1) Lí luận đô thị? Lịch sử hình thành, mối quan hệ giữa các hoàn cảnh lí luận đó?Bối cảnh ra đời: Lưu ý: trình bày lí luận về đơn vị ở làng giềng. 2) Các thách thức trong đô thị hóa hiện nay tại TP Hồ Chí Minh? Tại sao? 5) Trình bày phân tích đánh giá tầm quan trọng trong việc khảo sát hiện trạng đối với quy hoạch vùng. Ví dụ về một quy hoạch vùng? 3) Các vấn đề khó khăn và thách thức trong công tác quản lý Quy hoạch đô thị tại Việt Nam? Lấy ví dụ về đô thị thực tế..? 4) Trình bày, phân tích cơ hội và thách thức trong việc hợp tác phát triển vùng.
Trang 11) Lí luận đô thị? Lịch sử hình thành, mối quan hệ giữa các hoàn cảnh lí luận đó?Bối cảnh ra đời: Lưu ý: trình bày lí luận về đơn vị ở làng giềng
Trang 3Lý luận quy hoạch đô thị theo đơn vị của Clarence Perry
chạy song song với khu đất của mọi tòa nhà khổng lồ đều để trống để làm dịch vụ và tổ chức liên thông với nhau, ngoài ra còn để tạo gió mát cho các khu vực với nhau
Thành phố có dạng hình chữ nhật lớn, bố cục phân khu theo kiểu ô bàn cờ chéo, có những trục giao thông chính và phụ đan xen theo góc 90° hoặc 45° Trung tâm đô thị này rộng 350 ha, có sự kết hợp nhiều loại hình kiến trúc và cây xanh nên rất đẹp
Thành phố là sự diễn tả của một trật tự rõ ràng, tĩnh tại, có trọng tâm
b Lý luận quy hoạch đô thị theo đơn vị của Clarence Perry
Mô hình này do kiến trúc sư c Perry (Mỹ) đề xuất năm 1923 bằng cách lấy các đơn vị cơ bản là đơn vị ở để phát triển đô thị Ông được coi là cha đẻ của lý thuyết quy hoạch đơn vị ở và là kim chỉ nam cho các kiến trúc sư trước và sau thế chiến thứ hai, và cho đến nay trong công tác thiết kế quy hoạch phát triển đô thị
Ý niệm về tổ chức không gian đô thị đã được rất nhiều các sách vỏ tông kết và đưa vào nguyên lý thiết kế quy hoạch đô thị Điều cần được nhấn mạnh là ông đã đề cập và giải quyết một cách tốt nhất, khoa học nhất cho cộng đồng dân cư, bất kể sắc tộc, chính trị, tôn giáo, tín ngưỡng Do đó mô hình mang tính nhân văn rất cao, phù hợp với tất cả mọi thành phần cư trú
Trang 4Mặt bằng tổng thể khu Radburn
Lý thuyết đơn vị ở của c Perry về sau được kiến trúc sư Clarence Stein và Herry Wright đã nâng lên một tầm cao hơn Đó là việc kết hợp
mô hình thành phố – vườn và thành phố vệ tinh của E Howard với lý thuyết đơn vị ở của c Perry để cho ra đời hệ thống Radburm noi tiếng, được xây dựng ở Mỹ năm 1928, cách thành phố New York 25 km
Đô thị có ba đơn vị ở xóm giềng cơ sở, mỗi đơn vị ở có đường kính 700 -r 800 m, dân số 7.000 b 10.000 người, với một trường tiểu học
và nhà trẻ, mẫu giáo Đô thị do ba đơn vị ở cơ sở này có gần 25.000 dân, có đường kính phục vụ gần 1.500 m, được bố trí một trường phổ thông cơ sở cùng một số công trình phục vụ công cộng cấp thiết khác (hình 5.29)
Trái ngược hoàn toàn với quan điểm, ý tưởng của c Perry, đơn vị ở theo quan điểm của Le Corbusier là một nhà cao tầng có tầng dịch
vụ ở giữa chiếm 10% diện tích đất, còn 90% đất dùng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng Mô hình đơn vị nhà ở của Le Corbusier đã được xây dựng ở thành phố Marseille (Pháp năm 1947 -1952) với một tòa nhà cao 17 tầng, đủ chỗ cho 1.600 nhân khẩu, mọi hoạt động sinh hoạt công cộng và dịch vụ hàng ngày đều diễn ra bên trong ngôi nhà này
Trang 52) Các thách thức trong đô thị hóa hiện nay tại TP Hồ Chí Minh? Tại sao?
Thực trạng đô thị- phần cứng đô thị và phát triển còn nhiều bất cập, hạn chế
- Cấu trúc không gian đô thị chưa hợp lý, diện tích đất dành cho công trình công cộng chưa nhiều Vẫn còn tồn tại tình trạng xây dựng tự phát, phát triển theo kiểu “vết dầu loang” trên những khu đất nông nghiệp cũng như dọc các tuyến giao thông chính Điều này khiến việc định hướng phát triển theo mô hình đô thị vệ tinh chưa đạt yêu cầu => vì tự phát abc, dân cư sinh sống chưa phù hợp
3) Các vấn đề khó khăn và thách thức trong công tác quản lý Quy hoạch đô thị tại Việt Nam? Lấy ví dụ về đô thị thực tế ?
4) Trình bày, phân tích cơ hội và thách thức trong việc hợp tác phát triển vùng Trả lời: Cơ hội và thách thức do quy hoạch vùng mang lại: 5) Trình bày phân tích đánh giá tầm quan trọng trong việc khảo sát hiện trạng đối với quy hoạch vùng Ví dụ về một quy hoạch vùng? Phân tích việc kháo sát hiện trạng ảnh hưởng như thế nào tới quy hoạch vùng? Những bất cập trong công tác quy hoạch vùng tại Việt Nam hiện nay?
5) Trình bày phân tích đánh giá tầm quan trọng trong việc khảo sát hiện trạng đối với quy hoạch vùng Ví dụ về một quy hoạch vùng?
Theo Luật xây dựng số 50/2014/QH13
Điều 20 Trình tự lập, phê duyệt quy hoạch xây dựng
Quy hoạch xây dựng được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng và được thực hiện theo trình tự sau:
1 Lập, phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch xây dựng;
2 Điều tra, khảo sát thực địa; thu thập bản đồ, tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển ngành có liên quan để lập đồ án quy hoạch xây dựng;
3 Lập đồ án quy hoạch xây dựng;
4 Thẩm định, phê duyệt đồ án quy hoạch xây dựng
Theo trình tự thực hiện QH vùng thì việc điều tra khảo sát hiện trạng là việc đầu tiên phải làm sau khi nhiệm vụ QH được lập và phê duyệt
Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của việc khảo sát hiện trạng đối với QH vùng
Ví dụ về tầm quan trọng của khảo sát hiện trạng:
Nhìn nhận một cách khách quan thì trong những năm qua, mặc dù hầu hết các quy hoạch xây dựng Vùng tại Việt nam đã được phê duyệt, hoặc đã điều chỉnh nhưng hiệu quả thực hiện chưa cao Điều này nhận thấy rất rõ trong thực tế khi hầu hết các tỉnh Miền trung với lợi thế về vị trí tiếp giáp với biển nên các tỉnh đua nhau xây dựng cảng biển nội địa, cảng biển quốc tế Theo thống kê hệ thống cảng biển Việt Nam hiện có khoảng 160 bến cảng với hơn 300 cầu cảng với tổng chiều dài tuyến bến đạt hơn 36km Các cảng biển Việt Nam hiện
do rất nhiều bộ, ngành, doanh nghiệp, các địa phương, ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, đầu tư, quản lý và khai thác Với tốc độ xây dựng cầu bến mỗi năm tăng 6%, bình quân mỗi năm cả nước có thêm gần 2km cầu cảng Để xây dựng được hệ thống cảng biển như vậy chính phủ đã phải bỏ ra kinh phí xây dựng rất cao và tốn kém nhưng hiệu quả đạt được sau khi dự án đã hoàn tất thì lại thấp và còn rất nhiều bất cập từ khâu cầu dẫn, giao thông tiếp cận….đến cả khâu bốc xếp Vì vậy, chi phí vận tải biển, bốc xếp của Việt Nam tăng cao
và không có tính cạnh tranh trong khu vực Điều này là tất yếu vì chúng ta đầu tư dàn trãi, dọc bờ biển đất nước có tới 160 bến cảng trong khi đó cả đất nước Singapore chỉ có một cảng quốc gia và quốc tế nhưng năng suất, dịch vụ, giá cả tiện nghi cạnh tranh rất nhiều so với các nước trong khu vực
Phân tích việc kháo sát hiện trạng ảnh hưởng như thế nào tới quy hoạch vùng?
Theo Luật xây dựng số 50/2014/QH13
Nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng gồm:
a) Xác định luận cứ, cơ sở hình thành phạm vi ranh giới vùng;
b) Xác định mục tiêu phát triển vùng;
c) Dự báo quy mô dân số vùng, nhu cầu về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho từng giai đoạn phát triển;
d) Xác định yêu cầu về tổ chức không gian đối với hệ thống đô thị, khu vực nông thôn, vùng và khu chức năng chủ yếu, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trên phạm vi vùng theo từng giai đoạn
Công tác quy hoạch vùng liên quan đến nhiều lĩnh vực - là vấn đề phức tạp Quy hoạch vùng sẽ giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển, quyết định sự phát triển hợp lý của hệ thống đô thị và nông thôn, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất
Trang 6nước theo hướng bền vững Vì vậy việc khảo sát hiện trạng để hiểu rõ về vùng quy hoạch, động lực phát triển, … là công tác quan để tránh được những lãng phí và đạt hiệu quả cao trọng công tác QH vùng
Những bất cập trong công tác quy hoạch vùng tại Việt Nam hiện nay?
Dưới đây là một số nguyên nhân chính yếu cho việc thực thi chưa hiệu quả quy hoạch vùng tại Việt nam
* Nguyên nhân thứ nhất phải kể đến đó là do Chúng ta chưa có cơ quan đủ thẩm quyền đứng ra lập, thực thi và quản lý quy
hoạch vùng.
- Điều này nghe có vẻ rất phi lý, vì hiện nay rõ ràng chúng ta đã có Bộ xây dựng với các viện kiến trúc, viện quy hoạch đô thị và nông thôn là cơ quan gần như đóng vai trò chủ chốt trong việc lập, thẩm định và thực thi quy hoạch vùng Nhưng trên thực tế, Bộ xây dựng đứng vai trò là đơn vị lập và thẩm định đồ án quy hoạch vùng, còn vấn đề thực thi thì chính là chính quyền địa phương của vùng, của các tỉnh thành phố trong vùng Chính điều này gây ra những bất cập trong nội tại, dẫn đến những thực trạng chồng chéo, không khớp trong quy hoạch vùng
* Nguyên nhân thứ hai sự thiếu phối hợp giữa các Bộ nghành liên quan như: Bộ nông nghiệp, Bộ tài nguyên môi trường, Bộ
công thương, Bộ giao thông vận tải, Bộ Nông nhiệp và phát triển nông thôn, vv
- Như chúng ta đã biết Quy hoạch xây dựng vùng được lập cho các vùng có chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngành gồm vùng các vùng trọng điểm, có các vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện, chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngành như: vùng kinh tế trọng điểm, vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện, các vùng công nghiệp, vùng đô thị lớn, vùng du lịch, nghỉ mát, vùng bảo vệ di sản cảnh quan thiên nhiên và các vùng khác do người có thẩm quyền quyết định Vì vậy việc lập quy hoạch vùng phải có
sự gắn kết chặt chẽ của tất cả các Bộ, các nghành
Hiện nay đồ án quy hoạch được lập dựa trên quy trình: Bộ xây dựng là đơn vị chủ quản (như trên sơ đồ) đưa cho các đơn vị trực
thuộc Bộ như: Các viện kiến trúc, viện quy hoạch đô thị và nông thôn lập Việc thu thập tài liệu liên quan đến các Bộ nông nghiệp, Bộ tài
nguyên môi trường, Bộ công thương, Bộ giao thông vận tải, Bộ thủy lợi được các viện này tự thu thập bằng cách xin, mua…và có thể nói những nguồn tài liệu có những số liệu lạc hậu, chưa được cập nhật Vì thế sự chống chéo là không thể tránh khỏi
* Nguyên nhân thứ ba Thiếu sự kết hợp của các chính quyền địa phương trong vùng
-Trong quy hoạch xây dựng vùng được lập cho các vùng quốc gia, có các vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện, chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngành như: vùng kinh tế trọng điểm, vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện…nên rất cần các huyện, tỉnh lị có liên quan ngồi lại xem xét những yếu tố hợp lý hoặc chưa hợp lý trong quy hoạch xây dựng vùng, liên vùng Từ đó đóng góp ý kiến xây dựng để quy hoạch vùng hoàn thiện và có tính thực thi cao
* Nguyên nhân thứ tư sự thiếu tầm nhìn của các đơn vị tư vấn và lãnh đạo một số khu vực địa phương.
- Trong quá trình lập quy hoạch xây dựng vùng các đơn vị tư vấn do nhiều yếu tố ngoài những yếu tố khách quan như: sự thiếu phối hợp của các địa phương, sự thiếu phối hợp giữa các nghành chức năng liên quan, còn các yếu tố chủ quan như: chưa đi sâu nghiên cứu tiềm năng đặc trưng từng vùng lãnh thổ, chưa thu thập chi tiết các số liệu thống kê một cách chính xác, thiết kế một cách chủ quan
mà chưa nghiên cứu các kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Trang 7- Tuy nhiên, trong thời buổi kinh tế thị trường chúng ta rất hay đối mặt với những lãnh đạo các địa phương thiếu tầm, thiếu tâm và luôn dùng quyền hành áp đặt vào trong quy hoạch gây tổn hại nghiêm trọng đến không gian vùng lãnh thổ
* Nguyên nhân thứ năm do Chưa làm tốt công tác quản lý, thẩm định quy hoạch xây dựng vùng
- Quy hoạch xây dựng vùng thực chất đã được quan tâm và lập từ cách đây khoảng 20 năm với rất nhiều những vấn đề bất cập Song hầu như các cấp quản lý chỉ nhận xét, đánh giá rồi lại điều chỉnh và vấn đề vẫn không có lời giải đáp cho thực trạng phát triển không theo quy hoạch xây dựng vùng và những rối ren trong việc chọn hướng đi của các địa phương như hiện nay
- Việc quy hoạch xây dựng vùng gặp nhiều vấn đề từ sự chồng chéo quy hoạch, thực thi không theo quy hoạch… Các nhà quản
lý và thẩm định đóng vai trò lớn trong vấn đề quy hoạch xây dựng vùng
Qua thực trạng quy hoạch xây dựng Vùng và 5 nguyên nhân chính yếu nêu trên chúng ta nhận thấy vấn đề quy hoạch vùng là một vấn đề rất lớn liên quan đến hầu như tất cả các lĩnh vực có ảnh hưởng lớn và sâu rộng đến các địa phương, tỉnh thành, vùng miền trong cả nước Đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển kinh tế, định hướng đầu tư xây dựng, chiến lược phát triển hạ tầng
kỷ thuật, hạ tầng xã hội trên cả nước
( Thêm phần giải pháp … bít đâu ra phần này : ))))
Giải pháp cho quy hoạch xây dựng vùng phải được nhìn nhận từ hệ thống quản lý, đối tượng quản lý đến phương thức thực thi cũng như đối tượng sử dụng Dưới đây là một số giải pháp có thể áp dụng tại Việt Nam
*Giải pháp thứ nhất: Thành lập một cơ quan quản lý quy hoạch vùng trực thuộc chính phủ, có khả năng chi phối các Bộ xây
dựng, Bộ giao thông vận tải, Bộ kế hoạch và đầu tư và các Bộ khác (sơ đồ 2).
- Trong giai đoạn ngắn hạn Cơ quan quản lý quy hoạch vùng sẽ thành lập dưới hình thức tập hợp các cá nhân có năng lực, có
quyền tự quyết của các Bộ xây dựng, Bộ giao thông vận tải, Bộ kế hoạch và đầu tư và các Bộ khác Trong giai đoạn dài hành Cơ quan
quản lý quy hoạch vùng được phép thu hút các chuyên gia hàng đầu của cả nước và quốc tế về tất cả các lĩnh vực kinh tế, xây dựng, giao thông, xã hội, nông nghiệp, công nghiệp…vv, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tốt nhất quy hoạch vùng của cả nước
- Cơ quan quản lý quy hoạch vùng sẽ là đơn vị mời các tổ chức tư vấn lập quy hoạch vùng trong nước và quốc tế có đủ năng lực tham gia thực hiện đồ án quy hoạch vùng
- Cơ quan quản lý quy hoạch vùng cùng với các bộ ngành có liên quan có trách nhiệm thẩm định và trình thủ tướng chính phủ phê duyệt đồ án quy hoạch vùng
- Đồ án quy hoạch vùng sau khi phê duyệt sẽ tiến hành các bước thực thi theo từng giai đoạn cụ thể và dưới sự quản lý, kiểm tra, đôn đốc của Cơ quan quản lý quy hoạch vùng
Trang 8+ Cơ quan quản lý quy hoạch vùng chịu trách nhiệm trước thủ tướng chính phủ về tất cả các vấn đề quy hoạch vùng.
Trường hợp ở các quy hoạch liên vùng, quy hoạch vùng tỉnh cũng có Cơ quan quản lý quy hoạch vùng với cơ cấu tương tự
* Giải pháp thứ hai: Mở các lớp huấn luyện, tuyên truyền về tầm quan trọng và nguyên tắc chung trong quy hoạch Vùng cho các
đối tượng quan chức lãnh đạo từ cấp xã đến cấp tỉnh, cấp thành phố, cấp trung ương.
- Trong quá trình thực thi giải pháp thứ 2 cần thiết phải thực hiện một cách nghiêm túc, tránh tình trạng làm qua loa, cho xong, được như thế mới mong có được những hiệu quả tốt
* Giải pháp thứ ba: Tổ chức các cuộc thi quy hoạch vùng với nhiều đơn vị tham gia, tạo điều kiện thuận lợi để tìm kiếm đơn vị tư
vấn có năng lực cao, có tầm nhìn và có nhiều kinh nghiệm trong nước và quốc tế
* Giải pháp thứ tư: Ban hành các quy định chặt chẽ cho các cơ quan có trách nhiệm lập, thẩm định, thực thi, quản lý và phối
hợp thực hiện quy hoạch vùng
Khi chúng ta thực hiện được giải pháp thứ nhất này chúng ta sẽ giải quyết được nguyên nhân thứ nhất, nguyên nhân thứ hai và nguyên nhân thứ năm Tức là chúng ta giải quyết được cơ bản các vấn đề về chính sách quản lý và thực thi hiệu quả Các giải pháp thứ hai, giải pháp thứ ba, giải pháp thứ tư giải quyết được các nguyên nhân còn lại
Với đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam, với sự năng động, sáng tạo và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng
bộ, chính quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên và người dân Chúng ta có nhiều khả năng sẽ thực thi hiệu quả quy hoạch vùng trên bình diện
cả nước thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, chính trị, an ninh và xã hội
3) Các vấn đề khó khăn và thách thức trong công tác quản lý Quy hoạch đô thị tại Việt Nam? Lấy ví dụ về đô thị thực tế ?
* THEO THẦY ĐỖ PHÚ HƯNG
- Thực trạng quản lý đô thị tại Việt Nam và TP HCM:
THỨ NHẤT: ta đang thiếu điều phối liên ngành:; báo cáo của ta lên cấp trên thiếu chính xác; quan ít đi vi hành, quan sát thực tiễn
THỨ 2: ta đang thiếu công cụ, ví dụ hệ thông tin địa lý mà các nước thực hiện, thì ta chưa đủ mặt bằng trang bị công cụ, nên không nắm bắt được thực tiễn
THỨ 3: ta dựa quá nhiều vào lý thuyết, mà thiếu cơ chế vận hành
- Đề xuât giải pháp:
ta cần bộ máy quản lý trong đó có nguồn lực quản lý: tài chính và con ngừơi; trong đó chủ yếu là con người;
Con ngùoi quản lý cần được đào tạo theo cách: AI quãn lý CÁI GÌ?; BẰNG CÔNG CỤ gì? và vấn đề nổi cộm là: thực chất hiệu quả của công tác quản lý: thể hiện qua yếu tố thành quả quản lý mà thành quả này phải được đo đếm, đánh giá thông qua các CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HIỆU QUẢ, CẦN XÂY DỰNG CÁC CHỈ SỐ NÀY, và thực hiện nó bằng bộ máy hiện có, và phải đi vào thực chất hơn:
quản lý đô thị là lãnh vực rộng: quản lý quy họach, quản lý xây dựng teo quy họach; quản lý lập và quản lý thẩm định QH; quản lý thụ7c thi quy họach\
tóm lại đó là một lãnh vực quản lý ĐA NGÀNH, ĐA LÃNH VỰC
AI CHỊU TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ CÁI GÌ? PHỐI HỢP VỚI NHAU THẾ NÀO
một trong những công cụ quan trọng để ql đó là pháp lý QH XD
rồi đến nguồn lực con người và chi phí kiểm tra thực thi
Một là, công tác quản lý quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị ở VN còn có nhiều yếu kém/
Thiếu một quy hoạch tổng thể cho quá trình đô thị hóa Trong 25 năm đổi mới, bộ mặt đô thị đã được thay đổi nhiều, nhưng nếu xét về tổng thể, chưa xứng tầm của đô thị hiện đại Những đô thị mới nếu thiếu các công trình xây dựng mang tính xã hội và văn hóa; thiếu hệ thống các công trình hạ tầng tương thích với quy mô và tính chất của đô thị hiện đại
Quy hoạch đô thị còn mang nặng tính chủ quan, năng lực của các chủ đầu tư yếu, thiếu sự phối hợp đồng bộ Nhiều địa phương quy hoạch, cấp đất cho các chủ đầu tư không căn cứ vào năng lực cụ thể của họ, không tìm hiểu và thiếu thông tin về ý định và tiềm năng của các đối tác, nên hiện tượng khá phổ biến là quy hoạch treo, dự án treo
Quy hoạch đô thị còn mang tính chủ quan, không sát với thực tiễn, không dự báo được sự phát triển cua kinh tế- xã hội, nên có những đô thị phải điều chỉnh quy hoạch, điều chỉnh quy mô từ thành phố xuống thị xã, hoặc từ cấp thành phố xuống cấp quận, huyện Điều này vừa gây lãng phí tài sản của nhân dân, vừa làm cho các đô thị mất đi thời cơ để phát triển
Trang 9Thiếu sự phối hợp trong quản lý xây dựng đô thị, các ngành giao thông, xây dựng, cấp thoát nước, điện, đều độc lập , ít liên kết, phối hợp với nhau Chính sự thiếu thống nhất và phối hợp không đồng bộ đã gây ra tình trạng quy hoạch giao thông không ăn nhập với quy hoạch kiến trúc, điện, nước
SỰ phát triển đô thị một cách thiếu quy hoạch hoặc theo các quy hoạch kém chất lượng trong điều kiện quản lý có nhiều bất cấp đã dẫn đến tình trạng nhiều đô thị phát triển một cách tùy tiện, xây dựng lộn xộn them vào đó, quá trình đô thị hóa nhanh vafquarn lý hành chính yếu kém, sự sắp xếp lại địa giới hành chính đô thị một cách tùy tiện, khiến nhiều vùng ven đô nhanh chóng trở thành đô thị, nhưng trong đó có nhiều làng xã còn mang đậm tính chất nông thôn Sư gia nhập một cách ồ ạt cac làng nãy vào làm phức tạp them đời sống xã hội đô thị
Hai là, công tác quản lý đô thị vẫn mang tính chất của một xã hội quá độ từ nông thôn lạc hậu sang đô thị quản lý kém với nhiều tàn tích cũ đan xen những nét hiện đại.
Về cách thức tổ chức hành chính, quản lý đô thị vẫn mô phỏng theo kiểu quản lý nông thôn, việc quản lý đô thị không khác lắm so với quản lý làng xã, huyện, tỉnh, mặc dù xã hội đô thị có nhiều đặc trưng khsac với xã hội nông thôn và phức tạp hơn rất nhiều so với nông thôn
Công tác quản lý đô thị nhìn chung vẫn chwua ổn định và thiếu tính chuyên nghiệp Chức năng quản lý đô thị vẫn chưa mang tính chất thống nhất, nhất quán cao mà thường được chia sẻ, phân tán đã dẫn đến thực thi không triệt để nhiều chính sách quản lý đô thị của nhà nước
Hệ thống văn bản và quyền quản lý của các bộ, ngành, địa phương các cấp còn chồng chéo chưa phân công cụ thể, chi tiết nên sự phối hợp hành động giữa các đơn vị rất khó khăn, thiếu hiệu quả và chậm trễ Hiện tượng một việc àm nhiều cơ quan quản lý đã gây nhiều trở ngại cho quá trình đô thị hóa
Ba là, công tác quản lý phát triển xã hội đô thị còn nhiều yếu kém
SỰ phát triển mạnh mẽ và năng động của kinh tế đô thị, sự cải thiện nhanh chóng đời sống người dân trong các đô thị đã tạo ra lực hút đối với dòng di cư, nên tốc độ tăng dân số cơ học cao gấp nhiều lần tốc độ tăng dân số tự nhiên, khiến tốc độ phát triển dân cư đô thị tăng nhanh hơn tốc độ phát triển đô thị ở các đô thị lớn, các trung tâm công nghiệp, dịch vụ như HN, HCM, HP,CT, ĐN… tỷ trọng dân nông thôn chiếm 20-30% thậm chí có nơi lên đến 50% Theo dự báo đến năm 2020 dân số đô thị nước ta sẽ đạt 45 triệu người, chiếm 45% dân số cả nước và sẽ làm cho tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động k có việc làm ở khu vực đô thị tăng cao Tình trạng di cư không kiểm soát được này
đã đẩy một bộ phận lao động dư thừa từ nông thôn lên thành thị, không những tạo them gánh nặng về lao động và việc làm cho khu vực đô thị mà còn phát sinh nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng
Cùng với sự gia tăng dân số do di cư, tốc độ phân hóa cơ cấu dân cư đô thị nhanh và sâu sắc hơn Thu nhập và mức sống của dân cư đô thị hiện nay có sự phân hóa, bênh cạnh một bộ phân dân cư giàu lên nhanh chóng là tầng lớp người nghèo và tầng lớp có mức sống trung bình Sự phát triển không gian đô thị ở VN đang thúc đẩy nhanh chiều hướng phân cách rõ rệt giữa người giàu và người nghèo: người giàu
đô thị tìm đến sống trong những ngôi nhà hiện đại đắt tiền, tiện nghi ( nơi mà giá nhà lên đến nhiều tỷ đồng) và những người nghèo sống trong các khu ổ chuột, nhà thuê thiếu các điều kiện sống tối thiểu và không có cơ hội được hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội
Sự đa dạng các tầng lớp thị dân, sự phân tầng về thu nhập, mức sống đã, đang và sẽ làm cho quan hệ xã hội trong các đô thị trở nên phức tạp hơn chứa đựng những nguy cơ tiềm tang về bất ổn xã hội Điều này đang góp phần làm trầm trọng them các vấn đề kinh tế- xã hội việc giải quyết thấu đáo vấn đề này có ý nghĩa rất lớn đối với việc xây dựng đô thị theo hướng bền vững
TÌnh trạng tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng ở khu vực đô thị nhất là các đô thị lớn trong thời gian qua đang trở thành vấn nạn nhức nhối trong đời sống đô thị
Ngoài ra, ý thức pháp luật, việc tuân thủ các quy định về văn minh và trật tự đô thị của người dân VN còn yếu kém
Quá trình đô thị hóa nhanh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng dẫ khiến xã hội đô thị hiện đại hóa nhanh về cả phương diện cảnh quan kiến trúc, kết câu hạ tầng, đời sống vật chất, tinh thần của người dân Tuy nhiên, việc tiếp nhận cái hiện đại từ bên ngoài có tính xô bồ, thiếu chọn lọc, tầm nhìn, dẫn đến cảnh quan đô thị nhiều nơi lộn xộn, thiếu thẩm mỹ
Từ những đặc trưng về quản lý đô thị cho thấy, đô thị VN đang đối mặt với rất nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết nhằm mục tiêu phát triển bền vững đây là một quá trình lâu dài và cần phải có quyết tâm, nỗ lực lớn cũng như cần phải có những cách làm và bước đi
4) Trình bày, phân tích cơ hội và thách thức trong việc hợp tác phát triển vùng
Cơ hội
Trang 10Tạo ra tiềm năng phát triển mạnh hơn, nếu biết khai thác những lợi thế mỗi địa phương trong vùng sẽ có những bước phát triển nhảy vọt
Trong công tác quy hoạch và phát triểnvùngcónhững đặc thù riêng, đòi hỏi sự hợp tác và đồng thuận, liên kết trong phát triểnthì mới cóthể phát huy hết được vai trò của từngkhu vực trongvùngtheo như địnhhướng đề ra Chẳng hạn như sự hợp tác về kinh tế chứa đựng mối liên hệ giữacácngànhkinh tế, cácmôiquan hệ xã hội đặc biệt làkinh tế giữa con người với con người, giữanhững tập thể của các địa phương, đô thịvànôngthôn Dưới sự tácđộng của những tiến bộ về khoa học côngnghệ, các mối quan hệ về lao động sản xuấtcũngngày càng phát triển
Việc liên kết hợp tác nhằm phát triển đồng bộ hệ thống giao thông trọng điểm như đường vành đai, đường sắt cũng như phát triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, mạng lưới y tế, giáo dục, thương mại, các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường Trong đó có
ba lĩnh vực đang được hợp tác khá hiệu quả là: Quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị; công nghiệp - thương mại - dịch vụ; nông nghiệp và bảo vệ môi trường Không chỉ phát triển kinh tế, các tỉnh, thành trong vùng còn mở rộng các hoạt động giao lưu, hợp tác cùng phát triển về văn hóa - xã hội
Khái niệm quy hoạch vùng không chỉ bó hẹp trong phạm vị một quốc gia mà có thể tạo cơ hội phát triển các vùng liên quốc gia như vùng các tam giác tăng trưởng ở châu á, châu âu
Ví dụ: hợp tác phát triển vùng đông nam á
- Nước phát triển hơn đã giúp đỡ cho các nước thành viên chậm phát triển đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ, đua công nghệ mới vào sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm đảm bảo đáp ứng nhu cầu trong khu vực và để xuất khẩu
- Tăng cường trao đổi hàng hóa giữa các nước
- Xây dựng tuyến đường sắt, đường bộ từ Việt Nam sang Cam-pu-chia, Thái Lan Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po ; từ Mi-an-ma qua Lào tới Việt Nam
- Phối hợp khai thác và bảo vệ lưu vực sông Mê Công
Thách thức
Chuyển dịch cơ cấu lao động trong khi nguồn nhân lực chưa đáp ứng về số lượng cũng như trình độ
Hiện trạng: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế chậm (Tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản giảm từ 55,1% năm 2005 xuống còn 44,0% năm 2015 Tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp- xây dựng tăng
tương ứng từ 17,6% lên 22,8% Tỷ trọng lao động trong khu vực dịch vụ tăng từ 27,3% lên 33,2%); Chất lượng lao động thấp, cơ cấu nguồn nhân lực chưa phù hợp với nhu cầu thực tế, chưa cân đối giữa các ngành và các trình độ đào tạo; Năng suất lao động thấp và
chênh lệch lớn với các nước trong khu vực (NSLĐ của Malaysia năm 2013 gấp 6,6 lần Việt Nam; của Thái Lan gấp 2,7 lần; của Indonesia và Philipin gấp 1,8 lần NSLĐ của Việt Nam bằng khoảng 50% NSLĐ của ASEAN).
Cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt từ cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế, từ bình diện trong nước đến ngoài nước Một bộ phận doanh nghiệp không thích nghi kịp có nguy cơ phá sản, người lao động có nguy cơ thất nghiệp cao, thiếu việc làm, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Chất lượng nguồn lực lao động nước ta chưa đáp ứng yêu cầu, gây trở ngại trong quá trình hội nhập Di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra thành thị, vào các khu công nghiệp tập trung và di chuyển ra nước ngoài kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhạy cảm như "chảy máu chất xám, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới”
Vấn đề liên kết, điều hành và quản lí vùng theo hướng thống nhất vẫn còn gặp nhiều vấn đề bất cập, trở ngại
Quy định quy hoạch được tạo lập theo thứ tự từ trên xuống dưới nếu được thực hiện sẽ tạo thành sự thống nhất trong quy hoạch, tránh
sự chồng chéo, lãng phí trong xây dựng và thực hiện quy hoạch, hạn chế tình trạng manh mún, chắp vá, tạo cho đất nước một bộ mặt khang trang, đồng bộ Để làm được điều này, cần bảo đảm nguyên tắc quy hoạch cấp trên phải có trước quy hoạch cấp dưới Đặc biệt các quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch gốc phải được làm trước, có như vậy mới nâng cao trách nhiệm của Chính phủ với tư cách
là cơ quan quản trị quốc gia đối với tương lai phát triển của đất nước, đúng với tinh thần Chính phủ kiến tạo
Vấn đề bảo vệ mội trường và làm giàu tài nguyên thiên nhiên là một việc làm rất mới mẻ
Hiện nay, ở nước ta, nhiều nguồn tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững; một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt Ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; việc khắc phục hậu quả về môi trường do chiến tranh để lại còn chậm Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khỏe và đời sống nhân dân Chất lượng công tác dự báo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực hiện Việc ứng phó với biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng; thiên tai ngày càng bất thường, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản
Bảo vệ môi trường tự nhiên vừa là nội dung, vừa là mục tiêu phát triển bền vững, vì thế phải đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường tự nhiên với môi trường sống, đặc biệt tại các khu công nghiệp, đô thị, dân cư; phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên Hạn chế, tiến tới khắc phục căn bản tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị