1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại thành phố hồ chí minh

125 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá Hiện Trạng và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Cộng Đồng Tham Gia Bảo Vệ Môi Trường Tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Thị Kim Liên
Người hướng dẫn GS.TSKH. Lê Huy Bá
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Bảo vệ Môi trường
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 697,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài "Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tham gia bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Chuyên ngành : BẢO VỆ, SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ TÁI TẠO

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Mã số : 1.07.14

Hướng dẫn khoa học

GS.TSKH LÊ HUY BÁ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2005

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài "Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tham gia bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng tại thành phố Hồ Chí Minh" tôi

đã nhận được sự động viên, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của Ban giám hiệu, Khoa Địa lý, Phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô của Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, các đồng nghiệp và các bạn

Lời đầu tiên của Luận văn tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự động viên, giúp đỡ và hướng dẫn quý báu đó Đặc biệt tôi xin chân thành cảm

ơn Giáo sư - Tiến sĩ Khoa học Lê Huy Bá, người thầy hướng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm đã khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Tuy đã rất nỗ lực để thực hiện đề tài nhưng do sự giới hạn về thời gian, năng lực và kinh nghiệm cá nhân, bản luận văn này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi vô cùng cảm ơn và xin chân thành tiếp thu những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô, các đồng nghiệp và các bạn

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 10

I.Mục tiêu nghiên cứu ……… 12

II.Nội dung nghiên cứu ……… 12

III.Đối tượng nghiên cứu ……… 12

IV.Phương pháp nghiên cứu ………13

V Giới hạn đề tài ……….14

PHẦN A CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 15 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỘNG ĐỒNG THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 16

I.1.Khái niệm cộng đồng ……… 16

I.2.Khái niệm phát triển cộng đồng 19

I.3 Khái niệm sự tham gia cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường ………20

I.4 Cơ sở khoa học về sự tham gia cộng đồng bảo vệ môi trường ………23

I.5 Cơ sở lý thuyết và pháp lý về sự tham gia cộng đồng bảo vệmôi trường ………24

CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM CỘNG ĐỒNG THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRỪƠNG VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN THẾ GIỚI 28 II.1 Bối cảnh chung ……… 28

II.2 Kinh nghiệm bảo vệ môi trường có sự tham gia cộng đồng ở một số nước trên thế giới ……… ……….29

Trang 4

CHƯƠNG III: MỘT SỐ MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

III.1 Mô hình cộng đồng bảo vệ môi trường xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất,

III.4 Mô hình cộng đồng bảo vệ môi trường phường Hồng Hải, thành phố Hạ

Long, tỉnh Quảng Ninh………57

PHẦN B

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO

HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI

CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG

THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

66 IV.1.Hoạt động của Hội đồng Bảo vệ môi sinh ……….66

IV.2 Hoạt động của Ủy ban Môi trường thành phố ………69

IV.3 Hoạt động của các cơ quan, đoàn thể……… 76

IV.4 Hoạt động của các dự án thí điểm cộng đồng bảo vệ môi trường

……….89

IV.5 Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp 94

IV.6 Hoạt động của giới truyền thông

IV.7 Đánh giá hiện trạng các hoạt động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh ……… 102

Trang 5

CHƯƠNG V: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình IV.1 Hội viên và tuyên truyền viên hội Phụ nữ tham gia hội thi tìm

Hình IV.2 Thanh niên tình nguyện trong chiến dịch vận động "Không xả

Tranh vẽ về môi trường của thiếu nhi thành phố qua cuộc thi "Nét vẽ môi

Hình IV.8 Cùng cộng đồng xác định các vấn đề ưu tiên cần được giải quyết

Hình IV.9 Sự tham gia bảo vệ môi trường của doanh nghiệp qua việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động thông tin môi trường 96

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng I.1 Phân loại sự tham gia của cộng đồng 22 Bảng IV.1 Các nguồn vốn hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh 77

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ I.1 Phát triển cộng đồng 20

Sơ đồ III.1 Mô hình cộng đồng bảo vệ môi trường xã Phùng Há, huyện

Sơ đồ III.4 Các tổ chức đoàn thể làm công tác bảo vệ môi trường 60

Sơ đồ IV.1 Mô hình Hội đồng Bảo vệ Môi sinh thành phố Hồ Chí Minh

67

Sơ đồ IV.2 Mô hình Ủy ban Môi trường thành phố Hồ Chí Minh 71

Sơ đồ V.1 Điều kiện để cùng tham gia bảo vệ môi trường 106

Sơ đồ V.2 Chu trình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường và sử dụng hợp

lý tài nguyên môi trường tại địa phương 110

Trang 8

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT BVMS : Bảo vệ môi sinh

BVMT : Bảo vệ môi trường

GDMT : Giáo dục cộng đồng về môi trường

HĐND : Hội đồng nhân dân

HTV : Đài truyền hình thành phố

KCX -KCN : Khu chế xuất - Khu công nghiệp

KH & KT : Khoa học và Kỹ thuật

KH,CN & MT: Khoa học, công nghệ và Môi trường

MT : Môi trường

ĐTM : Đánh giá tác động môi trường

ĐTNTNX : Đội Thanh niên tình nguyện xanh

UBMT: Ủy ban Môi trường

UBND: Ủy ban Nhân dân

Trang 9

SUMMARY

Nowadays, the participation of community is considered as an important factor in modern social activity in general and in environmental protection in particular The object of participating is to attract the abilities, knowledge and labors of community for effectively managing natural resources, protecting environment and developing economy

Community participating displays in identifying environmental problems, approach to solve it as well as building policy and law, regulation

in environmental field Community participating means empower and responsibility of community in the environmental protection in oder to ensuring a clean and beautiful environment

In Ho Chi Minh city, the community participation in environmental protection has developed in recent years However, the effect of these activities have not yet been accessed completely and then the power of community have not used all The thesis "Study and evaluate present situation and establish forward measures for raising the effectiveness of community participation activities in the environmental protection in Ho Chi Minh city" aims to solve this problem The author hopes that the output of the thesis will contribute some useful ideas to the environmental authorities, researchers, specialists and community in Ho Chi Minh city in their environmental protection activities

Trang 10

Hiện nay, sự tham gia của cộng đồng ngày càng được chấp nhận rộng rãi như một nguyên tắc để quản lý bền vững tài nguyên trên bình diện quốc gia, quốc tế, mà mục đích chính của vấn đề là lôi kéo mọi người đóng góp tài năng, trí tuệ và công sức vào quá trình quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

và phát triển kinh tế Sự tham gia này thể hiện ngay từ khi xác định các vấn đề môi trường, xác định các biện pháp, cách thức cụ thể giải quyết các vấn đề môi trường đó, cũng như việc xây dựng chính sách, luật pháp về bảo vệ môi trường Sự tham gia của cộng đồng còn có ý nghĩa là việc tăng quyền làm chủ

và trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cho họ quyền được sống trong một môi trường trong lành, sạch đẹp đồng thời hưởng những lợi ích do môi trường của mình đem lại

Tại thành phố Hồ Chí Minh, sự tham gia của cộng đồng về bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đã được quan tâm thực hiện, tuy nhiên những tác động và hiệu quả của các hoạt động này chưa được nhìn nhận và đánh giá đầy đủ, do vậy chưa thể phát huy hết các ưu thế và đóng góp quý giá của cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại Thành phố

Trang 11

Đề tài "Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện nhằm mục tiêu giải quyết vấn đề thực tế trên Mặc dù kinh nghiệm thực tế và trình độ quản lý còn hạn chế, tuy nhiên với nỗ lực nghiên cứu của bản thân, nhiều thuận lợi tiếp cận thực tế tại đơn vị công tác, cùng với

sự hướng dẫn quý báu về chuyên môn của Thầy hướng dẫn và các chuyên gia trong ngành, kết quả Đề tài sẽ là một tư liệu bổ ích, mong muốn góp phần cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ngày một tốt hơn

Trang 12

GIỚI THIỆU

I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

- Tổng quan hiện trạng các hoạt động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất biện pháp tăng cường sự tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh

II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

Bao gồm 2 phần:

PHẦN A

- Nghiên cứu lý thuyết về cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường

- Nghiên cứu kinh nghiệm cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại một

số nước trên thế giới

- Nghiên cứu kinh nghiệm cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại một

số địa phương trong nước

PHẦN B

- Đánh giá hiện trạng hoạt động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường

và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên tại thành phố Hồ Chí Minh

- Đúc kết các kinh nghiệm cộng đồng tham gia BVMT

- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả sự tham gia cộng đồng bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Cộng đồng dân cư, các tổ chức, cơ quan đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp, các dự án có hoạt động tham gia bảo vệ môi trường

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

IV.1 Phương pháp thu thập tài liệu:

- Thu thập các tài liệu về hoạt động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường trong nước, ngoài nước và thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động nâng

Trang 13

cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, văn bản pháp lý… về sự tham gia cộng đồng và quản lý tài nguyên môi trường dựa vào cộng đồng

- Các nguồn thu thập tài liệu: qua sách báo, tạp chí Tài nguyên và môi trường, tạp chí Bảo vệ môi trường, các kết quả nghiên cứu, dự án về quản lý môi trường dựa vào cộng đồng, truy cập thông tin từ internet, tài liệu hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước về giáo dục môi trường, các báo cáo hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành và lĩnh vực liên quan của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể,…

IV.2 Phương pháp thảo luận sâu :

- Trao đổi ý kiến và thảo luận về tình hình hoạt động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường tại thành phố, những thuận lợi khó khăn của hoạt động, những kinh nghiệm của hoạt động quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong và ngoài nước, những giải pháp khả thi giúp tăng cường sự tham gia cộng đồng bảo vệ môi trường

- Đối tượng thảo luận: các chuyên gia trong và ngoài nước đang làm việc, nghiên cứu các dự án về cộng đồng, các lãnh đạo, cán bộ quản lý trong lĩnh vực tài nguyên môi trường và giáo dục môi trường

IV.3 Phương pháp nghiên cứu phân tích, đánh giá, tổng hợp:

- Dùng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp hệ thống các tài liệu thu thập theo cấu trúc: tổng quan những kinh nghiệm cộng đồng tham gia bảo

vệ môi trường trên thế giới, các địa phương trong nước, tổng hợp hiện trạng

và đánh giá hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh

- Phân tích, đánh giá kết quả trên cùng với kết quả thảo luận sâu với các chuyên gia, lãnh đạo, cán bộ quản lý để đúc kết các kinh nghiệm cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường, từ đó đề xuất các biện pháp tăng cường hiệu quả hoạt động phù hợp điều kiện thành phố Hồ Chí Minh

V GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:

Trang 14

- Do giới hạn về thời gian và kinh phí thực hiện của một luận văn cao học, việc đánh giá hiện trạng sự tham gia cộng đồng bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu dựa trên sự phân tích và tổng hợp từ kết quả của các đề tài nghiên cứu, từ các ý kiến, đánh giá của các chuyên gia, các nhà quản lý trong lĩnh vực

- Đề tài nghiên cứu và đưa ra các giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả

sự tham gia cộng đồng bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, các địa phương khác cũng có thể tham khảo áp dụng kết quả nghiên cứu từ đề tài

Trang 15

PHẦN A

LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CỘNG ĐỒNG THAM GIA

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG I.1 KHÁI NIỆM CỘNG ĐỒNG

I.1.1 Định nghĩa

Theo từ điển bách khoa Việt Nam "Cộng đồng xã hội là một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú" (Trang 601- Từ điển Bách khoa Việt nam 1995)

Cộng đồng, theo quan niệm Mác xít, là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên, có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó

Trong đề tài này cộng đồng được xác định là những nhóm người có những đặc điểm về thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau, sống trong cùng bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội Hay nói một cách khác, cộng đồng được xác định là tất cả những người sống hoặc làm việc trong một khu vực địa lý nhất định, không phân biệt nam, nữ, già hay trẻ I.1 2 Đặc tính cộng đồng:

Cộng đồng có hai đặc tính: một là cộng đồng tính, hai là cộng đồng thể Cộng đồng thể là những nhóm người, những nhóm xã hội có chung cộng đồng tính ở mức độ nào đó, với rất nhiều thể có quy mô khác nhau: thể nhỏ, thể vừa, thể lớn, thể cực lớn Thể cực lớn, có thể lấy ví dụ là: - Cộng đồng thế giới: Thể vừa, có thể lấy ví dụ là - cộng đồng người Do Thái, cộng đồng người Phi Thể vừa có thể là cộng đồng dân cư thành phố, đô thị Thể nhỏ có

Trang 16

thể là cộng đồng làng xã; cộng đồng những người buôn bán nhỏ Quy mô của các cộng đồng thể cũng là một khái niệm tương đối

Cộng đồng tính là thuộc tính hay là quan hệ xã hội có những đặc trưng

có thể xác định và đặt tên cho nó: tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng,

Các luận điểm kinh điển của F Tounies (người Đức - 1887) về các đặc trưng của cộng đồng, cho phép chúng ta dễ dàng phân biệt, xác định cộng đồng tính hơn Theo F Tounies:

" Những quan hệ xã hội mang tính thân tình, thân thiện, thân mật, có độ

cố kết mang tính tự nhiên là có tính cộng đồng

" Cộng đồng có tính bền vững Sự phát triển của nhiều cộng đồng đã diễn

ra trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại Yếu tố thời gian nhiều khi là chất kết dính các thành viên trong cộng đồng

" Vị thế xã hội trong các cộng đồng mang tính được gán sẵn nhiều hơn là

do phấn đấu để có được Một già làng trong cộng đồng dân tộc Ê đê sẽ được lập nên khi già làng cũ mất đi, theo phương thức cha truyền con nối Già làng mới nhiều khi không có mấy tri thức để đảm bảo cho vị thế của mình Vị thế này được gán sẵn

" Quan hệ dòng họ là quan hệ cơ bản và mang cả 2 đặc trưng: dòng họ là huyết thống và dòng họ là khuôn mẫu văn hoá của sinh hoạt cộng đồng I.1.3.Các yếu tố quyết định sự hình thành cộng đồng

Lý thuyết cộng đồng hiện đại nhìn chung có xu hướng khẳng định 3 yếu tố: Địa lý, kinh tế, văn hoá là những yếu tố chính quyết định sự hình thành cộng đồng, quyết định sự tồn tại và phát triển của cộng đồng:

- Yếu tố địa lý: Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất Cộng đồng được hình thành và phát triển trong một không gian địa lý xác định, gắn kết với không gian đó và gắn kết với nhau Các địa vực khác nhau dẫn đến việc hình thành các cộng đồng khác nhau Hoàn toàn có thể hiểu được, với địa vực thể là trái đất sẽ hình thành cộng đồng loài người, còn với địa vực là sao Hoả, sao

Trang 17

Kim, thì chưa có điều kiện để hình thành cộng đồng thể như loài người Trong những địa vực nhỏ hơn cũng có những điều kiện khác nhau để dẫn đến hình thành những cộng đồng thể khác nhau Dân gian chỉ khái niệm địa vực

và cộng đồng gắn với địa vực bằng các thuật ngữ rất gần gũi: người làng, đồng hương,

- Yếu tố kinh tế: Kinh tế là phương tiện để phát triển, trong đó có phát triển cộng đồng ở nông thôn, yếu tố nghề nghiệp là yếu tố chính (trong yếu tố kinh tế) tạo nên sự cố kết cộng đồng Mỗi cộng đồng ở nông thôn thường gắn bó với một nghề chính và một số nghề phụ; do đó có chung thị trường, có chung nguồn nguyên liệu, thờ chung một ông tổ nghề -thành hoàng, làng Nhiều cái chung tạo ra khả năng trao đổi, từ trao đổi thông tin, kinh nghiệm đến trao đổi tình cảm, tín ngưỡng - tạo ra sự cố kết tinh thần vững chắc Ở đô thị, sự cố kết

do yếu tố kinh tế ít chặt chẽ hơn, tuy nhiên yếu tố này không phải đã dễ dàng

bị đô thị hoá xoá nhoà đi hết Có thể nhìn thấy điều đó khi để ý rằng, trong mỗi chợ ở đô thị có những tiểu cộng đồng khác nhau: phường vải, phường cá, Sự hỗ trợ, trao đổi trong nội bộ các tiểu cộng đồng này giúp họ đứng vững trước sức ép của quá trình đô thị hoá, thị trường hoá Họ trao đổi và thống nhất với nhau về giá cả, cạnh tranh và chia sẻ với nhau về kinh nghiệm phục vụ

- Yếu tố văn hoá Đây là một biểu thị có tính tổng hợp khi nhận biết các cộng đồng, trong đó thể hiện đặc sắc nhất ở các khía cạnh: truyền thống - lịch sử, tộc người, tôn giáo - tín ngưỡng, hệ thống giá trị - chuẩn mực, phong tục, tập quán

I 2 PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Năm 1940, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được bàn đến ở các nước thuộc địa của Anh Năm 1950, Liên Hợp Quốc công nhận khái niệm cộng đồng, và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một định hướng để phát triển Trong những năm 1950-1960 hàng loạt các chương

Trang 18

trình viện trợ của Liên Hợp quốc, viện trợ song phương giữa các Chính phủ mang tên gọi viện trợ phát triển cộng đồng

Lý thuyết phát triển cộng đồng hiện đại, nói chung thống nhất được các nội dung chính của khái niệm: Phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng; trong

đề tài này chúng ta thống nhất rằng:

Phát triển cộng đồng là một quá trình tăng trưởng kinh tế đồng thời với sự tiến bộ của cộng đồng theo hướng phấn đấu hoàn thiện các giá trị chân, thiện,

mỹ

Với khái niệm này cần lưu ý những điều sau:

- Thứ nhất, là không thể đồng nhất phát triển với tăng trưởng Chỉ tăng trưởng kinh tế thì không có nghĩa là đã phát triển xã hội

- Thứ hai, ngoài hai chỉ số phát triển kinh tế - xã hội đó, người ta quan tâm đến một nhóm chỉ số quan trọng nữa, đó là quan hệ xã hội theo nghĩa rộng, là xã hội học theo hướng tiếp cận môi trường

- Thứ ba, là một quan niệm rất hiện đại mà chúng ta đã tiếp cận Đó là những chỉ số phát triển bền vững Phát triển kinh tế - xã hội mà không bảo vệ môi trường thì có nguy cơ sẽ dẫn tới mặt trái của nó, tức là suy thoái mà thế giới hiện đại đã có quá nhiều bài học

Các giá trị cần được tôn trọng trong phát triển cộng đồng, đó là:

- Nhân quyền: bảo đảm cho mọi người quyền được phát triển, có nhân phẩm, được tôn trọng và được bảo vệ;

- Công bằng xã hội : để bảo đảm các cơ hội ngang nhau cho mọi người thoả mãn nhu cầu cơ bản, gìn giữ giá trị và nhân phẩm của mình, bảo đảm sự tham gia của mọi lực lượng xã hội vào tiến trình ra các quyết định quan trọng trong cộng đồng;

- Nâng cao trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân: để cùng nhau giải quyết các vấn đề xã hội chung

Phát triển cộng đồng là tổng thể những quá trình làm cho cộng đồng biến dạng và có thể dẫn tới những thay đổi về chất Những biến dạng và đổi thay

Trang 19

về chất nào cũng phải đảm bảo những yêu cầu phát triển chung của xã hội, tức

là phải đảm bảo sự bền vững của cộng đồng, sự công bằng xã hội cho các nhóm xã hội vốn có những lợi ích riêng, hướng tới xây dựng năng lực tự tổ chức, tự quản lý các vấn đề của cộng đồng trên cơ sở hội nhập được các nguồn lực bên trong và bên ngoài, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ

xã hội Đó là những giá trị chung mà phát triển cộng đồng phải hướng tới

Sơ đồ I.2 Phát triển cộng đồng

I.3 KHÁI NIỆM CỘNG ĐỒNG THAM GIA BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG I.3.1 Khái niệm quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng:

Quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng là việc một cộng đồng được tham gia tư vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển, hay một quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên Đó là cơ hội để người dân có thể bày tỏ ý kiến của mình và bằng cách đó họ có thể ảnh hưởng đến sự ra quyết định Điều này sẽ tác động đến những kế hoạch của một vùng rộng lớn hoặc cũng có thể là một dự án nhỏ

Hình thức của sự tham gia có thể khác nhau tùy thuộc vào loại và mức độ của

dự án, cũng như khả năng và nhận thức của cộng đồng về vấn đề đang được quan tâm Thời gian của sự tham gia cũng khác nhau, từ giai đoạn đầu của việc lập kế hoạch, quy hoạch hoặc trong quá trình cần có sự đánh giá nhu cầu của cộng đồng, sự tham gia của cộng đồng vào quá trình trên càng sớm thì càng nhận được nhiều sự ủng hộ của cộng đồng

Mức độ tham gia của cộng đồng trong trường hợp này phụ thuộc vào 2 yếu tố:

Nếu mục đích là để hiểu được thái độ của cộng đồng đối với quá trình lập kế hoạch, quy hoạch về sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường thì việc thảo luận nhóm tập trung có thể là cách phù hợp, cũng có thể tiến hành với một nhóm những người được cộng đồng cử ra làm đại diện cho tiếng nói của

Trang 20

họ Điều quan trọng là mọi ý kiến tư vấn, đều phải được cởi mở, rộng rãi, công khai và mang tính xây dựng

Các nhà lập quy hoạch, kế hoạch và ra quyết định không nhất thiết phải đồng ý với những ý kiến của cộng đồng, hoặc phải sử dụng tất cả mọi gợi ý của người dân Tuy nhiên, họ cần phải quan tâm đến cộng đồng một cách nghiêm túc và khi thấy cần thiết, hợp lý thì phải có sự thay đổi bản kế hoạch, quy hoạch và điều chỉnh quyết định đã ban hành

I.3.2.Cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường:

Được hiểu gần đồng nhất với khái niệm quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng nhưng ở mức cao hơn Cộng đồng không chỉ đươc tham gia qua việc cho ý kiến, trao đổi, thống nhất mà cộng đồng có thể trực tiếp tham gia lập kế hoạch và thực hiện trong một phạm vi và đối tượng nhất định (có

sự thỏa thuận trước đó)

Sự tham gia của cộng đồng có thể được phân loại theo các dạng sau:

Bảng I.1 Phân loại sự tham gia của cộng đồng

PHÂN LOẠI NỘI DUNG

1 Tham gia bị động Mọi người tham gia đựơc cho biết cái gì đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra Chỉ là sự thông tin một cách đơn phương của cơ quan hành chính hay cơ quan quản lý dự án, không cần lắng nghe phản ứng của mọi người Thông tin chỉ được chia sẻ trong số những chuyên gia từ bên ngoài

2 Sự tham gia bằng cách cấp thông tin Mọi người tham gia bằng cách trả lời các mẫu câu hỏi do các nhà nghiên cứu đưa ra, sử dụng các phiếu điều tra hoặc cách tiếp cận tương tự Theo phương pháp này kết quả nghiên cứu sẽ không được chia sẻ hoặc kiểm tra độ chính xác

3 Tham gia bằng cách tham vấn Mọi người tham gia bằng cách tham vấn,và những người xúc tác bên ngoài lắng nghe các quan điểm.Những người xúc tác bên ngoài này xác định các vấn đề và giải pháp đồng thời có thể sửa đổi chúng theo phản ứng của mọi người Quá trình trao đổi này không hề thừa

Trang 21

nhận bất kỳ sự chia sẻ nào trong việc ra quyết định, và các nhà chuyên môn không có trách nhiệm gì đối với quan điểm của mọi người

4 Tham gia bằng khuyến khích vật chất Mọi người tham gia bằng cách cung cấp nguồn lực, ví dụ, lao động để được cấp lương thực, hoặc những khuyến khích vật chất khác Rất nhiều người nghiên cứu về nông nghiệp đều rơi vào loại này, khi mà người nông dân đóng góp đất đai song lại không tham gia vào thực nghiệm hay tiến trình học hỏi

5 Tham gia mang tính chất chức năng Mọi người tham gia bằng cách xây dựng các nhóm nhằm thỏa mãn mục tiêu dự án liên quan đến sự phát triển hoặc thúc đẩy những tổ chức xã hội được khởi xướng từ bên ngoài Sự tham gia này thường không xuất hiện ở thời kỳ đầu của chu trình dự án hoặc lập kế hoạch mà xuất hiện sau khi các quyết định quan trọng đã được đưa ra Những

tổ chức này có khuynh hướng phụ thuộc vào những người khởi xướng và những hướng dẫn từ bên ngoài, song có thể trở thành tự lập được

6 Sự tham gia có tác động qua lại Mọi người tham gia vào phần phân tích chung để xây dựng kế hoạch hành động và thiết lập nên các tổ chức mới ở địa phương hoặc củng cố các tổ chức đã có từ trước Việc làm này có khuynh hướng gắn phương pháp luận với nhiều quan điểm và hỗ trợ cho tiến trình học tập cấu trúc và hệ thống Các nhóm này kiểm soát những quyết định của địa phương do đó mọi người sẽ có những đóng góp của riêng mình vào việc duy trì cơ cấu hoặc thực hành

7 Tự vận động Mọi người tham gia bằng cách tự khởi xướng độc lập với các tổ chức ở bên ngoài để thay đổi các hệ thống Họ hình thành hợp đồng với các tổ chức bên ngoài để có được nguồn lực và cố vấn kỹ thuật mà họ cần, nhưng vẫn duy trì sự kiểm soát cách sử dụng các tài nguyên Sự tự vận động

và hành động tập thể này có thể hoặc không thách thức sự phân phối phúc lợi

và quyền lực bất công hiện tại

* Prety,et,al,1995

Trang 22

I.4 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỰ THAM GIA CỘNG ĐỒNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Để hiểu rõ cơ sở khoa học về sự tham gia cộng đồng bảo vệ môi trường chúng ta tìm hiểu một số khái niệm liên quan về môi trường sinh thái:

Quần thể : là tập hợp các cá thể sinh vật cùng loài, cùng tồn tại trong một khu vực sống tại một thời gian nhất định

Quần xã : là tập hợp nhất định các quần thể sinh vật (và con người), phân bố trong một lãnh thổ, một thời gian, không gian nhất định Giữa các sinh vật (và con người) sống trong đó có mối quan hệ tương tác với nhau về mạng lưới thức ăn, dòng năng lượng, tập hợp trong một cấu trúc nhất định Giữa sinh vật (và con người) với các điều kiện môi trường vật lý cũng có sự tương tác hai hay nhiều chiều Mỗi quần xã cũng có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong

Hệ Sinh thái môi trường là một hệ thống bao gồm các quần xã sinh vật (và con người) cùng các điều kiện môi trường bao quanh nó với sự tương tác lẫn nhau, liên tục không ngừng mà kết quả của sự tác động đó quyết định chiều hướng phát triển của quần xã và sinh cảnh của toàn hệ

Môi trường sinh thái được tạo thành bởi các thành phần như đất, nước, không khí, sinh vật và con người,… Các thành phần này liên quan chặt chẽ và rất hữu cơ với nhau

Qua các khái niệm trên, xét từ góc độ khoa học môi trường chúng ta có thể nhận thấy rằng bản thân môi trường đã chứa đựng trong nó tính cộng đồng Con người cùng với những hoạt động của con người là trọng tâm của sự phát triển môi trường sinh thái Vì vậy việc bảo vệ môi trường và sử dụng hợp

lý tài nguyên thiên cần có sự tham gia của con người hay cộng đồng người trong môi trường sinh thái đó

I.5 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PH¸ÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA CỘNG ĐỒNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trang 23

I.5.1 Quốc tế

- Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển 1992 tại nguyên tắc 10

"Những vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của các công dân quan tâm, ở cấp độ thích lợp ở mỗi quốc gia, mỗi cá nhân sẽ có quyền được thông tin thích hợp liên quan đến môi trường do các nhà chức trách nắm giữ, bao gồm thông tin về tài nguyên và cơ hội tham gia vào những quá trình quyết định Các quốc gia cần làm cho thuận tiện và khuyến khích tuyên truyền và sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến thông tin rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính, kể cả uốn nắn và sửa chữa"; và nguyên tắc 22 "Nhân dân bản xứ và những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác ở địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường vì sự hiểu biết và tập tục truyền thống của họ Các quốc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện một sự phát triển bền vững"

- Kế hoạch thực hiện Johannesburg 2002: Điều 101, mục g "Tăng cường

sự tham gia hiệu quả của các tổ chức xã hội và các bên liên quan khác trong việc thực hiện Chương trình Nghị sự 21, cũng như tăng cường sự minh bạch

và sự tham gia rộng rãi của cộng đồng"; Điều 125 (2) "Tất cả các nước cần thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng, bao gồm thông qua các biện pháp tạo sự tiếp cận với thông tin về luật pháp, quy định, hoạt động, chính sách và chương trình Các nước cũng cần tăng cường sự tham gia đầy đủ của cộng đồng vào xây dựng và thực hiện chính sách phát triển bền vững."

- Công ước Aarhus "Sự thoả thuận về việc tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng đến các thủ tục ra quyết định và về sự tiếp cận với toà án trong các vấn đề về môi trường" là bản công ước có sự kết nối việc bảo vệ môi trường với quyền lợi người dân Bản công ước này chứa đựng các quy định về sự tham gia của cộng đồng trong các quy trình quản lý ở các mức độ khác nhau trong hoạt động bảo vệ môi trường Chính phủ các nước tham gia

Trang 24

bản công ước đều thừa nhận là sự nghiệp bảo vệ môi trường chỉ có thể được thực hiện thông qua sự tham gia của người dân và của các tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ

I.5.2 Tại Việt Nam

Nhà nước Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc "của dân, do dân

và vì dân" Cách tiếp cận dân chủ việc quản lý xã hội của Chính phủ được diễn đạt bằng nguyên tắc cơ bản "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" mọi hoạt động của cơ quan nhà nước Sự tham gia của công chúng trong quá trình xây dựng các đường lối, chủ trương phát triển kinh tế- xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước luôn được chú trọng và thực hiện Những văn bản quan trọng như Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 cũng như các

dự án luật, pháp lệnh đã được lấy ý kiến đóng góp của đông đảo quần chúng nhân dân

Trong lĩnh vực môi trường, chủ trương về sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường đã được xác định rõ trong nhiều văn bản quan trọng:

Luật Bảo vệ Môi trường năm 1994, tại điều 6 xác định: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân"

Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định 4 quan điểm cơ bản, trong đó quan điểm đầu tiên là "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân" Chỉ thị cũng xác định 8 giải pháp quan trọng về bảo vệ môi trường Giải pháp thứ nhất trong đó là tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho toàn dân và "tạo điều kiện và khuyến khích để người dân thường xuyên nhận được các thông tin về môi trường, xem đó là biện pháp cơ bản để bảo vệ môi trường"

Tại cấp cơ sở, ngày 7/7/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã Quy chế này đã quy định

Trang 25

những việc chính quyền địa phương phải thông tin và công khai để dân biết, dân bàn và quyết định trực tiếp, những việc dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan nhà nước quyết định và những việc dân giám sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện những việc này

Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 nêu quan điểm "Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân"

Và chương trình "Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường" là 1 trong 36 chương trình được phê duyệt tại bản Chiến lược này Nội dung của việc xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là huy động ở mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào công tác bảo vệ môi trường… Đề cao vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt nam, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ môi trường và giám sát môi trường Đưa bảo vệ môi trường vào nội dung hoạt động của các khu dân cư và cộng đồng dân cư và phát huy vai trò của các tổ chức này trong công tác bảo vệ môi trường

Dự thảo luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, nhấn mạnh vai trò cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường Tại Điều 64 "UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường dựa trên cộng đồng khu dân cư Điều 65 quy định thẩm quyền và trách nhiệm bảo vệ môi trường của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và cộng đồng khu dân cư

Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu rõ quan điểm bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người: "Xác định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng đồng… tạo cơ sở pháp lý

và cơ chế, chính sách, khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường… chú trọng xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước, cam kết về bảo vệ môi trường và các mô hình tự quản về môi

Trang 26

trường của cộng đồng Phát triển các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường… "

Có thể tóm tắt các khái niệm cộng đồng và cơ sở lý thuyết sự tham gia cộng đồng như sau:

- Cộng đồng là tất cả những người sống trong một khu vực địa lý nhất định có những đặc điểm về thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau trong cùng môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội

- Cộng đồng có nhiều thể, thể nhỏ như cộng đồng làng xã, cộng đồng buôn bán nhỏ, thể vừa như cộng đồng thành phố, cộng đồng đô thị, thể lớn như cộng đồng người Việt, cộng đồng châu Phi hay lớn hơn là cộng đồng thế giới

- Đặc điểm cộng đồng là có quan hệ xã hội mang tính thân tình, ý thức đoàn kết nội bộ và tính bền vững theo thời gian Cộng đồng thường có ý thức bảo vệ những giá trị truyền thống đặc trưng được hình thành trong quá trình phát triển cộng đồng của mình

- Các tuyên ngôn, văn bản của thế giới cũng như Việt Nam đã xác nhận vai trò của cộng đồng là không thể thiếu trong quá trình bảo vệ môi trường và

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên

- Cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường đồng nghĩa với việc cộng đồng

sẽ tham gia ý kiến, trao đổi, thống nhất và cùng thực hiện các hoạt động để giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường tại cộng đồng của họ Ví dụ : cộng đồng tham gia vào chọn điểm, quy hoạch và hoạt động của một khu du lịch sinh thái (Nguyên tắc du lịch sinh thái-Lê Huy Bá, NXBKHKT,2005)

Trang 27

CHƯƠNG II KINH NGHIỆM CỘNG ĐỒNG THAM GIA BẢO VỆ

MÔI TRỪƠNG TRÊN THẾ GIỚI

II.1 BỐI CẢNH CHUNG

Việc quản lý môi trường dựa vào cộng đồng được khởi xướng từ năm 1950 trên thế giới, nhiều nước đã và đang sử dụng phương thức quản lý này để quản lý hữu hiệu tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Các nước phát triển giàu mạnh về kinh tế, ý thức pháp luật cao sử dụng phương thức này như

là một phương cách quản lý chủ đạo trong quá trình phát triển bền vững Các quốc gia trong khu vực Đông Nam á (Malaysia, Philippines, Thailand, Indonesia,v.v ) gần đây đã áp dụng có hiệu quả phương thức quản lý này trong việc quản lý môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Kinh nghiệm của những nước đã áp dụng các phương thức cộng đồng bảo vệ môi trường cho thấy sức mạnh của cộng đồng khi được phát huy, cộng đồng tham gia tích cực và chủ động vào việc quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên - những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển bền vững Quản lý môi trường với sự tham gia của cộng đồng giúp cho người dân nâng cao khả năng quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên, môi trường

Kinh nghiệm của các nước cũng cho thấy những hệ thống quản lý tập trung hoá tỏ ra không đem lại hiệu quả trong việc quản lý và bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững Do sự bao cấp mà nhiều cộng đồng đã đánh mất ý thức làm chủ và trách nhiệm đối với môi trường họ đang sinh sống

II.2 KINH NGHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI:

II.2.1 Các nước phát triển

" Nhật Bản - Thành công trong việc huy động cộng đồng thu gom chất thải rắn

Trang 28

Nhật Bản là một trong những nước có nền kinh tế phát triển mạnh, có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến Việc tái kiến thiết của Nhật Bản sau chiến tranh

đã dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng cũng làm nảy sinh các vấn đề lớn

về môi trường Chính phủ nước này đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường, ngăn chặn những rủi ro môi trường có thể xảy ra trong quá trình phát triển, trong đó quản lý chất thải rắn đô thị là một trong những ưu tiên hàng đầu Nhật Bản đã có những biện pháp cả về quản lý và công nghệ để giải quyết vấn đề chất thải rắn ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển Chính phủ nước này đã có những chính sách thúc đẩy và khuyến khích việc quản lý chất thải rắn trên cơ sở sự tham gia tích cực và tự nguyện của các cộng đồng dân cư khác nhau

Chính phủ Nhật Bản đã sớm nhận ra rằng tăng trưởng kinh tế là điều cốt yếu

để giảm nạn nghèo khổ, nhưng tăng trưởng kinh tế thường gây ra những nguy hại về môi trường rất nghiêm trọng Để ngăn ngừa những tác động xấu đối với môi trường thì việc đổi mới thể chế, tăng cường hiệu lực chính sách, tăng thu nhập và khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng sẽ cho phép có được những nguồn lực để cải tiến việc quản lý môi trường

Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị của Nhật Bản nhận được sự trợ lực của một hệ thống tổ chức thu gom hình thành trên cơ sở các tổ chức của khu vực (Hội đồng thành phố, Hội thiếu niên và Hội cha mẹ học sinh,v.v ) Các tổ chức hội này tiến hành thu gom và bán các chất thải có thể tái sử dụng cho các công ty tái sản xuất chất thải Thu nhập từ việc thu gom như vậy được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của khu vực Vào năm 1993, có tới 82.000 các tổ chức loại này tại 92 thành phố của Nhật Bản (Báo cáo kết quả nghiên cứu mô hình quản lý mô hình dựa vào cộng đồng, Cục MT, 2002) Việc thu lại các vật liệu thải từ các hộ gia đình bởi các tổ chức cộng đồng và các hợp tác xã có chi phí thấp hơn so với các cơ sở thu gom của Nhà nước

Kết quả là với sự phối hợp của nhân dân địa phương các chất thải được thu gom, đường phố sạch sẽ, các dịch vụ vệ sinh được cải thiện và chi phí cho

Trang 29

việc thu gom chất thải đã giảm đi rất nhiều so với việc đầu tư cho các công ty công cộng thu gom chất thải Việc thu gom, phân loại tại nguồn và tái sử dụng

đã rất thành công ở Nhật Bản, quần chúng đã rất hiểu rõ và đồng tình

" Thụy Điển - Cộng đồng tham gia vào việc đánh giá tác động môi trường

Ở Thuỵ Điển cũng như nhiều nước khác trên thế giới, việc đánh giá tác động môi trường được coi là cơ sở quan trọng nhằm cung cấp những thông tin cần thiết để ra quyết định và thực hiện các chương trình, dự án Chính phủ nước này nhận ra rằng khi lập các kế hoạch về đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng lớn, việc lắng nghe ý kiến của quần chúng ngay ở giai đoạn đầu của dự án là một cách tốt nhất để tránh những khó khăn sau này Nếu không thực hiện được điều này, sự phản kháng của dân chúng có thể tăng lên và gây chậm trễ hoặc phải ngừng dự án Một đánh giá đúng về môi trường là cần thiết để giúp cho mọi người hiểu rõ những tác động khả dĩ về xã hội và môi trường

Trong hơn 10 năm qua, Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Thuỵ Điển

đã được đưa vào hệ thống luật pháp và trở thành một yêu cầu bắt buộc của luật Yêu cầu của ĐTM được mô tả như sau:

- Dự đoán trước tác động mà các hoạt động của con người tác động lên môi trường

- Làm cho nước và đất được sử dụng có hiệu quả hơn nữa

- Ngăn chặn sự suy thoái môi trường

- Thu hút cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng được coi là quan trọng vì cộng đồng có thể đóng góp hiểu biết riêng liên quan đến khu vực mà họ đang sinh sống và ước lượng các hậu quả và điều này sẽ làm căn cứ cho các quyết định

Quá trình ĐTM tại Thuỵ Điển thành công hơn khi nó hướng đến mục tiêu trở thành một quá trình dân chủ Những công bố gần đây cũng chỉ ra rằng không chỉ duy nhất tại Thuỵ Điển mà ở Hungary, sự tham gia của cộng đồng vào việc đánh giá tác động môi trường cũng được áp dụng có hiệu quả Kinh

Trang 30

nghiệm tại một số nước đã cho thấy rằng ĐTM không thành công khi không tính đến yếu tố cộng đồng trong quá trình thực hiện

Cần phải nhấn mạnh rằng ĐTM không chỉ là tài liệu về tác động môi trường của hoạt động đã được lập kế hoạch mà còn có khả năng lôi cuốn cộng đồng

để họ được tham gia vào quá trình ra các quyết định từ đó nâng cao được ý thức và vai trò dân chúng

" Bosnia và Herzegovina - Hướng cộng đồng vào lĩnh vực bảo vệ môi trường thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng

Các nhà lãnh đạo tại một số thành phố của nước này đã nhận thức được những vấn đề về sự tham gia cộng đồng Sự hợp tác của cộng đồng được tăng cường nhằm làm sạch đô thị Công việc này được tiến hành thông qua phương tiện thông tin đại chúng (sử dụng những áp phích và biểu ngữ tại các địa điểm công cộng, thông báo trên truyền hình)

Cuộc sống tại Bosnia và Herzegovina hiện đang trong giai đoạn chuyển tiếp Đây là một cơ hội để sự tham gia của cộng đồng lớn hơn, đặc biệt trong quá trình quản lý chất thải rắn vùng đô thị, khu công nghiệp

Kinh nghiệm của Bosnia và Herzegovina cho thấy, một hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị thành công cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng Một chương trình giáo dục cộng đồng tại đây hướng tới sự hình thành các quyền

và nghĩa vụ công dân Chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức đã được duy trì, việc tìm kiếm sự tham gia của cộng đồng thực hiện bằng tất cả các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, radio, báo chí) Sự hợp nhất các vấn đề môi trường trong các chương trình giảng dạy của trường học các cấp cũng là những công cụ đảm bảo sự tham gia của cộng đồng trở nên hiệu quả hơn nữa trong tương lai

" Hoa Kỳ - Hợp tác giữa Chính phủ, cộng đồng và các tổ chức phi lợi nhuận trong việc bảo vệ môi trường

Tại thành phố Portland, bang Oregon, Hoa Kỳ cộng đồng đã chủ động thành lập Hội đồng lưu vực Columbia và đã thành công trong việc làm sạch lưu vực

Trang 31

sông bị ô nhiễm lâu năm này Đây là tổ chức tự nguyện với thành phần đa dạng bao gồm người dân, doanh nghiệp, nhóm môi trường, luật sư và các cơ quan quản lý lưu vực, vùng đất ngập nước Thông qua hợp tác, Hội đồng có nhiệm vụ đẩy mạnh hành động bảo vệ, củng cố và khôi phục sông Columbia

và toàn bộ lưu vực của nó bằng việc lập các dự án bảo vệ môi trường cụ thể

và huy động các lực lượng liên quan thực hiện các dự án đó Thành công trong hoạt động của Hội đồng thể hiện sự thành công của mô hình chính quyền và cộng đồng cùng tham gia bảo vệ môi trường Có đựơc kết quả này là

do mục tiêu hoạt động của Hội đồng đặt ra xuất phát từ cộng đồng, phù hợp với nhu cầu thiết thực để phục vụ cuộc sống của cộng đồng tốt hơn do đó ý thức phối hợp bảo vệ môi trường của cộng đồng rất tích cực Mô hình hoạt động của Hội đồng cũng thể hiện vai trò quan trọng của cộng đồng khi quyết định một dự án bảo vệ môi trường, huy động tốt nguồn lực của cộng đồng (trí tuệ, tài chính) đóng góp vào hoạt động bảo vệ môi trường, sáng kiến và nhiệt tâm của cộng đồng trong các vấn đề môi trường cũng như sự chủ động của cộng đồng trong việc kêu gọi sự quan tâm và tham gia của các cơ quan chính quyền liên quan

II.2.2 Các nước đang phát triển

* An Độ - Cộng đồng tham gia giám sát môi trường:

Một thực tế tại nước này là các cơ quan Nhà nước thường thiếu kinh phí và nhân lực để thực hiện các chính sách môi trường một cách tối ưu Hơn nữa, sự quan liêu của các cơ quan tại từng khu vực, việc hoạt động kém hiệu quả và những bất đồng giữa các cơ quan của chính phủ và cơ quan chính quyền địa phương, dẫn đến tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp nghiêm trọng Việc nâng cao hiệu quả quản lý môi trường đòi hỏi có sự cam kết từ cả hai phía chính quyền và nhân dân Một trong những biện pháp chủ yếu là trao cho nhân dân quyền kiểm soát những đối tượng gây ô nhiễm môi trường, dù là thuộc nhà nước hay tư nhân Các cơ quan môi trường nhà nước

Trang 32

có thể giao quyền hạn thực sự cho dân chúng địa phương hay các tổ chức tình nguyện giám sát các chương trình

Ấn Độ đã triển khai thủ tục "kiểm soát môi trường" cho dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Dahanu 500 MW Các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra ô nhiễm có kế hoạch phân phát cho các cộng đồng địa phương và các tổ chức phi chính phủ các bản tóm tắt ĐTM với ngôn ngữ dể hiểu, mạch lạc, thông báo về các kết quả giám sát môi trường Khi đó, các nhóm cộng đồng có thể kiểm tra lại nồng độ các chất thải so với các tiêu chuẩn được quy định và kiện

ra toà nếu thực tế sai khác với ĐTM

Việc thông báo công khai cũng có thể giúp tập trung chú ý và quản lý chặt chẽ hơn quá trình phát thải, bổ sung cho sự giám sát chính thức của nhà nước bằng sự tham gia giám sát của cộng đồng

*Colombia - Bảo tồn thiên nhiên nhờ liên kết cộng đồng

Công viên quốc gia Amacayacu là một thảm nhiệt đới sum suê - rừng Amazôn của Colombia, là nơi cư ngụ của tộc người Ticuna Việc quản lý công viên bao gồm các hoạt động nhằm hướng tới "sự liên kết các cộng đồng khu vực", như là việc cung cấp thông tin về các chính sách, về các vấn đề môi trường và các vấn đề có liên quan khác Với mục tiêu chú ý tới văn hoá địa phương, đặt nó trong số các mục tiêu bảo tồn để đạt tới mức có thể hoà hợp các nhu cầu của những cư dân và của khu bảo tồn Việc liên kết các cộng đồng khu vực trong việc quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đã nâng cao được tinh thần trách nhiệm của địa phương và cộng đồng địa phương, cùng đóng góp những biện pháp hữu hiệu nhằm giải quyết tranh chấp về sử dụng tài nguyên, ngăn chặn sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên

* Một số nước khu vực Đông Á - Kinh nghiệm tận dụng nguồn lực địa phương sẵn có

Do việc tăng dân số, đời sống nhân dân ngày càng tăng, đô thị hoá và công nghiệp hoá diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt tại các nước đang phát triển với tốc độ

Trang 33

nhanh như các nước Đông Á, lượng phát sinh chất thải rắn đô thị đã tăng lên nhanh chóng trong vài năm trở lại đây

Kinh nghiệm tại một số nước Đông Á chỉ ra rằng, việc thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị thông qua việc vận động các nguồn lực sẵn có của cộng đồng là cần thiết Những nguồn lực đó thuộc về những người đại diện khác nhau (công cộng, tư nhân, chính thức, không chính thức v.v )

Chiến lược chính đối với việc tăng cường các dịch vụ quản lý chất thải rắn đô thị tại các nước khu vực Đông Á, nhằm đẩy mạnh sự tham gia của các nguồn lực tại chỗ vào việc thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị Các cư dân, những người được sử dụng dịch vụ đô thị và phải trả thuế cho các dịch vụ đó, và chính họ là những thành viên của cộng đồng có mối quan tâm trực tiếp đến hiệu quả của việc quản lý chất thải rắn đô thị Nếu không chấp thuận việc quản lý chất thải rắn đô thị, họ có thể đưa ra các sáng kiến để hoặc thành lập

tổ chức của chính mình nhằm đẩy mạnh hình thức phân chia nguồn chất thải rắn đô thị, quay vòng, các hoạt động thu gom và xử lý chất thải Các thành viên của cộng đồng có thể tạo được ảnh hưởng lớn hơn, khi họ đứng trong một tổ chức nào đó, chứ không phải chỉ với tư cách một công dân

* Nê pal - Quản lý khu bảo tồn Annapurna với sự tham gia của cộng đồng

Khu bảo tồn Annapurna nằm ở phía Tây Bắc Nêpal, gồm nhiều nhóm bộ lạc

và dân tộc khác nhau sinh sống Hệ sinh thái của khu vực này đã từng bị đe doạ nghiêm trọng bởi áp lực về dân số và sự kiệt quệ tài nguyên rừng Một dự

án về phát triển kinh tế và bảo tồn môi trường khu vực đã được triển khai

Dự án tổng hợp này được thực hiện thông qua Ủy ban phát triển và bảo tồn được hình thành từ cộng đồng dân cư khu vực Khoảng 50% cư dân của khu vực đã đóng góp vào các dự án cả về vật chất và kinh phí Hơn nữa, những nhân viên của dự án này cũng là những cư dân của khu vực Một chương trình đặc biệt dành ưu tiên đối với phụ nữ và khích lệ sự tham gia tích cực của họ trong quá trình tạo ra các quyết định, thực hiện những nỗ lực bảo tồn

Trang 34

Cách tiếp cận của dự án đã tạo nên một mô hình về quản lý tài nguyên hợp lý, trong một khuôn khổ truyền thống địa phương, có tính thuyết phục cao Mô hình này đã cho phép nhân dân địa phương tiếp tục các hoạt động sống bình thường, không ảnh hưởng đến các giá trị bảo tồn, và do vậy, ngăn ngừa các mâu thuẫn vốn rất dễ xảy ra khi giảm bớt nguồn lợi của cộng đồng

Được thành lập năm 1986, khu Annapurna ngày nay đã trở thành một vùng đa dạng, có giá trị Sự hợp tác của chính phủ với các nhóm cộng đồng địa phương đã góp phần to lớn vào thành công của dự án

* Pakistan - Công viên quốc gia của nhân dân

Tại Pamirs ở phía Bắc của Pakistan, mâu thuẫn giữa người dân trong khu vực

và các nhân viên của chính phủ đã xảy ra từ khi hình thành Công viên quốc gia Kunjerab vào năm 1975 Chính phủ nước này đã và đang nỗ lực giải quyết những vấn đề liên quan đến công viên này, trên cơ sở việc ngăn chặn những hoạt động săn bắt động vật hoang dã Tuy nhiên, những mâu thuẫn vẫn tiếp tục nảy sinh liên quan với truyền thống canh tác và chăn thả của cộng đồng dân cư sống trong phạm vi của công viên Chính phủ nước này đã lập một kế hoạch quản lý chi tiết, trong đó tập trung vào những hoạt động cộng đồng, mà trước hết là giải toả sự nghi ngờ của người dân địa phương

Một thoả thuận đã được ký kết giữa các đại diện của lãnh đạo vùng, lãnh đạo công viên và các cộng đồng khu vực Thoả thuận này hình thành trên cơ sở một kế hoạch quản lý, trong đó sự tham gia của cộng đồng dân cư khu vực trong việc quản lý môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Cộng đồng địa phương vẫn có thể sinh sống trong khu vực công viên, và tham gia trực tiếp vào công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên Mâu thuẫn giữa cộng đồng khu vực và các cơ quan nhà nước đã được gỡ bỏ, việc quản lý và bảo vệ công viên quốc gia này được tiến hành dễ dàng hơn

* Philippines - Huy động cộng đồng vào việc làm thông thoáng các dòng chảy, vận động và giám sát thực hiện bảo vệ môi trường

Làm thông thoáng các dòng chảy:

Trang 35

Cung cấp nước vệ sinh là một nhu cầu cấp bách của nhiều nước Một bộ phận của vấn đề này là sự nhiễm bẩn nước Việc sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm làm nước ăn, tắm rửa là nguyên nhân chính gây bệnh truyền nhiễm, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và sự tăng trưởng kinh tế, nên việc cung cấp nước không đầy đủ và vệ sinh là những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất mà ngày nay các nước đang phát triển phải đối phó

Kinh nghiệm của Cục Thủy lợi quốc gia Philipin cho thấy việc sớm lôi cuốn được các nhóm cộng đồng vào việc xây dựng kế hoạch và tìm kiếm các giải pháp làm thông thoáng các dòng chảy đã mang lại kết quả hoàn hảo Cộng đồng là chủ thể thực hiện các giải pháp, đóng góp công lao động, một phần chi phí Những người sử dụng cũng tự nguyện hơn trong việc trả tiền cho các dịch vụ của Cục Chính cộng đồng tham gia vào công việc đã từng bước giảm lượng bùn, rác trong các dòng chảy nhờ ý thức tự giác của họ được nâng cao Vận động và giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường

Hội đồng sông lưu vực hồ Laguna de' bai được hình thành bởi sự tự nguyện tham gia của các doanh nghiệp sản xuất cùng với trường học, hộ dân đứng đầu là nữ giám đốc của một Công ty thuốc trừ sâu Bayer Các doanh nghiệp

đã thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ môi trường và mục tiêu của Hội đồng là vận động và giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp

và tổ chức khác trên cùng lưu vực Kết quả hoạt động tham gia vận động và giám sát của cộng đồng này đã hỗ trợ rất nhiều cho cơ quan quản lý nhà nước phụ trách lưu vực hồ Laguna de' bai trong việc nâng cao ý thức về việc thực hiện bảo vệ môi trường, xử lý các hành vi vi phạm góp phần làm cho hồ ngày càng sạch đẹp

* Lào - vận động cộng đồng thay đổi cách ứng xử với thiên nhiên

Sông Nậm Ngừm là một trong số các nhánh chính của sông Mê Kông Lưu vực sông Nậm Ngừm có vị trí quan trọng mang tính quốc gia và khu vực, cung cấp nguồn sống cho khoảng 80.000 nông dân

Trang 36

Vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên tại khu vực này đã trở thành vấn đề cần được quan tâm của chính phủ Lào Chính bởi vị trí quan trọng của nó mà việc quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như môi trường của khu vực này cần thiết phải dựa vào chính các cộng đồng dân cư sống trong khu vực Chính phủ Lào đã sáng suốt vạch ra một kế hoạch vận động cộng đồng thay đổi cách ứng xử với thiên nhiên; áp dụng phương pháp canh tác định cư; chỉ khai thác các sản phẩm phi gỗ của rừng; phát triển chăn nuôi; thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; và trồng rừng Kế hoạch này đã nhận được sự đồng thuận cao của nhân dân, nhiều vấn đề về phát triển lưu vực được giải quyết, chấm dứt các tranh chấp trong nội bộ cộng đồng từ lâu đời về đất, nước, rừng Cuộc sống 80.000 dân được cải thiện rõ ràng (Báo cáo kết quả nghiên cứu mô hình quản lý mô hình dựa vào cộng đồng, Cục MT, 2002) Qua kinh nghiệm bảo vệ môi trường có sự tham gia của cộng đồng tại một số nước trên thế giới, có thể rút ra một số điều sau:

- Ở nước phát triển cũng như nước đang phát triển, vấn đề bảo vệ môi trường chỉ có thể đạt được kết quả tốt khi có sự tham gia tích cực của cộng đồng

- Khi cộng đồng chủ động tham gia hay nói cách khác là việc huy động cộng đồng tham gia thành công thì sự hiệu quả của việc giải quyết vấn đề môi trường càng cao

- Để cộng đồng có thể tham gia tích cực, chủ động và có hiệu quả thì việc cung cấp thông tin cho cộng đồng, việc giáo dục cộng đồng hướng tới sự hình thành quyền và nghĩa vụ công dân là điều cần thiết Một trong những giải pháp cho vấn đề này là duy trì một chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, tìm kiếm, huy động sự tham gia của cộng đồng bằng tất cả các phương tiện thông tin đại chúng: truyền hình, truyền thanh, báo chí

- Vấn đề bảo vệ môi trường đặc biệt cần sự hợp tác của cộng đồng dân

cư địa phương Khi cộng đồng dân cư sống tại khu vực tham gia trực tiếp vào

Trang 37

việc quản lý, đồng thuận với những kế hoạch họ sẽ thay đổi cách ứng xử với thiên nhiên

- Hình thức tham gia của cộng đồng hiệu quả là việc hình thành các tổ chức, ủy ban, hội đồng từ cộng đồng dân cư khu vực

- Việc phối hợp giữa chính quyền và cộng đồng, tăng cường quyền lực cho cộng đồng cũng là yếu tố quan trọng để tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình tham gia quản lý tài nguyên

Trang 38

CHƯƠNG III

MỘT SỐ MÔ HÌNH CỘNG ĐỒNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TẠI VIỆT NAM III.1 MÔ HÌNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG XÃ PHÙNG

XÁ, HUYỆN THẠCH THẤT, TỈNH HÀ TÂY

Nhân dân xã Phùng Xá sống quần cư trên một diện tích không rộng lớn (43 ha), với tổng dân số 9114 người 47% lao động ở Phùng Xá làm nghề nông, 11,91% làm nghề cơ khí, 11,29% làm nghề dịch vụ mua bán sản phẩm Nghề kim khí - một nghề sản xuất phụ trước đây, ngày nay đang phát triển mạnh

mẽ, tuy chưa đủ sức trở thành nghề chính của đa số trong cộng đồng, nhưng

nó đã tạo ra những thay đổi lớn các yếu tố kinh tế, văn hoá của cộng đồng Trước hết, về kinh tế, nghề kim khí mang lại thu nhập cao cho một bộ phận khá lớn trong cộng đồng, tạo ra sự chênh lệch giàu nghèo Mặt khác, chính những nhóm cộng đồng làm nghề kim khí là người phải chịu trách nhiệm về ô nhiễm môi trường đang gây khó khăn trực tiếp cho nhóm cộng đồng sản xuất nông nghiệp Những bất hoà tuy không quá gay gắt, nhưng đã nhiều lần xuất hiện trong cộng đồng

Thực tiễn tại cộng đồng này đang đặt ra một đòi hỏi to lớn là xác định được cái giới hạn tối ưu giữa phát triển và bảo vệ môi trường, để hoà nhập mà không hoà tan, để hiện đại mà vẫn giữ được những nét truyền thống; để cộng đồng phát triển bền vững Những hoạt động của cộng đồng trong những năm gần đây ở Phùng Xá đã mang lại những kết quả bước đầu và cần được tiếp tục

vì sự tồn tại của chính cộng đồng

Trang 39

Sơ đồ III.1 Mô hình Cộng đồng BVMT xã Phùng Há, H Thạch Thất, T Hà Tây

III.1.1 Xây dựng làng văn hoá, nhân tố quan trọng trong quản lý môi trường ở địa phương

Xây dựng làng văn hoá là một trong những phong trào đang được triển khai rộng rãi ở Hà Tây nói riêng và cả nước nói chung Mục tiêu của phong trào là tạo ra được nếp sống đẹp trong từng cộng đồng làng xã một cách tự thân Nghĩa là, mỗi cộng đồng tự đề ra cho mình một quy ước làng văn hoá gồm các điều khoản trong đó có liên quan đến bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan làng xóm Đồng thời, cộng đồng tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp để quy ước trên được thực hiện Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt quy ước và Sở Văn hoá Tỉnh cấp bằng công nhận làng văn hoá Tấm bằng công nhận làng văn hoá là niềm vinh dự tự hào cho cả cộng đồng, đồng thời cũng là sự ràng buộc mọi người thực hiện đúng luật pháp của nhà nước để cộng đồng tiếp tục duy trì nếp sống văn minh đó

Quy ước làng văn hoá thực chất là một kiểu "lệ làng" mới vừa có tính

kế thừa truyền thống, vừa cải tiến khoa học và phù hợp hơn với lối sống hiện tại và luật pháp ban hành

Quy ước hoàn toàn không mang tính bất biến Trong quá trình xây dựng làng văn hoá nó còn tiếp tục được xem xét điều chỉnh bổ sung để phù hợp với hoàn cảnh, làm cho bản quy ước của làng ngày càng hoàn chỉnh, gắn

bó thiết thực với từng gia đình, cá nhân, góp phần thực hiện mục tiêu của xã, huyện và của tỉnh

Quy ước làng văn hoá có vai trò quan trọng đối với việc ổn định nếp sống trong làng và có sức mạnh một phần là do các hình thức phạt và khen thưởng Nó phản ánh tâm lý của dân làng, phản ánh một phương diện quan trọng của văn hoá làng Nó vừa uốn người ta vào khuôn phép, vừa động viên con người ta hành động Sức mạnh cưỡng chế của nó dựa vào lề thói, nếp

Trang 40

sống quen thuộc của cộng đồng, vào hệ ý thức cộng đồng Đó là sức mạnh có tính tâm lý nằm sâu trong tiềm thức của mọi người trong làng

Tại xã Phùng Xá, trong năm 2000, Ủy ban nhân dân xã đang tiến hành xây dựng dự thảo "Quy ước về xây dựng nếp sống văn hoá làng Vĩnh Lộc" Bản dự thảo này đang được tiến hành chỉnh sửa, bổ sung và xin ý kiến của dân làng trong xã Bản dự thảo gồm có 11 chương Trong đó, liên quan đến trực tiếp tới quản lý và bảo vệ môi trường có chương 3: Sản xuất - kinh doanh

và bảo vệ môi trường Chương này gồm có 12 điều Đáng chú ý nhất là nội dung các điều 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 (xem Phụ lục 1)

Những điều khoản liên quan trực tiếp tới quản lý và bảo vệ môi trường một mặt phản ánh được những vấn đề môi trường ở một làng quê Việt nam nói chung nhưng mặt khác đã có những nội dung rất đặc thù, gắn liền với thực tế hoạt động sản xuất của một làng nghề cơ kim khí Hy vọng, khi bản dự thảo

"Quy ước về xây dựng nếp sống văn hoá làng Vĩnh Lộc" được nhân dân đóng góp hoàn thiện và nhất trí thực hiện sẽ có đóng góp quan trọng cho công tác bảo vệ môi trường ở địa phương

III.1.2.Cộng đồng tham gia quản lý môi trường ở địa phương

Một trong những nguyên tắc cơ bản cho sự phát triển bền vững là phải để cho cộng đồng tự bảo vệ lấy môi trường của mình Mặc dù vẫn chưa biết tới các nguyên tắc của sự phát triển bền vững, nhưng vì một cộng đồng phát triển lấy con người và môi trường sống trong lành làm trọng tâm, xã đã có nhiều hoạt động quản lý môi trường hữu hiệu Tổ chức đội thu gom chất thải rắn là một

Ngày đăng: 30/06/2023, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w