1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Huyen khong phi tinh

154 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Huyền Không Phi Tinh
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng thực chất là vì toạ và hướng là 2 phương vị quan trọng quyết định vận khí của 1 căn nhà, nên Sơn tinh và Hướng tinh mới có tầm quan trọng đặc biệt, và cũng vì vậy mà khi lấy trạch

Trang 1

HUYỀN KHÔNG PHI TINH

i/a209736.html

http://thegioivatkhiphongthuy.com/phong-thuy-huyen-khong-phi-tinh-phan-Phong thủy huyền không phi tinh (Phần I)

Phong Thủy Huyền Không

Nói về hai chữ HUYỀN KHÔNG

Chương trọng Sơn nói:” Vô định, vô cứ, không phương hướng, không góc cạnh, không khởi đầu, không kết thúc, không hình thể, không dấu vết, tồn tại khắp nơi, không lúc nào không có Đấy gọi là Huyền Không”

Lạc Sĩ Bằng viết:”Huyền nghĩa là trời đất khiến nó như thế Không nghĩa là đất phải bẩm thụ như thế Chính vì chú trọng mặt đất như thế thì có gì là “Không”? Nhưng đất cũng có lưu động, thông dòng Đấy chính là chỗ “không” của mặt đất vậy Đấy cũng chính là chỗ xảo diệu, khéo léo của đất vậy

Thẩm Trúc Nhưng giải thích về Huyền Không: “Huyền nghĩa là nhất (một) (Huyền giả nhất dã) Không cũng là vạch liền trong bát quái Song “không “ở đây không phải là không có gì mà không ở đây vẫn bao hàm cái có

Các học giả Thiên Trúc (Ấn Độ) nói về chữ “không”:

Khái niệm không ở đây phải dựa vào khái niệm có mà nên vậy

HUYỀN KHÔNG là sự đến từ hư vô rồi trở về hư vô Từ một đến chín, để suy đoán sự sinh ra hay mất đi, thăng hay giáng, âm hay dương trong trời đất

Thế giới chúng ta đang sống, con người – trời – đất , thời gian và không gian, mỗi cái đều khác nhau Nhưng cùng tồn tại theo một qui luật chung trong mối quân bình hài hòa, Chúng đã ở đúng trong vị trí mà chúng phải tồn tại Qui luật luôn biến đổi mà hài hòa cân đối đó chính là thuật “phong thủy” mà Huyền Không địa

lý nghiên cứu

Sơn –tĩnh, Thủy – động, nhưng có mối quan hệ quân bình với nhau Không thể chỉ

Trang 2

dùng mắt thường để xem mà phải dùng “tâm nhãn” để xem nữa

HUYỀN KHÔNG nghiên cứu sự thay đổi, biến hóa của sự vật, biểu thị bằng các số

từ 1 đến 9 di chuyển theo một quĩ đạo nhất định là vòng “Lường thiên xích”

Bàn về vòng Lượng thiên xích, sách "Trạch vận tân án" có viết:

Thùy đắc Lượng thiên Xích nhất chi,

Bộ lường trung, ngoại cổ kim thi,

Tử sinh đắc thất tùy thám sách,

Quá hiện vị lai liễu liễu tri

Tạm dịch:

Nếu đã nắm được vòng Lượng thiên Xích,

Có thể đo lường mọi chuyện trong, ngoài xưa nay,

Tìm hiểu được sự sống chết và được mất,

Biết rõ quá khứ, hiện tại và tương lai

Cho nên Huyền khôngđịa lý là môn Phong thủy dựa vào sự di chuyển của 9 con số theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự thịnh, suy, được, mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch)

Lạc thư, Hà đồ và Lượng thiên Xích

Hãy coi thử ma phương sau:

Tổng số của các cạnh hay đường chéo đều bằng 15 Đây chính là cân bằng của vũ trụ

1-Hà Đồ: Hà Đồ có 10 số: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10 Tổng số Hà Đồ là 55 Năm số lẻ là

Trang 3

số dương tức số trời được biểu tượng bắng những chấm trắng Tổng số các số trời

là 1+3+5+7+9= 25 Năm số âm là số chẵn tức số đất biểu thị bằng những chấm đen Tổng số các số đất: 2+4+6+8+10 = 30 Tổng cộng số trời đất là 55 Do đó

“Dịch từ thượng” nói: số trời có 5, số đất có 5 Năm ngôi cùng tương tác mà hợp với nhau Số trời là 25, số đất là 30, tổng số là 55, các số đó tạo nên sự biến hóa và điều hành quỷ thần Theo Chu Hy, 5 ngôi tương đắc mà đều hợp với nhau Theo

“Dịch hệ từ thượng”: Ở trên là chỉ sự xếp đặt 5 cặp số của Hà Đồ, cứ một số trời hợp với một số đất, 1-6 ở dưới, 2-7 ở trên, 3-8 ở bên trái, 4-9 ở bên phải và 5 hợp với 10 ở trung cung Hà Đồ là bức đồ đầu tiên của Kinh Dịch, sự vận hành của nó theo chiều tương sinh của ngũ hành, vì ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới luôn luôn tiến hóa , biểu hiện sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo dịch Bắt đầu từ Bắc đến Đông, vì Thủy sinh Mộc, qua Nam, vì Mộc sinh Hỏa, vào trung ương, vì Hỏa sinh Thổ, đi qua Tây , vì Thổ sinh Kim, trở về Bắc , vì Kim sinh Thủy Vậy đường vận hành khởi từ Bắc ở dưới, qua bên trái, lên phía trên,vào trung ương, sang bên phải, lại về Bắc ( Theo quan điểm Á Đông vì ở Bắc bán cầu: Phía Bắc biểu trưng cho hàn lạnh nên thuộc Thủy, Phía Nam biểu trưng cho ấm nóng, nên thuộc Hỏa Phía Đông biểu trưng cho sự trỗi dậy, nên thuộc Mộc Phía Tây biểu trưng cho bền chắc, nên thuộc Kim Trong khi đó Nam Bán Cầu thì vị trí Hỏa và Thủy sẽ đổi cho nhau, điều này lý giải phía Nam bán cầu “lường thiên xích” bay ngược với Bắc bán cầu)

Theo truyền thuyết thì vua phục Hy bên tàu thấy thần Mã xuất hiện ở sông hoàng

hà, trên lưng có chữ số theo 4 phương vị BẮC – NAM – ĐÔNG – TÂY nên ghi chép lại, gọi là hà đồ

Trang 4

Khẩu quyết của hà đồ như sau:

“Nhất – Lục công tông, vi Thủy cư BẮC

Nhị - Thất đồng đạo, vi Hỏa cư NAM

Tam – Bát vi bằng, vi Mộc cư ĐÔNG

Tứ - Cửu tác hữu, vi Kim cư TÂY

Ngũ – Thập cư trung, vi Thổ cư Trung”

Tạm dịch là:

“ 1 - 6 đồng tông (cùng gốc), là thủy cư phương BẮC

2 – 7 đồng đạo (cùng chí hướng), là Hỏa đóng ở phương NAM

Trang 5

Theo truyền thuyết vua VŨ khi trị thủy trên sông Lạc thì gặp rùa thần nổi lên, trên lưng có đồ hình phương vị của cửu tinh Vua Vũ sao chép lại và gọi đó là Lạc Thư Khẩu quyết của Lạc Thư :

“Đời Cửu, lý Nhất; tả Tam, hữu Thất; Nhị-Tứ vi kiên; Lục-Bát vi túc; Ngũ cư trung vị”

Có nghĩa là : “ Trên đội 9, dưới đạp 1; bên trái 3; bên phải 7; vai là 4 và 2; chân là

6 và 8; còn 5 ở chính giữa”

3- Tiên Thiên Bát Quái: từ Hà Đồ người đời sau này khi phát hiện được 8 quẻ dịch mới lập thành 8 hướng và đưa 8 quẻ dịch vào đó (các chữ số là số quẻ tiên thiên) 4-Hậu Thiên Bát Quái : Dựa vào lạc thư, sau này vua Văn Vương nhà Chu mới đổi lại phương vị của 8 quẻ trong Tiên Thiên Bát Quái theo với ý nghĩa và phương vị

Trang 6

của 9 số trên Lạc Thư mà đặt ra Hậu Thiên Bát Quái (các chữ số là số của Lạc Thư

và cũng là số quẻ Hậu Thiên)

Với việc phát minh và sử dụng 8 hướng trên la bàn, vua Vũ đã có thể tách rời các cặp và phân bố chúng ra khắp 8 hướng, nhưng trên thực tế vẫn là qui tụ về những cặp số của hà đồ tức tiên thiên Trong Hà Đồ, 1-6 đứng chung ở phía Bắc Còn

trong Lạc Thư , 1 vẫn nằm ở phía Bắc, còn 6 ở Tây Bắc Nên tuy hình thức là tách rời, nhưng thật ra vẫn là kề vai sát cánh, đứng bên cạnh nhau mà tạo thành thế

“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” Và với sự ra đời của Hậu thiên bát

quái, tính chất, phương vị, ngũ hành của cửu tinh và của 8 quẻ đều đã được khẳng định Nên chúng chính là khởi điểm cho mọi ngành học thuật phương đông, trong

đó có phong thủy

Các quẻ bát quái đứng trong Hậu thiên (cũng như lạc thư) tạo thành một vòng

tương sinh

Trang 7

Phương vị của Cửu tinh trong Hậu thiên bát quái như sau:

- Số 9 nằm ở trên tức hướng NAM Vì phương NAM nóng, thuộc quẻ Ly-Hỏa nên

Do đó, phương vị của Cửu tinh trong Hậu thiên Bát quái như sau:

Trang 8

đông nam nam tây nam

Trong tất cả những cái giống nhau thì đều có điểm khác nhau

Trong tất cả những cái khác nhau thì đều có điểm giống nhau

Đó là Âm – Dương

Âm dương là hai yếu tố quan trọng trong cuộc sinh thành tiến hoá của vạn vật Ý nghĩa tuy trái ngược nhau nhưng âm dương luôn luôn dung hoà lẫn nhau, bổ túc cho nhau,…

Âm dương là lưỡng nghi, phân ra làm 4 gọi là tứ tượng:

Thiếu dương: Khí dương còn non

Thái dương : Dương cực mạnh

Thiếu âm : Âm mới sinh

Thái âm : Âm dày đặc

Đặc tính :

Dương : Động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên, khô ráo, cứng, mạnh, tiến đi

xa, mau lẹ, mở số lẻ, nam, ngày, mặt trới, hoả, bên trái cơ thể

Trang 9

Âm : Tĩnh, lạnh, tối, đục, nặng, chìm xuống dưới , ẩm ướt, mềm, yếu, lùi trở lại, chậm chạp, đóng, số chẵn, nữ, đất, đêm, mặt trăng, thuỷ, bên phải cơ thể

Trong sự biến hoá tuần hoàn : Âm mạnh thì dương yếu; dương mạnh thì âm yếu

Âm dương như 2 cực nam châm, cùng tính thì chống đẩy nhau, khác tính thì thu hút lẫn nhau Nhưng trong mọi vật hai yếu tố ấy luôn dung hoà lẩn nhau, tương giao cùng nhau Cả hai đóng vai trò quan trọng trong cuộc sinh thành của vạn vật

Âm Dương và sự hình thành tám quẻ tượng

Chu Hy nói rằng : Dịch có Thái Cực sinh hai nghi (âm và dương) , hai nghi sinh bốn tượng (tức thiếu dương, thái dương, thiếu âm, thái âm), bốn tượng sinh bát quái (tức càn , đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn) rồi bát quái lại sinh 64 quẻ cũng như rễ thì có gốc, gốc có cành, cành lớn càng ít thì cành nhỏ càng nhiều Âm trường thì dương tiêu (âm lớn mạnh thì dương mất đi), dương trường thì âm tiêu (mặt trời càng lên cao thì bóng tối dần càng mất đi) Đó là lẽ sinh sinh diệt diệt trong vũ trụ Như ta từ không mà đến rồi lại sẽ trở về không vậy

Khôn (địa)

::: Khi trời đất còn là mội cõi hư vô Do Đó tính của quẻ là Hư, Hình ảnh của quẻ

là lục đoạn, lý là nhu thuận, thuận dã, mềm mỏng, như mặt đất yêu thương mọi vật trên đó (thổ), Dương thuận tòng,hòa theo lẽ, chịu lấy,ẩn, như tuân theo mà được lợi, thấp, nhỏ, tối,là hình ảnh cũa mẹ già Số tiên thiên là 8, sô hậu thiên là 2 (cũng

là số của cửu tinh)

Cấn (sơn)

::| Không còn ẩn nữa và dương bắt đầu xuất hiện nhưng còn non vì ở ngọn Do đó tính là Ngưng, hình ảnh quẻ là phủ hạ tức trùm lên cũng là hình trái núi (thổ) Lý là Ngưng nghỉ Chỉ dã, ngăn giữ, ở, thôi, ngừng lại, đậy lại, để dành, Ngăn cấm, vừa đúng chỗ, che phủ Ngôi thứ là trai út hay thiếu (dương còn non) Ngôi thứ là thiếu nam (trai út) Số tiên thiên 7, số hậu thiên là 8

Khảm (thủy)

:|: Dương lẩn vào trong tức được đứng vững Do đó tính là Trụ (cây trụ muốn vững thì cần cắm xâu) hình ảnh là trung mãn (đầy bên trong) là eo thắt, như được bao kín (thủy) , Lý là hãm hiểm, hãm dã, hãm vào trong, bắt buộc, xuyên xâu vào trong, hố xâu, trắc trở, hiểm hóc, gập ghềnh Ngôi thứ là trung nam (đồng lấy dị

mà luận) Số tiên thiên là 6, số hậu thiên là 1

Tốn (phong)

:|| Xuất hiện thêm một hào dương, Âm lui dần về tức ẩn tàng, dấu diếm Do đó tính

là Tiềm hình ảnh là hạ đoạn (đứt dưới), như cây cổ thụ có rễ tỏa ra (mộc cỗi) Lý

là Thuận nhập, thuận dã (chiều theo), thuận theo ý trên, theo xuống, theo tới, theo

Trang 10

lui, có sự dấu diếm ở trong Ngôi thứ là trưởng nữ Số tiên thiên là 5, số hậu thiên

là 4

Chấn (lôi)

|:: Lúc này khí dương đã đủ sức xuống đến gốc để chuẩn bị chu kỳ mới bung lên

Do đó tính là Khởi Hình ảnh là ngưỡng thượng (chén ngửa), như mầm non mới nhú (mộc non) Lý là động dụng, động dã, bung lên, khởi lên, sợ hải, nổ vang, chấn động, chấn kinh, phân phát Ngôi thứ là trưởng nam Số tiên thiên là 4, số hậu thiên

là 3

Ly (hỏa)

|:| Xuất hiện một khí dương bên trên ngọn như ngọn lửa tỏa ra Do đó tính là Vũ Hình ảnh là trung hư, rỗng ở trong , như ngọn lửa thấy vậy mà trong rỗng mà thôi (hỏa) Lý là nóng sáng, lệ dã, sáng sủa, tỏa ra, bám vào, phụ vào, trưng bày, phô trương, trống trơn, không yên Ngôi thứ là trung nữ (gái giữa) Số tiên thiên là 3, số hậu thiên là 9

Đoài (trạch)

||: Lúc này dương đã làm chủ đẩy âm hiện lên trên Do đó tính của quẻ là Hiển hình ảnh là thượng khuyết, là khuyết mẻ , như lưỡi dao bị mẻ vậy (kim bén , mỏng) Lý là hiện đẹp, duyệt dã, vui lòng, vui vẻ, ưa thích, nói năng, khuyết mẻ Ngôi thứ

là thiếu nữ (gái út) Số tiên thiên là 2, số hậu thiên là 7

Kiền (thiên)

||| Dương đã hoàn toàn xuất hiện như một điều hiển nhiên Do đó tính là Như Hình ảnh tam liên, tròn đầy , cứng chắc như khối kim loại (kim khối, cục) Lý là cương kiện, kiện dã, mạnh mẽ, cứng mạnh, khỏe mạnh, khô, lớn , cao, dương sáng Hình ảnh của người Chồng hoặc Cha Số tiên thiên là 1, số hậu thiên là 6

Tóm lại: sự hình thành tính chất của 8 quẻ qua các giai đoạn từ hư không cho đến hiện tại:

8_Hư – 7_Ngưng – 6_Trụ - 5_Tiềm – 4_Khởi – 3_Vũ – 2_Hiển – 1_Như

Từ tám quẻ tiên thiên khi chồng nên nhau giống như những sự kiện được liên kết lại mà hình thành nên 64 quẻ dịch

2- Giai đoạn thành; Nói về số thì ;

-Trời 1 sinh thuỷ, đất 6 thành thuỷ (1-6 là thuỷ tiên thiên)

- Đất 2 sinh hoả, trời 7 thành hoả (2-7 là hoả tiên thiên)

Trang 11

- trời 3 sinh mộc, đất 8 thành mộc (3-8 là mộc tiên thiên)

- Đất 4 sinh kim, trời 9 thành kim (4-9 là kim tiên thiên )

- Trời 5 sinh thổ, đất 10 thành thổ (5-10 thành thổ)

Phương hướng;

Mộc ở phương đông, hoả ở phương nam, thổ ở trung ương, kim ở phương tây, thuỷ

ở phương bắc Đây chính là phương vị ngũ hành trong hà đồ

- Kim: đầu, họng, lưỡi, phổi

- Mộc: Lông, tóc, tay chân, gan, mật

- Thuỷ: Máu, mồ hôi, nước mắt, tai, thận

Trang 12

Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau

để đi đến sự hủy diệt Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời (Thượng Đế), nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi Ngoài

ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy Ngũ hành phản sinh

Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành

Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

- Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp

- Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than

- Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt

- Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt

- Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục

Ngũ hành phản khắc

Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng

do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn

Trang 13

bị thương tổn, gây nên sự phản khắc

Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:

- Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy

- Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu

- Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt

- Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn

- Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt

Cho nên trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa Biết hết được những điều này thì khi ứng dụng vào Huyền không mới đạt đến mức độ linh hoạt và tinh vi, chính xác hơn Chẵng hạn như một ngôi nhà nơi phía ĐÔNG có các vận-sơn-hướng tinh 3-3-7 Nếu theo thông thường thì thấy

7 thuộc hành Kim khắc 3 thuộc hành Mộc, nên nếu nhà này có cửa ra vào tại nơi

đó thì đoán là nhà sẽ có người bị gãy tay, chân vì Kim khắc Mộc Nhưng nếu nhìn

kỹ thì thấy nơi đó có tới hai sao hành Mộc Lại thêm phía ĐÔNG cũng hành Mộc Cho nên Mộc nơi này vượng, một sao Kim thế yếu không thể khắc được, mà còn bị phản khắc lại Vì thế nhà này không có người bị gãy tay chân, mà chỉ có bị bệnh yếu phổi hay đau phổi mà thôi

Lượng thiên xích

Là sự di chuyển của cửu tinh trong lạc thư hay hậu thiên bát quái còn gọi là "Cửu tinh đăng quái"

1- Lượng thiên xích thuận:

đông nam nam tây nam

9 5 7

đông 8 1 3 tây

4 6 2

đông bắc bắc tây bắc

(1) Từ trung cung xuống TÂY BẮC

(2) Từ TÂY BẮC lên TÂY

(3) Từ TÂY xuống ĐÔNG BẮC

(4) Từ ĐÔNG BẮC lên NAM

(5) Từ NAM xuống BẮC

(6) Từ BẮC lên TÂY NAM

(7) Từ TÂY NAM sang ĐÔNG

Trang 14

(8) Từ ĐÔNG lên ĐÔNG NAM

(9) Từ ĐÔNG NAM trở về trung cung

(1) Từ trung cung lên ĐÔNG NAM

(2) Từ ĐÔNG NAM xuống ĐÔNG

(3) Từ ĐÔNG lên TÂY NAM

(4) Từ TÂY NAM xuống BẮC

(5) Từ BẮC lên NAM

(6) Từ NAM xuống ĐÔNG BẮC

(7) Từ ĐÔNG BẮC sang TÂY

(8) Từ TÂY xuống TÂY BẮC

(9) Từ TÂY BẮC trở về trung cung

Sự di chuyển thuận, nghịch của Cửu tinh là hoàn toàn dựa vào nguyên tắc phân định âm-dương của Tam nguyên long

Cửu tinh và ý nghĩa

- Số 1: Nhất bạch hay tham lang: Đệ nhất cát tinh Nếu đương vượng mà hình thế loan đầu có thủy động thì khoa cử đỗ đạt, sinh con trai thông minh trí tuệ Nếu suy

tử thì hại vợ, không thọ, cuộc đời trôi nổi, mang nhiều bệnh tậ về huyết, thận hư

* về ngũ hành: thuộc thuỷ

* Về màu sắc: màu trắng

* Về cơ thể : Thận, tai, máu huyết

* về người : con trai thứ

* về tính chất : thuộc dương

- Số 2 : Nhị hắc hay cự môn : Hung tinh Nếu vượng thì giàu có, điền sản phát mạnh, nhân khẩu hưng vượng lại phát quí về binh nghiệp Nếu suy tử thì vợ đoạt quyền chồng, tính tình nhỏ nhen, thâm hiểm, keo kiệt, khó sinh đẻ, có bệnh về bụng Trong nhà thường phát sinh bệnh hoạn liên miên

Trang 15

* về tính chất : thuộc âm

- Số 3 : Tam bích hay lộc tồn : Hung tinh Nếu vượng thì tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia tộc, cơ nghiệp vững vàng, con cái dòng trưởng rất hưng thịnh Nếu suy tử thì người nhà dễ bị điên hoặc hen suyễn, chân tàn tật, khắc vợ, kiện tụng thị phi hoặc trở thành trộm cướp

* về ngũ hành: thuộc mộc

* Về màu sắc: màu xanh lá cây

* Về cơ thể : mật, vai và tay

* về người: con trai trưởng

* về tính chất : thuộc dương

- Số 4 : Tứ lục hoặc văn xương : Cát tinh Vượng thì văn chương lừng danh, khoa

cử đỗ đạt, con gái dung mạo đoan trang lấy được con nhà quyền quí Nếu suy tử thì phụ nhân dâm loạn, đàn ông đam mê tửu sắc, gia sản phá hoại, phải lang thang phiêu bạt

* về ngũ hành: thuộc mộc

* Về màu sắc: màu xanh dương

* Về cơ thể : đùi và 2 chân

* về người: con gái trưởng

* về tính chất : thuộc âm

- Số 5 : Ngũ hoàng hoặc Liêm trinh :Đạt sát tinh Vượng thì tài đinh đại phát Nếu suy tử thì bất kể được sinh hay bị khắc đều rất xấu ví vậy nó tịnh không nên động Nếu gặp sao thái tuế tới thì tính hung càng phát mạnh làm tổn đinh, phá tài , nhẹ thì ốm đau, nặng thì mất người

* về ngũ hành: thuộc kim

* Về màu sắc: màu trắng bạc

* Về cơ thể : đầu, mũi, cổ, xương, ruột già

* về người: cha hoặc chồng trong gia đình

Trang 16

* về ngũ hành: thuộc kim

* Về màu sắc: màu đỏ

* Về cơ thể : phổi, miệng, lưỡi

* về người: con gái út

* về tính chất : thuộc âm

- Số 8 : Bát bạch hoặc tả phù: Cát tinh Vượng thì trung hiếu, phú quí dài lâu, con cháu được hưởng phúc lộc của tổ tiên Suy tử thì có tổn thương nhỏ hoặc bị bệnh dịch

* về ngũ hành: thuộc hoả

* Về màu sắc: màu đỏ tía

* Về cơ thể : mắt, tim, ấn đường

* về người: con gái giữa

* về tính chất : thuộc âm

Còn như thế nào là vượng hay suy sẽ phân tích ở phần sau

Trên đây là những yếu tố căn bản tối thiểu mà người học huyền không phải nắm vững để ứng dụng sau này

Phong thủy huyền không phi tinh (Phần II)

Hướng nhà và Tâm nhà

1- Hướng nhà:

Hướng nhà là một trong nhiều căn bản của Huyền Không Phi Tinh Tuy là căn bản nhưng lại đòi hỏi nhiều kinh nghiệm Nếu không thì sẻ nhận thức sai về phương hướng của căn nhà Phái phi tinh dùng hướng nhà chứ không dùng hướng cửa như phái bát trạch

Đại đa số hướng nhà đều đi chung với hướng cửa ngoại trừ vài trường hợp như cửa

mở bên hông nhà, nhà có kiến trúc khác thường, v.v

Nói một cách đơn giản thì hướng nhà phải là hướng đối ngược với hướng của người đi tới nhà Như người đi tới hướng Nam để tới nhà thì hướng nhà là hướng

Trang 17

Khi phân vân thì ta phải lập nhiều tinh bàn rồi so sánh với diễn biến đã sảy ra trong nhà đó phù hợp với tinh bàn nào thì dùng tinh bàn của hướng đó

Đo hướng nhà thì đơn giản hơn nhận định hướng, chỉ cần chọn một vách nhà song song với hướng của nhà, sau đó căng một sợi giây song song với vách đó và chạy

ra khỏi nhà khoản 2-3 mét Để la bàn song song với sợi giây đó và xem bao nhiêu

độ Nếu có khả năng canh bằng mắt thì không cần dùng giây

Trong một vài trường hợp không có vách nào song song với hướng nhà thì chọn một vách vuông gốc với hướng nhà mà đo, sau đó cộng hoặc trừ 90 độ thì sẻ được hướng nhà

Trang 18

Tại sao phải làm như dưới đây ? Tại gì đó là một cách đo chính xác nhất mà không cần phải có nhiều kinh nghiệm Có người thì đứng giửa nhà hay trước cửa nhìn ra hoặc đứng trước nhà nhìn vào v.v Những cách này không thể chính xác được Tại sao ? đó là gì la bàn không có điểm tựa, và người đứng không có điểm tựa, nhích một chút là đã sai lệch thấp nhất củng 1 độ Sai lệch 1 độ là rất lớn có thể dẩn tới kết quả đảo ngược Tại sao? đó là gì khi phân kim ta phân 24 sơn ra 60 long rồi có người lại phân ra 384 quẻ như vậy 0.5 độ đã có thể từ quẻ này sang quẻ khác rồi đừng nói gì tới 1 độ

Dụng cụ để đo hướng nhà là la bàn (dụng cụ chuyên nghiệp là La kinh)

Trang 19

2- Tâm nhà :

Tâm nhà củng như hướng nhà là một căn bản mà người học phong thủy lẩn người muốn xem phong thủy cần biết Nếu lấy hướng sai thì xem phong thủy sẻ sai, nếu lấy tâm nhà sai thì xem phong thủy củng sai

Đại đa số những thầy phong thủy đều dựa vào kinh nghiệm của mình và mức phán đoán của mình mà chọn tâm nhà Mức độ chính xác dựa theo cách này thì tùy theo kinh nghiệm của mổi người

Nhưng nếu dựa vào bản vẻ và toán học để tìm tâm nhà thì mức độ chính xác sẻ cao

và không phân biệt giửa người không có kinh nghiệm và người có kinh nghiệm

Tâm nhà trong phong thủy gọi là thái cực và củng có nhiều người gọi là thiên tâm Thái cực là danh từ dùng chung cho các tâm điểm chứ không riêng về tâm nhà Mọi vật đều có thái cực và ý nghĩa của thái cực là điểm giửa của các vật, nơi mà vật đó phụ thuộc vào để giử thăng bằng

Hình dạng nhà cửa ngày nay cũng rất phức tạp và đa dạng, khiến cho việc tìm tâm nhà đang từ là 1 vấn đề dễ dàng đôi lúc cũng trở nên khó khăn Đối với những nhà được xây theo hình vuông hay hình chữ nhật thì tâm nhà là giao điểm của 2 đường chéo

Đối với những nhà có hình tam giác, lục giác, hình thang thì cách tính tâm nhà cũng là cách tính tâm những hình này trong các lớp toán tiểu học Còn đối với những nhà có nhiều góc cạnh không đồng đều thì việc định tâm nhà tương đối khó khăn hơn Phương pháp đơn giản nhất để tìm tâm của những căn nhà này (và ngay

cả những nhà hình tam giác, lục giác ) là vẽ sơ đồ nhà lên giấy kẻ ô vuông theo đúng tỉ lệ kích thước của căn nhà, rồi in hình đó sang 1 tấm bìa cứng Sau đó cắt hết những phần thừa của tấm bìa cứng đi, chỉ để lại phần sơ đồ căn nhà mà thôi Rồi lấy 1 vật nhọn (như đầu viết chì, viết big ) để nâng tấm bìa cứng có hình sơ

đồ căn nhà lên Tới lúc nó có thể nằm thăng bằng trên đầu cây viết thì điểm đó chính là tâm của căn nhà Dùng bút chì để đánh dấu điểm đó, xong bạn vẽ 2 đường thẳng đi ngang qua điểm đó: 1 đường thẳng góc với 2 bên hông nhà; 1 đường thẳng góc với 2 mặt trước, sau của căn nhà Đường thẳng thứ 2 này sẽ là tọa và hướng của căn nhà Từ đường thẳng này bạn có thể phân ra 8 hướng và 24 sơn chung quanh nhà để xác định chính xác vị trí của mọi thứ trong nhà trước khi luận đoán cát, hung, hay tìm cách sửa đổi Phong thủy cho căn nhà đó

3- Vẽ sơ đồ nhà:

Trang 20

Trước hết ta cần có giấy trắng kẻ ô vuông và một cây thước đo Ta đo chiều dài, chiều rộng của căn nhà là bao nhiêu mét (hay feet), rồi tùy theo nhà lớn hay nhỏ

mà tính theo tỷ lệ cứ 1mét hay 1 feet = 1 ô hay 2 ô trên giấy Kế đến, ta vẽ cách bố trí cuả căn nhà, như cửa chính, cửa sau, cửa sổ, phòng khách, phòng ăn, bếp, phòng ngủ, phòng vệ sinh, cầu thang, v.v., theo từng khu vực trong khuôn viên của 4 bức tường Dĩ nhiên là phải đo kích thước và tính tỷ lệ trước khi vẽ, ví dụ nếu ta muốn

vẽ vị trí bếp thì phải đo xem nó cách bức tường phía trước (hay phía sau) khoảng bao nhiêu Và cách bức tường bên phải (hoặc bên trái) khoảng bao nhiêu Rồi nó lớn khoảng bao nhiêu Và nhìn về bức tường nào?

Sau đó, ta áp dụng cách tìm tâm nhà như đã nói ở trên để xác định tâm nhà trên sơ

đồ vừa vẽ xong Kết hợp với cách tìm và đo hướng nhà (đã nói ở bài trước) ta sẻ xác định được 8 hướng trên sơ đồ nhà Như vậy là ta có được một sơ đồ nhà hoàn chỉnh

Nếu các bạn dùng phần mềm AUTOCAD để vẽ và định tâm nhà thì sẽ cho chính xác khá cao

Trang 21

Thí dụ: nhà đo độ hướng được 91’ tức nằm trong cung Mão vậy là nhà tọa Dậu hướng Mão

Lường Thiên xích : Là hướng bay của cửu tinh khi có một sao nhập trung cung Lường thiên xích thuận:

Lường thiên xích nghịch:

Sơn & Hướng:

Hậu thiên bát quái được chia thành tám hướng đều nhau, mỗi hướng chiếm 45 độ trên la bàn và đi với một số của cửa tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6) Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa

Mỗi hướng lại chia thành 3 sơn, mỗi sơn chiếm 15 độ:

- Hướng BẮC (số 1): Gồm 3 sơn NHÂM–TÝ-QUÝ

- Hướng ĐÔNG BẮC (số 8): 3 sơn SỬU–CẤN–DẦN

- Hướng ĐÔNG (số 3): 3 sơn GIÁP–MÃO–ẤT

- Hướng ĐÔNG NAM (số 4) 3 sơn THÌN–TỐN–TỴ

- Hướng NAM (số 9): 3 sơn BÍNH–NGỌ–ĐINH

- Hướng TÂY NAM (số 2): 3 sơn MÙI–KHÔN–THÂN

- Hướng TÂY (số 7): 3 sơn CANH–DẬU–TÂN

- Hướng TÂY BẮC (số 6): 3 sơn TUẤT–CÀN–HỢI

Độ số chính giữa của mỗi sơn : sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ

15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH

Trang 22

195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;

Độ chính giữa (+)(-) 3 độ thì gọi là chính hướng Còn (+)(-) trên 3 độ thì gọi là kiêm hướng

Tam nguyên long:

Tam nguyên long gồm có : Thiên nguyên long, nhân nguyên long và địa nguyên long

@ THIÊN NGUYÊN LONG: có 8 sơn :

* 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN

* 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU

@ ĐỊA NGUYÊN LONG: có 8 sơn:

* 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH

* 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI

@ NHÂN NGUYÊN LONG: có 8 sơn:

* 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI

* 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ

Dựa vào tính chất âm dương của tam nguyên long mà ta sẽ biết được lường thiên xích đi thuận hay đi nghịch

Phương pháp lập tinh bàn:

1 - Vận bàn:

Thời gian được chia làm 3 nguyên, gồm: thượng nguyên, trung nguyên và hạ

nguyên Mỗi nguyên lại chia làm 3 vận Mỗi vận là 20 năm

- Thượng Nguyên gồm : Vận 1, 2, 3 Tổng cộng là 60 năm

- Trung nguyên gồm : vận 4, 5, 6 Tổng cộng 60 năm

- Hạ nguyên gồm : Vận 7, 8, 9 Tổng cộng 60 năm

Tổng 3 nguyên là 180 năm Hết hạ nguyên lại tới thượng nguyên

Chúng ta đang sống trong hạ nguyên;

Trang 23

2 - Hướng bàn: Sau khi có vận bàn ta lấy số ở hướng cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm dương của cung nguyên thủy cùa sao ấy Thí dụ 1: nhà tọa Càn hướng Tốn, Hướng có sao số 7, lấy 7 nhập trung cung, Tốn

là thiên nguyên long Thiên nguyên long của 7 là Dậu, Dậu tính chất là Âm nên 7 bay nghịch (thường thì hướng tinh đặt bên phải của vận tinh)

3 - Sơn bàn: "Sơn" chỉ khu vực sau nhà , tức phương toạ Lấy số của vận bàn tại phương toạ đem nhập trung cung, để ở góc bên trái Xem phương toạ là sơn gì? Thuộc tam nguyên long nào? Thí dụ : toạ càn thuộc thiên nguyên long.Tiếp theo coi số của vận tinh thuộc tam nguyên long đó tính chất âm dương là gì? Nếu là dương thì theo lường thiên xích thuận còn nếu là âm thì theo lường thiên xích nghịch Thí dụ : Vận 8 vận tinh tại càn là 9 Thiên nguyên long của 9 là ngọ, tính chất của ngọ là âm Vậy 9 nhâp trung cung bay nghịch

Tóm tắt

- lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung

- Nếu là thiên hoặc nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch

- Nếu là địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận

Thế quái

Khi nhà bị lệch (+)(-) Trên 4 độ cho tới dưới 7 độ thì phải dùng thế quái để lập tinh bàn

Trang 24

Phương pháp lập tinh bàn thế như sau:

- Lập vận bàn

- tam nguyên long của sơn hoặc hướng là gì?

- coi số của vận bàn tại phương toạ hoặc hướng thuộc tam nguyên long đó gốc là gì?

Thí dụ: toạ càn vận 7 Càn là thiên nguyên long Bát (8) đáo toạ, thiên nguyên của

8 là cấn

- Không dùng 8 nhập trung cung mà dùng số thế theo bài khẩu quyết của Khương Nghiêu:

Bốn sơn : Tí Quí Giáp Thân, dùng sao Tham Lang (1) thay thế

Năm sơn : Nhâm Mão Ất Mùi Khôn, dùng sao Cự Môn (2) thay thế

Sáu sơn : Tuất Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ, dùng sao Vũ Khúc (6) thay thế

Năm sơn : Tân Dậu Sửu Cấn Bính, dùng sao Phá Quân (7) thay thế

Bốn sơn : Ngọ Đinh Dần Canh, dùng sao Hữu Bật (9) thay thế

Thí dụ : theo thí dụ trên thì thiên nguyên của 8 là cấn, dùng phá quân (7) thay thế Vậy lấy 7 nhập trung cung Cấn dương nên đi thuận

Trong này ta thấy có một số sơn phải dùng thế mà không thế Thí dụ : sơn Tý thế bằng 1 thực ra số của sơn Tý cũng là 1

Ngoại trừ các sơn thế mà không thế ra ta còn:

Hai sơn : Giáp Thân, dùng sao Tham Lang (1) thay thế

Ba sơn : Nhâm Mão Ất, dùng sao Cự Môn (2) thay thế

Hai sơn : Tốn Tỵ, dùng sao Vũ Khúc (6) thay thế

Ba sơn : Sửu Cấn Bính, dùng sao Phá Quân (7) thay thế

Hai sơn : Dần Canh, dùng sao Hữu Bật (9) thay thế

Trang 25

Thí dụ: Số ở hướng là 3 lại ở địa nguyên long Địa nguyên long của 3 là Giáp Vậy

số thế cho Giáp là 1

Các cung khác không trong bài thơ này tức không có số thế Thí Dụ: Số 6 ở thiên nguyên long Thiên nguyên long của 6 là Càn Càn không có số thế nên vẫn lấy 6 nhập trung cung bay thuận

Lập tinh bàn cho nhà kiêm 7 độ hoặc 7,5 độ

Còn đối với trường hợp hướng nhà lệch 7 độ hay 7 độ rưỡi thì không thể dùng tinh bàn của 1 hướng được nữa, mà phải lập tinh bàn cho cả 2 hướng Cho nên ngoại trừ những hướng kiêm giữa quẻ Phụ mẫu (Thiên) với Thuận tử (Nhân)( dùng thế quái như kiêm 5 độ)ra, còn những hướng kiêm khác đều sẽ xuất hiện 2 hướng tinh

và 2 sơn tinh tại mỗi cung của địa bàn, nếu hướng nhà đó kiêm trên 7 độ

Nói rỏ hơn là nếu kiêm 7 độ trừ trường hợp kiêm giữa thiên và nhân nguyên long(

vì 2 tinh bàn này là 1) ra ta phải lập tinh bàn thế quái cho cả hai hướng

Dưới đây là trạch vận căn nhà toạ nhâm hướng bính kiêm 7 độ vận 3

Phong thủy huyền không phi tinh (Phần III)

Sự kết hợp của các cặp Sơn - Hướng tinh

Phi tinh (khí) và Loan đầu (hình thế) là 2 yếu tố gắn bó chặt chẽ với nhau trong việc quyết định cát, hung của 1 căn nhà, còn thiết kế bên trong cũng có tác dụng nhưng yếu hơn, nên chỉ là phụ thuộc mà thôi Cũng giống như 1 căn nhà tuy phía

Trang 26

trước có biển lớn, phía sau có núi cao, 2 bên Long, Hổ hùng tráng bảo vệ Nhưng nếu phi tinh lại gặp phải cách vượng khí của Sơn tinh tới phía trước, Vượng khí của Hướng tinh tới phía sau thì vẫn bị cách "Thượng Sơn, Hạ Thuỷ" mà gia nghiệp suy bại thê thảm Nếu những căn nhà đã bị như thế thì dù thiết kế bên trong có hoàn mỹ tới đâu cũng không thể làm thay đổi cục diện xấu của căn nhà Ngược lại,

1 nhà tuy phía trước có núi cao, còn phía sau có biển lớn, tuy đối với phái Loan đầu là cục diện thất bại, nhưng nếu có vượng khí của Sơn tinh tới phía trước,

vượng khí của hướng tinh tới phía sau thì vẫn có thể phát phúc 1 thời Cho nên mới nói Loan đầu phụ thuộc vào Phi tinh, Phi tinh phụ thuộc vào Loan đầu là vậy

Về sự tương quan giữa vận-sơn-hướng tinh trong cùng 1 cung thì cũng đã có nhiều sách vở đề cập tới, thậm chí còn chia ra thành tỷ lệ phần trăm giữa 3 sao này để cứu xét Nhưng có lẽ các tác giả đó 1 là không muốn tiết lộ những gì họ biết, 2 là

vì không hiểu rõ tính chất vượng, suy hay "thất, đắc" của những phi tinh nên mới bày vẽ đủ cách tính toán mà thôi Nhưng thực chất là vì toạ và hướng là 2 phương

vị quan trọng quyết định vận khí của 1 căn nhà, nên Sơn tinh và Hướng tinh mới có tầm quan trọng đặc biệt, và cũng vì vậy mà khi lấy trạch vận cho 1 căn nhà thì người ta mới lấy những Vận tinh tới TOẠ VÀ HƯỚNG nhập trung cung xoay chuyển để xác định những phương vị sinh, vượng, suy, tử của Sơn tinh và Hướng tinh mà thôi Chứ không ai lấy hết Vận tinh chung quanh nhà đem nhập trung cung xoay chuyển làm gì, dù là phía trước của căn nhà đó có thuỷ hoặc cửa ra vào hay không? Hoặc phía sau có núi hoặc nhà cao che chắn hay không? Điều này cho thấy

2 phương toạ và hướng có tác động quyết định lên vận khí của 1 căn nhà, và do đó, sức mạnh của Sơn và Hướng tinh mới có tầm quan trong đặc biệt hơn Vận tinh Riêng Vận tinh chỉ là vị trí cố định của phi tinh trong từng Vận, nên tác dụng rất yếu, chỉ có khả năng phối hợp với Sơn và (hoặc) Hướng tinh để làm tăng thêm sự tốt, xấu mà thôi, chứ không thể có khả năng chi phối hay giảm thiểu, hoặc làm thay đổi tính chất của Sơn, Hướng tinh cùng vị trí với nó Còn sự tương tác giữa Sơn tinh và Hướng tinh, trên thực tế phải tuỳ thuộc vào sự "đắc cách" hay "thất cách" của chúng mới có thể biết được sao nào nắm quyền chủ chốt tại khu vực đó Muốn biềt được điều này thì phải nắm vững những nguyên lý về "Thu Sơn, Xuất Sát" mới không bị lầm lẫn hoặc rối trí trong việc xét đoán những ảnh hưởng của phi tinh trong cùng 1 cung Biết rằng khí sinh, vượng của Sơn tinh cần phải đóng trên những chỗ cao Nếu được như thế thì tức là Sơn tinh đã đắc cách, uy lực của nó đương nhiên được phát huy tới mức tối đa, cho nên chẳng những nó có đủ sức để chi phối cả Vận tinh và Hướng tinh tại đó, mà nếu gặp trường hợp Hướng tinh tại đây lại là khí suy, tử thì mọi hung khí của Hướng tinh đều được nó hoá giải Cho nên đây chính là trường hợp "dùng Sơn thần xuất sát của Thuỷ thần", hay còn được gọi tắt là "Xuất Sát"

Ngược lại, khí sinh, vượng của Hướng tinh cần phải đóng tại những nơi có Thuỷ như sông, hồ, ao, biển, hoặc những nơi có cửa nẻo ra, vào nhà Nếu được như thế

Trang 27

là Hướng tinh đã "đắc cách", nên uy lực của nó đủ để khống chế cả Vận tinh lẫn Sơn tinh tại đây Nếu trong trường hợp Sơn tinh là khí suy, tử thì sẽ được Hướng tinh hoá giải, làm mất hết hung khí, nên đây là trường hợp "dùng Thuỷ thần để thu sát của Sơn thần", hay còn được gọi tắt là "Thu Sơn"

Trường hợp 1 khu vực có cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh đều là khí sinh, vượng: nếu khu vực này có núi hay nhà cao thì Sơn tinh nắm quyền, chi phối Vận tinh và

Hướng tinh Nếu khu vực này có Thuỷ thì Hướng tinh nắm quyền, chi phối Vận tinh và Sơn tinh Nếu khu vực này không có núi, cũng không có Thuỷ, tức là cả Sơn tinh lẫn Hướng tinh đều không có hiệu lực Đây là cục diện ngang hoà, không

có sao nào chi phối nhau cả, và cũng không có ảnh hưởng gì tới vận khí căn nhà Trường hợp 1 khu vực có cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh đều là khí suy, tử: nếu khu vực này có núi hay nhà cao thì Sơn tinh đó đắc thế, nên nhà sẽ bị tai hoạ do đối tượng ứng với Sơn tinh đó gây ra Lấy thí dụ như nhà trong vận 8, nơi phía ĐÔNG

có Sơn tinh 7, hướng tinh 3 Nếu khu vực đó có núi hay nhà cao thì nhà sẽ bị tai hoạ do Sơn tinh số 7 này mang tới Vì số 7 thất vận chủ kẻ tiểu nhân hay trộm cướp, nên nhà này dễ bị kẻ tiểu nhân hãm hại, hay trộm cuớp đến phá nhà Trong trường hợp này, Sơn tinh sẽ khống chế Vận tinh và Hướng tinh Còn Hướng tinh thất vận lại nằm trên cao nên vô lực Ngược lại, nếu khu vực đó không có núi, nhưng lại có Thuỷ thì nhà sẽ bị tai hoạ hay thất tán tiền bạc do Hướng tinh đó đem tới Trong trường hợp này, Hướng tinh đã khống chế cả Vận tinh và Sơn tinh Còn Sơn tinh vừa là khí suy, tử, vừa đóng tại nơi thấp, trũng nên vô lực

Cho nên sự tương tác giữa những Sơn tinh và Hướng tinh trong cùng 1 cung là tuỳ thuộc vào sự thất, đắc của chúng mà thôi Nói "thất, đắc" không phải là nói thất vận hay đắc vận, mà là ám chỉ chúng có đóng tại những nơi phù hợp hay không mà thôi Sơn tinh nếu đóng trên núi cao là "đắc cách", sẽ có đủ uy lực sai khiến Thuỷ thần (tức Hướng tinh) Hướng tinh nếu đóng tại những nơi có Thuỷ là "đắc cách",

sẽ có đủ uy lực mà điều động Sơn tinh Nhưng cũng phải phân ra nếu khí sinh, vượng của Sơn, Hướng tinh mà "đắc cách" thì sẽ chủ đại phúc lộc, còn nếu khí suy,

tử của Sơn, Hướng tinh mà "đắc cách" thì sẽ chủ đại hoạ Còn nếu khí sinh, vượng của Sơn, Hướng tinh mà "thất cách", tức là Sơn tinh gặp Thuỷ, Hướng tinh gặp núi thì đã thuộc vào cách "Thượng Sơn, Hạ Thuỷ" rồi Cho nên khí sinh, vượng của Sơn, Hướng tinh cần phải "đắc cách" , còn khí suy, tử thì cần phải "thất cách" Có như thế thì mới bảo đảm phúc lộc lâu dài và tránh được mọi tai hoạ

Còn vấn đề dùng Ngũ hành sinh-khắc để luận ảnh hưởng của các sao, cũng như sự phối hợp giữa chúng mà tạo thành những số "hợp thập", số Tiên thiên hay Hậu thiên, Phản ngâm, Phục ngâm chỉ là phụ và sau khi đã biết được tình trạng "thất, đắc" của Sơn tinh và Hướng tinh mà thôi

Thế nào là thất cách hoặc đắc cách

Đắc cách là Sơn gặp núi cao, nhà cao , cây cao,…Hướng gặp thủy, trống thoáng

Trang 28

hay đường đi

Thất cách là :Sơn gặp Thủy, trống thoáng hay đường đi,…Hướng gặp Núi cao hay nhà cao, cây cao,

Thế nào là vượng và thế nào là suy ?

Vượng là khi sao vượng được đắc cách ( dĩ nhiên phải là sao vượng, sinh hoặc tiến khí trong vận đó )như sơn vượng thì có núi cao Nhà cao, cây cao….Hoặc hướng vượng thì có thủy, trống thoáng hoặc có đường đi

Suy là khi sao vượng bị thất cách Như sao sơn vượng, sinh hoặc tiến khí mà lại gặp thủy Hay sao hướng vượng, sinh hoặc tiến khí lại gặp sơn Sao tử khí đắc cách như: Sao sơn là tử khí mà lại gặp núi hoặc sao hướng là tử khí mà lại gặp thủy Lấy thí dụ như nhà trong vận 8, nhưng có Hướng tinh số 2 đắc thuỷ của hồ tắm lớn Đây là trường hợp tử khí đắc cách, nên trong nhà này vừa bị hao tài, vừa bị bệnh tật liên miên, lại còn xuất hiện quả phụ Cho nên đàn ông trong nhà đó dễ bị vắn số Đó là chưa kể nếu nơi đó lại có sơn tinh 3, tạo thành thế "ĐẤU NGƯU SÁT", nên gia đình sẽ bị mắc khẩu thiệt, quan tụng liên miên Hoặc nếu nơi đó có sơn tinh hay vận tinh 7, kết hợp với hướng tinh 2 tạo thành cặp 2-7 Hoả tiên thiên thì nhà này dễ bị xung đột hoặc trong nhà có người mắc bệnh đau tim Vào những năm có niên tinh 9, 7, 2 chiếu tới khu vực này thì bệnh tim càng nặng, có thể chết người Nếu khu vực này mà lại nằm tại phía ĐÔNG hoặc ĐÔNG NAM thì vào những năm có niên tinh 4, 3 chiếu tới thì còn gặp hoả hoạn mà sản nghiệp tiêu tan nữa Cho nên nếu khí suy tử mà đắc cách thì ngoài vấn đề phá tài, tổn đinh thì còn

bị những tai hoạ, bệnh tật khác nữa, chứ không phải chỉ là làm ăn lụn bại (trường hợp Hướng tinh "Thượng Sơn") hoặc nhân số giảm thiểu (trường hợp Sơn tinh "Hạ thuỷ") như các trường hợp vượng tinh thất cách, tức là mức độ tai hoạ còn nguy hiểm và trầm trọng hơn

Vấn đề khảo sát các sao Vận-Sơn-Hướng (nhất là Sơn và Hướng) thì trước hết cần phải xét đến thời vận, xem chúng là sinh, vượng hay suy, tử Sau đó mới xét tới hình thế Loan đầu xem chúng có đắc cách hay không? Như Sơn tinh vượng cần gặp núi hay nhà cao, Hướng tinh vượng cần có thuỷ hoặc cửa ra vào Nếu chúng được như vậy thì dù ngũ hành có bị xung khắc cũng vẫn không có tai hoạ gì cả Chỉ khi chúng đều là khí suy, tử, hoặc không đắc cách thì mới xét đến ngũ hành sinh, khắc để đoán biết hung hoạ mà thôi Lấy thí dụ :cung KHẢM có các sao 7-8-

3 (theo thứ tự Sơn-Vận-Hướng) Nếu là trong vận 7, sơn tinh 7 là vượng khí, nên nếu khu vực này có nhà cao thì chủ vượng nhân đinh, lại hoá sát của Hướng tinh số

3, chứ không có vấn đề khắc chế gì cả Nhưng qua vận 8, sơn tinh 7 biến thành suy khí, khắc chế Hướng tinh 3, nên nhà này dễ bị trộm cướp hay tai hoạ hình thương, hay có bệnh về thần kinh Chỉ có khi xét tới niên, nguyệt, nhật thời tinh thì mới dùng đến nguyên lý ngũ hành sinh, khắc làm chủ yếu Còn giữa vận-sơn-hướng khi xét đến sự sinh, khắc thì chủ yếu là giữa Hướng tinh và Sơn tinh, còn vận tinh chỉ

Trang 29

có thể phụ hoạ thêm vào cái sinh hoặc khắc giữa 2 sao đó mà thôi

Thí dụ : vận 8 ở một cung có cặp sơn hướng 8-6 Nếu có núi, nhà cao, cây cao thì gọi là vượng vì 8 là sơn tinh vượng Nếu có ao hồ thì gọi là suy vì 6 là hướng tinh

tử khí trong vận 8

Thu sơn xuất sát

Ở một cung Nếu sao hướng là vượng khí hoặc sinh khí lại đắc cách tức là loan đầu

có thủy hay đường đi, trong khí đó sao sơn là tử khí thì trường hợp này gọi là “thu sơn” vì sao hướng vượng đã làm mất đi tử khí của sơn tinh Nếu sao sơn là vượng khí hay sinh khí lại đắc cách tức loan đầu có núi cao hay nhà cao cây cao, trong khi

đó hướng tinh là tử khí thì trường hợp này gọi là “xuất sát” hay còn gọi là “thoát sát” vì sơn tinh vượng đã làm mất đi tử khí của hướng tinh

Ý nghĩa của các cặp Sơn – Hướng tinh

1 Nhất Bạch

Nhất Bạch là sao Tham Lang, hiệu Văn Xương, ngũ hanh thuộc thủy, màu trắng; mùa thu tiến, mùa đông vượng, mùa xuân tiết, mùa hạ tử Kẻ sỹ gặp nó ắt được lộc của nó, người thường gặp nó nhất định tiền bạc sẽ vào nhà, đây là đệ nhất cát thần

Bị khắc sát thì như Trang Tử gõ chậu mà chôn vợ Nhất Bạch lại là quan tinh, nếu

nó đương vượng, hình thế Loan Đầu bên ngoài lại có thủy phóng quang thì khoa cử

đổ đại, danh lừng bốn bể, sinh con trai thông minh trí tuệ Nó mà suy tử thì hại vợ, không thọ, cuộc đời trôi nổi lênh đênh, màng nhiều bệnh tật về huyết, thận hư, hoặc thành kẻ nghiện ngập, trộm cướp

Nhất gặp Nhất là tỵ hòa Nếu vượng thì có lợi cho tài văn chương hoặc các công việc về văn Nếu suy thì dễ bị bệnh về máu, nghiện ngập hoặc chìm đắm trong tửu sắc

Nhất gặp Nhị là khắc nhập Nếu vượng thì mẫu thân dễ mắc bệnh về tỳ vị hoặc đường ruột Nếu suy thì chồng bị vợ nhục mạ hoặc lấn quyền, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về thận hoặc tiết niệu

Nhất gặp Tam là sinh xuất Nếu vượng thì con trưởng được danh giá quyền quý, có lợi cho người thuộc mệnh Tam mộc, nhân đinh tài bạch đều phát lớn Nếu suy thì con cháu dòng trưởng suy bại, bị kiện cáo tù tội hoặc trộm cướp, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về gan,chân, hoặc bị ép phải dời đi nơi khác ở

Nhất gặp Tứ là sinh xuất Nếu vượng thì xuất người nổi tiếng trong khoa cử, quan

Trang 30

vận hanh thông thuận lợi, ra ngoài gặp nhiều điều hay về văn nghiệp, tên tuổi nổi bật Nếu suy thì cũng đỗ đạt nhưng quý mà không phú, hoặc vì mang tiến tài hoa

mà chìm đắm trong chống nữ sắc sinh ra quan hệ nam nữ bất chính Nếu hình thế loan đầu bên ngoài có vật thuộc hành thổ thì đường văn chương hư bại, không con nối dõi, hoặc con cái chết yểu

Nhất gặp Ngũ là khắc nhập Nếu vượng thì được cả tài bạch lẫn sang quý (tức có địa vị chức tước) Nếu suy thì nữ nhân trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về đường sinh dục; nặng thì thận suy kiệt, ngộ độc thức ăn, con thứ chết yểu

Nhất gặp Lục là sinh nhập Nếu vượng thì từ nhỏ đã được hưởng giàu sang, ngoài

ra, nếu sơn Kiền mà đắc thủy (có sông nước) thì sự nghiệp văng chương có thể phát đên tám đời Nếu suy thì thủy kim chủ về lạnh, dễ mắc các chứng bệnh về đầu, xương hoặc bị thương tật vì kim loại

Nhất gặp Thất là sinh nhập Nếu vượng thì đào hoa, dễ tạo của cải Nếu suy thì kim thủy đa tình, đam mê tửu sắc, hoặc vì tửu sắc mà bị kiện tụng thị phi, có khi vì tranh chấp mà sinh ra thù hằn gây gỗ đến nổi phải mang thương tật

Nhất gặp Bát là khắc nhập Nếu vượng thì trẻ con trong nhà có họa chết đuối, xuất hiện người có tài về viết lách Nếu suy thì vợ mắc chứng vô sinh, có bệnh về tai, thiếu máu, hoặc có con chết non

Nhất gặp Cửu là khắc xuất Nếu vượng thì thủy hóa đều có đủ, lợi lớn về tiền tài, nhân khẩu cũng thịnh vượng Nếu suy thì dễ mắc các chứng bệnh về tim, vợ

chồng bất hòa, anh em tranh chấp

2 Nhị Hắc

Nhị Hắc là sao Cự Môn, cũng là bệnh phù Nếu vượng thì giau có, nhà cửa ruộng vườn thên than, nhân khẩu hưng vượng, lại phát quý về binh nghiệp Khi nó suy tử thì vợ đoạt quyền chồng, tính tình nhỏ nhen, thâm hiểu, keo kiệt, khó sinh đẻ, có bệnh về bụng, trong nhà thường phát sinh bệnh tật liên miên

Nhị gặp Nhất là khắc xuất Nếu vượng thì giàu có về điền sản, gia cảnh hưng

vượng, nhân khẩu đông, mẫu thân khỏe mạnh sống lâu Nếu suy thì vợ khắc chồng, đàn ông mất ở tuổi trung niên, quả phụ làm chủ gia đình, người nhà thường mắc cách chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột hay thận

Nhị gặp Nhị là tỵ hòa Nếu vượng thì giàu có, ruộng đất nhiều, có quyền thế, lợi về binh nghiệp Nếu suy thì ham mê nữ sắc, dâm đãng, khí lực suy yếu, mẹ già nhiều

Trang 31

bệnh tật, người trong nhà thường xảy ra nhiều chuyện xấu, ra ngoài dễ gặp tiểu nhân ngầm hại

Nhị gặp Tam là khắc nhập Nếu vượng thì vợ ngắm quyền, gia tài tích lũy do làm việc bất chính, nhưng con trưởng chẳng ra gì Nếu suy thì đàn ông vì dâm đãng mà gia đình tan nát, đàn bà dễ mắc các chứng về đường tiêu hóa Nhị Tam sóng đôi còn gọi là "đâu ngưu sát" nên vợ chồng thường bất hòa, chống đối nhau Người trong nhà chỉ ham an chơi nên ruộng vường bỏ hoang, con cháu dễ thành trộm vặt

Nhị gặp Tứ là khắc nhập Nếu vượng thì con dâu nắm quyền, gia đình hưng vượng, nhiều nhân đinh Nếu suy thì chọ dâu ức hiếp em chồng, nam giới hiếu sắc Có mẹ già cô khổ, hoặc xuất gia làm ni Người trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột, đau cách tay Gia cảnh buồn tẻ vắng lặng, ra ngoài thường gặp những việc tai tiếng quấn vào thân, hoặc mắc bệnh thương hàn

Nhị gặp Ngũ là tỵ hòa Nếu vượng thì tạo dựng cơ nghiệp dễ dàng, tài vận tốt, hưng thịnh nhất là về địa sản Nếu suy thì phát sinh đủ thứ bệnh, vợ đau yếu nặng,

dễ thành người góa vợ Đặc biệt người nhà thường mắc các chứng về tỳ vị, đường ruột mãn tính

Nhị gặp Lục là sinh xuất Nếu vượng thì gia cảnh bình yên, con cái thuận hòa, gia nghiệp hưng thịnh, nhiều khả năng hành nghề y cứu đời, hoặc trở thành người có quyền trong nghiệp võ Nếu suy thì cha già lắm bệnh, trong nhà có người đi tu, cha con thù oán nhau, chủ khách tranh chấp, thường gặp việc tai tiếng thị phi, người nhà thường mắc bệnh đau dầu hay điên loạn

Nhị gặp Thất là sinh xuất Nếu vượng thì trở thành cự phú bằng tiền của bất chính hoặc bất ngờ (hoạnh tài), nhiều con cái Nếu suy thì mẹ và con gái thường nghịch nhau, vợ kế không hiền thục Ngoài ra dễ có hỏa tai hoặc bị chứng bạch đới cấp tính, kiết lỵ; đàn ông thường hay bị phụ nữ quấy rầy hoặc vì tranh chấp thị phi mà

Trang 32

3 Tam Bích

Tam Bích là sao Lộc Tồn, tính thích đấu đá nên còn gọi là Xi Vưu Nếu vượng thì tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia tộc, cơ nghiệp vững vàng Con cái dòng trưởng đại hưng vượng Nếu suy tử thì người nhà dễ bị điên hoặc hen suyễn, chân tàn tật, khoác vợ, kiện tụng thị phi hoặc trở thành trộm cướp

Tam gặp Nhất là sinh nhập Nếu vượng thì con trưởng được quyền quý, đinh tài đều đại phát, thi cử đổ đạt Nếu suy thì con cháu ngành trưởng lụn bại, tính khí ngỗ ngáo, có thể dẩn tới họa quan tụng; hoặc vì bấtt hòa với xóm giềng mà phải dọn nhà đi xa Việc làm phần lớn không thuận lợi, hơn nữa còn dễ bị thương tật ở tai chân

Tam gặp Nhị là khắc xuất Nếu vượng thì được giàu có về nhà cửa ruộng vườn, con trưởng tài đinh đại phát Nếu suy thì dễ có sát khí chống đối nhau Gia đạo bất hòa, vợ chồng không êm ấm Thường vì tranh chấp với cấp trên mà gặp điều tai tiếng Dễ mắc chứng đau dạ dày, khó tiêu hóa, hoặc vì đánh nhau mà chân bị thương tật; nói chung là gia đình gặp nhiều vất vả, trở ngại mà vẫn thất bại tan vở

Tam gặp Tam là tỵ hòa Nếu vượng thì thanh danh hiển hách, hưng gia lập nghiệp, tiền của tương đối khá giả Nếu suy thì trong nhà sinh ra trộm cướp hoặc bị trộm cướp, dễ bị thương tật ở chân tay, hoặc vì đánh nhau với người mà bị tù tội

Tam gặp Tứ là tỵ hòa Nếu vượng thì Tam và Tứ là chính phối, sinh nhiều quý tử,

sự nghiệp và tài vận phát triển hanh thông Nếu suy thì trong nhà sinh ra trộm cắp hoặc ăn xin, thường mắc chứng dị ứng hoặc bị thương ở tay chân, đau gan, đau mật Nếu gặp Thái Tuế e rằng kiếp nạn vì tình hoặc bị rắn cắn

Tam gặp Ngũ là khắc xuất Nếu vượng thì tiền tài khá giả và quyền quý, có thể làm quan to Nếu suy thì dễ bị các chứng độc như bọ cạp, rắn, rết cắn; tâm tư uất kết dễ mắc bệnh gan, hoặc thương tật ở chân

Tam gặp Lục là khắc nhập Nếu vượng thì quan trường lao đao vất vả nhưng sự nghiệp ắt thành, trở thành người phụ tá đắc lực cho cấp trên Nếu suy thì bị quan tụng hoặc tai họa binh đao, dễ bị thương tật ở chân tay do kim loại gây nên; đôi khi mắc bệnh gan, gia đạo thường xảy ra tranh chấp

Tam gặp Thất là khắc nhập Nếu vượng thì nguồn tiền của tăng tiến, có chức quyền ca/ văn lẫn võ Nếu suy thì nó là "Xuyên Tâm Sát", thường mắc các chứng bệnh ở tay chân, gan mật; hoặc bị quan tụng thị phi Nếu phương Đoài bị khắc phá thì gan

Trang 33

bị thương tổn hoặc mắc chứng thổ huyết Trong nhà có kẻ đam mê tửu sắc, bị trộm cướp trèo tường khoét vách phá hoại danh tiết con gái trong gia đình, chốn phòng the không hòa thuận, các tai họa thường là con trưởng chịu

Tam gặp Bát là khắc xuất Nếu vượng thì xuất hiện văn tài bậc nhất, lại phát cả tài lẩn đinh Nếu suy thì con thứ gặp nhiều tai họa, dễ bị thương gân cốt hoặc bị chó cắn Anh em trong nhà bất hòa hoặc vì tranh giành gia sản mà gây ra kiện tụng

Tam gặp Cửu là sinh xuất Nếu vượng thì phát như sấm dậy, con cháu thông minh, văng tài hiếm thấy, hưởng giàu sang được nhiều năm Nếu suy thì tai tiếng thị phi chồng chất liên tiếp, thường mắc các chứng đau mắt, đau dầu; ngoài ra con dễ gặp hỏa hoạn

4 Tứ Lục

Tứ Lục là sao Văn Khúc Nếu vượng thì tai văn chương lừng danh, khoa cử đổ đạt, con gái dung mạo đoan trang và lấy được con nhà quyền quý Nếu suy tử thì phụ nhân dâm loạn; đàn ông đam mê tửu sắc, gia sản phá bại phải lang thang phiêu bạt

Tứ gặp Nhất là sinh nhập Nếu vượng thì một đời danh giá, đại lợi về văn tài, học hành thì cử đổ đạt Con cái thông minh, thành tích thường đứng đầu, nghề nghiệp vừa ý, tài vận thuận lợi Nếu suy thì dễ mắc bệnh trúng phong, hoặc vì dâm đãng tửu sắc mà hư bại, gây ra tiếng xấu bên ngoài Hoặc vợ vô sinh, có con thì cũng chết yểu

Tứ gặp Nhị là khắc xuất Nếu vượng thì tương đối giàu sang, vợ nắm quyền trong nhà, con cái đông Nếu suy thì vợ ngỗ nghịch khắc mẹ chồng và ức hiếp em chồng Không khí gia đình nặng nề, không vui; người nhà thường hoảng loạn, dễ mắc chứng đau dạ dày; bị chó dại cắn Mẹ chồng nàng dâu, chị dâu em chồng thường hay xích mích, mẹ già gặp tai ương Sự nghiệp suy bại, gia phong càng lúc càng xấu đi, hoặc có người xuất gia làm ni

Tứ gặp Tam là tỵ hòa Nếu vượng thì âm dương phối hợp đúng phép, gia đạo êm

ấm, con cái thuận hòa, sự nghiệp thuận lợi, tương đối giàu sang Nếu suy thì vợ chồng hay cải vả xích mích, người nhà thường có ý làm tăng ni, xuất hiện kẻ sống lang thang chẳng ra gì Thường mang bệnh dị ứng hoặc có tật ở tay chân

Tứ gặp Tứ là tỵ hòa Nếu vượng thì hai sao Văn Khúc cùng đến, con cháu thành tích nổi bật, có tinh mừng về thi cử Đại lợi về tài văn chương, làm quan văn khá nổi tiếng Nếu suy thì phiêu bạn khắp nơi, hoặc trở thành tăng ni Đàn ông xa nhà

Trang 34

bôn ba, sống nơi chân trời gốc bể Người nhà dễ bị bệnh phong; quả phụ làm chủ gia đình

Tứ gặp Ngũ là khắc xuất Nếu vượng thì có tài văn chương, giàu có, sự nghiệp thuận lợi Nếu suy thì ham ăn ham uống, ruộng vườn bỏ hoang, cảnh nhà ảm đạm, buồn tẻ; nữ chủ nhân thường hay đau ốm, có ý hướng xuất gia, khó sinh và khó nuôi con cái, gia đạo lụn bại

Tứ gặp Lục là khắc nhập Nếu vượng thì quan binh không dám đụng đến, được mọi người đối đãi tử tế, gia đạo êm ấm, tài lộc có đủ Nếu suy thì cha chồng ngược đãi con dâu, dễ khiến con dâu phải bỏ nhà ra đi Người trong nhà thường tranh chấp nhau; dễ mắc bệnh gan, mật và thương tật ở tay Tứ Lục sóng đôi là tượng

"Dịch Mã", nên người nhà dễ phảI tha hương, rày đây mai đó; nặng thì có thể bị đày

Tứ gặp Thất là khắc nhập Nếu vượng thì vợ nắm quyền hành, táo bạo hơn người nhưng tích lũy được nhiều tiên của Nếu suy thì nam nữ đa dâm, con cháu học hành chẳng ra gì; dễ bị bệnh thổ huyết mà chết yểu Ra ngoài thị gặp nhiều thị phi;

mẹ chồng nàng dâu bất hòa Dễ phạm kiếp sát đào hoa

Tứ gặp Bát là khắc xuất Nếu vượng thì vợ hiền dạy con thảo, của cải chất thành núi Nếu suy thì người nhà có người ở trong rừng núi sâu làm ẩn sĩ, hoặc vào chùa làm sư Con cháu nhiều bệnh tật, học hành không giỏi giang; dễ mắc bệnh viêm mũi, bệnh phong hoặc bị rắn hay chó cắn

Tứ gặp Cửu là sinh xuất Nếu vượng thì hợp với kim Tiên Thiên, được tài lẫn quý, xuất hiện kẻ sĩ văn chương nổi tiếng Nếu suy thì thường bị đau mắt hoặc bị hỏa tai Đàn ông dễ rơi vào cảnh ngộ vi gian dâm mà gia sản lụn bại

5 Ngũ Hoàng

Ngũ Hoàng là sao Liêm Trinh, là đại sát tinh Mậu Kỷ Nếu vượng thì tài đinh đại phát Nếu suy thì bất kể nó được sinh hay bị khắc đều rất xấu Vì vậy nó nên tịnh

mà không nên động Nếu gặp lúc sao Thái Tuế tới thì tính hung càng phát ra

mạnh, tức tổi đinh hao tài lớn, nhẹ thì ốm đau, nặng thì hao vài người Cuộc này nên tránh không nên phạm

Ngũ gặp Nhất là khắc xuất Nếu vượng thì tài đinh đại phát, nhưng con giữa không phát Nếu suy thì con giửa lại chịu tai ương hoặc đau ốm nặng, đặc biệt là bệnh về đường tiết niệu, bệnh phụ khoa Ngoài ra còn thường bị các bệnh về tai, hắc lào Người nhà bệnh hoạn luôn

Trang 35

Ngũ gặp Nhị là tỵ hòa Nếu vượng thì thì tài đinh đại phát, người mẹ nắm quyền trong nhà Nếu suy thì phát đủ thứ bệnh, nhất là cha mẹ Chủ yếu là bệnh về dạ dày

và đường ruột Gặp lúc sao Thái Tuế tới thì cha bệnh nặng, mẹ dễ thành quả phụ

Ngũ gặp Tam khắc nhập Nếu vượng thì tài đinh đại phát, con trưởng được thừa hưởng phúc lộc Nếu suy thì thường mắc các chứng bệnh về gan, tụy, mụn nhọt, ghẻ lở ở chân tay hoặc chổ kín Con trai phản nghịch, trong nhà có người bị thương tật ở chân, gia đạo không yên ấm

Ngũ gặp Tứ khắc nhập Nếu vượng thì có tài vănt hơ và giàu có, sự nghiệp thuận lợi Nếu suy thì con trai lêu lỏng ăn chơi, ruộng vườn bỏ hoang; phụ nhân có nhọ độc ở vú, phái nam thường bị sởi Nhà cửa ảm đạm buồn tẻ, con dâu có ý xuất gia làm ni, gia phong suy bại

Ngũ gặp Ngũ là tỵ hòa Nếu vượng thì đinh tài đều vượng, gia nghiệp phồn thịnh Nếu suy thì khó thoát hung sát hoành hành, dễ bị chứng bạch đới cấp tính Nhẹ thì

bị nhọt độc, nặng thì hao người

Ngũ gặp Lục sinh xuất Nếu vượng thì tiền tài tương đối khá giả, con cái hiếu thuận, nhưng chủ nhân không hưởng được Nếu suy thì chủ nhân mang bệnh, nhẹ thì đau đầu, đau xương, nặng thì thập tử nhất sinh, ra ngoài dễ bị thương tổn Hoạn

Ngũ gặp Cửu là sinh nhập Nếu vượng thì con cái thông minh, tài vận tốt Nếu suy thì sinh con ngu đần, người nhà mắc chứng đau mắt, đau đầu hay trong lòng buồn phiền Gặp lúc Thái Tuế tới dễ mắc chứng bạch đới cấp tính

6 Lục Bạch

Lục Bạch là sao Vũ Khúc, là cát tinh Nếu vượng thì quyền uy chấn động bốn phương, làm võ tướng thì công trạng hiển hách, gia đình giàu có, nhiều nhân đinh

Trang 36

Nếu suy tử thì sống cô độc hoặc chết trong binh đau; Người nhà thường góa vợ, có nhiều quả phụ

Lục gặp Nhất là sinh xuất Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, tiền của dồi dào, con cái học hành đỗ đạt Nếu suy thì quan lộc tuy không giảm nhưng người nhà thường mắc chứng đau đầu, hoặc gặp tai nạn sông nước

Lục gặp Nhị là sinh nhập Nếu vượng thì phát lớn, giàu có nhiều vàng bạc ngọc quý, cuộc sống bình yên, xuất hiện người hành nghề y cứu đời Nếu suy thì tham lam vô độ, bủn xỉn, hoặc xuất gia đi tu, vợ chồng bất hòa chia cách Người nhà thường mắc các chứng về đầu, xương, dạ dày, đường ruột

Lục gặp Tam khắc xuất Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều hanh thông, quyền

uy hơn người Nếu suy thì dễ gặp nạn binh đao, bị thương, cha con bất hòa, có tang tóc

Lục gặp Tứ khắc xuất Nếu vượng thì giàu có, thành công trên thương trường, nhất

là lãnh vực buôn báng đường xa, hoặc được làm quan võ Nếu suy thì khắc vợ hoặc

bị khổ sai, có khi người vợ không chịu đựng nổi, phải bỏ mà đi Người nhà thường đau tay, đau đầu hoặc bị tê liệt

Lục gặp Ngũ là sinh nhập Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều tốt, nhưng có tiểu nhân ngầm hại Nếu suy thì tiểu nhân chống đối, làm hao tổn tinh thần hoặc mất chức Chủ nhân nhiều bệnh tật, thường là bệnh đau đầu, tinh thần bất ổn có thể làm điều sai quấy

Lục gặp Lục tỵ hòa Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, quyền chức cao Nếu suy thì gặp nhiều rắc rối, khó thoát thân, có khi phải ngầm di chuyển chỗ ở; hoặc bị hung đồ truy đuổi mà phải trốn chạy, của cải tổn thất, dễ bị tai nạn trên đường

Lục gặp Thất tỵ hòa Nếu vượng thì làm văn quan hay võ chức đều có quyền lớn trong tay, tài lộc thuận lợi Nếu suy thì dễ bị thương vì đao kiếm, hoặc vì tranh chấp mà bị tổn thương Nhà có thể bị trộm cướp, hoặc vì xích mích mà gặp rắc rối Già trẻ đều không yên, thường mắc bệnh đau đầu, đau miệng, đau họng

Lục gặp Bát là sinh nhập Nếu vượng thì có văn chức, võ quyền, công danh và bổng lộc đều có, con cháu được thừa hưởng gia nghiệp hưng thịnh Nếu suy thì tuy quan lộc không giảm nhưng người nhà phần nhiều mắc bệnh đau đầu, đau xương

Trang 37

Lục gặp Cửu là khắc nhập Nếu vượng thì hỏa chiếu thiên môn nên đinh tài đều vượng, chủ nhân quyền cao chức trọng lại sống thọ Người nhà xuất hiện võ tướng tài ba Nếu suy thì hỏa đốt thiên môn, người nhà sinh con bất hiếu Con cháu dòng trưởng sa sút, gặp hỏa khắc kim thì dễ bị bệnh thổ huyết Hỏa thiêu dốt thiên môn nên trong nhà dễ sinh nghịch tử; hỏa thịnh thì dễ gặp tai ương

7 Thất Xích

Thất Xích là sao Phá Quân, còn gọi là tặc tinh Nếu vượng thì phát về võ quyền, đinh tài đều vượng Nếu suy thì trong nhà xuất hiện trộm cướp hoặc có người chết trận, bị giam cầm Gia đạo không yên, có thể vì hỏa tai mà tổn đinh hoặc xuất hiện người ham mể tửu sắc

Thất là hung tinh vì vậy nên tịnh mà không nên động Động thì điều xấu càng nhiều, nhất là nhà ở đầu phố hay ngã ba thì nguy hại càng lớn Nếu sao Thất Xích tương ứng với hình thế Loan Đầu thì sẻ các biểu hiện như:

a Bên ngoài có sa hình dạng hồ lô thì trong nhà có người hành nghề y

b Bên ngoài có sa hình dạng con dao thì có con làm nghề đồ tể

c Bên ngoài có sa hình dạng cái kềm thì trong nhà có người làm thợ thủ công

d Bên ngoài có sa hình dạng cờ trống thì trong nhà dễ có người phản nghịch

e Bên ngoài có sa thủy hình dạng thập thò hoặc phình ra bên hông thì trong nhà dễ

bị bệnh ở bụng dưới, thổ huyết, thương tật, hay bị tù đày mà phá sản

Thất gặp Nhị là sinh nhập Nếu vượng thì tài sản ruộng vườn thêm nhiều, thăng quan tiến chức, phụ nhân sang quý Nếu gặp được số Nhị Thất bát quái Tiên Thiên thì trong nhà luôn có đèn chiếu sáng, hưng vượng nhộn nhịp Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn, phụ nữ trong nhà bất hòa, người nhà dễ bị ngộ độc thức ăn, có bệnh về răng miệng hay kiết lị

Thất gặp Tam khắc xuất Nếu vượng thì làm văn thần võ tướng, quyền cao chức trọng, trong nhà xuất hiện người có tài văn thao võ lược, bốn phương kính phục, con cháu giỏi giang hơn người Nếu suy thì đối xử thô bạo với mọi người, con cái hống hách lộng hành Gia đạo bị xuyên tâm sát dễ gặp binh đao, trộm cướp Trong nhà cãi cọ, kiện cáo lẫn nhau; gia đình bất hòa, con cái ly tán Người nhà dễ mắc bệnh thổ huyết, bị thương tật hoặc quan tai

Trang 38

Thất gặp Tứ khắc xuất Nếu vượng thì phụ nhân sang cả quyền thế, quan lộc đều

có, đồng thời gặp vận đào hoa Nếu suy thì phụ nữ làm chủ nhân, gặp kiếp đào hoa nên nam nữ ham dâm, trong nhà bất hòa, mẹ chồng nàng dâu không hòa thuận Dễ

bị bệnh thổ huyết hoặc chết yếu

Thất gặp Ngũ là sinh nhập Nếu vượng thì giàu có, ruộng vườn của cải đại phát Nếu suy thì có bệnh ở miệng, ung nhọt Thường tranh chấp nên dễ bị kiện tụng hoặc gặp rắc rối vì đào hoa

Thất gặp Lục tỵ hòa Nếu vượng thì văn võ toàn tài, quan lộc đều có Nếu suy thì

có tranh chấp ở chốn quan trường, gia đạo bất hòa, dễ bị thương tật vì đao kiếm hoặc tai nạn xe cộ Dễ bị bệnh tật ở miệng, đau đầu, viêm nhọt

Thất gặp Thất tỵ hòa Nếu vượng thì của cải và quyền bính đều được quý nhân phù trợ nhưng kiếm tiền bất nghĩa Nếu suy thì dễ gặp trộm cướp hoặc hỏa hoạn;

thường hay bị tranh chấp Trai gái vì ham mê tửu sắc nên dễ bị quan tai

Thất gặp Bát là sinh nhập Nếu vượng thì thăng quan tiến chức liên tiếp, tài vận hanh thông, trở nên giàu có, gia đình hòa thuận, con cháu khỏe mạnh và phát triển thuận lợi Nếu suy thì tiền tài tổn thất, ra đi nhanh chóng Dễ bị tật ở miệng hoặc con nhỏ lắm bệnh tật

Thất gặp Cửu là khắc nhập Nếu vượng thì hỏa chiếu sảnh đường, gia đạo hưng vượng Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn Phương vị Thất Cửu nếu có Nhất Bạch bay đến thì dể gặp hỏa tai Nếu phương vị Thất Cửu là ở hướng mà động thì gặp hỏa hoạn Thất Cửu ở phương vị sơn gặp Nhị Hắc thì hung sát càn nặng, dù không động cũng gây nên hỏa hoạn Nếu Loan Đầu bên ngoài có nhiều màu đỏ thì khó tránh khỏi hỏa tai

8 Bát Bạch

Bát Bạch là sao Tả Phụ, là cát tinh Nếu vượng thì trung hiếu, phú quý dài lâu, con cháu được hưởng phúc lộc tổ tiên Nếu suy tử thì có tổn thương nhỏ hoặc bị bệnh dịch

Bát gặp Nhất là khắc xuất Nếu vượng thì đại lợi về văn chương học hành, văn chức thăng tiến, đặc biệt thuận lợi về kinh doanh địa sản Nếu suy thì dễ mắc bệnh thiếu máu, bệnh về tai; anh em trong nhà bất hòa, bạn bè phản bội, hoặc phụ nữ không sinh đẻ, trẻ con chết đuối

Trang 39

Bát gặp Nhị là tỵ hòa Nếu vượng thì giàu có nhờ địa sản Nếu suy thì dễ mắc bệnh đau dạ dày, đường ruột, hoặc bị chó cắn Nếu Loan Đầu bên ngoài có dải núi chạy

đi thì có thể xa rời quê hương đất tổ, xuất gia làm tăng ni hoặc chết ở đất khách quê người

Bát gặp Tam khắc nhập Nếu vượng thì địa sản (nhà cửa, ruộng vườn) dồi dào, quyền lực tăng tiến lên đột ngột, nhờ đước số của Tiên Tiên bát quái nên việc hợp tác rất tốt Nếu suy thì của cải thất thoát, chức quyền giảm sút Trong nhà có người

bị thương nhẹ ở tay chân hoặc có bệnh gan, dạ dày

Bát gặp Tứ khắc nhập Nếu vượng thì vợ nắm quyền, giàu có về ruộng vườn và nhà cửa Nếu suy thì có tổn thương nhỏ, vợ lấn quyền chồng, gia đạo bất hòa Ra ngoài dễ gặp tai nạn xe thuyền, hoặc làm ẩn sĩ ở chốn núi rừng

Bát gặp Ngũ là tỵ hòa Nếu vượng thì tài lộc phát đạt, vận thế hanh thôn Nếu suy thì hao tài tổn sức, dễ bị bệnh nhẹ, vận thế trở ngại Dễ mắc bệnh đau bao tử,

đường ruột, hoặc ngộ độc thức ăn

Bát gặp Lục sinh xuất Nếu vượng thì dễ trở thành quan văn, nhiều quyền thế, phú quý và phúc đức tăng cao Nếu suy thì thì vẫn giàu sang nhưng cha con bất hòa, dễ mắc bệnh đau đầu, nhức xương

Bát gặp Thất sinh xuất Nếu vượng thì văn chức võ quyền đều có, tài lộc sung túc,

vợ chồng hòa thuận, con cái an khang Nếu suy thì tài sản dễ tiêu tán, vợ chồng mâu thuẩn bất hòa, con cháu tổn thất

Bát gặp Bát là tỵ hòa Nếu vượng thì có lợi về văng chương, học hành; phát về ruộng vườn, nhà cửa; giàu sang phú quý đều có, sự nghiệp hưng vượng Nếu suy thì sự nghiệp suy tàn, của cải thất tán Thường mắc bệnh nhức xương đau vai

Bát gặp Cửu là sinh nhập Nếu vượng thì tin vui đến dồn dập; giàu có không ai sánh kịp, có địa vị trong triều đình Nếu suy thì mắt mũi lắm tật bệnh, bụng nhiệt, đại tiện ra máu, hoặc bị hỏa hoạn

9 Cửu Tử

Cửu Tử là sao Hữu Bật Nếu vượng thì văn chương lừng lẫy, vinh hiển đột ngột, con cháu dòng giữa được hưởng phú quý Nếu suy thì bị hỏa tai, hoặc tai họa ở chốn quan trường, bị thổ huyết, điên loạn, bệnh mắt, hoặc sinh đẻ khó

Cửu gặp Nhất là khắc nhập Nếu vượng thì trong nhà có nhiều việc vui mừng, âm

Trang 40

dương chính phối, thủy hỏa có đủ, vợ sinh nhiều con trai, giàu sang đến đột ngột Nếu suy thì con cháu dòng giữa lụn bại, có bệnh ở mắt và tai Nếu kèm theo Thất Xích bay đến thì e rằng có hỏa tai

Cửu gặp Nhị là sinh xuất Nếu vượng thì giàu có về ruộng vườn nhà cửa, mẫu thân quản lý gia sản Nếu suy thì sinh con đần độn, tran viên bị hỏa hoạn, dạ dày nóng nên đại tiện ra máu, dễ có bệnh đường ruột hoặc bệnh mắt

Cửu gặp Tam sinh nhập Nếu vượng thì đèn luôn rực sáng sảnh đường, quyền cao chức trọng, uy chất bốn phương, con cháu thông minh đắc chí Nếu suy thì e rằng

có kiếp nạn vì dâm loạn, có hỏa hoạn Đàn ông hung ác, bại hoại thanh danh

Người nhà dễ bị bệnh mắc, hoặc bị thương tật ở chân

Cửu gặp Tứ sinh nhập Nếu vượng thì sảnh đường rực sáng, chồng vẻ vang danh tiếng, vợ sang quý đẹp đẽ, con cháu thông minh, tài văn chương nổi bật, có nhiều hoạnh tài, tinh mừng đến dồn dập Nếu suy thì nam nữ dâm loạn, danh tàn thân bại,

sự nghiệp tiêu tan, thường bị bệnh mă*'c hay lưng eo Con cháu hoang đàng bừa bãi

Cửu gặp Ngũ là sinh xuất Nếu vượng thì giàu có về địa sản Nếu suy thì sinh con đần độn, con có tổn thương về mắt Nếu Loan Đầu bên ngoài có ngọn núi trọc vi bị tàn phá thì con cháu thi cử khó đỗ đạt; trong nhà có người bị tật hay mù lòa, hoặc

vì sắc dục mà mắc bệnh giang mai, nhọt độc

Cửu gặp Lục khắc xuất Nếu vượng thì văn chương hiển đạt Thất Bát Cửu liền nhau là ứng nghiệm tám đời đều đó tài văn chương Chủ nhân khỏe mạnh sống lâu, gia đạo an khang Nếu suy thì lửa thiêu đốt thiên môn, trong nhà sinh ra nghịch tử, hoặc con cháu bỏ nhà ra đi Hỏa khắc kim (phế thuộc kim) nên dễ bị thổ huyết, hoặc bệnh lao

Cửu gặp Thất khắc xuất Nếu vượng thì nam nữ thông minh lanh lợi, tiền của

hoạnh tài đến tay Nếu suy thì nam nữ nghiện ngập; vì ham mê tử sắc hoặc bị hỏa hoạn mà tài sản tiêu tán, nhà có người mắc bệnh lao Cửu Thất là hỏa của Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái, cho nên chủ về hỏa hoạn và củng là quan tai

Cửu gặp Bát là sinh xuất Nếu vượng thì giàu có về ruộng vườn nhà cửa, văn chức thăng tiến, tinh mừng đến dồn dập Nếu suy thì hỏa viêm thổ táo, sinh con ngu đần Nhà có người bị tật mắt hoặc mắc bệnh đau bao tử

Cửu gặp Cửu là tỵ hòa Nếu vượng thì tài văn chương hiển hách, nổi tiếng khắp

Ngày đăng: 07/09/2021, 20:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự - Huyen khong phi tinh
theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự (Trang 2)
Như hình trên tý phương giới thuỷ(lộ), tức Ngọ cung lai khí, lai long. Ngọ long    - Huyen khong phi tinh
h ư hình trên tý phương giới thuỷ(lộ), tức Ngọ cung lai khí, lai long. Ngọ long (Trang 92)
Như hình trên sửu phương khúc xích thuỷ, đối cung lai khí, lai long tức Mùi long. Cung vị bài long:   - Huyen khong phi tinh
h ư hình trên sửu phương khúc xích thuỷ, đối cung lai khí, lai long tức Mùi long. Cung vị bài long: (Trang 93)
Nhất tứ đồng cung chủ về văn chương khoa bảng. Nhưng nếu là thất tứ đồng cung lại chủ về gian dâm  - Huyen khong phi tinh
h ất tứ đồng cung chủ về văn chương khoa bảng. Nhưng nếu là thất tứ đồng cung lại chủ về gian dâm (Trang 99)
độc dược, chủ bị độc dược; Nếu ốc hoặc sơn hình phá toái nhọn, đỏ thì bị hỏa tai, ho ạnh tử, bịnh phổi, tim - Huyen khong phi tinh
c dược, chủ bị độc dược; Nếu ốc hoặc sơn hình phá toái nhọn, đỏ thì bị hỏa tai, ho ạnh tử, bịnh phổi, tim (Trang 118)
thủy trì khôn tốn hoặc gần thủy trì hoặc thành chữ phẩm là hợp hình cuộc, chủ tam nguyên b ất bại - Huyen khong phi tinh
th ủy trì khôn tốn hoặc gần thủy trì hoặc thành chữ phẩm là hợp hình cuộc, chủ tam nguyên b ất bại (Trang 122)
CNMchú giải: Thất vận Sửu sơn Mùi hướng hạ quẻ thích hợp nhất với địa hình bằng phẳng, hướng trên có thương bàn thủy đảo triều( nước ở ruộng từ xa mà tớ i  gần, do từ cao dần dần tới thấp đến bái đường), phía sau với hướng trên phươ ng xa  - Huyen khong phi tinh
ch ú giải: Thất vận Sửu sơn Mùi hướng hạ quẻ thích hợp nhất với địa hình bằng phẳng, hướng trên có thương bàn thủy đảo triều( nước ở ruộng từ xa mà tớ i gần, do từ cao dần dần tới thấp đến bái đường), phía sau với hướng trên phươ ng xa (Trang 141)
tức là môn ngưu sát, chủ bị quan hình.    - Huyen khong phi tinh
t ức là môn ngưu sát, chủ bị quan hình. (Trang 143)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w