1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỒ án tốt NGHIỆP địa CHẤT dầu KHÍ NGHIÊN cứu cấu TRÚC địa CHẤT và TÍNH TRỮ LƯỢNG cấu tạo y, lô 12 11, bể NAM côn sơn

86 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 21,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều năm nay và những năm tới do ảnh hưởng từ dịch Covi19 , cũng như chiến tranh thương mại toàn cầu,…. có thể nói là ngành dầu khí Việt Nam cũng như thế giới đang gặp rất nhiều khó khăn. Giá dầu lên xuống thất thường , hiện tại thì rất là thấp hoạt động sản xuất của các công ty dầu khí có thể đang gặp rất nhiều vấn đề. Tuy nhiên, luôn khẳng định một điều chắc chắn đó là “Dầu khí” vẫn luôn là nguồn tài nguyên năng lượng không thể thay thế. Trong một tháng thực tập tốt nghiệp tại Viện Dầu Khí Việt Nam, được sự quan tâm của lãnh đạo cũng như các anh chị trong công ty, đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của anh Phùng Văn Phông Phòng Địa chất Mỏ EPC đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực tập. Và quan trọng hơn là giúp tôi định hướng, thu thập đầy đủ tài liệu chuẩn bị cho đề tài tốt nghiệp của mình với đề tài : “Nghiên cứu cấu trúc địa chất và tính trữ lượng dầu khí tại cấu tạo Y lô 1211 bể Nam Côn Sơn”. Trở về trường với những kiến thức học hỏi tại công ty và tài liệu thu thập được, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Hồng cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân; đến thời điểm này tôi đã hoàn thành đồ án của mình. Qua đây, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới cô giáo hưỡng dẫn (cô Hồng), đã dành thời gian quan tâm, chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian làm đồ án. Bên cạnh đó, tôi cũng muốn được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong bộ môn Địa chất dầu cũng như các chú, các anh chị trong Viện Dầu Khí Việt Nam – những người đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được đồ án của mình được thuận lợi nhất . Tôi xin trân thành cảm ơn Hà Nội, ngày:13052020 Sinh viên : Cao Như Ý Lớp Địa Chất dầu K60

Trang 1

MỤC LỤ

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU 5

DANH MỤC HÌNH VẼ 6

LỜI MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1 : VỊ TRÍ ĐỊA LÍ – KINH TẾ - NHÂN VĂN KHU VỰC 9

1.1 Đặc điểm tự nhiên 9

1.1.1 Vị trí địa lý ,địa hình 9

1.1.2 Đặc điểm khí hậu thủy văn 11

1.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn 12

1.2.1 Đặc Điểm kinh tế xã hội 12

1.2.2 Đặc điểm giao thông 14

1.2.3 Văn hóa - y tế - giáo dục 14

1.3.Thuận lợi và khó khăn liên quan đến hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí 16

1.3.1 Thuận lợi 16

1.3.2 Khó khăn 16

CHƯƠNG 2 : LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ 17

2.1 Giai đoạn trước năm 1975 17

2.2 Giai đoạn 1976 – 1980 17

2.3 Giai đoạn 1981 – 1987 18

2.4 Giai đoạn từ năm 1988 đến nay 19

CHƯƠNG 3 : ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU VỰC 20

3.1 Địa tầng, trầm tích và môi trường 20

3.1.1 Thành tạo trước Kainozoi 21

3.1.2 Các thành tạo Kainozoi 21

3.2 Các yếu tố cấu trúc và kiến tạo 25

3.2.1 Vị trí, giới hạn bể Nam Côn Sơn 25

3.2.2 Các đơn vị cấu trúc 26

3.3 Lịch sử phát triển địa chất 31

Trang 2

3.4 Các tích tụ hydrocarbon 33

3.5 Hệ thống dầu khí 35

3.5.1 Đá sinh 35

3.5.2 Đá chứa 45

3.5.3 Đá chắn 51

3.5.4 Dịch chuyển và nạp bẫy 51

3.6 Các dạng play hydrocarbon và các kiểu bẫy 52

3.6.1 Play hydrocarbon đá móng nứt nẻ trước Đệ Tam (play 1) 52

3.6.2 Play hydrocarbon cát kết tuổi Oligocen (play 2) 54

3.6.3 Play hydrocarbon cát kết tuổi Miocen (play 3) 54

3.6.4 Play hydrocarbon carbonat tuổi Miocen (play 4) 56

CHƯƠNG 4 : ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT LÔ 12/11 58

4.1 Vị trí địa lý 58

4.2 Địa tầng của lô 12/11 59

4.2.1 Đá móng trước Kainozoi 59

4.2.2 Trầm tích Kainozoi 59

4.3 Hệ thống đứt gãy của lô 12/11 60

4.4 Hệ thống dầu khí lô 12/11 61

4.4.1 Đá sinh 61

4.4.2 Đá chứa 62

4.4.3 Đá chắn 64

4.4.4 Di chuyển và nạp vào bẫy 64

4.4.5 Play hidrocacbon 65

4.4.6 Dự đoán khả năng của các cấu tạo trong lô 12/11 65

CHƯƠNG 5: TÍNH TRỮ LƯỢNG CHO CẤU TẠO Y LÔ 12/11 69

5.1 Phân cấp trữ lượng 70

5.1.1 Phân cấp trữ lượng theo Liên Xô cũ 70

5.1.2 Phân cấp trữ lượng theo phương Tây 72

5.2 Các phương pháp tính trữ lượng 75

5.2.1 Phương pháp thể tích 75

5.2.2 Phương pháp cân bằng vật chất 75

5.2.3 Phương pháp thống kê 75

Trang 3

5.2.4 Phương pháp mật độ trữ lượng 75

5.2.5 Phương pháp giảm áp 76

5.3 Tính trữ lượng cấu tạo Y theo phương pháp thể tích 76

5.4 Biện luận tham số và tính toán cấu tạo Y theo phương pháp thể tích 77

5.4.1 Thể tích đá chứa (GRV) 77

5.4.2 Chiều dày hiệu dụng (NTG) 77

5.4.3 Độ rỗng và bão hòa nước (PHIE và Sw) 77

5.4.4 Hệ số thể tích của khí và tỷ số khí Condensate 78

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Dữ liệu khí hậu Vũng Tàu

Bảng 3.1 Thành phần dầu bể Nam Côn Sơn

Bảng 3.2 Thành phần khí bể Nam Côn Sơn

Bảng 3.3 Các giai đoạn thành tạo hydrocarbon bể Nam Côn SơnBảng 3.4 Sự tăng dần của HC no theo chiều sâu ở mỏ Đại HùngBảng 5.1 Tóm tắt phân cấp trữ lượng Y

Bảng 5.2 Thông số đầu vào cho cấu tạo Y

Bảng 5.3 Kết quả tính trữ lượng cấu tạo Y

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Vị trí bể Nam Côn Sơn

Hình 3.1 Cột địa tầng tổng hợp bể Nam Côn Sơn

Hình 3.2 Bản đồ các yếu tố cấu trúc bể Nam Côn Sơn

Hình 3.3 Bản đồ cấu trúc bề mặt móng trước Kainozoi bể Nam Côn Sơn

Hình 3.4 Mặt cắt địa chấn minh hoạ các dạng bẫy cấu trúc

Hình 3.5 Mặt cắt địa chấn minh hoạ các chu kỳ phát triển địa chat

Hình 3.6 Biểu đồ môi trường lắng đọng và phân huỷ VCHC trầm tích Oligocen các lôTrung tâm và phía Đông bể Nam Côn Sơn

Hình 3.7 Dạng vật chất hữu cơ và sự tiến hoá nhiệt trên biểu đồ quan hệ HI/TmaxHình 3.8 Biểu đồ lịch sử chôn vùi trầm tích theo tài liệu GK TL-1X và TL-2X

Hình 3.9 Mặt cắt mức độ trưởng thành vật chất hữu cơ qua các GK theo hướng Đ-THình 3.10 Mặt cắt mức độ trưởng thành vật chất hữu cơ qua các GK theo hướng TB-ĐN

Hình 3.11 Sơ đồ trưởng thành của VCHC đáy tầng Oligocen bể Nam Côn Sơn

Hình 3.12 Sơ đồ trưởng thành của VCHC nóc tầng Oligocen bể Nam Côn Sơn

Hình 3.13 Sơ đồ trưởng thành của VCHC nóc tầng Miocen hạ bể Nam Côn Sơn

Hình 3.14 Sơ đồ đẳng gradient địa nhiệt bể Nam Côn Sơn

Hình 3.15 Dải phân bố N-alkan của chất chiết từ đá mẹ nhóm A bể Nam Côn SơnHình 3.16 Ảnh mẫu lát mỏng đá móng trước Kainozoi

Hình 3.17 Ảnh mẫu lát mỏng đá trầm tích Oligocen

Hình 3.18 Ảnh mẫu lát mỏng đá trầm tích Miocen sớm

Hình 3.19 Ảnh mẫu lát mỏng đá trầm tích carbonat Miocen giữa

Hình 3 20 Ảnh mẫu lát mỏng đá cát kết Miocen trên

Hình 3.21 Sơ đồ phân bố play móng nứt nẻ

Hình 3.22 Sơ đồ phân bố play cát kết Oligocen

Hình 3.23 Mặt cắt địa chất - địa vật lý qua các cấu tạo RDT-1XR, RD-1XST, RD-2XHình 3.24 Sơ đồ phân bố play cát kết Miocen dưới - giữa

Hình 3.25 Mặt cắt địa chất - địa vật lý qua GK 06-LT-1XR, 06-LT-2X

Hình 3.26 Sơ đồ phân bố play carbonat Miocen giữa-trên

Hình 4.1 Vị trí lô 12/11 bể Nam Côn Sơn

Trang 6

Hình 5.1 Mô hình cấu trúc cấu tạo Y

Hình 5.2 Phân cấp trữ lượng vỉa MDS#6

Hình 5.3 Phân cấp trữ lượng vỉa LDS#1-1

Hình 5.4 Phân cấp trữ lượng vỉa MDS#6; LDS#1-1(cấu tạo Y)

Hình 5.5 Hàm phân bố được sử dụng trong Monte-Carlo của độ rỗng PHIE-Y

Hình 5.6 Hàm phân bố được sử dụng trong Monte-Carlo độ bão hòa của nước Sw-Y

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nhiều năm nay và những năm tới do ảnh hưởng từ dịch Covi-19 , cũng nhưchiến tranh thương mại toàn cầu,… có thể nói là ngành dầu khí Việt Nam cũng nhưthế giới đang gặp rất nhiều khó khăn Giá dầu lên xuống thất thường , hiện tại thì rất làthấp hoạt động sản xuất của các công ty dầu khí có thể đang gặp rất nhiều vấn đề Tuynhiên, luôn khẳng định một điều chắc chắn đó là “Dầu khí” vẫn luôn là nguồn tàinguyên năng lượng không thể thay thế

Trong một tháng thực tập tốt nghiệp tại Viện Dầu Khí Việt Nam, được sự quantâm của lãnh đạo cũng như các anh chị trong công ty, đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ,chỉ bảo tận tình của anh Phùng Văn Phông - Phòng Địa chất Mỏ - EPC đã giúp đỡ tôirất nhiều trong quá trình thực tập Và quan trọng hơn là giúp tôi định hướng, thu thậpđầy đủ tài liệu chuẩn bị cho đề tài tốt nghiệp của mình với đề tài : “Nghiên cứu cấu trúcđịa chất và tính trữ lượng dầu khí tại cấu tạo Y lô 12/11 bể Nam Côn Sơn” Trở vềtrường với những kiến thức học hỏi tại công ty và tài liệu thu thập được, dưới sự hướngdẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Hồng cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân; đếnthời điểm này tôi đã hoàn thành đồ án của mình Qua đây, tôi xin gửi lời chân thànhcảm ơn tới cô giáo hưỡng dẫn (cô Hồng), đã dành thời gian quan tâm, chỉ bảo tận tìnhtrong suốt thời gian làm đồ án Bên cạnh đó, tôi cũng muốn được gửi lời cảm ơn tới cácthầy cô trong bộ môn Địa chất dầu cũng như các chú, các anh chị trong Viện Dầu KhíViệt Nam – những người đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được đồ án củamình được thuận lợi nhất

Tôi xin trân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày:13/05/2020

Sinh viên : Cao Như Ý

Lớp Địa Chất dầu K60

Trang 8

CHƯƠNG 1 : VỊ TRÍ ĐỊA LÍ – KINH TẾ - NHÂN VĂN KHU VỰC

do tác động của dòng chảy thuỷ triều cũng như dòng đối lưu, mà hướng và tốc độ củachúng phụ thuộc vào hai hệ gió mùa chính: hệ gió mùa Tây Nam từ cuối tháng 5 đếncuối tháng 9 và hệ gió mùa Đông Bắc từ đầu tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 nămsau Trầm tích đáy biển chủ yếu bùn và cát, ở nơi bờ cao và đảo là đá cứng hoặc san

hô Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí ở đây được bắt đầu từ những năm 1970 củathế kỷ trước Đã có 26 nhà thầu dầu khí nước ngoài tiến hành khảo sát gần 60.000kmđịa chấn 2D và 5.400km2 địa chấn 3D, khoan 78 giếng khoan thăm dò, thẩm lượng vàkhai thác, xác lập được 5 mỏ và 17 phát hiện dầu khí Hiện tại còn 7 nhà thầu đanghoạt động Công tác nghiên cứu tổng hợp nhằm đánh giá địa chất và tài nguyên dầu khícủa bể Nam Côn Sơn đã có hàng chục công trình khác nhau, đặc biệt các đề tài vànhiệm vụ cấp Ngành đã góp phần kịp thời, hiệu quả cho hoạt động thăm dò và khaithác Tuy nhiên do điều kiện địa chất hết sức phức tạp đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứubằng các phương pháp, quan điểm công nghệ mới để xác lập cơ sở khoa học cho việchoạch định công tác thăm dò và khai thác tiếp theo ở bể trầm tích này

Trang 9

Hình 1.1 Vị trí bể Nam Côn Sơn

Trang 10

ngọn hải đăng lâu đời nhất Việt Nam Trên núi lớn có Hồ Mây là một hồ nước ngọt lớn

và rừng nguyên sinh Thành phố được bao bọc bởi biển, các cánh rừng nguyên sinh,các ngọn núi cao, ngoài ra còn có sông và nhiều hồ nước lớn giúp khí hậu nơi đâyquanh năm mát mẻ ôn hòa, trong thành phố có rất nhiều cây xanh và hoa được trồng ởmọi nơi

1.1.2 Đặc điểm khí hậu thủy văn

rõ rệt nên lượng mưa ở khu vực phân bố không đều

Vào mùa mưa, lượng mưa đo được khá lớn 320 - 328mm/tháng (cao nhất vàotháng 10: 338mm), còn vào mùa khô lượng mưa đo được rất thấp và cũng có sự chênhlệch rất lớn 8,7 - 179mm/tháng (thấp nhất vào tháng 2: 0,6 - 6,1mm)

Như vậy, trong công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí vùng nghiên cứu thì khí hậu

có điểm thuận lợi là ít biến động nhiều trong năm hiếm có bão

Tuy nhiên, khí hậu cũng có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định như mùa mưathường có những cơn bão (tuy không nhiều như vùng biển miền Trung), đó là chưa kể

có thể có những cơn bão lớn Mặt khác, vào mùa khô lại có gió mùa Đông Bắc thổimạnh gây nên những khó khăn không nhỏ

Trang 11

Bảng 1.1 Dữ liệu khí hậu Vũng Tàu

b Đặc điểm thủy văn:

Việt Nam là đất nước có địa hình nhiều đồi núi và có mạng lưới sông ngòi dàyđặc, đặc biệt miền Nam Việt Nam vốn nổi tiếng là vùng sông nước mà cụ thể là đồngbằng châu thổ sông Cửu Long Tại đây, Cửu Long là con sông lớn nhất với lượng nướccung cấp trung bình hằng năm 4000 tỷ m nước và lượng vật liệu phù sa lên tới 100triệu tấn, sông Cửu Long đóng vai trò hết sức quan trọng trong suốt quá trình hìnhthành nên đồng bằng châu thổ này Trong quá trình vận chuyển một phần những vậtliệu trầm tích có thể bị lắng đọng trên dọc theo những nơi mà sông chảy qua, tại đâychúng có thể những đề cát tự nhiên với chiều cao lên tới 3 - 4m nhưng cuối cùng thì tất

cả đều được vận chuyển tới cửa sông và lắng đọng tại đó như một châu thổ

1.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn

1.2.1 Đặc Điểm kinh tế xã hội

a Kinh tế:

Vũng Tàu có thế mạnh về phát triển dầu khí, cảng biển và du lịch

Nằm trên thềm bờ biển của một khu vực giàu dầu khí và khí đốt, Vũng Tàu hay

cả tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh xuất khẩu dầu khí lớn nhất Việt Nam, nơi có trụ sởcủa Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro) Nơi duy nhất ở Việt Nam

có khu nhà tập thể dành cho các chuyên gia Nga làm việc trong lĩnh vực khai thác dầukhí sinh sống cùng gia đình và trường học cho con em họ Hiện có khoảng trên 3000người Nga đang sinh sống và làm việc tại đây Trên địa bàn thành phố hiện có 2 khucông nghiệp lớn là Khu công nghiệp Đông Xuyên (160ha), Khu công nghiệp dầu khíLong Sơn (1250ha) hiện đang triển khai dự án nhà máy lọc dầu Long Sơn và tổ hợphóa dầu miền Nam Ngoài ra thành phố còn có hơn 10 cảng biển và cảng sông phục vụngành dầu khí, quốc phòng, đóng tàu và xuất nhập khẩu, hiện thành phố cũng đangtriển khai dự án cảng trung chuyển container quốc tế Sao Mai - Bến Đình

Nghề thủ công sản xuất hàng mỹ nghệ của Vũng Tàu cũng phát triển Những đồtrang sức được làm công phu từ các sản phẩm như vỏ ốc, đồi mồi

Là trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế - văn hóa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,Vũng Tàu được nhiều người biết đến không chỉ với hình ảnh một thành phố biển tươiđẹp, quyến rũ, mà còn là một trong những địa phương làm tốt công tác xúc tiến đầu tư,

Trang 12

thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước Năm năm qua (2005 - 2010), đã có thêm

51 dự án nước ngoài có vốn đầu tư đăng ký 6,806 tỷ USD và trong 3 năm 2007 - 2009,

có 11 dự án trong nước đã được cấp phép với vốn đăng ký 12457 tỷ đồng Từ nguồnngân sách tỉnh tăng cường, cùng một phần ngân sách của nguồn vượt thu, thành phố đãtừng bước hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng cơ sở Nhiều công trình trọng điểm trong cáclĩnh vực giao thông, cấp thoát nước, trường học, trạm y tế, trụ sở văn phòng làm việc

và các công trình phúc lợi khác hoàn thành đã phát huy hiệu quả, thúc đẩy kinh tế - xãhội thành phố phát triển, cải thiện đời sống nhân dân

20 năm qua (1/11/1991 – 1/11/2011) với tốc độ tăng trưởng hàng năm bình quân

là 18%/năm, TP Vũng Tàu đã không ngừng vươn lên về mọi mặt để xứng đáng với vaitrò là một đô thị tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật củatỉnh Phát triển kinh tế tại TP Vũng Tàu trong những năm qua không chỉ đạt được sựtăng trưởng cao mà còn bảo đảm những yêu cầu của sự phát triển bền vững, theo đúngđịnh hướng, cơ cấu phát triển kinh tế của địa phương Tổng sản phẩm nội địa (khôngtính dầu khí) tăng bình quân hàng năm 22,6% Thu nhập bình quân đầu người (khôngtính dầu khí) đạt 6060 USD/người/năm Doanh thu ngành dịch vụ năm 2011 là 9000 tỷđồng, gấp 170 lần so với năm 1992 Trong đó, doanh thu dịch vụ du lịch đến năm 2011ước đạt 2500 tỷ đồng, tăng gấp 100 lần so với năm 1992 Tổng thu ngân sách năm

2011 ước đạt 2500 tỷ đồng, gấp 179 lần so với thời điểm mới thành lập thành phố Đờisống nhân dân được nâng cao, không có hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 0,02%

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng theo hướng dịch vụ - công nghiệp – chế biếntrong đó dịch vụ – du lịch chiếm 71,01%; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: 14,01%;hải sản: 14,98% Phấn đấu GDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 12000 USD.Trong đó, chú trọng tăng vốn đầu tư cho ngành thương mại (tăng bình quân29%/năm), doanh thu tăng bình quân 35%/năm Trên địa bàn thành phố hiện có 2 Khucông nghiệp tập trung là: Khu Công nghiệp Đông Xuyên và Khu Công nghiệp Dầu khíLong Sơn

Ngoài ra, dự án Trung tâm hành chính TP Vũng Tàu cũng đang được khẩntrương tiến hành để chào mừng 20 năm thành lập tỉnh và 20 năm thành lập TP VũngTàu (1991 - 2011) Hiện nay, lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo Ban Quản lý dự án nhanhchóng triển khai việc thỏa thuận địa điểm xây dựng dự án, lập quy hoạch và thiết kế,giải phóng mặt bằng, tổ chức thi tuyển quy hoạch và thiết kế công trình, lập dự án đầu

Trang 13

tư xây dựng, tổ chức đấu thầu Việc xây dựng Khu trung tâm hành chính TP VũngTàu mới tại phường 11 nhằm đáp ứng được quy mô một Trung tâm hành chính của đôthị loại I.

Ngày 24/2/2018, Tổ hợp Hóa dầu Miền Nam (Long Sơn Petrochemicals - LSP)với tổng vốn đầu tư 5,4 tỷ USD đã tổ chức khởi công tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đây

là tổ hợp hoá dầu đầu tiên tại Việt Nam với công suất lên tới 1,6 triệu tấn/ năm, có khảnăng thay thế các sản phẩm polyolefins đang phải nhập khẩu Dự án cũng bao gồm các

cơ sở hạ tầng khác bên cạnh tổ hợp sản xuất hoá dầu, khu cảng nước sâu Dự án được

kỳ vọng sẽ tạo ra khoảng 15.000 – 20.000 việc làm trong quá trình xây dựng, hơn 1000lao động có kỹ thuật cao khi đi vào vận hành thương mại Dự án cũng ước tính sẽ góp

60 triệu USD/năm cho ngân sách quốc gia trong suốt 30 năm kể từ khi đi vào hoạtđộng

b Dân cư :

Diện tích 141,1km²

Dân số 527025 người (năm 2018) Theo thống kê thì tính đến tháng 9/2017 thànhphố có 112.358 hộ với tổng số 673.540 nhân khẩu được quản lý thông qua hệ thốngphần mềm quản lý nhân khẩu, hộ khẩu của Công an Thành phố Nếu tính cả nhữngngười đang làm việc và sinh sống lâu năm nhưng không có hộ khẩu tại Vũng Tàu thìdân số thực tế lớn hơn rất nhiều

Hiện nay thành phố đang triển khai đầu tư xây dựng khu đô thị Chí Linh nằm trênđường Bình Giã

1.2.2 Đặc điểm giao thông

Đường bộ: Tỉnh có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị vớinhau Quốc lộ 51A (8 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50km Trong những năm tới sẽ cóĐường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu 6 làn xe song song với Quốc lộ 51A

Đường sông: Hệ thống các cảng biển như nêu trên Từ Vũng Tàu có thểđến Thành phố Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm

Hàng không: Sân bay Vũng Tàu chủ yếu phục vụ cho máy bay trực thăng thăm

dò khai thác dầu khí Trong tương lai, Sân bay quốc tế Long Thành được xây dựngcách Vũng Tàu 70km, ranh giới tỉnh khoảng 20km Tỉnh cũng đang triển khai di dờisân bay Vũng Tàu sang đảo Gò Găng thuộc ngoại thành Vũng Tàu và xây dựng sân

Trang 14

bay Gò Găng thành sân bay Quốc tế kết hợp với phục vụ hoạt động bay thăm dò vàkhai thác dầu khí.

Đường sắt: hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh Theo quy hoạch đến năm 2015của ngành đường sắt, một đường sắt đôi cao tốc khổ rộng 1,435m sẽ được xây dựngnối Tp HCM và Vũng Tàu, tốc độ thiết kế: trên 300km/h

1.2.3 Văn hóa - y tế - giáo dục

a Văn hóa:

Điều đặc biệt nhất của tỉnh là Bà Rịa – Vũng Tàu có 10 đền thờ cá voi, nhiềunhất ở miền Nam Đương nhiên lễ hội Nghinh Ông, hay Tết của biển, là một sự kiệnquan trọng trong đời sống văn hóa và tâm linh của dân chài nơi đây

Tỉnh có ngày lễ Dinh Cô (Long Hải) từ 10/2 đến 12/2 âm lịch để thờ cúng Mẫu –

Nữ thần và kết hợp cúng thần biển

Bên cạnh đó vào ngày giỗ ông Trần 20 tháng 2 (âm lịch) và tết trùng cửu 9 tháng

9 (âm lịch) tại Nhà Lớn Long Sơn có tổ chức lễ hội long trọng thu hút hàng chục ngànngười từ các nơi về tham dự

b Y tế:

Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 98

cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong đó có 10 Bệnh viện, 6 phòng khám đakhoa khu vực và 82 Trạm y tế phường xã, với 1445 giường bệnh và 480 bác sĩ, 363 y

Hệ thống giáo dục mầm non và phổ thông phân bố đều trên các khu dân cư trongthành phố Theo thống kê hiện tại, trên địa bàn thành phố Vũng Tàu có 43 trường mầmnon, 25 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ sở và 9 trường trung học phổ thông.Trong số các trường phổ thông có 5 trường dân lập và tư thục, trong đó có 1 trường đào

Trang 15

tạo hai bậc học (trường Lê Hồng Phong) và 1 trường đào tạo 3 bậc học (trường NguyễnThị Minh Khai) Bên cạnh đó, thành phố còn có 39 trung tâm ngoại ngữ do các doanhnghiệp tư nhân đầu tư.

Về giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp, trên toàn thành phố có 6 trường.Trong đó Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, một trường dân lập đa ngành, hoạt độngtại 3 cơ sở trên toàn thành phố Trường đại học Mỏ Địa chất (cơ sở Vũng Tàu) Hệ caođẳng có 4 trường là Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa-Vũng Tàu, Cao đẳng Nghề

Bà Rịa-Vũng Tàu, Cao đẳng Nghề Du lịch Vũng Tàu và Cao đẳng Nghề Dầu khí Hiệntại Ủy ban Nhân dân tỉnh đang có đề án sáp nhập trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa -Vũng Tàu vào Trường Cao đẳng nghề nhằm kiện toàn bộ máy tổ chức và nâng caonăng lực các trường nghề trên địa bàn tỉnh Hệ Trung học chuyên nghiệp có 1 trườnglà: Trường Trung học Y tế Bà Rịa - Vũng Tàu

1.3.Thuận lợi và khó khăn liên quan đến hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí

1.3.1 Thuận lợi

Vũng Tàu có một vị trí đặc biệt, và tỉnh cũng đã tận dụng lợi thế đó để xây dựngcũng như mở rộng các cảng dịch vụ dầu khí phục vụ cho việc khai thác dầu ở thềm lụcđịa phía Nam Việt Nam cũng như việc giao lưu xuất nhập khẩu dầu tới các nước trênthế giới

Khí hậu khá thuận lợi, ít biến động trong mùa, ít giông bão hay gió lớn là điềukiện rất tốt cho công tác thăm dò - khai thác dầu khí trên biển

Là một thành phố trẻ, đang phát triển, cơ sở hạ tầng tương đối tốt, lực lượng laođộng dồi dào, giao thông vận tải đủ đáp ứng nhu cầu di chuyển cũng như vận chuyểnhàng hóa

Hiện nay Vũng Tàu đã có những chính sách và chiến lược hợp lý thu hút đượcnhiều công ty nước ngoài quan tâm cũng như đầu tư hàng năm cho thăm dò và khaithác dầu khí

1.3.2 Khó khăn

Tuy là một tỉnh có lực lượng lao động đông đảo nhưng trình độ kỹ thuật chưa đápứng được nhu cầu của ngành đòi hỏi người giỏi, người tài

Trang 16

Vào mùa biển động, các hoạt động trên biển bị ngừng trệ, gây không ít khó khăn cũngnhư thiệt hại không nhỏ cho các hoạt động khai thác dầu khí,

Vốn là nơi phát triển công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu, giàn khoan, tuy nhiênvẫn chưa đủ để đáp ứng yêu cầu vì vậy mỗi khi có hư hại về thiết bị hay tàu thuyền đa

số vẫn phải đi sửa chữa ở nước ngoài Hơn nữa các công trình phục vụ cho quá trìnhtìm kiếm thăm dò và khai thác và các thiết bị đi kèm đều phải dùng trong môi trườngnước biển (nước mặn) cũng dễ bị ăn mòn, phá hủy cần thường xuyên phải tu sửa, bảodưỡng

Trang 17

CHƯƠNG 2 : LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THĂM DÒ VÀ KHAI

THÁC DẦU KHÍ 2.1 Giai đoạn trước năm 1975

Từ năm 1975 trở về trước, công tác khảo sát khu vực và tìm kiếm dầu khí đượcnhiều công ty, nhà thầu triển khai trên toàn thềm lục địa phía Nam nói chung và toàn

bể Nam Côn Sơn nói riêng Các dạng công tác này do các công ty thăm dò Mỹ và Anhthực hiện như Mandrell, Mobil Kaiyo, Pecten, Esso, Union Texas, Sun Marathon,Sunning Dale Các nhà thầu đã thu nổ hàng nghìn km địa chấn 2D với mạng lưới tuyến4x4 km đến khu vực Với mức độ nghiên cứu đó và dựa vào tài liệu nhận được, cáccông ty kể trên đã tiến hành minh giải tài liệu địa chấn, xây dựng được một số bản đồđẳng thời tỷ lệ 1/100.000 cho các lô riêng và tỷ lệ 1/50.000 cho một số cấu tạo triểnvọng Song do mật độ khảo sát còn thấp nên độ chính xác của các bản đồ chưa cao.Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đạt được cuối năm 1974 đầu năm 1975, công tyPecten và Mobil đã tiến hành khoan 5 giếng ở các lô và trên các cấu tạo khác nhau(Mía-1X, ĐH-1X, Hồng-1X, Dừa-1X và Dừa-2X), trong đó giếng Dừa-1X đã phát hiệndầu Kết thúc giai đoạn này đã có 3 báo cáo đánh giá kết quả nghiên cứu chung cho các

lô, trong đó quan trọng và đáng chú ý nhất là báo cáo của công ty Mandrell Trong báocáo này đã đưa ra 2 bản đồ đẳng thời tầng phản xạ nông và tầng phản xạ móng, các bản

đồ dị thường từ và trọng lực tỷ lệ 1/500000 cho toàn thềm lục địa Việt Nam Các bản

đồ này phần nào đã thể hiện được đặc điểm hình thái của các đơn vị kiến tạo lớn bậc I

và II và cho thấy sự có mặt của lớp phủ trầm tích Kainozoi dày hàng nghìn mét trênthềm lục địa Tuy vậy, ở giai đoạn này chưa có một báo cáo tổng hợp nào dù là sơ bộ

về đặc điểm cấu trúc, lịch sử phát triển địa chất cho toàn vùng nói chung cũng như các

lô nói riêng Các số liệu minh giải và các ranh giới tầng phản xạ chuẩn được lựa chọntheo nhiều quan điểm khác nhau trên từng lô, vì vậy gây khó khăn cho công tác tổnghợp toàn bể

2.2 Giai đoạn 1976 – 1980

Sau khi giải phóng miền Nam nước nhà thống nhất, Tổng cục Dầu khí đã quyếtđịnh thành lập Công ty Dầu khí Việt Nam II (11 - 1975), công tác tìm kiếm thăm dòdầu khí được đẩy mạnh Các công ty AGIP và BOW VALLEY đã hợp đồng khảo sát

Trang 18

tỷ mỉ (14,859 km địa chấn 2D mạng lưới đến 2x2 km) và khoan thêm 8 giếng khoan(04A-1X, 04B-1X, 12A-1X, 12B-1X, 12C-1X, 28A-1X và 29A-1X) Trên cơ sở côngtác khảo sát địa chất, địa vật lý và khoan, các công ty nêu trên đã thành lập một số sơ

đồ đẳng thời theo các tầng phản xạ ở các tỷ lệ khác nhau và đã có báo cáo tổng kết.Công ty GECO đã thể hiện quan điểm của mình trong báo cáo “Minh giải địa chấn vàđánh giá tiềm năng dầu khí thềm lục địa Việt Nam” của Daniel S và Netleton Công tyAGIP đã nêu lên một số quan điểm về cấu trúc địa chất và đánh giá khả năng dầu khítrên các lô 04 và 12 Công ty Dầu khí Nam Việt Nam (Công ty II) đã tiến hành phântích nghiên cứu và tổng hợp tài liệu đã có, xây dựng được một số sơ đồ đẳng thời vàbản đồ cấu tạo tỷ lệ 1/100.000 và 1/50.000 cho các lô và một số cấu tạo phục vụ sảnxuất Dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Ngô Thường San, đã hoàn thành một số phương áncông tác địa vật lý và khoan tìm kiếm, đặc biệt đã hoàn thành báo cáo tổng hợp “Cấutrúc địa chất và triển vọng dầu khí thềm lục địa Nam Việt Nam”, đề cập đến nhiều vấn

đề lịch sử phát triển địa chất toàn vùng nói chung và bể Nam Côn Sơn nói riêng, đồngthời cũng nêu lên một số cơ sở địa chất để đánh giá triển vọng dầu khí toàn vùngnghiên cứu Song do những điều kiện khách quan, bức tranh chi tiết về cấu trúc địachất trong giai đoạn này vẫn chưa được làm sáng tỏ

2.3 Giai đoạn 1981 – 1987

Sự ra đời của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro (VSP) là kết quả của hiệp định

về hữu nghị hợp tác tìm kiếm - thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam giữaLiên Xô (cũ) và Việt Nam vào năm 1981 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trongcông nghiệp dầu khí Việt Nam Song cũng cần phải nói rằng vì những lý do khác nhau,công tác địa chất - địa vật lý chủ yếu được đầu tư vào bể Cửu Long, còn đối với bểNam Côn Sơn chỉ có một số diện tích nhất định được quan tâm, trong đó có khu vựccấu tạo Đại Hùng (VSP đã tiến hành khoan 3 giếng) Trong giai đoạn này đã có một sốbáo cáo tổng hợp địa chất - địa vật lý được hoàn thành như báo cáo: “Phân vùng kiếntạo các bồn trũng Kainozoi thềm lục địa Việt Nam” của tác giả Lê Trọng Cán và nnknăm 1985 và báo cáo: “Tổng hợp địa chất - địa vật lý, tính trữ lượng dự báoHydrocarbon và vạch phương hướng công tác tìm kiếm dầu khí trong giai đoạn tiếptheo ở thềm lục địa Nam Việt Nam” của Hồ Đắc Hoài, Trần Lê Đông 1986 và luận ántiến sĩ khoa học địa chất khoáng vật của Nguyễn Giao: “Cấu trúc địa chất và triển vọngdầu khí của các bể trầm tích Đệ Tam vùng biển Đông Việt Nam” năm 1987

Trang 19

2.4 Giai đoạn từ năm 1988 đến nay

Sau khi Nhà nước ban hành Bộ luật Đầu tư Nước ngoài 20 nhà thầu đã ký cáchợp đồng triển khai công tác tìm kiếm thăm dò ở bể Nam Côn Sơn Các nhà thầu đãtiến hành khảo sát 54779 km địa chấn 2D và 5399km2 địa chấn 3D, đã khoan 62 giếngkhoan thăm dò và khai thác Mỏ Đại Hùng đã được đưa vào khai thác từ năm 1994, mỏkhí Lan Tây vào năm 2002 và các mỏ khí Rồng Đôi - Rồng Đôi Tây, Hải Thạch cũngchuẩn bị đưa vào khai thác Trong công tác tổng hợp các nhà thầu cũng đã có báo cáo

lô và báo cáo giếng khoan, song về cơ bản đây cũng chỉ là những báo cáo nhanh phục

vụ sản xuất Về phía Tổng cục Dầu khí Việt Nam (nay là Tổng Công ty Dầu khí ViệtNam) có một số báo cáo nghiên cứu tổng hợp chung cả bể Đó là báo cáo: “Chính xáchoá cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng và đề xuất phương hướng tìm kiếm thăm dòdầu khí ở bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Giao, Nguyễn Trọng Tín và nnk 1990, báocáo: “Địa chất dầu khí và tiềm năng Hydrocarbon bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Giao,Nguyễn Trọng Tín, Lê Văn Dung (Viện Dầu Khí) và D.Willmor và nnk (Robertson)

1991, báo cáo: “Đánh giá tiềm năng dầu khí bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Trọng Tín

và nnk 1993, báo cáo: “Chính xác hoá cấu trúc địa chất và trữ lượng dầu khí phần phíaĐông bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Trọng Tín và nnk 1995, báo cáo: “Nghiên cứuđánh giá tiềm năng dầu khí phần phía Tây bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Trọng Tín vànnk 1996, báo cáo: “Mô hình hoá bể Nam Côn Sơn” của Nguyễn Thị Dậu và nnk 2000

Có thể thấy nhờ các hoạt động tìm kiếm – thăm dò dầu khí từ năm 1975 trở vềtrước đến nay đã giúp ích rất nhiều cho việc khai thác dầu khí ở bể Nam Côn Sơn hiệntại

Trang 20

CHƯƠNG 3 : ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU VỰC 3.1 Địa tầng, trầm tích và môi trường

Hình 3.1 Cột địa tầng tổng hợp bể Nam Côn Sơn

Trang 21

3.1.1 Thành tạo trước Kainozoi

Một số giếng khoan (ĐH-1X, 04-A1X, 04-2-BC-1X, 04-3-ĐB-1X, 10-PM-1X, 1X, 12-Dừa-1X, 12-C-1X, 20-PH1X, 28-A-1X, 29-A-1X ) ở bể Nam Côn Sơn gặp đámóng không đồng nhất bao gồm: granit, granodiorit, diorit và đá biến chất, tuổi của cácthành tạo này có thể là Jura muộn - Creta Nằm không chỉnh hợp trên móng khôngđồng nhất là lớp phủ trầm tích Paleogen - Đệ Tứ có chiều dày biến đổi từ hàng trămđến hàng nghìn mét (Hình 3.1)

lô 10, 11-1, 28, 29 và một số diện tích ở phần Tây, Tây Nam của bể Trầm tích của hệtầng Cau bao gồm chủ yếu các lớp cát kết có màu xám xen các lớp sét bột kết màu nâu.Cát kết thạch anh hạt thô đến mịn, độ lựa chọn kém, xi măng sét, carbonat Chiều dàytrung bình khoảng 360m Mặt cắt hệ tầng Cau có thể có nơi đến hàng nghìn mét chialàm 3 phần:

Phần dưới gồm cát kết hạt mịn đến thô đôi khi rất thô hoặc sạn kết, cát kết chứa cuội,

và cuội kết màu xám, xám phớt nâu, nâu đỏ chứa các mảnh vụn than hoặc các lớp kẹpthan Ở một số giếng khoan gặp các lớp đá phun trào: andesit, basalt, diabas nằm xen

kẽ (GK 20-PH-1X) Phần giữa gồm chủ yếu là các thành phần hạt mịn chiếm ưu thếgồm các tập sét kết phân lớp dày đến dạng khối màu xám sẩm, xám đen xen kẽ ít bộtkết, đôi khi phớt nâu đỏ hoặc tím đỏ, khá giàu vật chất hữu cơ và vôi xen kẽ các lớp sétkết chứa than Phần trên gồm cát kết hạt nhỏ đến vừa màu xám tro, xám sáng đôi chỗ

có chứa glauconit, trùng lỗ xen kẽ bột kết, sét kết màu xám tro, xám xanh hoặc nâu đỏ.Sét kết của hệ tầng Cau phân lớp dày hoặc dạng khối, rắn chắc Ở phần dưới tại nhữngvùng bị chôn vùi sâu khoáng vật sét bị biến đổi khá mạnh, một phần bị kết tinh Sét kết

hệ tầng này thường chứa vật chất hữu cơ cao nên được coi là tầng sinh dầu khí, đồngthời nhiều nơi cũng được coi là tầng chắn tốt Cát kết của hệ tầng này có hạt mịn đến

Trang 22

nhỏ (ở phần trên) hoặc hạt vừa đến thô, đôi khi rất thô (ở phần dưới), độ lựa chọn kémđến trung bình, hạt bán tròn cạnh đến góc cạnh Đôi khi trong cát kết có chứa mảnhvụn đá biến chất và magma của các thành tạo móng trước Đệ Tam Các tập cát kết của

hệ tầng Cau có khả năng chứa trung bình Tuy nhiên, chất lượng đá chứa biến đổimạnh theo chiều sâu và theo khu vực tuỳ thuộc môi trường trầm tích và mức độ biếnđổi thứ sinh Đặc điểm trầm tích nêu trên chứng tỏ hệ tầng Cau được hình thành tronggiai đoạn đầu tạo bể Ở thời kỳ đầu, phát triển trầm tích tướng lục địa bao gồm cácthành tạo lũ tích xen trầm tích đầm hồ, vũng vịnh, nhiều khu vực xảy ra các hoạt độngnúi lửa tạo nên một số lớp phun trào andesit, basalt, diabas và tuf Vào giai đoạn sautrầm lắng các thành tạo có xu hướng mịn dần; đôi nơi cát kết có chứa glauconit và hoáthạch biển Trầm tích được lắng đọng trong môi trường tam giác châu, vũng vịnh đếnbiển ven bờ (Hình 3.1) Hệ tầng Cau phủ không chỉnh hợp trên móng trước Đệ Tam vàđược định tuổi là Oligocen dựa vào bào tử phấn hoa đới Florschuetza Tribolata và phụđới Cicatricosisporité dorogensis Ly copodium neogenicus

Tỷ lệ cát/sét trong toàn bộ mặt cắt gần tương đương nhau, tuy nhiên về phía Đông của

bể thành phần hạt mịn tăng dần và ngược lại, ở phần rìa phía Tây tỷ lệ cát kết tăng dogần nguồn cung cấp vật liệu Cát kết hạt nhỏ đến hạt vừa đôi khi hạt thô (ở phần dướilát cắt) có độ lựa chọn và mài tròn tốt Đá gắn kết tốt, có chứa nhiều glauconit và hoáthạch sinh vật biển, đặc biệt phong phú trùng lỗ Các trầm tích kể trên hầu như mới bịbiến đổi thứ sinh ở mức độ thấp, phần lớn vào giai đoạn catagen sớm Vì vậy, đặc tínhthấm và chứa nguyên sinh của đá chưa hoặc rất ít bị ảnh hưởng Một số tập cát kết của

hệ tầng được coi là tầng chứa trung bình đến tốt với độ rỗng thay đổi từ 17 - 23% và độthấm vài chục mD đến vài trăm mD Sét kết ngoài thành phần khoáng vật chính là 2nhóm hydromica và kaolinit, thì còn chứa một lượng đáng kể (5 - 10%) nhóm khoángvật hỗn hợp của montmorilonit và hydromica có tính trương nở mạnh, do vậy chất

Trang 23

lượng chắn có phần tốt hơn Trầm tích hệ tầng Dừa được thành tạo trong điều kiện địahình cổ gần như bằng phẳng hoặc có phân cắt không đáng kể Chính trong điều kiệnnày nên thành phần lát cắt khá đồng nhất trong toàn vùng Trầm tích của hệ tầng đượcthành tạo trong môi trường từ tam giác châu tới biển nông và biển nông ven bờ Chiềudày của hệ tầng Dừa thay đổi từ 200m - 800m, cá biệt có nơi dày tới 1000m (Hình 3.1).

Hệ tầng Dừa nằm phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Cau Tuổi Miocen sớm của hệtầng Dừa được xác định dựa vào Foram đới N6 - N8 (theo Martini, 1971) Hệ tầng cóthể tương đương với phần chính của hệ tầng Barat và một phần của hệ tầng Arang(Agip, 1980) thuộc trũng Đông Natuna

Thống Miocen - phụ thống Miocen giữa

Hệ tầng Thông - Mãng cầu (N12tmc)

Trầm tích của hệ tầng Thông - Mãng Cầu phân bố rộng khắp bể Nam Côn Sơn.Mặt cắt hệ tầng có thể chia thành hai phần chính: Phần dưới chủ yếu là cát kết thạchanh hạt mịn đến trung, xi măng carbonat, chứa glauconit và nhiều hóa thạch sinh vậtxen kẹp những lớp mỏng sét kết và sét vôi Phần trên là sự xen kẽ giữa các lớp đá vôimàu xám sáng, màu trắng sữa đôi khi màu nâu bị dolomit hóa với các lớp sét - bột kết,cát kết hạt mịn, xi măng carbonat màu xám xanh Các trầm tích lục nguyên, lục nguyênchứa vôi phát triển mạnh dần về phía rìa Bắc và phía Tây - Tây Nam của bể Trầm tíchcủa hệ tầng Thông - Mãng Cầu mới bị biến đổi thứ sinh ở giai đoạn catagen sớm nêncác tập cát kết có khả năng chứa vào loại tốt Đá carbonat phát triển khá rộng rãi tại cácvùng nông ở Trung tâm bể, đặc biệt tại các lô phía Đông của bể: các lô 04, 05, 06 Đá

có màu trắng, trắng sữa, dạng khối, chứa phong phú san hô và các hóa thạch động vậtkhác, có lẽ đã được thành tạo trong môi trường biển mở của thềm lục địa Trong tập đácarbonat còn gặp xen kẹp các lớp đá vôi dolomit hoặc dolomit hạt nhỏ Khả năng chứacủa tập đá carbonat đã được xác định thuộc loại tốt tới rất tốt với độ rỗng trung bìnhthay đổi từ 10 - 35%, kiểu độ rỗng chủ yếu là độ rỗng giữa hạt (do quá trình dolomithóa) và độ rỗng hang hốc (do hoà tan, rữa lũa các khoáng vật carbonat) Ngoài sự khácbiệt về các đới cổ sinh thì mức độ tái kết tinh và dolomit hóa của đá carbonat của hệtầng Thông - Mãng Cầu mạnh hơn, đây cũng là đặc điểm để phân biệt nó với hệ tầngNam Côn Sơn nằm trên Trầm tích của hệ tầng Thông - Mãng Cầu được thành tạotrong môi trường đồng bằng châu thổ đến rìa trước châu thổ chủ yếu ở phía Tây, còn ởphần Trung tâm và phía Đông của bể chủ yếu là biển nông trong thềm đến giữa thềm

Trang 24

(Hình 3.1) Chiều dày trầm tích của hệ tầng Thông - Mãng Cầu thay đổi từ vài mét đếnvài chục mét Hệ tầng Thông - Mãng Cầu nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Dừa TuổiMiocen giữa được xác định dựa vào Foram đới N9 - N15, tảo carbonat đới NN5 - NN9

và bào tử phấn hoa phụ đới Florschuetzia semilobat ở phần dưới và phụ đớiFlorschuetzia trilobata ở phần trên Hệ tầng có khối lượng tương đương với một phần

hệ tầng Arang và một phần hệ tầng Terumbu (Agip 1980) ở trũng Đông Natuna

Thống Miocen – phụ thống Miocen trên

Hệ tầng Nam Côn Sơn (N1ncs)

Hệ tầng Nam Côn Sơn mang tên của bể, trầm tích của hệ tầng phân bố rộng rãivới tướng đá thay đổi mạnh các khu vực khác nhau Ở rìa phía Bắc và Tây - Tây Namtrầm tích chủ yếu là lục nguyên gồm sét kết, sét vôi màu xám lục đến xám xanh, gắnkết yếu xen kẽ các lớp cát - bột kết chứa vôi đôi khi gặp một số thấu kính hoặc nhữnglớp đá vôi mỏng chứa nhiều mảnh vụn lục nguyên Cát kết có độ lựa chọn và mài tròntốt, chứa hóa thạch động vật biển và glauconit Ở vùng Trung tâm bể mặt cắt gồm cáctrầm tích lục nguyên và carbonat xen kẽ Nhưng tại một số vùng nâng ở phía Đông,Đông Nam bể đá carbonat lại chiếm ưu thế trong mặt cắt của hệ tầng Hệ tầng NamCôn Sơn có bề dày 200 - 600m và nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Thông - Mãng Cầu.Theo đặc điểm trầm tích và cổ sinh thì hệ tầng Nam Côn Sơn được hình thành trongmôi trường biển nông thuộc đới trong của thềm ở khu vực phía Tây và thuộc đới giữa -ngoài thềm ở khu vực phía Đông Tuổi Miocen muộn của hệ tầng Nam Côn Sơn đượcxác định dựa vào Foram đới N16-N18, tảo carbonat đới NN10 - NN11 và bào tử phấnhoa đới Florschuetzia meridionals, hệ tầng tương đương với phần trên của hệ tầngTerumbu (Agip 1980) ở trũng Đông Natuna

Trang 25

bao gồm cát gắn kết yếu, xen kẽ với sét và bùn chứa nhiều di tích sinh vật biển Tuổi

Đệ Tứ được xác định dựa vào Foram đới N22 - N23, tảo carbonat NN19 - NN21 vàbào tử phấn hoa đới Phyllocladus Sự hình thành trầm tích của hệ tầng Biển Đông liênquan tới giai đoạn biển tiến Pliocen, trong môi trường biển nông ven bờ, biển nông đếnbiển sâu Hệ tầng Biển Đông có bề dày trầm tích thay đổi rất lớn từ vài trăm mét đếnvài nghìn mét, nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Nam Côn Sơn

3.2 Các yếu tố cấu trúc và kiến tạo

3.2.1 Vị trí, giới hạn bể Nam Côn Sơn

Bể Nam Côn Sơn phát triển chồng trên các kiến trúc của nền Indochina bị hoạthoá mạnh mẽ trong Phanerozoi và hoạt hoá magma kiến tạo trong Mesozoi muộn.Cộng ứng với quá trình này ở phía Đông nền Indochina - Vùng biển rìa Đông ViệtNam xảy ra quá trình giãn đáy biển rìa vào Oligocen với trục tách giãn phát triển theophương đông bắc - tây nam Quá trình tách, giãn đáy Biển Đông đã đẩy rời xa hai khối

vi lục địa Hoàng Sa, Trường Sa và kiến sinh phá hủy (Taphrogeny) trên vùng thềm lụcđịa phía Nam, từ đó phát triển các bể trầm tích Kainozoi tương ứng Bể Nam Côn Sơnvới hai đới trũng sâu: trũng Bắc và trũng Trung tâm có hướng trục sụt lún cùng hướngtrục giãn đáy Biển Đông và nằm phù hợp trực tiếp trên phương kéo dài của trục giãnđáy Biển Đông là bằng chứng của sự ảnh hưởng này Bể Nam Côn Sơn được giới hạn

về phía Bắc bởi đới nâng Côn Sơn, phía Tây và phía Nam là đới nâng Khorat - Natuna.Còn ranh giới phía Đông Bắc là khu vực bể Phú Khánh và phía Đông là bể Tư Chính -Vũng Mây Ở phía Đông Bể Nam Côn Sơn tồn tại hệ đứt gãy được Ngô Thường San(năm 1980) gọi là đứt gãy kinh tuyến 1090 Đứt gãy này được phát hiện trên các tài liệuđịa chấn ở thềm lục địa miền Trung và vùng biển Phan Rang Tại khu vực nghiên cứu,đứt gãy này đóng vai trò ngăn cách giữa thềm và sườn lục địa hiện đại Phần đứt gãykéo dài xuống phía Nam còn chưa đủ tài liệu khẳng định, song có lẽ nó còn tiếp tụcphát triển rồi nhập vào các hệ đứt gãy chờm nghịch Bắc Palawan Đới nâng Côn Sơn

có dạng một phức nếp lồi phát triển kéo dài theo phương Đông Bắc Ở phía Tây Namđược gắn liền với đới nâng Khorat - Natuna, nhô cao và lộ ra ở đảo Côn Sơn, sau đóchìm dần ở phạm vi các lô 02, 03, và rồi lại nâng cao ở Cù Lao Dung Đới nâng CônSơn chủ yếu cấu tạo bởi các đá xâm nhập và phun trào trung tính, axit thuộc đá núi lửarìa Đông lục địa Châu Á tuổi Mesozoi muộn Đới nâng Khorat - Natuna kéo dài từThái Lan qua Tây Nam Việt Nam Borneo theo hướng tây bắc - đông nam và là một bộ

Trang 26

phận của lục địa Sunda cổ Đới nâng được cấu thành bởi tập hợp các thành tạo lụcnguyên tuổi Carbon - Permi, Jura - Creta và các đá biến chất Paleozoi, Mesozoi cũngnhư các đá magma axit - trung tính tuổi Kainozoi, nằm trong đai núi lửa miền Đông Á.

3.2.2 Các đơn vị cấu trúc

Trên cơ sở các thông số về chiều dày, thành phần và sự phân bố các thành tạotrầm tích cũng như các hệ thống đứt gãy, cấu trúc của bể Nam Côn Sơn được phân chiathành một số đơn vị sau (Hình 3.2):

a Đới phân dị phía Tây (C):

Đới nằm ở phía Tây bể trên các lô 27, 28, 29 và nửa phần Tây các lô 19, 20, 21,

22 Ranh giới phía Đông của đới được lấy theo hệ đứt gãy Sông Đồng Nai Đặc trưngcấu trúc của đới là sự sụt nghiêng khu vực về phía Đông theo kiểu xếp chồng do kếtquả hoạt động đứt gãy - khối chủ yếu theo hướng bắc - nam, tạo thành các trũng hẹpsâu ở cánh Tây của các đứt gãy, đặc biệt là đứt gãy lớn đi kèm các dải nâng (Hình 3.2).Dựa vào đặc điểm cấu trúc của móng, đới phân dị phía Tây được phân thành 2 đơn vị(phụ đới) có đặc trưng cấu trúc tương đối khác nhau, ranh giới phân chia là đứt gãySông Hậu

Phụ đới rìa Tây (C1):

Phụ đới này phát triển ở cánh Tây đứt gãy Sông Hậu và tiếp giáp trực tiếp với đớinâng Khorat - Natuna phương á kinh tuyến Địa hình móng trước Kainozoi khá bình

ổn, tạo đơn nghiêng, đổ dần về phía Đông Trong các trũng hẹp sâu kề đứt gãy SôngHậu có khả năng tồn tại đầy đủ lát cắt trầm tích Kainozoi với chiều dày khoảng 3500 -4000m

Trang 27

Hình 3.2 Bản đồ các yếu tố cấu trúc bể Nam Côn Sơn

Trang 28

Hình 3.3 Bản đồ cấu trúc bề mặt móng trước Kainozoi bể Nam Côn Sơn

Phụ đới phân dị phía Tây (C2):

Nằm giữa hai đứt gãy Sông Hậu và Sông Đồng Nai là phụ đới phân dị phía Tây.Hoạt động đứt gãy ở phụ đới này thể hiện mạnh hơn ở phụ đới Rìa Tây Ngoài các đứtgãy theo phương kinh tuyến chiếm ưu thế còn phát triển các hệ đứt gãy phương đông

Trang 29

bắc - tây nam, đông - tây Địa hình móng phân dị phức tạp Quá trình nâng - sụt dạngkhối và phân dị mạnh mẽ Phụ đới này gồm các trũng hẹp sâu và các dải nâng xen kẽ,trũng sâu nhất 6000m Ở nửa phía Đông của phụ đới có mặt đầy đủ lát cắt trầm tích củaphức hệ cấu trúc lớp phủ, ngoại trừ trên dải nâng cấu tạo 28a, 29a, ở cánh Đông đứtgãy Sông Hậu vắng mặt trầm tích Oligocen và Miocen dưới

b Đới phân dị chuyển tiếp (B):

Đới này có ranh giới phía Tây là đứt gãy Sông Đồng Nai, phía Đông và ĐôngBắc là hệ đứt gãy Hồng - Tây Mãng Cầu Ranh giới phía Bắc Tây Bắc được lấy theođường đẳng sâu móng 1000m của đới nâng Côn Sơn Ranh giới phía Nam là khốimóng nhô cao (phần cuối của đới nâng Natuna) với độ sâu 1000 - 1500m Đới mangđặc tính cấu trúc chuyển tiếp từ đới phân dị phía Tây kéo sang phía Đông và từ đớinâng Côn Sơn kéo xuống phía Nam Đới bị chia cắt bởi các hệ đứt gãy phương bắc -nam, đông bắc - tây nam và đông - tây Địa hình móng phân dị thể hiện đặc tính sụt lúndạng bậc, sâu dần từ đới nâng Côn Sơn về phía Đông Nam và từ phía Nam (cậnNatuna) lên phía Bắc, nơi sâu nhất thuộc vùng tiếp nối của các lô 11-2 với 12W(khoảng 7000m xem Hình 3.3) Đới phân dị chuyển tiếp được chia thành 2 đơn vị cấutrúc (phụ đới sau) sau:

Phụ đới phân dị phía Bắc (B1):

Đây là phần phát triển dọc rìa Đông Nam của đới nâng Côn Sơn, với hệ đứt gãy

ưu thế có phương đông bắc - tây nam và á kinh tuyến Nhìn chung, các đứt gãy có biên

độ tăng dần theo vị trí từ Tây sang Đông (từ vài trăm mét đến 1000 - 2000m) Địa hìnhmóng có dạng bậc thang, chìm nhanh về Đông Nam, sâu nhất 6000m Phủ trên móngchủ yếu là các trầm tích từ Miocen đến Đệ Tứ Các trầm tích Oligocen có bề dày khônglớn và vắng mặt ở phần Tây, Tây Bắc của phụ đới, nói chung bị vát mỏng nhanh theohướng từ đông sang tây và đông nam lên tây bắc Trong phụ đới này đã phát hiện cáccấu trúc vòm kề đứt gãy, phương đông bắc - tây nam và thường bị đứt gãy phân cắtthành các khối Phần Nam của phụ đới có mặt một số cấu tạo hướng vĩ tuyến Địa hìnhmóng thể hiện đặc tính sụt lún từ từ theo hướng tây sang đông và từ bắc xuống nam Phụ đới cận Natuna (B2):

Đặc trưng của phụ đới cận Natuna là cấu trúc dạng khối, chiều sâu của móngkhoảng 5000m đến 5500m Tại đây phát triển hai hệ thống đứt gãy kinh tuyến và á vĩtuyến Trong phụ đới này đã phát hiện nhiều cấu trúc vòm

Trang 30

c Đới sụt phía Đông (A):

Gồm diện tích rộng lớn ở trung tâm và phần Đông bể Nam Côn Sơn, với đặc tínhkiến tạo sụt lún, đứt gãy hoạt động nhiều pha chiếm ưu thế Địa hình móng phân dịmạnh với chiều sâu thay đổi từ 1400m trên phụ đới nâng Mãng Cầu đến hơn 10000m ởtrung tâm của trũng sâu (Hình 3.3) Mặt khác ở trung tâm các trũng sâu, đặc trưng cấutrúc của móng chưa được xác định Đới sụt phía Đông được phân chia làm 5 đơn vị cấutrúc (phụ đới) sau:

Phụ đới Trũng Bắc (A1):

Nằm ở giữa phụ đới nâng Mãng Cầu (ở phía Nam) và phụ đới phân dị Bắc (ở phíaTây) là phụ trũng Bắc Nó phát triển như một trũng giữa đới nâng tới cuối Miocen -giữa đầu Miocen muộn Ranh giới phía Đông của phụ đới chưa được xác định rõ Phụđới này được đặc trưng bởi phương cấu trúc và đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam có biên

độ từ vài trăm đến hơn 1000m Các đứt gãy đã chia cắt móng, tạo địa hình không cânxứng, dốc đứng ở cánh Nam và Tây Nam, thoải dần ở cánh Bắc - Tây Bắc Bề dày trầmtích Kainozoi thay đổi từ 4000m đến 10000m và có mặt đầy đủ các trầm tích từ Eocen

- Oligocen đến Đệ Tứ Trên phần rìa Tây Bắc phụ đới trũng này phát hiện được các cấutrúc vòm nâng kề đứt gãy, còn ở phần phía Đông ngoài các vòm kề áp đứt gãy còn pháthiện được một số nâng dạng vòm Các cấu trúc vòm nâng đều có độ sâu chôn vùi lớn Phụ đới nâng Mãng Cầu (A2):

Phụ đới nâng Mãng Cầu gồm các lô 04-2, 04-3, một phần các lô 05-1a, 10 và

11-1 Phụ đới nâng Mãng Cầu phát triển kéo dài hướng đông bắc - tây nam dọc hệ thốngđứt gãy cùng phương ở phía Bắc Trong quá trình tiến hoá phụ đới bị chia cắt thànhnhiều khối bởi các hệ đứt gãy chủ yếu có phương đông bắc - tây nam và á kinh tuyến.Địa hình móng phân dị mạnh, biến đổi từ 2500m ở phía Tây đến 7000m ở phần rìaĐông phụ đới Thành phần móng chủ yếu là các thành tạo granit, granodiorit tuổiMesozoi muộn Nhiều cấu tạo vòm, bán vòm và thành tạo carbonat phát triển kế thừatrên các khối móng ở đây Trong suốt quá trình phát triển địa chất từ Eocen đếnMiocen, phụ đới nâng Mãng Cầu đóng vai trò như một dải nâng giữa trũng, ngăn cáchgiữa hai trũng lớn nhất ở bể Nam Côn Sơn (phụ đới trũng Bắc và phụ đới trũng Trungtâm) Nhưng từ Pliocen đến Đệ Tứ nó tham gia vào quá trình lún chìm khu vực chungcủa bể - giai đoạn phát triển thềm lục địa hiện đại

Phụ đới trũng Trung tâm (A3):

Trang 31

Phụ đới này nằm giữa 2 phụ đới: phụ đới nâng Dừa (ở phía Nam) và phụ đới nângMãng Cầu (ở phía Bắc), chiếm một diện tích rộng lớn gồm các lô 05-1, 05-2, 05-3 vàmột phần các lô 11, 12-E, 06 Ranh giới phía Đông còn chưa đủ tài liệu để xác định cụthể.

Phụ đới trũng Trung tâm phát triển chủ yếu theo phương Đông - Đông Bắc, mởrộng về Đông, thu hẹp dần về Tây Theo hướng từ Tây sang Đông trũng có dạng lòngmáng, trũng có xu hướng chuyển trục lún chìm từ á vĩ tuyến sang á kinh tuyến Phụ đớitrũng Trung tâm có bề dày trầm tích Kainozoi dày từ 5000-14000m và có đầy đủ cáctrầm tích từ Eocen - Oligocen đến Đệ Tứ Trên phụ đới này đã phát hiện được nhiềucấu trúc vòm, vòm kề đứt gãy, song độ sâu chôn vùi của các cấu trúc này khá lớn.Ngoài ra, tồn tại nhiều cấu trúc dạng khối đứt gãy, dạng vòm cuốn và dạng hình hoa(Hình 3.3)

Phụ đới nâng Dừa (A4):

Phụ đới nâng Dừa giữ vai trò ngăn cách giữa phụ đới trũng Trung tâm và phụ đớitrũng Nam, phát triển theo hướng đông bắc - tây nam Trên phụ đới này phát hiệnnhiều cấu trúc vòm nâng liên quan đến thành tạo carbonat

Phụ đới trũng Nam (A5):

Nằm ở phía Nam, Đông Nam Bể Nam Côn Sơn thuộc diện tích các lô 06, 07,

12-E và 13, phía Tây tiếp giáp với phụ đới cận Natuna Ranh giới phía Đông chưa xácđịnh cụ thể, song có lẽ được lưu thông với trũng phía Tây bể Sarawak Chiều sâu củamóng ở đây thay đổi từ 4000 đến 6000m

3.3 Lịch sử phát triển địa chất

Lịch sử phát triển bể Nam Côn Sơn gắn liền với quá trình tách giãn Biển Đông và

có thể được chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn trước tách giãn (Paleocen - Eocen),giai đoạn đồng tách giãn (Oligocen - Miocen sớm), giai đoạn sau tách giãn (Miocengiữa - Đệ Tứ, Hình 3.4)

Trang 32

Hình 3.4 Mặt cắt địa chấn minh hoạ các dạng bẫy cấu trúc

Hình 3.5 Mặt cắt địa chấn minh hoạ các chu kỳ phát triển địa chất

Trang 33

Giai đoạn trước tạo rift - Paleocen - Eocen

Trong giai đoạn này chế độ kiến tạo toàn khu vực nhìn chung bình ổn, xảy ra quátrình bào mòn và san bằng địa hình cổ, tuy nhiên một đôi nơi vẫn có thể tồn tại nhữngtrũng giữa núi Ở phần trung tâm của bể có khả năng tồn tại các thành tạo molas, vụnnúi lửa và các đá núi lửa có tuổi Eocen như đã bắt gặp trên lục địa

Giai đoạn đồng tạo rift - Oligocen - Miocen sớm

Do đặc điểm cấu trúc địa chất phức tạp nên còn tồn tại những quan điểm khácnhau về giai đoạn tạo rift của bể Nam Côn Sơn Đây là giai đoạn chính thành tạo bểgắn liền với tách giãn Biển Đông Sự mở rộng của Biển Đông về phía Đông cùng vớihoạt động tích cực của hệ thống đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam đã làm xuất hiện địa hàoTrung tâm của bể kéo dài theo hướng đông bắc - tây nam và dọc theo các đứt gãy này

đã có phun trào hoạt động Các thành tạo trầm tích Oligocen - Miocen sớm gồm cáctrầm tích vụn chủ yếu thành tạo trong các môi trường đầm hồ và đới nước lợ ven bờ(brackish littoral zone) với các tập sét kết, bột kết dày xen kẽ cát kết hạt mịn và môitrường đồng bằng châu thổ thấp (lower delta plain) gồm cát kết hạt mịn, bột kết, sét kếtvới các lớp than mỏng Pha kiến tạo Miocen giữa đã chấm dứt giai đoạn này và làmthay đổi bình đồ cấu trúc của bể

Giai đoạn sau tạo rift - Miocen giữa - Đệ Tứ

Trong giai đoạn này nhìn chung chế độ kiến tạo khá bình ổn hơn so với giai đoạntrước Song ở một số nơi vẫn quan sát thấy sự nâng lên bào mòn và cắt cụt một số cấutrúc dương đã có (ở các lô 04, 05) Về cơ bản chế độ kiến tạo oằn võng và lún chìmnhiệt, cũng như các pha biển tiến và ngập lụt khống chế trên diện tích toàn bể Hầu hếtcác đứt gãy đều kết thúc hoạt động vào cuối Miocen Trong Pliocen - Đệ Tứ phát triểnthềm lục địa, bình đồ cấu trúc không còn mang tính kế thừa các giai đoạn trước, ranhgiới giữa các trũng gần như được đồng nhất trên toàn khu vực

3.4 Các tích tụ hydrocarbon

Ở bể Nam Côn Sơn dầu được phát hiện đầu tiên tại giếng khoan Dừa-1X vào năm

1975 Tính đến năm 2004 đã có 78 giếng khoan thăm dò, trong đó 28 giếng khoan pháthiện và có biểu hiện dầu khí, chiếm tỷ lệ thành công 35% Đã đưa được 3 mỏ vào khaithác: mỏ dầu khí Đại Hùng, các mỏ khí Lan Tây và Lan Đỏ Đang phát triển để đưavào khai thác các mỏ khí Rồng Đôi - Rồng Đôi Tây và Hải Thạch Dầu và khí đượcphát hiện trong tất cả các đối tượng: Móng nứt nẻ trước Đệ Tam (Mỏ Đại Hùng, các

Trang 34

cấu tạo 04-A, Bồ Câu, Gấu Ong), cát kết tuổi Oligocen (các cấu tạo Dừa, Hải Thạch,Thanh Long, Nguyệt Thạch, Hướng Dương Bắc, Bồ Câu, 12-C), cát kết tuổi Miocen(các mỏ Đại Hùng, Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây, Hải Thạch, các cấu tạo Kim Cương Tây,Mộc Tinh, Sông Tiền, Ngựa Bay, Hươi Trắng, Đại Bàng, 04-A, Thanh Long, RồngBay, Gấu Ong, Ngân Hà, Phi Mã, Cá Pecca Đông, Rồng Vĩ Đại, 12-C, Hải Âu),Carbonat tuổi Miocen (các mỏ Lan Tây, Lan Đỏ, Đại Hùng, các cấu tạo Thanh Long,Đại Bàng, Mía, Bạc, Dừa, 04A), cát kết tuổi Pliocen (mỏ Hải Thạch, các cấu tạo MộcTinh, Thanh Long, Kim Cương Tây) Ở bể Nam Côn Sơn, chiều sâu của vỉa dầu khítrong trầm tích Đệ Tam đạt tới gần 4.600m (GK 05-1B-TL-2X), là chiều sâu lớn nhấtphát hiện dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam hiện nay Các phát hiện dầu khí trongthời gian qua chủ yếu là khí và khí condensat Đặc điểm các loại dầu và khí thiên nhiênđược phát hiện ở bể Nam Côn Sơn cụ thể như sau: Dầu và condensat ở bể Nam CônSơn có mật độ thay đổi từ nặng, trung bình đến nhẹ Dầu nặng có tỷ trọng 210 -220API, trung bình 320 - 330API và nhẹ 400 - 450API Thành phần của dầu có thể nêutóm tắt ở bảng 3.1 Thành phần khí cũng thay đổi mạnh ở các mỏ khác nhau, đượctrình bày ở bảng 3.2.

Miocen trên Miocen giữa Miocen dưới Oligocen - Móng

-Bảng 3.1 Thành phần dầu bể Nam Côn Sơn

Thành phần (Mol%) Lan Tây – Lan Đỏ (lô 06) Rồng Đôi – Rồng Đôi Tây (lô 11-2)

Trang 35

a Tiềm năng hữu cơ:

Trầm tích Oligocen

Trầm tích Oligocen chủ yếu là cát kết, bột kết và than, mới chỉ được mở ra ở một

số giếng khoan trong các lô: 05, 06, 12, 20, 21 và 22 Do quá trình trầm tích lắng đọng

và bảo tồn vật chất hữu cơ trong từng khu vực khác nhau nên tiềm năng hữu cơ cũngkhác nhau Trầm tích Oligocen ở bể Nam Côn Sơn thuộc loại đá mẹ trung bình đến tốt,khả năng sinh khí - condensat cao Tuy nhiên, vẫn gặp những tập sét bột giàu vật chấthữu cơ (lô 05, 12E) và các tập sét than có ý nghĩa tốt cho việc sinh thành dầu

Trầm tích Miocen dưới

Các mẫu phân tích địa hoá trầm tích Miocen dưới ở các lô 04-3, 05-3, 06, 10,

11-1, 11-2, 20, 21 và 12E cho thấy hàm lượng TOC thay đổi từ 0,45 đến 0,8%wt; S2 <2mg/g thể hiện đá mẹ có hàm lượng vật chất hữu cơ từ trung bình đến thấp Số mẫu có

Trang 36

khả năng sinh hydrocarbon trung bình đến tốt rất ít chỉ chiếm 23% còn lại 77% tổng sốmẫu thuộc loại nghèo vật chất hữu cơ, không có mẫu nào thuộc loại rất giàu vật chấthữu cơ (TOC >5%wt) Ở một số giếng khoan trong các lô 10, 11, 04 và 05-1 các mẫusét than rất giàu vật chất hữu cơ và có khả năng sinh hydrocarbon tốt đến rất tốt nhưngthành phần maceral chủ yếu là vitrinit và inertrinit, còn tổ phần liptinit thường thấp10%, điều này cho thấy đá mẹ khả năng sinh khí cao Ở lô 12E tại giếng khoan 12C -1X có hàm lượng TOC đạt tới 0,84%wt và S2 đạt 18,55mg/g ở độ sâu 2350 - 2510mtrong tập sét màu xám thuộc loại đá mẹ trung bình và tốt.

b Môi trường lắng đọng và phân huỷ vật chất hữu cơ:

Căn cứ vào các tỷ số Pr/nC17 và Ph/ nC18, cũng như mối tương quan giữa các tỷ

số đó cho thấy vật chất hữu cơ trong các mẫu trầm tích Miocen dưới được lắng đọngchủ yếu trong môi trường đầm lầy và hỗn hợp (ở các lô 03, 05, 06 và 12) Quá trìnhphân huỷ vật chất hữu cơ xảy ra chủ yếu trong điều kiện oxy hoá và oxy hoá khử (Hình3.6) Các mẫu của trầm tích Oligocen bắt gặp ở các giếng khoan tuy còn rất ít, chủ yếutập trung ở các lô: 05, 11, 12, 20 và 22, nhưng lại thể hiện môi trường lắng đọng là đầmlầy, lục địa và hỗn hợp (Hình 3.6) Ở lô 12 môi trường lắng đọng vật chất hữu cơ thểhiện ưu thế lục địa (ở giếng khoan 12C-1X có Pr/nC17 > 2 và Ph/nC18 > 0,4; giếngkhoan 12A-1X có Pr/nC17 > 1,5 và Ph/nC18 > 0,4) Môi trường phân huỷ vật chất hữu

cơ của đá mẹ Oligocen mang tính khử cao hơn trong đá mẹ Miocen dưới

c Dạng Kerogen:

Mối quan hệ giữa hai chỉ số HI và Tmax cho thấy dạng đá mẹ Oligocen vàMiocen ở bể Nam Côn Sơn có nguồn gốc vật chất hữu cơ loại III là chủ yếu và một ítloại II (Hình 3.7) Điều này phù hợp với các nhận định ở trên là vật chất hữu cơ đượclắng đọng trong môi trường lục địa

Trang 37

Hình 3.6 Biểu đồ môi trường lắng đọng và phân huỷ VCHC trầm tích Oligocen các lô

Trung tâm và phía Đông bể Nam Côn Sơn

Trang 39

d Quá trình trưởng thành của vật chất hữu cơ:

Do mật độ giếng khoan chưa phủ kín các lô cũng như lượng mẫu phân tích chưa

đủ để phản ánh độ trưởng thành trong các tập trầm tích nên đã sử dụng phương phápTTI để thành lập các biểu đồ lịch sử chôn vùi (Hình 3.8), mặt cắt (Hình 3.9, 3.10), bản

đồ trưởng thành tại đáy Oligocen và nóc Oligocen (Hình 3.11, 3.12) và tại nóc Miocendưới (Hình 3.13) Từ những kết quả phân tích Ro, SCI, Tmax các mẫu của các giếngkhoan trong bể trầm tích Nam Côn Sơn, cho thấy quá trình biến đổi vật chất hữu cơtrong trầm tích Oligocen và Miocen dưới ở các lô phân bố trong vùng rất khác nhau.Nếu lấy các lô 10, 11 và 12 để chia bể Nam Côn Sơn thành 2 khu vực phía Đông vàTây, thì thấy rõ quá trình trưởng thành của vật chất hữu cơ ở hai khu vực là khác nhau.Dựa vào độ phản xạ vitrinit, ta phân ra các giai đoạn thành tạo hydrocarbon như bảng3.3 Sự thay đổi gradient

Trang 40

Hình 3.9 Mặt cắt mức độ trưởng thành vật chất hữu cơ qua các GK theo hướng Đ-T

Hình 3.10 Mặt cắt mức độ trưởng thành vật chất hữu cơ qua các GK theo hướng ĐN

TB-nhiệt độ trong các giếng khoan ở bể Nam Côn Sơn có xu thế tăng dần theo hướng từkhu vực Tây Nam lên Đông Bắc, gradient địa nhiệt khá cao ở các lô 04 và 05 (Hình3.14).Phía Tây bể trầm tích

Trong phần diện tích này trầm tích Miocen sớm chưa trưởng thành (ở diện tíchcác lô 19, 20, 21, 22, 28 và 29 xem Hình 3.13) Còn trầm tích Oligocen đã trải qua quátrình chuyển hoá vật chất hữu cơ, ngưỡng bắt đầu tạo dầu sớm nhất cách đây 3 triệunăm ở độ sâu khoảng 3000m (lô 28), pha tạo dầu mạnh nhất trong phạm vi các lô 19,

20, 21 ở độ sâu khoảng 3500m (Hình 3.11, 3.12) Đáy tầng trầm tích Oligocen đá mẹthực sự trải qua các pha tạo sản phẩm, đá mẹ ở lô 20 đã trưởng thành và chủ yếu nằmtrong các pha tạo dầu mạnh nhất Một số lô khác đã kết thúc tạo dầu và chuyển sangpha tạo khí khô Trong trầm tích Oligocen tại giếng khoan 20–PH-1X giá trị Ro <

Ngày đăng: 10/11/2020, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w