1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)

102 439 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang và đề xuất giải pháp (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DU ̣C VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

VƯƠNG TIẾN LƯƠNG

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

THÁI NGUYÊN – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐA ̣I HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

VƯƠNG TIẾN LƯƠNG

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC

NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG VÀ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VI THỊ THANH THỦY

THÁI NGUYÊN – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, không sao chép của ai, do tôi tự nghiên cứu, đọc, dịch tài liệu, tổng hợp và thực hiện Nội dung lý thuyết trong trong luận văn tôi có sử dụng một

số tài liệu tham khảo như đã trình bày trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu, chương trình phần mềm và những kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Thái Nguyên, 18 tháng 10 năm 2017

Học viên thực hiện

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các Thầy cô giáo, các anh chị và các bạn đồng nghiệp

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, các thầy

cô giáo bộ môn Y tế công cộng đã tận tình đem hết tâm huyết giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm học tập

Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Vi Thị Thanh Thủy, trưởng Bộ môn Huấn luyện kỹ năng Y khoa; phó trưởng khoa Điều dưỡng Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã dành rất nhiều thời gian và công sức trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Y tế Hà Giang, Bệnh viện đa khoa khu vực Hoàng Su Phì, UBND huyện, Sở Y tế Hà Giang Trân trọng cảm ơn các anh chị, các bạn đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn tốt nghiệp

Tôi vô cùng biết ơn gia đình, bạn bè luôn dành cho tôi những điều kiện tình thần, vật chất tốt nhất trong quá thình học tập và hoàn thành Luận văn

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2017

Tác giả

Vương Tiến Lương

Trang 6

TMH- RHM – M Tai mũi họng-Răng hàm mặt-Mắt

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC CÁC HỘP ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 1

1.1 Những vấn đề cơ bản trong Hoạt động chăm sóc người bệnh 1

1.1.1 Nhu cầu cơ bản trong hoạt động chăm sóc người bệnh 1

1.2 Điều dưỡng và công tác chăm sóc người bệnh 5

1.2.1 Khái niệm về điều dưỡng 5

1.2.2 Vai trò của người điều dưỡng 6

1.2.3 Khái niệm về CSNB trong bệnh viện 6

1.2.4 Khái niệm CSNB toàn diện 6

1.2.5 Khái niệm NB là trung tâm chăm sóc 7

1.2.6 Khái niệm về phân cấp chăm sóc 7

1.2.7 Các mô hình phân công CSNB 8

1.2.8 Hoạt động của điều dưỡng 10

1.3 Những nghiên cứu về hoạt động chăm sóc người bệnh trên Thế giới và Việt Nam 12

1.3.1 Trên Thế giới 12

1.3.2 Tại Việt Nam 13

1.3.3 Tổ chức của Bệnh viện huyện Hoàng Su Phì 22

1.3.4 Hoạt động chăm sóc NB tại bệnh viện Đa khoa khu vực huyện 23

Trang 8

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

cho Bệnh viện tuyến huyện hiện nay 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.1 Nghiên cứu định lượng 27

2.1.2 Nghiên cứu định tính 27

2.1.3 Rà soát tài liệu 28

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 28

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 28

2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu 28

2.3.4 Chỉ số nghiên cứu 28

2.3.5 Định nghĩa biến số 29

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 29

2.4.1 Số liệu thứ cấp 29

2.4.2 Số liệu đi ̣nh lươ ̣ng 29

2.4.3 Số liệu định tính 30

2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30

2.6 Đạo đức nghiên cứu 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Thực trạng hoạt động chăm sóc NB tại Bệnh viện ĐKKV Hoàng Su Phì 31

3.1.1 Thực trạng về hoạt động chăm sóc người bệnh 31

3.1.2 Đánh giá kết quả chăm sóc và điều trị 41

3.1.3 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh 43

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc người bệnh 46

Chương 4 BÀN LUẬN 53

Trang 9

4.1 Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện đa khoa khu vực Hoàng Su Phì 53 4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc người bệnh tại bệnh viện đa khoa Hoàng Su Phì 60

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố Điều dưỡng chăm sóc NB tại các khoa (n = 119) 31 Bảng 3.2 Phân bố chất lượng nguồn nhân lực Điều dưỡng (n = 119) 32 Bảng 3.3 Đánh giá hoạt động của phòng Điều dưỡng (n = 119) 33 Bảng 3.4 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của Điều dưỡng trưởng khoa

(n = 119) 36

Bảng 3.5 Đánh giá quy trình CSNB của điều dưỡng (n = 119) 39 Bảng 3.6 Phân bố người bệnh theo phân cấp chăm sóc 40 Bảng 3.7 Kết quả Điều dưỡng tham gia thực hiện các chỉ tiêu chuyên môn

Bảng 3.12 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về hướng dẫn vệ sinh, ăn uống

hàng ngày từ Điều dưỡng (n =174) 44

Bảng 3.13 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về giao tiếp của Điều dưỡng trong

CSNB (n =174) 45

Bảng 3.14 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về thời gian chờ đợi lâu tại phòng

khám trong CSNB (n =174) 45

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 3.1 Phân bố giới của Điều dưỡng viên 32

Biểu 3.2 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của Trưởng phòng Điều dưỡng (n = 119) 35

Biểu 3.3 Đánh giá hoạt động CSNB của điều dưỡng (n = 119 ) 38

DANH MỤC CÁC HỘP Hộp thoại 1: Phỏng vấn Điều dưỡng viên tại khoa Ngoại 46

Hộp thoại 2: Phỏng vấn điều dưỡng tại khoa Nội 47

Hộp thoại 3: Phỏng vấn điều dưỡng tại khoa Lão Khoa 48

Hộp thoại 4: Ý kiến điều dưỡng nữ 30 tuổi khoa Nhi 48

Hộp thoại 5: Phỏng vấn Trưởng phòng Điều dưỡng 50

Hộp thoại 6: Hộp thoại phỏng vấn sâu giám đốc Bệnh viện đa khoa Khu vực Hoàng Su Phì 52

Trang 12

Hoạt động CSNB cũng như việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại một số bệnh viện huyện hiện nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức, còn

có các ý kiến của người bệnh, cộng đồng và cơ quan truyền thông về chất lượng CSNB chưa tương xứng Công tác chăm sóc hỗ trợ vệ sinh hàng ngày chỉ đạt 46,2%; công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK có tỷ lệ đạt yêu cầu chỉ 66,2% tại Bệnh viện Hữu Nghị Tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Ương

là 86,3% Nghiên cứu tại bệnh viện huyện Lương Tài Bắc Ninh năm 2014: Điều dưỡng nhận định chăm sóc 22,22%, và lập kế hoạch chăm sóc 12,7% còn thấp Trên 50% NB điều trị nội trú hài lòng với điều dưỡng về tinh thần CSNB[1],[31],[56] Một số yếu tố liên quan đến chất lượng CSNB như trình

độ, năm kinh nghiệm, tour trực của điều dưỡng; Đặc điểm khoa (quy mô khoa, loại khoa, tỷ lệ điều dưỡng/người bệnh được ghi nhận tại Bệnh viện Đa

Trang 13

khoa Trung Ương Cần Thơ [55],[61] Theo báo cáo đánh giá hàng năm tại BV huyện Hoàng Su Phì (HSP)[20],[21], tổng số NB chăm sóc cấp I, năm sau tăng hơn năm trước; Công suất sử dụng giường bệnh đạt 100% và những năm sau đều tăng hơn năm trước lên đến 106% Các hoạt động CSNB của điều dưỡng luôn được hoàn thành để đảm bảo sự phối kết hợp công tác chuyên môn trong điều trị NB, tuy nhiên vẫn còn những vấn đề bất cập trong việc thực hiện các hoạt động chăm sóc như: Nhận định chăm sóc có theo thường quy hay không, chẩn đoán chăm sóc, lập kế hoạch thực hiện, và đánh giá kết quả chăm sóc trên từng NB có được thực hiện đồng bộ thống nhất giữa các khoa chuyên môn hay không thì chưa có một nghiên cứu nào tổng kết đánh giá Những vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của NB, cũng như chất lượng chăm sóc, chữa bệnh của BV Vì vậy việc đánh giá thực trạng hoạt động CSNB tại BV huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang là rất cần thiết để có biện pháp khắc phục các tồn tại để đáp ứng nhu cầu CSNB trong thời kỳ mới Câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là: Thực trạng hoạt động CSNB của bệnh viện Huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang trong năm 2015 - 2016 như thế nào? Những yếu tố ảnh đến hoạt động chăm sóc của Bệnh viện huyện? Giải pháp để khắc phục những khó khăn, tồn tại, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CSNB của bệnh viện huyện Hoàng Su Phì ?

Chính vì những lý do đó mà chúng tôi xây dựng đề tài: "Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì năm 2016 và đề xuất giải pháp 2016 - 2020”

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Những vấn đề cơ bản trong Hoạt động chăm sóc người bệnh

Người khỏe mạnh tự đáp ứng được các nhu cầu của chính mình Khi bị bệnh tật, ốm yếu người bệnh không tự đáp ứng được nhu cầu hàng ngày cho bản thân nên cần đến sự hỗ trợ của người điều dưỡng, do vậy các hoạt động chăm sóc của người điều dưỡng đều có chung một nguyên tắc điều dưỡng là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu người bệnh

1.1.1 Nhu cầu cơ bản trong hoạt động chăm sóc người bệnh

Nhu cầu của con người theo Abraham Maslow là nhà tâm lý học người

Mỹ, gốc Nga 1953 chia ra 5 loại:

Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau theo thứ tự tăng dần từ thấp đến cao:

- Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học (mức thấp nhất): Là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác

- Nhu cầu về an ninh và an toàn: Là các nhu cầu như ăn ở, sinh sống an toàn, không bị đe đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ

- Nhu cầu xã hội hay nhu cầu liên kết và chấp nhận: Là các nhu cầu về tình yêu được chấp nhận, bạn bè, xã hội

- Nhu cầu được tôn trọng: Là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, địa vị

- Nhu cầu tự thể hiện hay tự thân vận động (mức cao nhất): Là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước

Trang 15

Hình 1 Nhu cầu của con người theo Abraham Maslow

Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: Cấp cao và cấp thấp Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an ninh/an toàn Nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng, và tự thể hiện Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người

Các nhu cầu cơ bản càng được đáp ứng thì càng tạo ra động lực sáng tạo và tự hoàn thiện ở mỗi cá thể Người điều dưỡng cần biết đánh giá đúng những nhu cầu, kinh nghiệm, kiến thức và thẩm mỹ của NB để từ đó có sự quan tâm và lập kế hoạch chăm sóc thích hợp

- Theo Virginia Henderson thì thành phần chăm sóc người bệnh cơ bản gồm 14 yếu tố:

+ Ðáp ứng các nhu cầu về hô hấp

+ Giúp đỡ NB về ăn, uống và dinh dưỡng

Trang 16

+ Giúp đỡ NB trong sự bài tiết

+ Giúp đỡ NB về tư thế, vận động và tập luyện

+ Ðáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi

+ Giúp NB mặc và thay quần áo

+ Giúp NB duy trì thân nhiệt

+ Giúp NB vệ sinh cá nhân hàng ngày

+ Giúp NB tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện

+ Giúp NB trong sự giao tiếp

+ Giúp NB thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng

+ Giúp NB lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người

vô dụng

+ Giúp NB trong các hoạt động vui chơi, giải trí

+ Giúp NB có kiến thức về y học

1.2 Điều dưỡng và công tác chăm sóc người bệnh

1.2.1 Khái niệm về điều dưỡng

Điều dưỡng viên là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng NB, theo dõi NB và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho NB Theo một định nghĩa khác thì Điều dưỡng viên là những người có nền tảng khoa học cơ bản về điều dưỡng, đáp ứng các tiêu chuẩn về chăm sóc NB tùy theo sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng

Ở Việt Nam, trước đây người điều dưỡng được gọi là Y tá, có nghĩa là người phụ tá của người thầy thuốc Ngày nay, điều dưỡng đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế do đó người làm công tác điều dưỡng được gọi là điều dưỡng viên Người điều dưỡng hiện có nhiều cấp bậc, trình độ và

đã được qui định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 17

1.2.2 Vai trò của người điều dưỡng

Lực lượng Điều dưỡng viên (kể cả Hộ sinh) giữ vai trò nòng cốt trong

hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu với mục tiêu chẩn đoán, điều trị, chăm sóc các nhu cầu thiết yếu của người dân trong việc nâng cao sức khỏe, duy trì, phục hồi và dự phòng bệnh tật ở ba tuyến: tuyến đầu, tuyến sau, và tuyến cuối kết hợp với các chuyên ngành khác trong toán chăm sóc sức khỏe

Tại các nước phát triển Anh, Mỹ, Canada, cũng như các nước đang phát triển như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Điều dưỡng viên đã được nâng cao vai trò trong việc quản lý các cơ sở y tế ban đầu, bệnh viện, tham gia khám và điều trị - chăm sóc các bệnh cấp và mãn tính theo chuyên ngành của điều dưỡng và có mặt trong hầu hết các lãnh vực khác và là nghề đang được kính trọng nhất hiện nay Riêng tại Việt Nam thì tình hình không khả quan và còn nhiều tồn tại, mặc dù trình độ đào tạo và phạm vi thực hành của điều dưỡng Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi, song trong nhận thức chung

về vai trò của người điều dưỡng chưa được cập nhật phù hợp với thực tế

1.2.3 Khái niệm về CSNB trong bệnh viện

CSNB trong bệnh viện bao gồm sự hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi NB, nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ và nghỉ, chăm sóc tâm lý, hỗ trợ điều trị

và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [10],[58]

1.2.4 Khái niệm CSNB toàn diện

Theo quan điểm của người cung cấp dịch vụ y tế CSNB toàn diện là: Dịch

vụ y tế tổng hợp được thực hiện một cách đồng bộ bởi bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng và mọi nhân viện y tế trong bệnh viện và sự tham gia của người bệnh

Theo quan điểm của người bệnh CSNB toàn diện được hiểu là: Sự chăm sóc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh hàng ngày về thể chất, tinh thần

và xã hội

Trang 18

CSNB toàn diện là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng CSNB, là mục tiêu phấn đấu của các bệnh viện Khái niệm này cũng khắc phục nhận thức chưa đầy đủ của một số người cho rằng CSNB toàn diện chỉ là nhiệm vụ của phòng điều dưỡng và của các Điều dưỡng, đồng thời khái niệm này đưa ra một quan niệm mới về vai trò của NB trong việc tham gia các quyết định về điều trị

và chăm sóc cho chính họ Trước đây việc điều trị cho NB hầu như chỉ do người thầy thuốc quyết định, NB chấp nhận tất cả những quyết định của thầy thuốc trong việc điều trị cho họ và vì thế, họ phó thác tính mạng cho thầy thuốc Ngày nay, người ta khuyến khích và trao quyền cho NB đưa ra các quyết định điều trị

và chăm sóc cho chính họ, trên cơ sở được giải thích đầy đủ với lời khuyên của Bác sĩ và Điều dưỡng Có sự tham gia của NB trong nhóm chăm sóc là rất quan trọng và có ý nghĩa trong việc chữa bệnh Khái niệm trên làm rõ trách nhiệm thực hiện CSNB toàn diện đối với mọi điều dưỡng trong BV

1.2.5 Khái niệm NB là trung tâm chăm sóc

Theo Viện Y học Mỹ (IOM), chăm sóc lấy người bệnh là trung tâm là một trong sáu mục tiêu cơ bản của hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ IMO định nghĩa: Chăm sóc lấy người bệnh là trung tâm là sự chăm sóc được thiết lập bởi quan hệ hợp tác giữa những người hành nghề, người bệnh và gia đình người bệnh để đảm bảo các đáp ứng dựa trên các giá trị về nhu cầu, mong đợi và sở thích của người bệnh, đồng thời người bệnh được hướng dẫn, hỗ trợ để đưa ra quyết định và tham gia vào việc chăm sóc của riêng mình [58]

1.2.6 Khái niệm về phân cấp chăm sóc [10]

- Người bệnh cần chăm sóc cấp I là người bệnh nặng, nguy kịch, hôn mê, suy hô hấp, suy tuần hoàn, phải nằm bất động và yêu cầu có sự theo dõi, chăm sóc toàn diện và liên tục

- Người bệnh cần chăm sóc cấp II là người bệnh có những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện các hoạt động hằng ngày và cần sự theo dõi, hỗ trợ

Trang 19

- Người bệnh cần chăm sóc cấp III là người bệnh tự thực hiện được các hoạt động hằng ngày và cần sự hướng dẫn chăm sóc

1.2.7 Các mô hình phân công CSNB

Theo Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/11/2011 của Bộ trưởng

Bộ Y tế Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện thì chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vâ ̣n đô ̣ng, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [10] Hiện nay tại Việt Nam nhiều mô hình chăm sóc người bệnh được triển khai và áp dụng

1.2.7.1 Mô hình phân công điều dưỡng chăm sóc chính

Một điều dưỡng viên hoă ̣c mô ̣t hô ̣ sinh viên chịu trách nhiệm chính trong việc nhận định, lập kế hoạch chăm sóc, tổ chức thực hiện có sự trợ giúp của các điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên khác và theo dõi đánh giá cho một

số người bệnh trong quá trình nằm viện [14]

1.2.7.2 Mô hình chăm sóc theo nhóm

Nhó m có từ 2 - 3 điều dưỡng viên hoặc hô ̣ sinh viên chịu trách nhiệm chăm sóc một số người bệnh ở một đơn nguyên hay một số buồng bệnh [1],[14]

1.2.7.3 Mô hình chăm sóc toàn diện theo đội

Mô hình chăm sóc theo đội: Đội gồm bác sĩ, điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên và người hành nghề khám bê ̣nh, chữa bê ̣nh khác chịu trách nhiệm điều trị, chăm sóc cho một số người bệnh ở một đơn nguyên hay một số buồng bê ̣nh

Từ 1998, với sự giúp đỡ của chuyên gia Thụy Điển, Bệnh viện Việt Nam -Thụy Điển Uông Bí đã thí điểm triển khai mô hình chăm sóc toàn diện theo đội tại Khoa Ngoại Thay vì chỉ có điều dưỡng, mỗi đội này có các thành phần: Bác sĩ, điều dưỡng, học sinh, sinh viên thực tập, kỹ thuật viên phục hồi

Trang 20

chức năng, hộ lý, người nhà người bệnh và người bệnh cùng tham gia Các thành viên trong đội phối hợp chặt chẽ với nhau, thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình người bệnh Vào đầu giờ thăm bệnh buổi sáng, Đội đến trực tiếp các giường bệnh được phân công quản lý Tại đây, đội nghe điều dưỡng báo cáo tình trạng, sức khoẻ của người bệnh, hoạt động chăm sóc người bệnh; bác sĩ kiểm tra lại sức khoẻ người bệnh Sau đó, các thành viên trong đội; trong đó, cả người bệnh và người nhà người bệnh cùng thảo luận, kiểm điểm tình hình chăm sóc, điều trị cho người bệnh, thái độ, ứng xử của các thành viên trong đội đối với người bệnh; đồng thời, phác thảo kế hoạch chăm sóc trong ngày, phân công cụ thể công việc của các thành viên Nhờ đó, cán bộ nhân viên trong Khoa bám sát được bệnh tình của người bệnh, hoạt động chăm sóc người bệnh được giám sát tốt Bản thân bác sĩ không chỉ làm công tác điều trị như trước đây mà còn tham gia trực tiếp vào triển khai dự thảo kế hoạch chăm sóc người bệnh trong ngày sao cho hiệu quả nhất, bởi hơn ai hết,

họ là người hiểu rõ hơn cả tình trạng bệnh tật của người bệnh [31]

1.2.7.4 Mô hình lấy người bệnh làm trung tâm

Công tác chăm sóc người bệnh toàn diện được thực hiện theo mô hình lấy người bệnh, buồng bệnh làm trung tâm là có sự tham gia của các lực lượng liên quan như bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, dược Nội dung chăm sóc toàn diện bao gồm về chăm sóc y tế (chữa bệnh); thể chất (ăn mặc, ở, vệ sinh); tinh thần (phong cách giao tiếp, thời gian tiếp xúc người bệnh) Ưu điểm của mô hình này là áp dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ về chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh và từng bước thực hiện kỹ thuật chăm sóc người bệnh chuyên sâu mô hình này lấy người bệnh làm trung tâm hiện nay mới chỉ áp dụng tại các cơ sở bệnh viện tuyến trung ương theo hướng chuyên sâu [1],[14]

Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Nhi trung ương công tác chăm sóc toàn diện người bệnh cũng thực hiện theo mô hình lấy người bệnh làm trung

Trang 21

tâm với sự tham gia tích cực của các bộ phận từ lâm sàng, cận lâm sàng cũng như vệ sinh, dinh dưỡng người bệnh và người nhà người bệnh Trên cơ sở những nhu cầu chính đáng của người bệnh để tổ chức thực hiện đáp ứng nhu cầu đó Cán bộ y tế thường xuyên giao tiếp, giải thích tường tận, động viên an

ủi, trao đổi với người bệnh và người nhà người bệnh với các hình thức "ba không": Không nặng lời, không thờ ơ, không từ chối; "ba công đoạn": Xin phép, xin lỗi, cảm ơn [30]

1.2.7.5 Mô hình phân chăm sóc theo công việc

Mô hình này được áp dụng trong các trường hợp cấp cứu thảm họa hoặc ở chuyên khoa sâu đòi hỏi điều dưỡng chuyên khoa thực hiện kỹ thuật chăm sóc đặc biệt trên người bệnh

1.2.7.6 Mô hình chăm sóc theo ca

Bệnh viện tổ chức cho điều dưỡng viên, hộ sinh viên làm việc theo ca tại các khoa, đặc biệt là ở các khoa Cấp cứ u, khoa Hồi sức tích cực, khoa Phẫu thuật, khoa Sản và khoa Sơ sinh Mỗi ca làm việc áp dụng mô hình phân công chăm sóc phù hợp với đặc điểm chuyên môn của từng khoa

1.2.8 Hoạt động của điều dưỡng

Bệnh viện phải bảo đảm đủ nhân lực điều dưỡng viên, hộ sinh viên theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 5/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Nội vụ về Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế Nhà nước để bảo đảm CSNB liên tục Bệnh viện xây dựng cơ cấu trình độ của điều dưỡng viên, hộ sinh viên phù hợp với tính chất chuyên môn và phân hạng bệnh viện Bảo đảm tỷ lệ điều dưỡng viên, hộ sinh viên có trình độ cao đẳng và đại học đáp ứng yêu cầu thỏa thuận công nhận dịch vụ chăm sóc đã được Chính phủ ký kết với các nước ASEAN ngày 8/12/2006 Bệnh viện bố trí nhân lực điều dưỡng viên, hộ sinh viên hàng ngày hợp lý tại các khoa và trong mỗi ca làm việc Phòng Điều dưỡng phối hợp với phòng Tổ chức cán bộ đề xuất về nhân lực điều dưỡng, phân bổ điều

Trang 22

dưỡng tại các khoa chuyên môn Giám đốc bệnh viện điều động bổ sung điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên, hộ lý và y công kịp thời cho khoa khi

có yêu cầu để bảo đảm chất lượng chăm sóc và phục vụ người bệnh

Trách nhiệm của điều dưỡng viên, hộ sinh viên:

Thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ CSNB được quy định tại Thông tư

07 của Bộ Y tế Phối hợp chặt chẽ với bác sĩ điều trị, điều dưỡng viên, hộ sinh viên và kỹ thuật viên trong công tác CSNB Giám sát và thực hiện việc tuân thủ các quy trình kỹ thuật điều dưỡng, các quy định của Bộ Y tế và của bệnh viện Giám sát và thực hiện quy tắc ứng xử và thực hành giao tiếp với đồng nghiệp, NB và người nhà NB

CSNB là thiên chức của người điều dưỡng/hộ sinh hoạt động này được thực hiện dựa trên mức độ phụ thuộc trong thực hiện các công việc hàng ngày để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của NB, tuy nhiên hiện nay phân cấp CSNB ở các bệnh viện lại chỉ do bác sĩ thực hiện và quyết định Điều 13 của Thông tư số 07/2001/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 26/01/2011 hướng dẫn công tác điều dưỡng về CSNB trong bệnh viện quy định điều dưỡng viên, hộ sinh viên phối hợp với bác sĩ trong phân cấp CSNB, nhưng thực tế điều dưỡng viên, hộ sinh viên gặp nhiều khó khăn do chưa được đào tạo về vấn đề này trong trường học, chưa được đào tạo bổ túc sau tốt nghiệp và do thiếu hướng dẫn cụ thể

Xác định đúng khả năng độc lập của NB trong thực hiện các hoạt động

cá nhân hàng ngày và mức độ nặng của bệnh Tăng cường chức năng chủ động và sự phối hợp giữa các điều dưỡng viên, hộ sinh viên với bác sĩ điều trị và nhân viên y tế khác Để tính nhân lực điều dưỡng/hộ sinh cần thiết cho mỗi ca làm việc và dự đoán yêu cầu nhân lực cho kế hoạch công tác hàng năm

Phân cấp chăm sóc NB phải dựa trên các nguyên tắc sau: Mọi người bệnh nội trú đều được phân cấp chăm sóc ngay sau khi tiếp nhận và kịp thời điều chỉnh phân cấp chăm sóc khi tình trạng thay đổi NB được chăm sóc và theo dõi phù hợp với phân cấp chăm sóc Bác sĩ phối hợp chặt chẽ với điều

Trang 23

dưỡng viên, hộ sinh viên và những nhân viên y tế khác (khi cần) để thực hiện phân cấp chăm sóc Phân cấp chăm sóc được dựa trên nhận định, đánh giá trực tiếp NB về mức độ phụ thuộc của NB khi thực hiện các hoạt động hàng ngày và mức độ nặng của bệnh hay nguy cơ tiềm ẩn của tình trạng bệnh có thể đe dọa tính mạng NB Phân cấp chăm sóc dựa trên mức độ phụ thuộc của người bệnh và mức độ nặng của bệnh phù hợp với tính chất bệnh theo từng chuyên khoa Nhiệm vụ chuyên môn CSNB được thực hiện theo thông tư 07/BYT 2011

1.3 Những nghiên cứu về hoạt động chăm sóc người bệnh trên Thế giới

quyết định chăm sóc

Tác giả Bekele Chaka (2005) [38] nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 3 bệnh viện công Tikur Anbessa, Saint Paul và Zewditu Memorial tại Addis Ababa, Ethiopia năm 2005 về đánh giá công tác chăm sóc điều dưỡng thông qua mức

độ hài lòng của 631 người bệnh Kết quả cho thấy: Tỷ lệ người bệnh hài lòng

Trang 24

với khả năng chuyên môn của người điều dưỡng đạt 70% nhưng tỷ lệ người bệnh hài lòng với lượng thông tin nhận được từ điều dưỡng về tình trạng bệnh tật, cách thức điều trị cho họ chỉ đạt 40% Nhu cầu cải thiện mối quan hệ cá

nhân giữa điều dưỡng với NB đã được khuyến cáo

Nghiên cứu mô tả cắt ngang 9688 điều dưỡng và 5766 NB của Li-Ming You và cộng sự [59], kết quả cho thấy có 38% điều dưỡng Trung Quốc đã làm việc quá sức và 45% không hài lòng với nghề nghiệp của mình Gia tăng

tỷ lệ điều dưỡng đánh giá môi trường làm việc và chất lượng chăm sóc tại bệnh viện của họ làm việc ở mức thấp hoặc trung bình (tương ứng 29% và 61%) và mức độ an toàn NB ở các bệnh viện thấp (36%) Tăng tỷ lệ người bệnh/điều dưỡng có mối liên quan với chất lượng chăm sóc thấp và tăng tỷ lệ chất lượng chăm sóc thấp và trung bình (OR = 1.05) Có mối liên quan giữa tăng tỷ lệ cử nhân điều dưỡng với kết quả điều trị tốt hơn

1.3.2 Tại Việt Nam

Công tác nghiên cứu khoa học trước năm 2000 về lĩnh vực hoạt động của điều dưỡng còn rất mới, rất ít nhưng từ năm 2002 đến nay NCKH về điều dưỡng của Hội điều dưỡng đã được quan tâm đẩy mạnh, nhiều cơ sở y tế và Hội điều dưỡng các tỉnh đã triển khai nhiều đề tài NCKH, góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành điều dưỡng Các nghiên cứu có liên quan đến hai mục tiêu của luận văn này đã được tác giả tìm hiểu cho thấy: Hoàng Hữu Nam và cộng sự (2005) [41], đã tiến hành nghiên cứu nguồn nhân lực điều dưỡng công tác tổ chức điều hành và triển khai mô hình chăm sóc toàn diện tại 2 bệnh viện huyện Hương Thủy và Phú Vang Nghiên cứu đã chỉ ra một số tồn tại: Về nguồn nhân lực điều dưỡng của 2 đơn vị: Thiếu về số lượng tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ chung là 1,58%; Yếu về chất lượng tỷ lệ cán bộ

có trình độ đại học có 3,66%, trình độ tin học cơ bản 18,97%; Thiếu phương tiện CSNB chỉ đạt 56,9%; Đời sống thu nhập của cán bộ thấp Về mô hình tổ

Trang 25

chức thực hiện chăm sóc toàn diện: Mô hình tổ chức CSNB theo mô hình chăm sóc nhóm nên không nắm bắt được các NB khác

Nguyễn Thị Thanh Điều và cộng sự (2007) [28], nghiên cứu về thực trạng và một số giải pháp về tăng cường công tác điều dưỡng trong CSNB toàn diện tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình Quân đội, bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 4/2006 đến tháng 6/2007 Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng số liệu thứ cấp Kết quả nghiên cứu cho thấy về nhân lực điều dưỡng nữ chiếm tỷ lệ cao (71,5%); trong đó tập trung nhiều ở độ < 30 tuổi và thâm niên công tác < 5 năm (62,8%); công tác chăm sóc toàn diện đã được triển khai sâu rộng và đạt được kết quả khả quan

NB được chăm sóc toàn diện, tuy nhiên có sự khác biệt về các mặt chăm sóc như: Tư vấn chế độ ăn uống, giáo dục sức khỏe, phòng bệnh và chế độ luyện tập được thực hiện đạt tỷ lệ (<90%)

Bùi Bá Vường (2010) [29], nghiên cứu thực trạng nhân lực của bệnh viện đa khoa huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình năm 2010, nhu cầu nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015 qua phân tích cho thấy trình độ cán bộ 31% đại học, 49,4% cao đẳng, trung học, 25% cán bộ viên chức sẽ nghỉ chế độ trong vòng 5 năm tới, trong đó nữ hộ sinh 75%, điều dưỡng trung học 35%

Nguyễn Anh Tuấn (2011) [40], đánh giá hoạt động chăm sóc NB của điều dưỡng tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy đây là bệnh viện đầu tiên áp dụng mô hình CSNB theo đội; hiện bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí đã có 33 đội chăm sóc

NB tại 15 khoa lâm sàng thuộc khối Nội, Ngoại, Sản, Nhi, khối chuyên khoa

lẻ và khoa Truyền nhiễm; tỷ lệ nhân viên y tế/giường bệnh và tỷ lệ bác sỹ/điều dưỡng còn thấp; thiếu nhân lực gây sự quá tải công việc nên một số nhiệm vụ chăm sóc NB của điều dưỡng viên thực hiện còn hạn chế; tỷ lệ NB

và người nhà NB rất hài lòng trong thời gian điều trị tại bệnh viện cao; tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ NB và người nhà NB không biết tên

Trang 26

điều dưỡng viên chăm sóc cho mình còn cao: Mô hình điều dưỡng chăm sóc chính; Mô hình chăm sóc theo nhóm; Mô hình chăm sóc toàn diện theo đội;

Mô hình lấy NB làm trung tâm; Mô hình chăm sóc theo công việc; Mô hình chăm sóc theo ca

Dương Thị Bình Minh (2012) [38], tiến hành nghiên cứu tại một số khoa lâm sàng tại bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô năm 2012 Nghiên cứu mô tả thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác CSNB của điều dưỡng viên Kết quả cho thấy ĐDV của bệnh viện đã hoàn thành tương đối tốt 4 trong 5 nhiệm vụ được đánh giá đều đạt > 90% Tuy nhiên, kết quả thực hiện công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK lại khá thấp (đạt 66,2%) Một số hoạt động chăm sóc có tỷ lệ không nhỏ điều dưỡng chưa thực hiện tốt đó là: Còn 8,1% người CSNB cho người bệnh ăn qua Sonde và 46,2% trường hợp điều dưỡng không tham gia hỗ trợ về sinh cá nhân cho người bệnh Một số yếu tố ảnh hưởng là thiếu nhân lực; tỷ lệ điều dưỡng có trình độ đại học và cao đẳng thấp, sự quá tải công việc của điều dưỡng, hạn chế của công tác kiểm tra, giám sát, sự phối hợp giữa bác sỹ và điều dưỡng chưa tốt Nghiên cứu cũng tiến hành quan sát công việc của điều dưỡng viên cả trong và ngoài giờ hành chính và nhận thấy không có sự khác biệt về sự tuân thủ quy trình điều dưỡng giữa 2 thời điểm

Trần Thị Minh Tâm và cộng sự (2011) [42], khảo sát thực trạng và một

số giải pháp về tăng cường công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh toàn diện tại bệnh viện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy về tình hình thực tế nguồn nhân lực nữ chiếm tỷ lệ 95% tập trung độ tuổi dưới 30 thâm niên dưới 5 năm công tác tỷ lệ 58,5% Với nguồn nhân lực trẻ có sức khỏe, nhậy bén việc trong tiếp cận với dịch vụ kỹ thuật, tuy nhiên do tỷ lệ nữ cao ở độ tuổi lập gia đình cũng ảnh hưởng đến công tác chăm sóc Thực trạng công tác chăm sóc toàn diện, qua nghiên cứu cững cho thấy còn một số hạn chế như kiểm tra chế độ ăn người bệnh theo y

Trang 27

lệnh của bác sĩ chiếm 18,5%, điều dưỡng không tự giới thiệu về tên họ, chức danh chiếm 9%

Nguyễn Tuấn Hưng (2011) [31], nghiên cứu về thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh của Điều dưỡng viên tại bệnh viện Việt Nam- Thụy Điển Uông bí năm 2011 Kết quả đánh giá cho thấy trong 7 nhiệm vụ mà điều dưỡng viên thực hiện thì có 5 nhiệm vụ là điều dưỡng viên thực hiện trên 80% trong đó: Đón tiếp người bệnh 97,5%; Rửa tay thưởng quy 95,8%; Chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh 84%; Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng 98,3%; Cho người bệnh dùng thuốc và theo dõi NB dùng thuốc 99,2%

Bùi Thị Kim Oanh (2012) [43], Nghiên cứu thực trạng công tác CSNB của điều dưỡng Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2012 Kết quả cho thấy điểm trung bình cộng CSNB tại các khoa lâm sàng như: Khoa Nội 5,4 đến 9,34 xếp loại khá; Khoa Cấp cứu từ 3,82 đến 8,78 xếp loại trung bình; Khoa Ngoại 6,67 đến 9,43 xếp loại khá; Khoa Tai, Mũi, Họng 7,15 đến 7,72 xếp loại khá; Khoa Răng, Hàm, Mặt từ 6,42 đến 8,45 xếp loại khá Kết luận, công tác CSNB chưa đồng đều ở các khoa, thấp nhất là ở khoa cấp cứu

Trần Ngọc Trung (2012) [50], đánh giá hoạt động CSNB của điều dưỡng viên tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, năm 2012 cho thấy có từ 93% đến 97,2% NB có nhu cầu chăm sóc về tinh thần, 42,7% đến 56,2% NB cần hỗ trợ vệ sinh cá nhân, 91,8% đến 98% NB muốn được thay mặc áo quần bệnh viện và thay ga trải giường và có từ 48,5% đến 73% NB có nhu cầu cần được hỗ trợ xoay trở, vận động, luyện tập, phục hồi chức năng Tuy nhiên, tỷ

lệ đáp ứng các nhu cầu của NB còn ở các mức độ khác nhau, cụ thể là: 62,1% đến 78,7% NB được đáp ứng các nhu cầu chăm sóc về tinh thần; 76,6% đến 93,5% NB được hỗ trợ các hoạt động vệ sinh cá nhân; 65,8% và 67,8% NB được thay ga trải giường và thay quần áo bệnh viện; 91,8% NB được hỗ trợ vận động và chỉ 43,8% NB được hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập phục hồi chức năng Hiện nay, điều dưỡng chủ yếu tập trung cho chăm sóc các nhu cầu về y

Trang 28

tế của NB, chưa thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc thuộc về thiên chức của mình nên mới chỉ đáp ứng được 24,7% - 55,9% các nhu cầu chăm sóc về tinh thần, 1,6% - 10,1% các nhu cầu chăm sóc về thể chất

Nguyễn Văn Khoa và cộng sự (2013) [46], đánh giá công tác điều dưỡng bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị tiêu huyết khối tại bệnh viện 103 Kết quả nghiên cứu cho thấy trong quá trình thực hiện các thủ thuật

cố đinh kim luồn tĩnh mạch, đặt băng đo huyết áp, đặt Sonde tiểu, đặt nội khí quản… của điều dưỡng không sảy ra tai biến

Nghiên cứu thực trạng công tác tư vấn giáo dục sức khỏe và CSNB của các thành viên đội chăm sóc (là các ĐDV) tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2013, Trần Thị Thảo và cộng sự (2013) [52], cho kết quả: 94,9% NB được ĐD hướng dẫn cách tự chăm sóc; 86,6% NB được hướng dẫn cách phòng bệnh; 87,5% NB được hướng dẫn ăn, uống; 85,7% NB được hướng dẫn luyện tập phục hồi chức năng; 90% NB được ĐD quan tâm, động viên; 100% NB được giao tiếp nhẹ nhàng, niềm nở 97,7% NB đánh giá được điều trị trong môi trường thân thiện 99,5% NB được nhân viên y tế giải đáp các băn khoăn, thắc mắc; 98,2 – 100% các nội dung chăm sóc thể chất cho

NB được đáp ứng, 91,2% NB cho rằng người nhà trong đội chăm sóc là cần thiết, kết quả nghiên cứu định tính cũng chỉ ra vai trò quan trọng của người nhà trong đội chăm sóc

Nghiên cứu hiệu quả quy trình CSNB sau phẫu thuật nội soi mũi xoang tại khoa Tai, Mũi, Họng Bệnh viện Quân Y 103 (2014) của tác giả Nguyễn Tuyết Nga và Đào Gia Hiển, tiến hành trên 120 NB viêm mũi xoang mãn tính kết quả cho thấy NB được điều dưỡng thực hiện đúng các bước trong quy trình đạt 94,1%, số bước trung bình là 34,5

Nguyễn Đăng Chung và cộng sự (2014) [48], khảo sát sự hài lòng của

NB, thân nhân NB đến khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện Quân Y 110 Trong khảo sát này tỷ lệ NB hài lòng cao với việc thực hiện công khai thuốc

Trang 29

hàng ngày lên tới 94,85%, NB cũng hài lòng với công việc chăm sóc của điều dưỡng như trang bị đồ vải 84,79%, đưa NB đi xét nghiệm 75,61% Tỷ lệ hài lòng mức trung bình khi NB cho rằng điều dưỡng vẫn thiếu sự giải thích trước khi thực hiện chăm sóc (66,44%) Điều này có thể do điều dưỡng quá tập trung làm kỹ thuật, thiếu kỹ năng giải thích với NB và người nhà NB

Nguyễn Việt Thắng và cộng sự (2014) [51], khảo sát thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Hà Tĩnh, năm 2014 Kết quả Hộ sinh chiếm tỷ lệ 18,5%, có trình độ Cao đẳng và đại học thấp nhất trong các đối tượng (0,2%); Kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ 14,27% có trình độ cao đẳng

và đại học cao hơn điều dưỡng (24,7% và 17,28%); Điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng số (67,23%), chủ yếu là trình độ trung cấp (81,44%); Hộ sinh chiếm 14,35%, trình độ đại học 1,2%; cao đẳng 12,8%; trung học 94,4%

Tác giả Phạm Văn Vũ (2014) [37], mô tả thực trạng tổ chức hoạt động

và chăm sóc NB tại bệnh viện huyện Lương Tài, Bắc Ninh cho thấy có sự thiếu hụt về mô hình điều dưỡng chăm sóc chính tỷ lệ 2,47%, mô hình chăm sóc theo nhóm 39,51%, mô hình chăm sóc toàn diện theo đội 3,70%, mô hình lấy người bệnh làm trung tâm 7,41%, mô hình chăm sóc theo công việc 45,68%, mô hình chăm sóc theo ca 1,23% bệnh viện theo quy định tại TT07 Nghiên cứu cũng cho thấy 100 % các điều dưỡng trưởng khoa có lập kế hoạch, tổ chức thực hiện công tác chăm sóc NB và tổ chức thực hiện kịp thời các chỉ định điều trị theo dõi, xét nghiệm chăm sóc của các bác sĩ điều trị

Báo cáo thực trạng hoạt động CSNB tại bệnh viện huyện Lương Tài, tác giả Nguyễn Thanh Hương và cộng sự (2014) [35], đã đánh giá quy trình CSNB của Điều dưỡng cho thấy điều dưỡng viên là lực lượng không thể thiếu được trong công tác CSNB thực tế cho thấy điều dưỡng viên chiếm tỷ lệ trên 60% nguồn nhân lực y tế, công tác CSNB là thiết yếu đối với tất cả cơ sở khám chữa bệnh cũng như y tế cộng đồng, diễn ra thường xuyên liên tục trong 24/24 giờ nếu chăm sóc tốt NB sẽ giảm thời gian, chi phí điều trị, chất lượng

Trang 30

điều trị được nâng cao góp phần không nhỏ tới uy tín của bệnh viện và sự hài lòng của NB và người nhà người bệnh Kết quả khảo sát cho thấy 95% nhân viên y tế niềm nở, chào hỏi, đón tiếp và chỉ dẫn NB đến khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện 97,4% Hướng dẫn NB và người nhà NB làm các thủ tục hành chính; 100% Khi NB vào viện điều dưỡng viên của khoa khám bệnh đưa

và bàn giao NB, hồ sơ bệnh án cho khoa điều trị có kí sổ giao nhận Tại khoa điều trị: Tiếp nhận NB, xếp giường, buồng bệnh cho NB, hướng dẫn trật tự nội quy khoa phòng, nơi nhà vệ sinh, nơi giặt, phơi công cộng cho NB và gia đình NB 90,0% điều dưỡng phụ trách buồng bệnh có giới thiệu tên, chức danh của mình cho NB và gia đình NB biết, 98,2-100% điều dưỡng có hướng dẫn trật tự, nhận định tình trạng NB, lấy các chỉ số sinh tồn ghi kết quả vào phiếu theo dõi, chăm sóc; 99,1% điều dưỡng trực tiếp thực hiện thuốc cho NB ngay tại giường bệnh; 96,6% điều dưỡng chăm sóc tận tình chu đáo theo phân cấp chăm sóc; 93,7 % điều dưỡng có hướng dẫn chế độ dinh dưỡng; 100 % điều dưỡng tại các khoa chuyên môn có tư vấn giáo dục sức khỏe cho NB

Nguyễn Phương Hoa và cộng sự (2015) [49], Đánh giá thực trạng khả năng giao tiếp với NB của đội ngũ điều dưỡng Bệnh viện Quân Y 110 Với 97,60% người bệnh hài lòng về thái độ ứng xử của bác sĩ, hộ lý và nhân viên phục vụ khác cho thấy tâm lý tiếp xúc với NB của cán bộ nhân viên y tế là tốt

Về thái độ của diều dưỡng với NB là chu đáo, niềm nở chiếm tỷ lệ 94,23%, người bệnh trong quá trình điều trị được nhân viên y tế giải thích tình trạng bệnh 99,04% cho thấy công tác quán triệt y đức và học tập kỹ năng tiếp xúc của nhân viên y tế đạt kết quả tốt

Dương Hồng Thái và cộng sự (2015) [44], khảo sát về sự hài lòng của

NB đến khám tại khoa Khám Bệnh – Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang Kết quả cho thấy tỷ lệ hài lòng với cơ sở hạ tầng khám bệnh là 91,4% Với hướng dẫn viên là 91,7% Với điều dưỡng là 95,1% với Bác sỹ là 91,8% Tỷ lệ hài

Trang 31

lòng và chấp nhận được đối với thời gian chờ khám bệnh là 96,8% Thời gian chờ kết quả xét nghiệm ngoại trú tại khoa Khám bệnh là 92,1% Thời gian chờ các kết quả xét nghiệm khác là 84% NB rất hài lòng về kết quả khám tại khoa Khám bệnh là 97,4%

Hoàng Ngọc Trung và cộng sự [34] “ Khảo sát mức độ hài lòng của NB nội trú Tại Bệnh viện đa khoa Trung Ương Thái Nguyên năm 2015” Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang Kết quả cho thấy 96,5% NB hài lòng với ĐD về phổ biến nội quy và những thông tin cần thiết khi vào viện trong quá trình điều trị 97,84% NB được bác sỹ giải thích về tình trạng bệnh, chẩn đoán, phương pháp điều trị 91,83 % NB được ĐD giúp đỡ trong việc chăm sóc, ăn uống vệ sinh hàng ngày 96,34 % NB được ĐD giải thích và động viên trước, trong và sau khi làm các kỹ thuật, thủ thuật 91,8% NB được

ĐD công khai thuốc trước khi sử dụng 97% nhân viên có lời nói cử chỉ, thái

độ thân thiện với NB 96,97% được nhân viên y tế tận tình giúp đỡ NB, không

có biểu hiện, ban ơn gợi ý tiền quà 84,85 % cho rằng các thỉ tục hành chính không phiên hà và không làm mất thời gian chờ đợi 98,17% nhân viên y tế hợp tác tốt với nhau trong khi điều trị chăm sóc NB 98,17% NB hài lòng với công tác điều trị, chăm sóc, phục vụ của nhân viên y tế

Nghiên cứu đánh giá kiến thức, thực hành của điều dưỡng sau can thiệp chương trình đào tạo chăm sóc vết thương theo chuẩn năng lực tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức của Phan Thị Dung và cộng sự (2016)[45] Quan sát 150 điều dưỡng thực hiện chăm sóc vết thương có 73,8% điều dưỡng đánh giá vết thương khi thay băng và 23,8% không đánh giá

Các nghiên cứu trên cho thấy yếu tố quan trọng để thực hiện hoạt động CSNB là nguồn nhân lực về điều dưỡng, sự phân bổ điều dưỡng, trình

độ chuyên môn, việc thực hiện nhiệm vụ theo quy trình điều dưỡng Hoạt động CSNB tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hà Giang đang thực hiện theo quy định, tuy nhiên ngành y tế Hà Giang hiện nay chưa có nghiên cứu nào về

Trang 32

hoạt động CSNB, nghiên cứu này thực hiện nhằm có thêm giải pháp phù hợp duy trì đồng thời nâng cao chất lượng CSNB của Bệnh viện cấp huyện trong thời gian tới, phù hợp với chính sách của Đảng về chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc ở miền biên giới phía Bắc Việt Nam

Trang 33

1.3.3 Tổ chức của Bệnh viện huyện Hoàng Su Phì

Sơ đồ 1.2 Tổ chức của Bệnh viện huyện Hoàng Su Phì

Khoa Nội tổng hợp

Khoa Truyền nhiễm

Khoa Nhi

Phòng Tài chính – kế

toán

Phòng kế hoạch tổng hợp

Khoa

Y dược cổ truyền

Khoa Ngoại Khoa Phụ sản Khoa Liên

chuyên khoa

Khoa lão khoa

Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn

Khoa Dược Khoa xét

nghiệm - chẩn đoán hình ảnh

Khoa Dinh dưỡng

Trang 34

1.3.4 Hoạt động chăm sóc NB tại bệnh viện Đa khoa khu vực huyện

Hoàng Su Phì là huyện biên giới phía tây tỉnh Hà Giang, nằm trên thượng nguồn sông Chảy và sông Bạc cách thành phố Hà Giang 100km về phía tây, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp huyện Xín Mần, phía đông giáp huyện Vị Xuyên, phía nam giáp huyện Bắc Quang, Quang Bình Huyện có diện tích 63.303,34 ha, có 01 thị trấn, 24 xã, trong

đó có thị trấn nằm trung tâm huyện Dân số tính đến 31/12/2015 là 65.426 người, phân bố dân cư không đồng đều giữa các xã và thị trấn Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 24,68% [25] Huyện Hoàng Su Phì có 12 dân tộc anh em sinh sống trong đó chủ yếu là dân tộc Nùng chiếm 38,8%, dân tộc Dao 21,8%, dân tộc Tày 12,6% ngoài ra còn lại các dân tộc Kinh, La Chí, Hoa, Hán, Cờ Lao,Thái, Phủ Lá, Cao Lan, Mường Đường giao thông đi lại thuận tiện tới các trung tâm xã và các thôn xóm trên địa bàn huyện, khoảng cách từ xã xa nhất đến BVH là 45 km cho nên nhìn chung nhân dân trên địa bàn huyện tương đối thuận lợi được chăm só về lĩnh vực y tế 12/2006 chia tách TTYT huyện, thành TTYT và PYT, Bệnh viện đa khoa Toàn huyện có 25 TYT xã và thị trấn, tại bệnh viện trung tâm được giao 65 giường, có 75 cán bộ y bác sỹ, bình quân 03 giường / TYT, từ ngày 01/01/2009 Trạm y tế xã được bàn giao từ Phòng y tế về cho cho TTYT quản lý Bệnh viện huyện, tính đến thời điểm hiện tại được giao chỉ tiêu

190 giường bệnh (bao gồm 03 phòng khám đa khoa khu vực)

Bệnh viện đa khoa khu vực huyện (kể cả phòng khám đa khoa khu vực) thuộc bệnh viện hạng III là đơn vị sự nghiệp y tế trực thuộc Sở Y tế Hà Giang, chịu sự quản lý toàn diện về hoạt động chuyên môn của Giám đốc Sở

Y tế, chịu sự quản lý Nhà nước của UBND huyện BVĐK huyện là đơn vị có

tư cách pháp nhân, có trụ sở làm việc tại trung tâm thị trấn Vinh Quang Huyện HSP, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước BVĐK huyện do 01 Giám đốc lãnh đạo, giúp việc Giám đốc có từ 02 phó giám đốc BVĐK huyện thực hiện các chức năng cấp cứu khám chữa bệnh,

Trang 35

đào tạo cán bộ y tế, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn

kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh, công tác dược vật tư y tế, hợp tác quốc tế, quản lý kinh tế, thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn khác do giám đốc sở y tế

và Ủy ban nhân dân huyện giao BVH gồm: 3 phòng chức năng và: Phòng tổ chức hành chính, Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng tài chính kế toán và một phòng chỉ đạo chuyên môn đó là Phòng điều dưỡng; Nhân lực về điều dưỡng được phân bố tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng như: Khoa Ngoại tổng hợp, Khoa Nội, Khoa Phụ sản, Khoa nhi, Y học cổ truyền dân tộc, Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Lão khoa, Khoa Liên chuyên khoa (TMH-M-RHM), Khoa Khám bệnh, Khoa Cận lâm sàng (xét nghiệm, X quang), khoa Dược vật tư y tế và 03 Phòng khám đa khoa khu vực Chức năng nhiệm vụ chủ yếu của điều dưỡng là thực hiện các hoạt động CSNB theo thông tư 07 của Bộ Y tế về hướng dẫn công tác CSNB

Công tác đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học, tổ chức tiếp nhận và triển khai các kỹ thuật được tuyến trên chuyển giao, lập kế hoạch chỉ đạo hoạt động triển khai chỉ đạo chỉ đạo tuyến chuyên môn kỹ thuật 03 phòng khám đa khoa khu vực và các trạm y tế tuyến xã chuyển giao và hỗ trợ các kỹ thuật chuyên môn cho tuyến dưới, qui hoạch trồng vườn thuốc nam, kết hợp với y

tế cơ sở thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã, tham gia, kiểm tra, giám sát các hoạt động chuyên môn tuyến dưới trong khu vực được phân công, thực hiện luân phiên theo đề án 1816 bác sỹ xuống hỗ trợ cơ sở, tổ chức triển khai các chương trình dự án y tế sau khi được phê duyệt, phòng chống dịch bệnh Bệnh viện đã được hỗ trợ về tài chính và vật tư trang thiết bị phục vụ cho công tác CSNB; được hỗ trợ về mặt kinh phí cho cán bộ đi học và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Quản lý kinh tế y tế, có kế hoạch và quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện, nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất trang thiết bị, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các qui định của nhà nước

Trang 36

về thu chi ngân sách của BV từng bước cải tiến hoạch toán thu theo qui định của nhà nước, tạo thêm nguồn kinh phí cho BV từ các nguồn, dịch vụ y tế, viện phí, BHYT [2]

Hệ thống điều dưỡng của BVH được phân bố theo phân cấp chuyên môn như: Phòng điều dưỡng tổng hợp chỉ đạo về chuyên môn tới các khoa như: Khoa khám bệnh; Khoa hồi sức cấp cứu; Khoa Nội; Khoa Nhi; Khoa y dược cổ truyền; Khoa truyền nhiễm; Khoa Ngoại; Khoa phụ sản: Khoa liên chuyên khoa TMH-RHM, Khoa Mắt; Khoa xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh;

Khoa chống nhiễm khuẩn; Khoa dược; Khoa dinh dưỡng; Khoa lão khoa

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho Bệnh viện tuyến huyện hiện nay

Nhu cầu CSSK khám chữa bệnh của nhân dân ngày một tăng cao, đi cùng với việc đạt được hiệu quả chữa bệnh đó là các hoạt động CSNB của điều dưỡng đã tạo nên chất lượng của điều trị, tạo nên sự hài lòng của NB tại mỗi BV từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện

Nguyễn Thị Ly và cộng sự (2007) [39], đánh giá chất lượng CSNB toàn diện tại một số cơ sở y tế tỉnh Hải Dương Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp phương pháp định tính Kết quả cho thấy tỷ lệ NB hài lòng với sự chăm sóc của điều dưỡng từ 70-100% Yếu tố liên quan có ảnh hưởng khi thực hiện mô hình chăm sóc toàn diện ở một số BV còn gặp nhiều khó khăn như: Việc lập kế hoạch chăm sóc của điều dưỡng trưởng mới chỉ đạt 65,51%, về nguồn lực còn thiếu điều dưỡng viên trong công tác CSNB, như tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương trang thiết bị trong CSNB đạt 20,45% so với quy định; nhân lực bác sỹ/điều dưỡng thiếu đạt tỷ lệ 1/1,6; trong khi đó so với TT 08 tỷ lệ này là 1/3-3,5

Trần Thị Minh Tâm và cộng sự (2009)[30], đánh giá chất lượng ghi chép phiếu chăm sóc của Điều dưỡng – nữ hộ sinh tại bệnh viện Hương trà -

Trang 37

Thừa thiên Huế Qua đánh giá đã cho thấy tỷ lệ trước và sau tập huấn có sự khác biệt như: Ở phiếu theo chức năng sống trước tập huấn khá (80,3%) và sau khi tập huấn đạt 98,2% Phiếu chăm sóc và thực hiện kế hoạch trước tập huấn 81,5%, sau tập huấn 98,6% Phiếu theo dõi truyền dịch trước tập huấn 71,25%, sau tập huấn 90,28% Kết quả cũng cho thấy việc thực hiện ghi chép

hồ sơ bệnh án là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhiệm vụ chuyên môn

CSNB

Huỳnh Thanh Phong và cộng sự (2014) [55], nghiên cứu khảo sát yếu

tố liên quan đến chất lượng chăm sóc của điều dưỡng bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, cho thấy trình độ chuyên môn, năm kinh nghiệm, tour trực; Đặc điểm của Khoa chuyên môn như quy mô khoa, loại khoa, tỷ lệ điều dưỡng viên/người bệnh có liên quan đến chất lượng chăm sóc, trong đó đặc biệt là tour trực càng dài thì chất lượng chăm sóc càng kém, có 8,6% của tour trực 24/24 ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc

Một số nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động CSNB như: Trình độ chuyên môn, sự phối hợp trong công việc giữa bác

sỹ và điều dưỡng, giữa các điều dưỡng viên trong nhóm, trong ca chăm sóc; Tour trực của điều dưỡng dài hay ngắn, sự quá tải công việc

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

- Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ số Điều dưỡng viên tham gia công tác chăm sóc tại bệnh viện, Giám đốc, Phó giám đốc bệnh viện đang thực hiện nhiệm vụ CSNB tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Hoàng Su Phì

- Người bệnh, đang điều trị tại bệnh viện đa khoa khu vực huyện Hoàng

Su Phì tại thời điểm nghiên cứu

* Tiêu chuẩn lựa chọn

+ NB, người CSNB trên 18 tuổi có khả năng trả lời các câu hỏi

+ Người CSNB ( không phối hợp, và không có khả năng trả lời)

 Tiêu chuẩn loại trừ:

+ NB là trẻ nhỏ, người bệnh hôn mê, người bệnh có rối loạn hành vi + Người CSNB là nhân viên bệnh viện hoặc người nhà nhân viên bệnh viện

+ Những người từ chối trả lời

2.1.2 Nghiên cứu định tính

Tiến hành 04 cuộc phỏng vấn để đánh giá về thực trạng tổ chức, hoạt động chăm sóc, những bất cập, khó khăn và các giải pháp về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và hoạt động BVH: Gồm (BGĐ, Trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng các khoa, điều dưỡng các khoa)

+ Cuộc phỏng vấn thứ 1: Với giám đốc bệnh viện

+ Cuộc phỏng vấn thứ 2: Với trưởng phòng điều dưỡng

+ Cuộc phỏng vấn thứ 3: Với phòng Điều dưỡng và các Điều dưỡng trưởng khoa với 10 người tham gia

+ Cuộc phỏng vấn thứ 4: Phỏng vấn các điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng

- Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích

Trang 39

2.1.3 Rà soát tài liệu

- Số liệu thứ cấp, văn bản qui định về cơ cấu nhân sự hoạt động CSNB,

mô hình CSNB Báo cáo hoạt động trong 2 năm 2015-2016, các văn bản về tổ chức, hoạt động CSNB của Bệnh viện đa khoa khu vực Hoàng Su Phì của tỉnh

Hà Giang và của UBND huyện Hoàng Su Phì

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/1/2016 đến 31/12 năm 2016

- Địa điểm nghiên cứu: Tại Bệnh viện đa khoa khu vực huyện Hoàng

Su Phì tỉnh Hà Giang

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Là phương pháp nghiên cứu mô tả thiết kê nghiên cứu cắt ngang, điều tra cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

- Phân bố giới tính của cán bộ điều dưỡng viên theo biểu đồ

- Phân bố chất lượng nguồn nhân lực Điều dưỡng bảng 3.2

- Tổ chức của phòng điều dưỡng tại bệnh viện huyện bảng 3.4

- Đánh giá hoạt động của phòng Điều dưỡng bảng 3.5

- Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của Trưởng phòng Điều dưỡng bảng 3.6

- Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của Điều dưỡng trưởng các khoa 3.7

- Mô hình hoạt động CSNB của cán bộ y tế trong toàn bệnh viện bảng 3.8

- Đánh giá hoạt động của điều dưỡng về CSNB bảng 3.9

- Đánh giá qui trình CSNB của điều dưỡng bảng 3.10

2.3.4 Chỉ số nghiên cứu:

- Tỷ lệ hài lòng của NB về thái độ của điều dưỡng khi NB đến khám chữa bệnh bảng 3.13

Trang 40

- Tỷ lệ hài lòng của NB về việc phổ biến nội qui của điều dưỡng bảng 3.14

- Tỷ lệ hài lòng của NB về phổ biến nội quy của ĐD bảng 3.15

- Tỷ lệ hài lòng của NB về công khai thuốc của điều dưỡng bảng 3.16

- Tỷ lệ hài lòng của NB về hướng dẫn vệ sinh, ăn uống hàng ngày của điều dưỡng bảng 3.17

- Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về giao tiếp của ĐD trong CSNB bảng 3.18

- Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về thời gian chờ đợi lâu tại phòng khám trong CSNB bảng 3.19

2.3.5 Định nghĩa biến số

- Nhân lực y tế tại BV huyện theo trình độ chuyên môn qua các năm

2015, 2016 Là toàn bộ số lao động công tác tại BVH có mặt đến 31 tháng 12 cùng năm

- Các chỉ số nghiên cứu đánh giá về hoạt động chăm sóc người bệnh so sánh theo các tiêu chí trong quy định của Thông tư 07

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1 Số liệu thứ cấp

- Là phương pháp thu thập số liệu của năm 2015 – 2016

- Số liệu thu thập tại phòng Tổ chức Hành chính và phòng Kế hoạch Tổng hợp

- Các sổ sách báo cáo

- Báo cáo về công tác điều dưỡng

- Các văn bản hướng dẫn

- Các văn bản qui định

2.4.2 Số liệu đi ̣nh lượng

- Nội dung câu hỏi định lượng đã được chuẩn bị sẵn, trong bảng bao gồm 2 phần:

Phần nêu nội dung và phần điểm đánh giá theo từng nội dung đó Đánh

giá quy trình chăm sóc người bệnh của điều dưỡng theo 3 mức độ: Thực hiện,

Ngày đăng: 15/01/2018, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w