Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển chăn nuôi trâu bò phù hợp với điều kiện của huyện sìn hồ và than uyên, tỉnh lai châu
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI
TRÂU BÒ PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA HUYỆN SÌN HỒ VÀ
THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU Nguyễn Văn Quang, Hoàng Đình Hiếu, Nguyễn Duy Linh, Chung Tuấn Anh,
Bùi Việt Phong, Hồ Văn Núng, 1 Nguyễn Duy Phương, 1 Ngô Đức Minh
Viện Chăn nuôi; 1 Viện Nông hóa Thổ nhưỡng
Tóm tắt
Than Uyên và Sìn Hồ là hai huyện miền núi khó khăn của tỉnh Lai Châu Điều tra khảo sát tập trung vào các yếu tố hạn chế liên quan đến nguồn thức ăn và tình hình chăn nuôi gia súc tại các huyện này Phương pháp PRA (có sự tham gia thẩm định nông thôn), RRA (Rapid nông thôn thẩm định), phương pháp SWOT sẽ được áp dụng RRA và PRA nhấn mạnh phương pháp thảo luận nhóm và biểu đồ và chú ý đặc biệt để người ngoài 'hành vi, thái độ
và tương tác với người dân địa phương Các bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn sàng sẽ tập trung vào thảo luận nhóm, đặc biệt là cách làm thế nào để yêu cầu thông tin từ nông dân và giao tiếp tốt giữa người phỏng vấn và người phỏng vấn Kết quả cho thấy, chăn nuôi gia súc tại ThanUyên và Sìn Hồ vẫn là quy mô chăn nuôi nhỏ chủ yếu, trình độ dân trí của nông dân tại Sìn Hồ thấp hơn nhiều so với Than Uyên do vậy mà mức độ nhận thức và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi còn rất hạn chế Hạn chế lớn nhất trong cả 2 huyện hiện nay để phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ là thiếu thức ăn thô xanh, đặc biệt trong vụ đông
1 Đặt vấn đề
Theo chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Lai Châu, chăn nuôi gia súc ăn cỏ được xác định là một trong những thế mạnh của tỉnh, đặc biệt đối với 2 huyện Than Uyên, và Sìn Hồ vì đây là một trong những hoạt động phát triển sinh kế chính của người dân vùng nông thôn Do vậy để thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ thì việc đảm bảo đủ thức ăn thô xanh cho gia súc trong năm đặc biệt là các tháng mùa đông là hết sức quan trọng Đề tài sẽ tiến hành tập trung nghiên cứu tuyển chọn một số giống cỏ tốt, thích hợp với điều kiện của địa phương phục vụ cho chăn nuôi trâu bò thịt, sẽ tạo ra tiềm năng mới về thức ăn chăn nuôi theo 2 nghĩa đủ cả về số lượng và chất lượng Đây là điều kiện kiên quyết đảm bảo cho chăn nuôi mang tính bền vững và hiệu quả cao
Sìn Hồ và Than Uyên là 2 huyện miền núi khó khăn của tỉnh Lai Châu Người dân ở đây chủ yếu là dân tộc thiểu số, đời sống còn gặp nhiều khó khăn Sản xuất nông nghiệp vẫn theo phương pháp truyền thống, thiếu kiến thức và kinh nghiệm nên năng suất cây trồng vật nuôi vẫn còn thấp Để phát triển cuộc sống của người dân một cách bền vững, cần phải phát triển hệ thống nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa, kinh tế-xã hội của huyện Sìn Hồ và Than Uyên Ngành chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực và góp phần vào xóa đói, giảm nghèo Chính vì vậy việc đánh giá hệ thống chăn nuôi trên địa bàn huyện Sìn Hồ và Than Uyên và đề xuất các giải pháp trên cơ sở tiềm năng của địa phương là việc làm hết sức cần thiết
Mục tiêu:
Trang 2Nhằm đánh giá hiện trạng, điểm mạnh, điểm yếu, các yếu tố hạn chế chính, liên quan đến chăn nuôi đại gia súc của, từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm phát triển chăn nuôi trâu,
bò tại huyện Than Uyên và Sìn Hồ - Tỉnh Lai Châu
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa được tiến hành tại 02 xã của huyện Sìn Hồ và Than Uyên có số lượng trâu bò nhiều nhất
Các câu hỏi phỏng vấn chính thức và phiếu điều tra được thiết kế phù hợp cho việc đánh giá hệ thống chăn nuôi ở 3 cấp: cấp xã, cấp thôn/bản và cấp hộ Mỗi xã, 3 thôn đại diện được chọn lựa Tại mỗi thôn, 33 hộ đại diện được lựa chọn để phỏng vấn cấp hộ Thời gian khảo sát nghiên cứu từ 15 đến 30 tháng 12 năm 2009 Các thông tin được thu thập trực tiếp bằng cách phỏng vấn các hộ nông dân qua phiếu điều tra
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn trên nguyên tắc có sự tham gia (PRA, RRA và SWOT) sẽ được triển khai tại 2 xã và các thôn bản trong xã Ngoài ra, phỏng vấn kỹ nông dân, kết hợp với tham vấn cộng đồng, các cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyên môn của Sở nông nghiệp
và PTNT, Trung tâm khuyến nông tỉnh Kết quả tham vấn sẽ là cơ sở cho xác định các yếu tố hạn chế liên quan đến sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thông tin phỏng vấn được quản lý bằng EXCEL 2003 và được xử lý thống kê bằng phần mềm Statistic for Windows (SWX) 12 Hai phép phân tích cơ bản là thống kê mô tả và kiểm tra khi bình phương
3 Kết quả và đánh giá điều tra
3.1 Tình hình chung về nông hộ và sản xuất nông nghiệp ở huyện Sìn Hồ và Than Uyên
Trang 3Từ kết quả điều tra (bảng 1), có thể thấy trình độ học vấn ở huyện vùng cao Sìn Hồ rất thấp: có tới 78% số người dân trong tuổi lao động (>18 tuổi) thuộc các hộ được điều tra không được đi học Trong 22% còn lại thì tới 14% học hết tiểu học, 7% tốt nghiệp THCS và chỉ có 3% tốt nghiệp THPT Đây thực sự là một trở ngại trong phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng
Đối với huyện Than Uyên, nơi có nhiều người kinh sinh sống, trình độ văn hóa cũng được nâng lên đáng kể: tuy vẫn còn 43% số người trong tuổi lao động không đi học; nhưng đã có tới 24% học hết tiểu học, 16% tốt nghiệp THCS, 12% tốt nghiệp THPT và đã có 6% vào cao đẳng đại học
3.1.2 Tình hình chung về sản xuất nông nghiệp cấp nông hộ ở Sìn Hồ
Với đặc điểm địa hình cao, dốc, phân cắt mạnh, nên các nông hộ ở Sìn Hồ chủ yếu phát triển loại đất lúa 1 vụ (95/100 hộ) với trung bình hơn 3000 m2/hộ; đất lúa 2 vụ rất hạn chế và diện tích cũng rất nhỏ chỉ đạt trung bình gần 790 m2/hộ Bên cạnh lúa 1 vụ, đất trồng màu ở Sìn
Hồ cũng khá nhiều với 55% số hộ điều tra có đất trồng màu với diện tích trung bình gần 2000
m2/hộ Diện tích vườn tạp khá tập trung nhưng diện tích nhỏ với trung bình hơn 400 m2/hộ Đất lâm nghiệp thì tương đối lớn với khoảng 4200 m2/hộ Nhìn chung, với diện tích đất nông lâm nghiệp trung bình 5872 m2/hộ thì các hộ nông dân hoàn toàn có thể tận dụng để phát triển chăn nuôi gia súc một cách có hiệu quả
Bảng 2 Diện tích đất đai sản xuất nông – lâm nghiệp quy mô nông hộ ở Sìn Hồ
đất
Diện tích/hộ (m 2
) Khoảng dao động Trung bình
4 Tổng diện tích đất SX nông - lâm nghiệp 100 1000-23.300 5.872
Xuất phát từ đặc điểm không thuận lợi về địa hình, thổ nhưỡng, việc phát triển trồng trọt
ở Sìn Hồ cũng gặp nhiều khó khăn với cơ cấu cây trồng nghèo nàn và năng suất thấp Lúa 1 vụ được coi là cây lương thực chính nhưng năng suất ở mức rất thấp với 1,3 tấn/ha/vụ Cây thức ăn chăn nuôi như ngô và sắn cũng chỉ đạt năng suất lần lượt là 1,3 và 9,0 tấn/ha, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước cũng như của vùng Tây Bắc Bộ
Trang 4Bảng 3 Sản lượng một số cây trồng chính quy mô nông hộ tại huyện Sìn Hồ
Cây trồng Năng suất (tấn/ha/vụ) Mức độ sử dụng (%)
Khoảng Trung bình Gia đình ăn Chăn nuôi Bán
3.1.3 Tình hình chung về sản xuất nông nghiệp cấp nông hộ ở Than Uyên
Không giống như ở Sìn Hồ, diện tích đất lúa 1 vụ, đất lúa 2 vụ, đất trồng màu của các hộ
ở Than Uyên khá đều nhau, với diện tích trung bình từng loại đất hơn 2300 m2/hộ Diện tích vườn tạp và đất lâm nghiệp cũng cao gấp hai lần so với Sìn Hồ với trung bình hơn 900 m2 đất vườn/hộ và 8.700 m2 đất rừng/hộ Với những thuận lợi về diện tích đất, cùng với sự bằng phẳng
về địa hình, Than Uyên đang có những lợi thế để phát triển chăn nuôi gia súc nói chung và trâu
bò nói riêng một cách toàn diện Tuy nhiên, cũng giống như tại Sìn Hồ, không có hộ điều tra nào tại Than Uyên có diện tích trồng cỏ chăn nuôi chuyên canh Qua tìm hiểu thực tế, đã có một số
hộ trồng một số loại cỏ như VA 06, Cỏ Voi theo các chương trình của khuyến nông huyện nhưng đều trồng xen trong vườn tạp với mục đích tận dụng đất trống là chủ yếu
Bảng 4 Diện tích đất đai sản xuất nông - lâm nghiệp quy mô nông hộ ở Than Uyên
đất
Diện tích (m 2
) Khoảng dao động Trung bình
4 Tổng diện tích đất SX nông - lâm nghiệp 100 1.120-28.550 7.472
Từ lợi thế về đất đai, trồng trọt tại Than Uyên cũng có những kết quả khả quan hơn so với Sìn Hồ Cơ cấu cây trồng đa dạng: ngoài việc phát triển lúa 2 vụ bên cạnh lúa 1 vụ truyên thống, nông dân còn tiến hành thâm canh ngô, sắn; xen canh lạc, đậu tương với ngô Năng suất lúa nương 1 vụ đạt 1,5 tấn/ha/năm và lúa 2 vụ đạt 4,3 tấn/ha/vụ Năng suất ngô hạt đạt gần 4
Trang 5tấn/ha/vụ tuy không cao so với trung bình các vùng chuyên canh ngô nhưng đạt mức khá so với điều kiện đất đai của tỉnh Lai Châu Năng suất sắn đạt mức khá cao trung bình là 10,3 tấn/ha/năm
Bảng 5 Sản lượng một số cây trồng chính quy mô nông hộ tại Than Uyên
3.2 Tình hình chung về chăn nuôi ở huyện Sìn Hồ và Than Uyên
Bảng 6 Số lượng gia súc, gia cầm huyện Sìn Hồ và Than Uyên giai đoạn 2004-2008 (con)
so với 2004 Huyện Sìn Hồ
Trang 6Trong sự phát triển của đàn gia súc, tỷ lệ đàn trâu tăng đều đến năm 2007 thì giảm mạnh
ở cả hai huyện do hậu quả của đợt rét đậm, rét hại đầu năm 2008 trong đó huyện Sìn Hồ có hơn
1759 con trâu và Than Uyên có hơn 2438 con trâu bị chết rét Tổng số trâu chết rét của 2 huyện Sìn Hồ và Than Uyên chiếm tới 52,3% số trâu chết do rét năm 2008 của cả tỉnh Lai Châu (8023 con) (số liệu Sở NN&PTNT Lai Châu, [2,3])
Trong khi đàn ngựa có xu hướng giảm dần ở cả hai huyện, đặc biệt có nơi giảm tới hơn 50% (huyện Than Uyên) thì số lượng đầu dê tăng nhanh Số đầu dê tại huyện Sìn Hồ tăng 25%
và tại Than Uyên tăng đến 82% Nguyên nhân là do Lai Châu đã có các chương trình/dự án hỗ trợ chăn nuôi dê tại địa phương trong những năm qua; nên nông dân ở huyện Sìn Hồ và Than Uyên đã nhận thức được vai trò của con dê trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Số lượng đàn lợn phát triển ổn định trong những năm qua Đàn lợn năm 2008 của cả hai huyện chỉ tăng 17-18% so với năm 2004, thấp nhất so với những loại vật nuôi khác Thực tế, người dân nơi đây nuôi lợn chủ yếu bằng phương thức quảng canh và khoảng 50% giống địa phương; lợn thịt xuất chuồng đạt 50 kg trong 6 tháng nuôi
Đàn gia cầm vẫn tăng mạnh trong 5 năm vừa qua mặc dù dịch cúm gia cầm xảy ra nhiều nơi ở trong nước và ngay tỉnh Lai Châu: số lượng gia cầm năm 2008 ở huyện Sìn Hồ tăng 23%
so với năm 2004 và đặc biệt đàn gia cầm ở huyện Than Uyên tăng đến 136% Do Sìn Hồ và Than Uyên là một huyện vùng cao nên không bị ảnh hưởng lớn của dịch cúm gia cầm, đó là cơ hội để phát triển chăn nuôi gia cầm trong khi số lượng gia cầm ở các địa phương khác trong nước đang giảm [5]
Bảng 7 Số lượng đại gia súc (trâu, bò, ngựa, dê) của tỉnh Lai Châu - phân theo huyện/thị xã
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Lai Châu năm 2008
Đánh giá một cách tổng quát, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện sản xuất, thời tiết và dịch bệnh, số lượng đàn gia súc, gia cầm nuôi ở Lai Châu nói chung và 2 huyện Sìn Hồ
và Than Uyên nói riêng vẫn tăng đếu trong những năm qua Theo số liệu thống kê của Cục thống
kê tỉnh (năm 2008-bảng 3), tổng đàn đại gia súc nói chung và trâu, bò nói riêng ở 2 huyện Sìn Hồ
và Than Uyên luôn dẫn đầu tỉnh về số lượng trong 5 năm (2004-2008) Mặc dù ảnh hưởng nặng
nề bợt đợt rét đầu năm 2008, nhưng số lượng gia súc nhai lại ở hai huyện tính đến tháng 12 năm
Trang 72008 tăng gần 10% so với năm 2004 Như vậy, Sìn Hồ và Than Uyên có tiềm năng và điều kiện cần để phát triển chăn nuôi đại gia súc, vừa giúp xóa đói giảm nghèo, vừa tạo ra công ăn việc làm cho nông dân, đồng thời là tiền đề để phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc với quy mô lớn trong tương lai
3.3 Tình hình chăn nuôi trâu bò ở các nông hộ
3.3.1 Qui mô chăn nuôi trâu bò cấp nông hộ
Kết quả khảo sát về tình hình chăn nuôi ở cấp nông hộ của huyện Sìn Hồ và Than Uyên được trình bày ở bảng 8
Bảng 8 Quy mô chăn nuôi trâu bò ở các hộ điều tra của huyện Sìn Hồ và Than Uyên
Kết quả điều tra 100 hộ chăn nuôi trâu, bò ở Sìn Hồ cho thấy chăn nuôi trâu, bò phổ biến
là qui mô nhỏ (bảng 1) Số hộ nuôi qui mô 2 và 3-4 con chiếm tỉ lệ cao nhất (đều trên 30%), rất ít
hộ nuôi với qui mô 1 con hoặc lớn hơn 5 con Những hộ nuôi 1 con thường là những hộ nghèo bắt đầu nuôi bò từ các nguồn vốn ưu đãi Chăn nuôi qui mô lớn (> 5 con) chỉ thấy ở một số hộ có điều kiện kinh tế
Kết quả điều tra 100 hộ chăn nuôi trâu, bò ở Than Uyên cũng cho thấy quy mô tương tự: phổ biến là qui mô nhỏ và vừa (bảng 8) Số hộ nuôi qui mô 3-4 con chiếm tỉ lệ cao nhất (hơn 35%), số hộ nuôi với qui mô 1 hoặc 2 con là tương đương nhau với 24% Chăn nuôi qui mô lớn (> 5) có tỷ lệ lớn hơn 15%
Các nông hộ ở Lai Châu nói chung va 2 huyện Sìn Hồ, Than Uyên nói riêng thì đa số đều khó có đủ điều kiện về vốn để mở rộng qui mô chăn nuôi gia súc nhai lại Vì thế, sự tồn tại của hình thức chăn nuôi qui mô nhỏ là tất yếu: vừa sử dụng nguồn thức ăn sẵn có, tận dụng công lao động, tạo nguồn phân bón hữu cơ và tăng thu nhập cho gia đình
Số liệu điều tra (bảng 9) đánh giá về chăn nuôi trâu của các hộ điều tra cho thấy: Tỷ lệ hộ gia đình nuôi trâu ở hai huyện là tương đương nhau nhưng khác biệt đáng kể về quy mô: ở Sìn
Hồ có 89% hộ nuôi trâu và qui mô 2,87 con/hộ trong khi Than Uyên có 88% hộ nuôi trâu nhưng qui mô 3,27 con/hộ Trâu nuôi tại các nông hộ của huyện Sìn Hồ và Than Uyên 100% là giống địa phương
Trang 8Bảng 9 Giống trâu, bò ở các hộ điều tra của huyện Sìn Hồ và Than Uyên
Về hiện trạng giống bò: chỉ có tổng số 11% nông hộ được điều tra ở huyện Sìn Hồ nuôi
bò trong đó chủ yếu là bò địa phương (9% trong tổng số 11%) với quy mô 2,43 con/hộ và tỷ lệ
bò lai Sind thấp hơn nhiều (chỉ 2%) với quy mô 3 con/hộ Đối với huyện Than Uyên, tỷ lệ người dân nuôi bò cũng cho kết quả tương tự (khoảng 12%) và giống bò địa phương được nuôi có tỷ lệ cao hơn bò lai Sind tuy không quá lớn (chiếm 7% so với 5%) Tuy nhiên, số đầu bò lai Sind ở những hộ nuôi tại Than Uyên đạt trung bình 11 con/hộ so với trung bình 3,29 con/hộ đối với giống bò địa phương
Như vậy, có thể thấy xu hướng nuôi trâu và bò lai sind với quy mô vừa đang bắt đầu hình thành tại Than Uyên, vì đây là vùng khá bằng và phát triển, lại có nhiều người Kinh sinh sống, lên khả năng tiếp cân và nhận thức về tầm quan trọng của chăn nuôi trâu bò lai sind đang dần được cải thiện
3.3.2 Mục đích và phương thức chăn nuôi trâu bò
Chăn nuôi trâu bò tại Sìn Hồ và Than Uyên với đa mục đích vẫn chiếm ưu thế Phần đông nông hộ chăn nuôi tận dụng sẽ là một trở ngại lớn cho các hoạt động nhằm mục tiêu tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Vì thế, cần có phương pháp tiếp cận phù hợp để lựa chọn những kỹ thuật thích ứng với khả năng đầu tư, áp dụng và đáp ứng nhu cầu của nông hộ
Kết quả điều tra bảng 10 cho thấy: 74% số hộ ở Sìn Hồ và 88% số hộ ở Than Uyên nuôi trâu, bò với từ 2 mục đích trở lên Trong đó, với 99% số hộ tại Sìn Hồ và 81% số hộ tại Than Uyên nuôi trâu bò để nhằm mục đích lấy sức kéo Bên cạnh đó, mục đích nuôi trâu bò để sinh sản cũng chiếm tỷ lệ khá cao: đạt 69% tại Sìn Hồ và 77% tại Than Uyên
Bảng 10: Mục đích chăn nuôi trâu, bò của các nông hộ điều tra
Trang 9Trong chăn nuôi gia súc, phương thức chăn thả tự do truyền thông vẫn chiếm ưu thế Cụ thể về tỉ lệ hộ lựa chọn các phương thức chăn nuôi khác nhau được trình bày ở bảng 11
Bảng 11 Phương thức chăn nuôi đàn trâu, bò của các hộ điều tra
Số hộ (hộ) Tỉ lệ (%) Số hộ (hộ) Tỉ lệ (%) Thả rông
Chăn thả ở đồi rừng
Chăn thả ở trong vườn
Kết quả bảng 11 cho thấy có hơn 80% số hộ ở Sìn Hồ và hơn 90% số hộ ở Than Uyên nuôi trân bò theo phương thức nuôi thả rông ở các bãi chăn thả công cộng; nuôi chăn thả trong vườn/đồi của gia đình chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp (tại Sìn Hồ là 19% và Than Uyên là 6%) Với tình trạng hiện nay, khi các bãi chăn thả ngày càng bị thu hẹp, sự khan hiếm dần nguồn thức ăn tự nhiên thì việc chăn nuôi trâu, bò với dù ở qui mô nhỏ cấp nông hộ cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn thức ăn.Trên một góc độ khác, phương thức nuôi chăn thả rông không đồng nghĩa với giảm công lao động phục vụ cho nuôi trâu bò Điều đáng quan tâm là lực lượng lao động thực hiện chăn dắt trâu bò chủ yếu là lao động phụ, trong đó có nhiều em là học sinh phổ thông Vì thế, chiến lược thúc đẩy sự phát triển của phương thức nuôi nhốt trong tương lai còn có ý nghĩa xã hội quan trọng, nhằm góp phần giảm lao động trẻ em và nâng cao chất lượng học tập Thực hiện chăn nuôi trâu, bò theo phương thức nụôi nhốt sẽ tiện lợi cho việc lai tạo giống, kiểm soát dịch bệnh và chăm sóc; nhưng chắc rằng cần nhiều hơn về lượng thức ăn để cung cấp cho gia súc và khi không đảm bảo khẩu phần ăn thì tất yếu sẽ dẫn đến những kết quả ngoài mong muốn Vì vậy, cần tìm ra giải pháp để vừa giải quyết đủ số lượng và chất lượng thức
ăn thoả mãn nhu cầu của gia súc, đồng thời chi phí cho một đơn vị sản phẩm có thể chấp nhận được
3.3.3 Nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi trâu bò quy mô nông hộ
3.3.3.1 Thức ăn thô xanh (cỏ cắt, cây thức ăn xanh )
Nguồn thức ăn thô xanh dùng cho chăn nuôi rất quan trọng đối với chăn nuôi trâu bò vì loại thức ăn này bổ sung đáng kể lượng chất dinh dưỡng để tăng trưởng
Trang 10Bảng 12 Tỷ lệ sử dụng nguồn thức ăn thô xanh (bổ sung) trong chăn nuôi của các hộ điều tra
Tự nhiên Cả hai
Theo kết quả điều tra tại Sìn Hồ, nguồn thức ăn thô xanh chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cỏ
tự nhiên khi có tới 77% số hộ nông dân cắt thêm cỏ (70% có nguồn gốc tự nhiên) để làm thức ăn
bổ sung cho trâu bò Chỉ có 23% hộ nông dân sử dụng các cây thức ăn xanh nguồn làm thức ăn
bổ sung cho trâu bò với 65% lượng thức ăn này cắt từ vườn nhà và 25% tìm kiếm ngoài tự nhiên Lượng thức xanh được các hộ bổ sung vào khẩu phân ăn cho gia súc nhai lại đạt mức thấp, trung bình từ 4,3-4,6 kg/con/ngày
Bảng 13 Tỷ lệ sử dụng nguồn thức ăn thô xanh trong chăn nuôi của các hộ điều tra
Trang 11Bảng 14 Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu của thức ăn tươi xanh các tháng trong năm cấp
Theo số liệu bảng 14, thức ăn tươi xanh cho trâu bò đặc thiếu vào các tháng 10, 11, 12, 1
và 2: Số hộ thiếu thức ăn tươi xanh cho trâu bò vào giai đoạn này ở Sìn Hồ là từ 77 - 95% và ở Than Uyên là 68 - 95% Đây là cũng là những tháng lanh nhất trong năm nên hậu quả của vấn đề thiếu thức ăn gây ra cho trâu bò sẽ rất lớn nếu như công tác dự trữ thức ăn và chống rét không được quan tâm đúng mức Kết quả điều tra cũng cho thấy các tháng mùa mưa (tháng 4-9) thì mức nguồn thức cho trâu bò được cải thiện đáng kể: chỉ có 19-22% hộ ở Sìn Hồ và ở 3-12% hộ ở Than Uyên thiếu thức ăn chăn nuôi tươi xanh; còn lại là đủ và thừa ăn tươi xanh cho trâu bò
3.3.3.2 Thức ăn từ phế phụ phẩm nông nghiệp
Với đặc thù của vùng Sìn Hồ là địa hình cao dốc, khó canh tác nên bình quân diện tích canh tác/hộ thấp, cơ cấu cây trồng cây trồng ở nông hộ không đa dạng trong đó các cây chủ lực
là lúa, ngô Phụ phẩm của các cây trồng (lúa, ngô) này đã tạo nên nguồn thức ăn đáng kể cho trâu, bò Tuy nhiên, kết quả điều tra về tỷ lệ sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi được trình bày ở bảng 15 cho thấy số lượng sẵn có ít và tỷ lệ sử dụng nó vào chăn nuôi rất thấp: chỉ có 17% số hộ dùng rơm và 16% số hộ dùng thân lá ngô làm thức ăn cho trâu bò; ngoài ra có tới 83% không dùng bất cứ loại phụ phẩm kể trên làm thức ăn chăn nuôi
Trang 12Bảng 15 Tỷ lệ sử dụng nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp (bổ sung) trong chăn nuôi trâu
bò của các hộ điều tra (Sìn Hồ)
(Ghi chú: Lượng thức ăn này là lượng thức ăn được gia đình bổ sung thêm cho trâu bò trong những ngày mưa,
không đi cắt cỏ hoặc chăn thả được hoặc tận dụng sau mỗi mùa vụ)
Theo tìm hiểu thực tế, do nông dân chủ yếu canh tác 1 vụ nên nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp không nhiều nhưng các nông hộ cũng không triệt để tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp có sẵn làm thức ăn cho trâu, bò Các loại phụ phẩm cây trồng tuy có tính mùa vụ và kích thước cồng kềnh, nhưng nếu nông hộ triệt để thực hiện các biện pháp chế biến, dự trữ thì chắc
rằng sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu thức ăn thô cho gia súc trong mùa khô
Than Uyên có địa hình không quá dốc, có nơi tương đối bằng phẳng nên tuy bình quân diện tích canh tác/hộ khá cao và cơ cấu cây trồng ở nông hộ cũng khá đa dạng; trong đó, các cây chủ lực là lúa, ngô Ngoài ra người còn trồng thêm khoai lang, sắn, mía Phụ phẩm của các cây trồng này đã tạo nên nguồn thức ăn đáng kể cho gia súc nhai lại Số lượng sẵn có và sử dụng nó vào chăn nuôi có sự khác nhau, kết quả điều tra về tỷ lệ sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi được trình bày ở bảng