này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi quốc gia, địa phương, các cơ
sở y tế
Mục đích của việc xử lý chất thải rắn y tế là loại bỏ những đặc tính nguy hiểm như lây nhiễm, truyền bệnh để biến chúng thành rác thải thông thường và có thể xử lý giống như các loại chất thải thông thường khác
* Phương pháp khử trùng
Phương pháp này được áp dụng để khử trùng đối với chất thải rắn y tế có nguy cơ lây nhiễm cao nhằm hạn chế xảy ra tai nạn cho nhân viên thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trong bệnh viện
- Khử trùng bằng hóa chất: Clo, Hypoclorite… Đây là phương pháp rẻ tiền,
đơn giản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít không tiêu hủy hết vi khuẩn
trong chất thải Vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất, nên xử lý không hiệu quả Hóa chất bản thân đã nguy hiểm, cần nghiền nhỏ hóa chất thải để giảm thể tích
- Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao: Đây là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao, xử lý kim tiêm khi nghiền nhỏ, làm biến dạng Nhược điểm của phương pháp là tạo mùi hôi nên với bệnh viện có lò đốt thì kim tiêm đốt trực tiếp
- Khử trùng bằng siêu cao tần: Phương pháp có hiệu quả khử trùng tốt, năng suất cao Tuy nhiên, đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và yêu cầu có chuyên môn, là phương pháp chưa phổ biến
* Phương pháp chôn lấp
Trong hầu hết các bệnh viện huyện chất thải rắn y tế được chôn lấp tại bãi công cộng hay chôn lấp trong khu đất của một số bệnh viện Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện, chất thải được chôn vào trong các hố đào và lấp đất lên, nhiều lớp
đất phủ trên quá mỏng không đảm bảo vệ sinh
Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, bào thai, nhau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang tại địa phương Nhiều bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn
Trang 17Vật sắc nhọn cũng được chôn lấp cùng với các chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác công cộng, dễ gây rủi ro cho nhân viên thu gom, vận chuyển chất thải và cộng đồng
Hiện tại, còn một số bệnh viện, chất thải nhiễm khuẩn nhóm A vẫn được trộn lẫn với chất thải sinh hoạt mà không được xử lý đặc biệt gì trước khi tiêu hủy và
được thải ra bãi rác của huyện, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường của cộng đồng sống gần bãi rác
* Thiêu đốt chất thải rắn y tế
Phương pháp thiêu đốt là một kỹ thuật được áp dụng khi một lượng lớn các chất thải nguy hại cần được thiêu hủy Phương pháp này đảm bảo khả năng phân hủy chất thải có hiệu quả cao đối với hầu hết các chất thải hữu cơ và lượng khí thải sinh ra với lượng nhỏ có thể kiểm soát được
Đốt chất thải là quá trình oxy hóa chất thải bằng oxy của không khí ở nhiệt
độ cao bằng oxy không khí Bằng cách đốt chất thải nguy hại ta có thể giảm thể tích
của nó đến 80-90% Nếu nhiệt độ lò đốt < 800oC dioxin và furan sẽ hình thành Nhiệt độ lò đốt từ 900-1200oC hợp chất PCB là hợp chất hữu cơ chứa Cl sẽ cháy hết Sản phẩm cuối cùng của quá trình đốt phải là các chất không nguy hại như
H2O, CO2 …
Xử lý bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu xử lý công nghệ tiên tiến còn có ý nghĩa cao bảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử lý rác tốn kém nhất so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần Tuy nhiên, đốt rác y tế bao gồm nhiều chất khác nhau sinh khói độc và dễ sinh dioxin nếu giải quyết việc xử lý khói không tốt (phần xử lý khói là phần đắt nhất trong công nghệ đốt rác)
Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các công nghiệp cần nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải rất tốn kém nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra
Công nghệ đốt có ưu điểm:
- Loại trừ các chất độc hại có thể gây bệnh ung thư (carcinogens), một số chất thải có các mầm bệnh mà chúng có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm, các chất thải có hoạt tính sinh học có khả năng gây ra những tác động bất lợi đến các quá trình xử lý khác
Trang 18- Công nghệ này cho phép xử lý được toàn bộ chất thải mà không cần nhiều diện tích đất sử dụng làm bãi chôn lấp rác
- Một lượng lớn nhiệt lượng sinh ra có thể sử dụng cho các mục đích khác
Nhược điểm chủ yếu của phương pháp này là:
- Vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao
- Giá thành đầu tư lớn, chi phí tiêu hao năng lượng và chi phí xử lý cao Những tiềm năng tác động đến con người và môi trường có thể xảy ra
- Một số chất ô nhiễm không khí có thể hình thành trong quá trình đốt như: HCl,
SO2, CO, NOx, kim loại nặng và bụi có thể gây ra các tác động bất lợi
Hình thức xử lý này chỉ phù hợp với một số loại rác thải đặc biệt Nguyên lý
là sử dụng chất phóng xạ nhằm tiêu diệt vi khuẩn, mầm bệnh Phương pháp này đòi hỏi việc xử lý phải được cách ly để tránh bị nhiễm phóng xạ Việc sử dụng phương pháp này cần phải được nghiên cứu kỹ càng để đảm bảo an toàn cho người sử dụng (Bộ KHCN&MT, Cục môi trường, 1997)[4]
2.1.6 Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
2.1.6.1 Đối với môi trường
* Đối với môi trường đất
Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả về sau lại gặp khó khăn
* Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí Khi phân loại tại Nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại, NOx,
đioxin, furan HX… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp Các khí này nếu
Trang 19không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân
cư xung quanh
* Đối với môi trường nước
Đặc trưng của chất thải bệnh viện là bị nhiễm BOD, COD, kim loại nặng và
các vi khuẩn gây bệnh Do đó nếu không được quản lý nghiêm ngặt, khi mưa nước chảy tràn sẽ cuốn nước thải bệnh viện đi vào nguồn nước mặt như: Ao, hồ, sông, ngòi Các chất này sẽ gây ô nhiễm Nguồn nước mặt, một phần ngấm xuống đất mang theo các chất ô nhiễm, vi khuẩn gây bệnh vào nguồn nước ngầm gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước Gây ra các bệnh truyền nhiễm đường ruột như: Thương hàn, tả, Tulare, Brucella (Bùi Thanh Tâm, 2002)[11]
Nước thải bệnh viện chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnh các khả lây nhiễm cao như Samonella, coliform, tụ cầu, liên cầu… Nếu không
được xử lý trước khi thải bỏ vào hệ thống thoát nước chung của thành phố thì có thể
gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
2.1.6.2 Đối với sức khỏe cộng đồng
* Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp chất thải rắn y tế
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phôi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:
- Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện
- Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú
- Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân
- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở khám
chữa bệnh và điều trị như: Giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân…
- Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
* Tác động từ chất thải rắn y tế
+ Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào Một mối nguy cơ rất lớn hiện
Trang 20nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua
đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải
y tế Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức:
- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da)
- Qua các niêm mạc (màng nhầy)
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)
- Qua đường tiêu hoá
Theo Bộ Y tế năm 2006 thống kê, một số bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế được thể hiện ở bảng 2.3 như sau:
Bảng 2.3 Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế
Các dạng
nhiễm khuẩn Ví dụ về tác nhân gây bệnh Chất truyền
Nhiễm khuẩn đường
tiêu hoá
Vi khuẩn đường tiêu hoá:
Salmonella, shigella, trứng giun Phân và chất nôn Nhiễm khuẩn hô hấp Herpes Chất tiết ở mắt
Nhiễm khuẩn da Phế cầu khuẩn Mủ
Bệnh than Trực khuẩn than Chất tiết qua da
AIDS HIV Máu, dịch tiết sinh dục Nhiễm khuẩn huyết Tụ cầu Máu
Viêm gan A Virus viêm gan A Phân
Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch thể
(Nguồn: Bộ Y tế, 2006) + Ảnh hưởng của hoá chất thải và dược phẩm
Nhiều loại hoá chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là những mối nguy cơ đe dọa sức khoẻ con người (các độc dược, các chất gây độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ…) Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Những chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ
độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược
phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa Việc tiếp xúc
Trang 21với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hóa chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc
đường hô hấp Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng
+ Chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất thường khác Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại
độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các
nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện chẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt lớp…), có thể gây ra một loạt các tổn thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại
bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể).(BộY tế, 2006)[5]
2.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6706 - 2000 về chất thải nguy hại
- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và
2.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý chất thải rắn bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm
và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách quy
định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước
quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả
Trang 22chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc pollutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Xử lý chất thải bệnh viện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại chất thải nguy hại này.(Trần Mỹ Vy, 2011)[14]
* Các nước phát triển:
Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện,
cơ sở chăm sóc sức khỏe, hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập
hệ thống xử lý loại phế thải y tế Đó là các loại lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 1000oC đến trên 4000oC Tuy nhiên phương pháp này hiện nay vẫn còn
đang tranh cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải hồi vào không khí
Các phế thải y tế trong khi đốt, thải hồi vào không khí có nhiều hạt bụi li ti
và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt như axit clohidric,
đioxin/furan, và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì hoặc asen, cadmi Do
đó, tại Hoa kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí thải của lò đốt và
yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa học và cơ học tùy theo loại phế thải
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt đã gây ra nhiều bất lợi do lượng khí độc hại phát sinh thải vào không khí, do đó các nhà khoa học hiện đang áp dụng một phương pháp mới Đó là phương pháp nghiền nát phế thải và xử lý dưới nhiệt độ và
áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải
Trang 23Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một máy nghiền nát Phế thải đã được nghiền xong sẽ được chuyển qua một phòng hơi có nhiệt độ 138oC và áp suất 3,8 bar Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện tối ưu cho hơi nước bão hòa Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút Sau cùng phế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt
được tiêu chuẩn tiệt trùng Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối
lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không tạo ra khí thải vào không khí
* Các nước đang phát triển:
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn còn
rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại
đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi
trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện Đặc biệt ở
Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và
Quản lý” Trong bộ luật này có ghi rõ rang phương pháp tiếp nhận phế thải, phân loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó, vấn đề phế thải y tế
độc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều
2.3.2 Hiện trang quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
* Tình hình chung
Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, tính đến năm 2012, cả nước hiện
có hơn 1.087 bệnh viện với tổng số hơn 140.000 giường bệnh Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các sơ sở y tế vào năm 2012 khoảng hơn 500 tấn/ngày, trong đó có 60-70 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý Và cả nước chỉ có hơn 200 chiếc lò đốt chuyên dụng (nhiệt độ cao và có 2 buồng) nhưng chỉ có 80 lò đột 2 buồng đạt tiêu chuẩn môi trường, với công suất từ 300 – 450 kg/ngày, trong đó có
02 xí nghiệp đốt rác tập trung tại Hà Nội và TP HCM, còn lại là đốt rác cỡ trung bình và nhỏ
Trong khi đó, vấn đề môi trường y tế chưa được các địa phương quan tâm
đúng mức Theo kết quả khảo sát của Cục Quản lý Môi trường y tế - Bộ Y tế vào năm
2012 hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế nhưng nhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Đáng nói, ngay ở các bệnh viện tuyến TW vẫn còn tới 25% cơ sở chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế, bệnh viện tuyến tỉnh là gần 50%, còn bệnh viện tuyến huyện lên tới 60%, có tới 60% bệnh viện
Trang 24còn xử lý chất thải rắn bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp và trên 62% bệnh viện chưa có hệ thống chưa có hệ thống xử lý chất thải lỏng tại các bệnh viện
Đa số các bệnh viện tuyến huyện các tỉnh miền núi, vùng đồng bằng đều
chưa có cơ sở hạ tầng để xử lý chất thải y tế nguy hại, vì vậy người ta chủ yếu tự thiêu đốt bằng các lò thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện
Qua thực tế kiểm tra, Bộ Y tế đã chỉ ra 6 bất cập đang tồn tại tại các bệnh viện trong vấn đề quả lý chất thải đó là:
- Việc phân loại chất thải rắn y tế còn chưa đúng quy định
- Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng
bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn
- Xử lý và tiêu hủy gặp nhiều khó khăn
- Thiếu các cơ sở tái chế chất thải
- Thiếu nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải rắn và nước thải bệnh viện
- Vấn đề quản lý chất thải y tế thông thường có thể tái chế còn bất cập: Một
số bệnh viện lơi lỏng công tác quản lý giám sát để nhân viên hợp đồng cung cấp rác thải y tế cho các cơ sở tái chế tư nhân chưa qua xử lý
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đoạn đất nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện
đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật Cơ sở
vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để
Mặt khác, số lượng bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh rất lớn, lại thiếu vốn, nên số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít Bảo vệ môi trường tại các bệnh viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâm của Chính phủ và toàn xã hội
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y tế, bệnh nhân
và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử lý sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế vẫn còn yếu
Chất thải y tế được các Công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lý hoặc được
xử lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường rồi tập trung chôn lấp tại các nghĩa trang, trong các khuôn viên bệnh viện Rất nhiều loại chất
Trang 25thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãi rác mà không qua bất kỳ một khâu
xử lý cần thiết nào
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác thu gom và quản lý chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành lập ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo, xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh viện trong phạm vi toàn quốc
Trên cơ sở đó, ngày 27/08/1999 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế quản lý chất thải y tế” (sau được điều chỉnh lại ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế), đến năm 2002 Bộ Trưởng Bộ Y tế ban hành tiếp “Quy chế bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế”
Theo niên giám thống kê năm 2007, ngành y tế cả nước có 13.438 cơ sở khám chữa bệnh với 136.542 giường bệnh, trong đó 956 bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, khối y tế tư nhân có 1.631 cơsở y tế từ phòng khám tới bệnh viện tư hoạt
động Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là lớn so với các nước trong khu vực,
song vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý chất thải tại các cơ sở từ trung
ương tới địa phương còn quá yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử lý chất thải, một
vài nơi tuy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu kỹ thuật
Bảng 2.4: Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại ở các bệnh viện
của một số tỉnh thành phố
Tỉnh, Thành phố Chất thải YTNH
( T/năm) Tỉnh, Thành phố
Chất thải YTNH ( T/năm)
Hải Phòng 547 TP Hồ Chí Minh 4730
Cần Thơ 110 Bình Dương 368
Hà Nội 410 Bà Rịa – Vũng Tàu 288
Quảng Ninh 190 Thái Nguyên 215
Hưng Yên 73 Hải Dương 132
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trườngcủa các tỉnh thành trên cả nước, 2003) + Quản lý chất thải rắn
92,5% số bệnh viện có thu gom rác thường kỳ, 14% số bệnh viện có phân loại rác y tế để xử lý Tuy nhiên phân loại rác từ khoa phòng khám và điều trị bệnh nhân chưa trở thành phổ biến
Trang 26Hầu hết chất thải rắn ở các bệnh viện không được xử lý trước khi chôn lấp hoặc đốt Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường
+ Quá trình phân loại và thu gom:
Theo kết quả của Viện y học lao động và vệ sinh môi trường (NIOEH) năm
2006, về quản lý và xử lý chất thải bệnh viện với sự tham dự của tất cả các bệnh viện TW phía Bắc Kết quả điều tra của NIOEH tại 700 bệnh viện trên cả nước trong năm 2006 cho thấy hầu hết các bệnh viện đã thực hiện phân loại CTYT
Trong việc quản lý chất thải rắn, tuy đã có quy định về phân loại tại các cơ
sở y tế, tuy nhiên cơ sở bệnh viện vẫn còn để xảy ra hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý
Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, đa số các bệnh viện (81,25%) đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo
đầy đủ về kỹ năng chuyên môn Theo kết quả điều tra khác của Viện KHCN Xây
dựng, có khoảng 80% số bệnh viện tiến hành phân loại chất thải từ khoa – phòng- buồng bệnh, trong số đó có 63% bệnh viện có khu để chất thải y tế riêng biệt với chất thải sinh hoạt
Tại 1 số bệnh viện còn xảy ra hiện trạng để chất thải nguy hại cùng chung với chất thải sinh hoạt, chất thải thông thường Việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như tách các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế, còn lẫn nhiều chất thải sinh hoạt và chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi, thùng
đựng chất thải chưa đúng quy chế quản lý chất thải bệnh viện, còn tùy tiện
Còn nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số các bệnh viện đã thực hành tách riêng vật sắc nhọn, có tới 11,4% bệnh viện tuy có tách vật sắc nhọn nhưng chưa thu gom vào các hộp đựng vật sắc nhọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, đa số các bệnh viện (88,6%) thường đựng các vật sắc nhọn vào chai truyền dịch, lọ thủy tinh, chai nhựa đựng nước, hộp cactong hay vật dụng tự tạo Dụng cụ thu gom chất thải tại các khoa phòng rất đa dạng, chủ yếu là các loại thùng nhựa, xô nhựa có nắp Có 93% các bệnh viện dùng túi nilon lót thùng, khi thu gom sẽ nhấc túi nilon ra
Trang 27Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được hộ lý và y công thu gom hằng ngày tại khoa phòng Theo kết quả của Viện KHCN Xây dựng có 100% các bệnh viện đều đã thu gom chất thải tại các phòng ban và buồng bệnh 1 lần/ngày, có thể nhiều hơn 2 – 3 lần khi cần, và tiến hành thu gom ngay sau các ca phẫu thuật Quy trình thu gom ở các bệnh viện không giống nhau và cũng chưa triệt
để, nguyên nhân là do các đối tượng được giao nhiệm vụ phân loại, thu gom còn
chưa được giáo dục, huấn luyện chuyên môn tốt để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo
hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình phân loại và thu gom
+ Phân loại chất thải rắn y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc
phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo Việc phân loại chất thải rắn ở tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT
+ Thu gom chất thải rắn y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý và y công thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải
+ Quá trình lưu trữ, vận chuyển để xử lý
Hầu hết các điểm tập trung chất thải rắn đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên Một số nhà lưu giữ chất thải không có mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập
Sau khi đã được phân loại và thu gom, chất thải y tế được vận chuyển về khu vực trung chuyển tại bệnh viện – thường là các nhà chứa rác thuộc quản lý của bệnh viện
Hiện nay theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định số 43/2007 của
Bộ Y tế ban hành ngày 30/11/2007, nơi lưu trữ chất thải y tế phải đảm bảo các điều kiện như có mái che, sàn không thấm nước, có cửa khóa chống côn trùng, gặm nhấm xâm nhập… và quá trình vận chuyển chất thải y tế cũng phải theo quy định Những nơi lưu trữ của một số bệnh viện vẫn chưa đạt chuẩn
Trang 28Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2007 về tình hình thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế, khi vận chuyển chất thải chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy; 53,4% bệnh viện nơi lưu trữ chất thải có mái che… đây
là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường Tuy nhiên, vẫn còn khoảng một nửa số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy
Đa số các bệnh viện tự tiến hành thu gom chất thải y tế và sau đó thì tự xử
lý bằng cách thiêu đốt, và chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Chỉ có chất thải sinh hoạt và tại một số ít bệnh viện có hợp đồng thu gom xử lý với Công ty Môi trường đô thị
Tại một số bệnh viện, việc vận chuyển chất thải nguy hại còn chưa được giám sát chặt chẽ, hiện trạng vận chuyển chất thải sinh hoạt và chất thải nguy hại không có vạch tuyến rõ ràng vẫn còn
Việc vận chuyển chất thải y tế đến nơi xử lý thường được các cơ quan chuyên trách, các cơ sở có giấy phép xử lý chất thải nguy hại tiến hành vận chuyển bằng các loại xe chuyên dụng cho việc vận chuyển
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, có 12,5% tổn thương do kim tiêm đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT của công nhân xử lý chất thải
+ Quá trình xử lý chất thải rắn y tế
Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh, chất thải y tế được chôn lấp tại các bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Theo thống kê của Tổng cục Môi trường năm 2010, toàn tuyến y tế cấp tỉnh có tới 61% cơ sở y tế vẫn thuê xử lý chất thải, 6,4% sử dụng lò đốt 1 buồng
và 9% cơ sở tự đốt hoặc chôn lấp Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải
được chứa trong hố đào và lấp đất lên nhiều khi lớp đất phủ trên mặt quá mỏng
không đảm bảo vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặc biệt như bào thai, rau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom để đem chôn trong khu đất của bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang của địa phương Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn lấp chất thải nguy hại
Trang 29Theo một thống kê khác của Viện KHCN Xây dựng, có khoảng 60-70% chất thải được thải ra bãi chung hoặc chôn ngay trong bệnh viện, 20-30% được thiêu đốt hoặc đóng rắn, khoảng 10% áp dụng các biện pháp khác Trong đó, khoảng 26% chất thải nhóm E (mô cơ quan người, các bộ phận cơ thể) được gia đình bệnh nhân thu gom và chôn cất tại nghĩa trang địa phương, khoảng 30-40% chất thải nhóm C (chất thải phát sinh từ các phòng xét nghiệm) sau khi được khử khuẩn và chất thải nhóm D được thải vào cống, 70,5% chất thải nhóm A (chất thải nhiễm khuẩn) được
xử lý sơ bộ và thải vào bãi thải chung
Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tai bãi rác cộng đồng Hiện nay, ở một số bệnh viện vẫn còn hiện tượng chất thải nhiễm khuẩn được thải lẫn với chất thải sinh hoạt và được vận chuyển ra bãi rác của thành phố, do vậy chất thải nhiễm khuẩn không có xử lý đặc biệt gì khi tiêu hủy chung
Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm công nghệ đốt và không
đốt Việc lựa chọn công nghệ xử lý dựa vào các tiêu chí sau: Thành phần, tính chất
chất thải rắn y tế nguy hại; khả năng phân loại, cô lập chất thải rắn y tế tại nguồn thải, khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại cần xử lý, vị trí đặt cơ sở xử lý chất thải rắn y tế nguy hại, khả năng tài chính và khả năng quản lý vận hành của từng địa phương.(Trần Mỹ Vy, 2011)[14]
* Công nghệ xử lý chất thải rắn tại một số bệnh viện ở Việt Nam
- Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam: Sử dụng lò đốt Beli để xử lý chất thải rắn
y tế Đây là lò đốt được sản xuất tại Việt Nam, lò đốt điều khiển tự động chu kỳ đốt, nhiệt độ, chế độ cấp khí và các thiết bị kèm theo, vận hành đơn giản
- Lò đốt chất thải y tế URENCO Hà Nội xử lý rác thải rắn trong y tế bằng lò
đốt kép
- Tại bệnh viện đa khoa Bắc Kạn: Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng lò đốt VHI
2.3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở tỉnh Nghệ An
Ở tỉnh Nghệ An hiện có 40 bệnh viện, với 6.651 giường bệnh Trong đó có 8
bệnh viện ngoài công lập với 756 giường bệnh Bên cạnh đó có các bệnh viện Trung
ương, ngành đóng trên địa bàn như bệnh viện Phong Quỳnh Lập, bệnh viện giao
thông, Bệnh viện quân y 4 với 600 giường bệnh, ngoài ra còn có 359 cơ sở hành nghề tư nhân…lượng chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh bình quân 1,3 kg/giường/ngày, trong đó 25% là chất thải rắn y tế nguy hại Như vậy, trung bình
Trang 30mỗi ngày trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An có từ 2500 kg – 3000 kg chất thải rắn y tế nguy hại được thải ra từ các cơ sở y tế.(Sở Y tế Nghệ An, 2011)[10]
Riêng trên địa bàn thành phố Vinh là nơi thải ra lượng rác thải nhiều nhất,
ước tính năm 2012 các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Vinh và vùng phụ cận tổng
lượng chất thải rắn y tế phát sinh là 2.293.062 kg, trong đó chất thải rắn nguy hại 573.266 kg Trước đây rác thải y tế được tập trung tại lò đốt rác thải Hoval ở bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa tỉnh với công suất 400 – 500 kg rác/24h Tuy nhiên hiện nay lò đốt tại bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa tỉnh đang quá tải và xuống cấp nghiêm trọng, không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Do đó mà các cơ sở y tế phải phân tán đưa về lò đốt ở các bệnh viện huyện như bệnh viện Hưng Nguyên, Nghi Lộc, bệnh viện lao… tuy nhiên các lò đốt này có công suất nhỏ, tuổi thọ thấp, lại nằm trong khu dân cư gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ người dân Vì vậy hầu hết các cơ sở y tế thu gom và hợp đồng với Công ty môi trường đô thị xử lý (2-3 lần/tuần) Đây chỉ là giải pháp mang tính tình thế, nhưng nó lại gây ra nhiều phiền phức cho các cơ sở y tế, các bệnh viện như bệnh viện Nội tiết, Trung tâm y tế
dự phòng tỉnh thường xuyên bị công an “thổi còi” xử phạt vì những lỗi như tập trung rác thải không đúng nơi quy định, vận chuyển rác thải bằng xe tải trong khi đó quy định vận chuyển rác thải y tế phải bằng xe chuyên dụng
Việc xử lý rác thải y tế còn quá nhiều bất cập bởi nguy cơ lây lan mầm bệnh nếu không có phương tiện vận chuyển chuyên dụng và nếu chôn lấp có thể gây ô nhiễm nguồn nước Mặt khác, việc xử lý rác thải nguy hại bằng lò thiêu ngoài trời, thủ công đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm cũng như thải ra rất nhiều chất độc hại ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân như: Furan, và kim loại nặng như chì, cadimi,… gây mưa axit, gây hiệu ứng nhà kính, làm ô nhiễm môi trường đất cũng như nước ngầm do tro lò đốt có chứa kim loại nặng độc hại
+ Phân loại và xử lý chất thải rắn y tế
Chất thải rắn y tế trong bệnh viện được phân làm hai loại gồm: Chất thải rắn thông thường và chất thải rắn y tế nguy hại
Chất thải rắn sinh hoạt chiếm khoảng 75 - 80% chất thải rắn y tế trong bệnh viện (gồm chất hữu cơ, giấy gỗ, kim loại, sành sứ gạch vỡ, thủy tinh, Plastic, nylon
và các thành phần khác, ) Loại này ít độc hại nhưng công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý phải được thực hiện tốt
Chất thải rắn y tế nguy hại chiếm khoảng 20 - 25% chất thải rắn y tế trong bệnh viện đó là chất thải bệnh lý và chất thải lây nhiễm bao gồm: Mô bệnh phẩm và
Trang 31cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các bệnh phẩm nuôi cấy, mô hoặc xác
động vật từ phòng thử nghiệm thải ra, các chất thải nhiễm trùng từ phòng cách ly và
các khoa truyền nhiễm, các bông băng thấm dịch hoặc máu, kim tiêm, ống tiêm, lọ thuốc, dược phẩm hư hỏng và quá đắt Có thể thấy rõ, Chất thải rắn y tế nguy hại
từ các bệnh viện là nguồn tiềm ẩn lây lan bệnh tật, gây ô nhiễm môi trường nước và
đất, tác động tới môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng Vậy nên, nguồn chất
thải rắn y tế nguy hại từ các bệnh viện cần phải được kiểm soát nghiêm ngặt và xử
lý đạt yêu cầu của tiêu chuẩn môi trường quy định
Để giải quyết tình trạng trên, UBND tỉnh Nghệ An giao cho Sở Y tế Nghệ
An làm chủ đầu tư, chủ trì phối hợp với các Sở: Kế hoạch và đầu tý, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Tài chính để lựa chọn phương án,
địa điểm vị trí công nghệ xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tập trung, xây dựng và
hoàn thiện đề án "Đầu tư xây dựng Trung tâm xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tập trung" cho các cơ sở y tế khu vực thành phố Vinh và các huyện phụ cận, giai đoạn
2012 - 2020 bằng công nghệ vi sóng hiện đại và tiên tiến nhất, với công suất 2500 –
3000 kg/ngày
* Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế
Tại Nghệ An, ở các bệnh viện tuyến huyện, chất thải rắn y tế được xử lý tại chỗ bằng lò đốt, không có hệ thống lọc khí thải, thậm chí có bệnh viện (như bệnh viện Đa khoa khu vực Tây Bắc và Tây Nam xử lý chất thải rắn nguy hại bằng lò đốt
thủ công và chôn lấp ngay trong khu vực bệnh viện vì chưa có lò đốt)
Việc xử lý chất thải rắn y tế nguy hại của các cơ sở y tế trên địa bàn Nghệ An phần lớn được thực hiện bằng phương pháp thủ công, chôn lấp không đạt tiêu chuẩn
vệ sinh môi trường; một số bệnh viện xử lý bằng công nghệ lò đốt (lò đốt không có
hệ thống xử lý khí thải) nên đã tạo ra khói bụi, các chất độc hại
Công nghệ vi sóng sử dụng năng lượng vi sóng ở tần số khoảng 2450 MHz để khử khuẩn Kết hợp hơi nước (bão hoà) ở áp suất thường hoặc áp suất cao làm ẩm tất cả bề mặt chất thải, làm tăng hiệu suất diệt khuẩn, vận hành đơn giản, chi phí đầu tư và vận hành thấp; tăng khả năng tái chế chất thải an toàn… Công nghệ không đốt này đang là một xu thế của thế giới vì nó không thải ra khí
độc hại Ưu điểm của công nghệ này là phát huy được hiệu quả cao đối với các
chất thải lây nhiễm, chi phí vận hành thấp, không gây ô nhiễm môi trường thứ phát, thân thiện với môi trường
Trang 32Tuy nhiên, đầu tư ban đầu cho một lò đốt rác không khói bằng công nghệ "vi sóng", khá cao trên 51 tỷ đồng Đây là đề án hết sức cần thiết không chỉ với ngành y
tế hiện nay, mà cho toàn xã hội nhằm giải tìm ra giải pháp hữu hiệu cho bài toán về rác thải y tế Ngành y tế đang quyết tâm phấn đấu đến năm 2015 có 75 – 80% cơ sở
y tế được xử lý rác thải rắn nguy hại đạt tiêu chuẩn môi trường; đến năm 2020 100% cơ sở y tế đực xử lý rác thải rắn nguy hại đạt tiêu chuẩn môi trường, trong đó 70% được tái chế tái sử dụng
* Nghệ An gặp khó trong xử lý chất thải y tế nguy hại:
Nghệ An đang thực hiện các giải pháp nhằm giảm thiểu tác hại của chất thải rắn
y tế nguy hại đến cộng đồng dân cư, đến hoạt động của nhân viên y tế và bệnh nhân
Tỉnh Nghệ An chủ trương quy hoạch hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế nguy hại, cải thiện môi trường, đảm bảo sức khỏe cộng đồng
Hình 2.2: Chất thải y tế
Các cơ sở xử lý chất thải rắn y tế nguy hại được đầu tư xây dựng mới trên địa bàn phải gắn liền với các khu xử lý chất thải rắn liên huyện, liên vùng, nhằm tiện lợi, hiệu quả, giảm chi phí trong việc thu gom, xử lý Tỉnh Nghệ An đề ra mục tiêu