1. CAO TRÀO KHÁNG NHẬT, CỨU NƯỚC VÀ QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ VỀ MỌI MẶT CHO TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN. TRANG 22. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA GIAI ĐOẠN 19531954. TRANG 133. TẠI SAO NÓI NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 15 (11959) ĐÃ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẤP BÁCH CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM LÚC BẤY GIỜ. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA GIAI ĐOẠN 19581960. TRANG 134. QUÁ TRÌNH KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỦA QUÂN VÀ DÂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 19691973. TRANG 225. NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ CNH, HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC. KẾT QUẢ THỨC HIỆN ĐƯỜNG LỐI CNH, HĐH CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1986 NAY. TRANG 346. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. TẠI SAO NÓI: NHỮNG THÀNH TỰU CHÚNG TA ĐẠT ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KTTT ĐỊNH HƯỚNG XHCN CÒN CHẬM, CHƯA THEO KỊP YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ? NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC? TRANG 447. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THỜI KỲ ĐỔI MỚI? NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC? NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY? TRANG 538. KẾT QUẢ VIỆC THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI. TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ TRONG VIỆC GÌN GIỮ VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC VIỆT NAM? TRANG 539. ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP CHỊU SỰ CHI PHỐI BỞI NHỮNG ĐẶC ĐIỂM GÌ? KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI. TRANG 92
Trang 1ĐỀ TÀI THẢO LUẬN NHÓM-CÂU HỎI ÔN TẬP
1 CAO TRÀO KHÁNG NHẬT, CỨU NƯỚC VÀ QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ VỀ MỌI
MẶT CHO TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRANG 2
2 CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ CỦA
ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA GIAI ĐOẠN 1953-1954 TRANG 13
3 TẠI SAO NÓI NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 15 (1/1959) ĐÃ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẤP BÁCH CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM LÚC BẤY GIỜ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA GIAI ĐOẠN 1958-1960.
QUỐC TẾ? NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC? TRANG 44
7 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THỜI KỲ ĐỔI MỚI? NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC? NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
HIỆN NAY? TRANG 53
8 KẾT QUẢ VIỆC THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ TRONG VIỆC GÌN GIỮ VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC
DÂN TỘC VIỆT NAM? TRANG 53
9 ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP CHỊU SỰ CHI
Trang 2PHỐI BỞI NHỮNG ĐẶC ĐIỂM GÌ? KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI
NGOẠI CỦA ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI TRANG 92
- Tình hình thế giới: Vào đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn
kết thúc Nước Pháp được giải phóng, Chính phủ kháng chiến Đờ Gôn về Pa-ri
- Ở Châu Âu:
+ Đức liên tiếp thất bại trên các chiến trường
+ Nước Pháp giải phóng
- Ở Mặt trận Thái Bình Dương: Phát xít Nhật cũng khốn đốn trước các đòn tấn công dồn
dập của Anh - Mĩ trên bộ cũng như trên mặt biển
- Ở Đông Dương: Thực dân Pháp nhân cơ hội cũng ráo riết hoạt động, đợi khi quân Đồng
minh kéo vào đánh Nhật sẽ nổi dậy hưởng ứng để giành lại địa vị thống trị cũ
Tình thế thất bại gần kề của phát xít Nhật buộc chúng phải làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương
Diễn biến:
- Đêm 9/3/1945, Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toàn Đông Dương
- Quân Pháp chống cự rất yếu ớt, chỉ sau một vài giờ đã đầu hàng
- Sau khi hất cẳng Pháp, Chính phủ Nhật hoàng tuyên bố sẽ giúp đỡ nền độc lập của các dân tộc Đông Dương Nhưng sau một thời gian rất ngắn, bộ mặt giả nhân giả nghĩa của phát xít Nhật và bù nhìn tay sai đã bị bóc trần Nhân dân ta ngày càng thêm căm thù Nhật
và chán ghét bọn bù nhìn tay sai của chúng
¶ Tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
- Ngay khi tiếng súng đảo chính của Nhật vừa nổ Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng ở Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) do đồng chí Trường Chinh chủ trì
- 12/3/1945, Ban thường vụ Trung ương ra chỉ thị: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”
Nội dung của chỉ thị:
- Chỉ thị nhận định: Cuộc đảo chính của phát xít Nhật đã tạo ra một cuộc khủng hoảng
chính trị sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa chín muồi Tuy vậy, hiện đang có những cơ hội tốt làm cho những điều kiện tổng khởi nghĩa nhanh chóng chín muồi
Trang 3- Chỉ thị xác định: Phát xít Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể và duy nhất của nhân dân
Đông Dương Vì vậy, phải thay khẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật - Pháp” bằng khẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật”
- Chỉ thị dự kiến những tình huống sẽ xuất hiện thời cơ của tổng khởi nghĩa như:
+ Khi quân đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật => Nhật sẽ mở mặt trận chống quân đồng minh => Để phía sau sơ hở
+ CM Nhật bùng nổ hoặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 => Quân Nhật sẽ mất tinh thần
Ý nghĩa của chỉ thị:
- Chỉ thị thể hiện sự nhận định sáng suốt, kiên định và kịp thời của Đảng, có tác dụng rất lớn trong PTGPDT ở giai đoạn này
- Chỉ thị đã giúp nhân dân xác định kẻ thù chính là phát xít Nhật, chủ động nắm bắt thời
cơ, kịp thời chuyển từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa khi chín muồi
Phát động cao trào kháng Nhật cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần:
- Từ giữa tháng 3/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn ra rất sôi nổi, mạnh
mẽ và phong phú về cả nội dung lẫn hình thức
- Cách mạng đã chuyển sang cao trào, phong trào đấu tranh vũ trang và những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi trong vùng thượng du và trung du Bắc Kỳ
Ở khu căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân đã phối hợp với lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã, châu, huyện ở nhiều địa phương, quần chúng cách mạng đã cảnh cáo bọn quan lại tổng lí cường hào cố ý chống lại cách mạng, trừng trị bọn Việt gian, ở nhiều thị xã, thành phố và ngay cả ở Hà Nội, các đội danh dự Việt Minh đã táo bạo trừ khử một số tên tay sai đắc lực của địch, kích thích tinh thần cách mạng của quần chúng
- Giữa lúc cao trào kháng Nhật, cứu nước đang cuồn cuộn dâng lên thì ngày 15/4/1945 Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kì họp ở Hiệp Hòa (Bắc Giang), Hội nghị quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân phát triển hơn nữa lực lượng vũ trang và nửa vũ trang; mở trường đào tạo cán bộ quân sự và chính trị : đề ra nhiệm vụ cần kíp là phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa kháng Nhật để chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ
- Trong tháng 5 và 6/1945 các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tục nổ ra và nhiều chiến khu được thành lập ở cả 3 miền:
+ Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kì được thành lập, có nhiệm vụ chỉ huy các chiến khu miền Bắc và giúp đỡ toàn quốc về mặt quân sự
+ 4/6/1945, Khu giải phóng Việt Bà được thành lập bao gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên và một số vùng lân cận thuộc các tỉnh miền trung du (Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vinh Yên)
Trang 4Ủy ban Lâm thời Khu giải phóng đã thi hành 10 chính sách của Việt Minh nhằm đemlại quyền lợi cho nhân dân Khu giải phóng Việt Bắc trở thành căn cứ địa của cả nước và
là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới
- Giữa lúc Phong trào quần chúng trong cả nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ ở cả vùng nông thôn và thành thị thì nạn đói diễn ra nghiêm trọng hơn ở các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ do chính sách vơ vét thóc gạo tàn bạo của bọn phát xít Pháp - Nhật trước đó
(Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện (Hà Nội) Bia tưởng niệm nạn nhân chết đói tại đường Kim Ngưu (Hà Nội) Nạn đói khủng khiếp đã cướp đi hàng ngàn người dân trong huyện cùng những người ở địa phương kháctới Ban ngày, từng tốp 5-7 người cả đàn ông, đàn bà, già, trẻ quần áo rách rưới, người gầy guộc, xanh xao, chỉ còn da bọc xương, lê thê, thất thểu đi ăn xin ở các chợ làng Sáng
ra người chết đói nằm gục trên các hè phố, gốc cây, đầu đường, xó chợ nhiều vô kể Một
số gia đình trong huyện đã chết cả
( Trích: lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Hào))
Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” được kịp thời đưa ra đã dấy lên phong trào đánh chiếm kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo => Phong trào chống phát xít Nhật phát triển lên một bước mới
2 Đảng chủ trương phát động khởi nghĩa giành chính quyền
- Cao trào kháng Nhật cứu nước cuối tháng 7, đầu tháng 8/1945 đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền Phát xít Đức bại trận Tháng 8/1945, Hồng quân Liên Xô đánh bại hơn 1 triệu quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu
- Trước sự phát triển hết sức nhanh chóng của tình hình, Trung ương Đảng quyết địnhtriệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào từ ngày 13 đến 15/8/1945, quytế định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương
- Khẩu hiệu đấu tranh lúc này là: “Phản đối xâm lược! Hoàn toàn độc lập! Chính quyền về tay nhân dân!” Hội nghị còn quyết định những vấn đề quan trọng về đối nội và đối ngoại trong tình hình mới
- 23h ngày 13/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩa ra quân lệnh số 1
- 16/8/1945, Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào ủng hộ chủ trương tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, định ra quốc kỳ và quốc ca Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
- Trong vòng hai tuần lễ (từ 14/8 -28/8/1945) nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả nước:
Trang 5+ Thủ đô Hà Nội giành được chính quyền ngày/ 19/8/1945.
+ Cố đô Huế giành được chính quyền ngày 23/8/1945
+ Sài Gòn giành được chính quyền ngày 25/8/1945
- 2/9/1945, Hồ Chí Minh thay mặt toàn dân tuyên bố nước Việt Nam độc lập Lễ Tuyên ngôn độc lập được tiến hành tại vườn hoa Ba Đình, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời
3 Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm
¶ Kết quả, ý nghĩa lịch sử:
- Thắng lợi CMT8 là thắng lợi của truyền thống bất khuất, quật cường của dân tộc ta được đúc kết từ hàng ngàn năm lịch sử, là kết quả của hơn 8 thập kỷ đấu tranh chống thực dân giải phóng dân tộc, và là thành quả của 15 năm đấu tranh gian khổ của Đảng và nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
- CMT8 đã:
+ Lật đổ ách thống trị trong 87 năm của đế quốc Pháp và 5 năm của phát xít Nhật
+ Lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngàn năm trên đất nước Việt Nam
=> Đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước; nước ta từ 1 nước thuộc đại trở thành 1 nước độc lập
+ Lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - 1 nước dân củ công nông đầu tiên ở ĐôngNam Á, 1 nước mang tính chất nhân dân và mang bản chất của giai cấp công nhân do ĐCS lãnh đạo
+ Mở ra 1 kỷ nguyên mới, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
+ Ảnh hưởng lớn trực tiếp đến thắng lợi của CM Lào và Campuchia Góp phần mở ra thời kỳ sụp đổ, tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới, thúc đẩy PT GPDT phát triển
¶ Nguyên nhân thắng lợi:
Nguyên nhân khách quan:Hoàn cảnh quốc tế thuận lợi:
- Quân Đồng minh đã đánh bại quân phát xít, kẻ thù trực tiếp của ta là phát xít Nhật
đã bị Liên Xô và các lực lượng Đồng minh đánh bại
- Ở Đông Dương: quân viễn trinh Nhật mất tinh thần → Chính quyền tay sai của phátxít Nhật hoang mang rệu rã → Thuận lợi hơn cho PT GPDT tiến tới thành công
Nguyên nhân chủ quan:
- Đảng là người tổ chức lãnh đạo nhân dân, Đảng có đường lối đúng đắn, có kinh nghiệm tổ chức đấu tranh dày dạn và ngày càng gắn bó mật thiết với nhân dân Nắm đúngthời cơ, chỉ đạo kiên quyết và khôn khéo, biết tạo sức mạnh tổng hợp để áp đảo kẻ thù và quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền
Trang 6=> Đây là nhân tố chủ yếu nhất quyết định sự thắng lợi của CMT8 năm 1945.
- Lực lượng CM đã được xây dựng và rèn luyện qua 3 cao trào 1930-1931,
1936-1939, 1939-1945 và đã lớn mạnh trong tổng khởi nghiã của CMT8
Bài học kinh nghiệm của Đảng:
- Một là, Đảng dã vạch ra đường lối GPDT đúng đắn, ktế hợp đúng đắn 2 nhiệm vụ
là chống đế quốc và chống phong kiến
Trong CM dân tộc dân chủ, Đảng xác định: chống đế quốc và chống phong kiến là 2 nhiệm vụ không thể tách rời, nhưng chống đế quốc là nhiệm vụ chủ yếu nhất, chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước để tập trung cho nhiệm vụ GPDT Chính vì vậy, khi CTTG-II nổ ra, Đảng ta có một lực lượng đoàn kết thống nhất toàn dân tộc để giành độc lập dân tộc Ý chí đoàn kết thống nhất, tinhthần tự lực tự cường, truyền thống yêu nước đã được Đảng phát huy cao độ
Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng sát đúng với hoàn cảnh của Việt Nam Đây là bài học kinh nghiệm lớn, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
- Hai là, Đảng ta tập hợp lực lượng của toàn dân, dựa chắc vào công nhân và nông dân mở rộng Mặt trận thống nhất Đảng đã xây dựng thành công khối đoàn kết dân tộc, động viên toàn dân tổng khởi nghĩa giành thắng lợi
- Ba là, Đảng ta khai thác và lợi dụng được sự mâu thư64n trong nội bộ kẻ thù, tập trung vào kẻ thù chính để giành độc lập Chính vì vậy, CMT8 giành được thắng lợi nhanhgọn, ít hao tổn sức người sức của
- Bón là, Đảng kiên quytế sử dụng bạo lực CM của quần chúng và biết kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang một cách thích hợp, để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra nhà nước của nhân dân
- Năm là, Đảng đã nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, chủ động trong việc chọn thời cơ
- Sáu là, xây dựng Đảng vững mạnh về tổ chức, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, gắn bó với quần chúng nhân dân
CÂU2
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (GIAI ĐOẠN 1953-1954)
I ÂM MƯU MỚI CỦA PHÁP - MỸ Ở ĐÔNG DƯƠNG KẾ HOẠCH NAVA
Trang 71 Hoàn cảnh, âm mưu mới của Pháp - Mỹ ở Đông Dương Kế hoạch Nava
Hoàn cảnh: Sau 8 năm xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp bị suy yếu rõ rệt:Thiệt hại gần 390.000 quân, tiêu tốn 2000 tỉ Phờ – răng, liên tục bị ta đẩy vàothế bị động chiến lược
Trước sự sa lầy của Pháp, Mĩ can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiếntranh Đông Dương, gánh 70% chiến phí, thúc ép Pháp phải kéo dài và mở rộngchiến tranh
Để tìm lối thoát, thực dân Pháp đã tranh thủ viện trợ của Mĩ để đẩy mạnhchiến tranh cố tìm một thắng lợi quân sự để "rút lui trong danh dự”
Ngày 07/5/1953, với sự thỏa thuận của Mĩ, Chính phủ Pháp cử TướngNava sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương và thôngqua Kế hoạch Nava với hy vọng sẽ “chuyển bại thành thắng” trong vòng 18
tháng.
Âm mưu, kế hoạch Nava:
- Sau 8 năm xâm lược VN, Pháp thiệt hại ngày càng lớn, bị loại khỏivòng chiến đấu hơn 39 vạn quân, tốn hơn 2.000 tỉ phrăng, vùng chiếmđóng bị thu hẹp, ngày càng lâm vào thế phòng ngự, bị động
- Trước sự sa lầy của Pháp,Mỹ can thiệp sâu vào chiến tranh ĐôngDương, ép Pháp phải kéo dài, mở rộng chiến tranh, tích cực chuẩn bị thaythế Pháp
- Ngày 07/05/1953,với sự thỏa thuận của Mỹ, Pháp cử Na-va làm Tổngchỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, đề ra kế hoạch trong 18 tháng sẽ giànhthắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”
2 Kế hoạch Na-va chia thành hai bước:
- Bước một: thu - đông 1953 và xuân 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược
ở miền Bắc, tiến công chiến lược để bình định miền Trung và Nam, giànhnhân lực, vật lực, thanh toán Liên khu V, đồng thời mở rộng ngụy quân,xây dựng đội quân cơ động mạnh
- Bước hai: từ thu - đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường miềnBắc, thực hiện tiến công chiến lược, cố giành thắng lợi quyết định, buộc ta
Trang 8đàm phán theo điều kiện có lợi cho Pháp và “kết thúc chiến tranh trongdanh dự”.
- Thực hiện: Nava tập trung ở đồng bằng Bắc bộ 44 tiểu đoàn cơ
động (trong tổng số 84 tiểu đoàn ở Đông Dương), tiến hành càn quét, mởcuộc tiến công lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa., để phá kế hoạch tiến côngcủa ta
II CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG - XUÂN 1953 - 1954 VÀCHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954
1 Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954
a Chủ trương, kế hoạch quân sự Đông - Xuân 1953 – 1954 của ta
Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn kế hoạch quân sự trong Đông Xuân
1953 - 1954
Nhiệm vụ: tiêu diệt địch là chính
Phương hướng chiến lược: Tập trung lực lượng mở những cuộc tiếncông vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu,nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, buộc chúng phải phân tánlực lượng, tạo điều kiện thuận lợi để ta tiêu diệt địch
b Diễn biến: Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của ta đãbước đầu làm phá sản kế hoạch Nava
- Nava tập trung ở đồng bằng Bắc bộ 44 tiểu đoàn cơ động- tập trungquân thứ nhất
- Ngày 10/12/1953, chủ lực ta tiến công Lai Châu, giải phóng toàn bộ thị
xã (trừ Điện Biên) Na-va buộc phải đưa 6 tiểu đoàn cơ động tăng cườngĐiện Biên Phủ Điện Biên Phủ thành nơi tập trung quân thứ hai của Pháp
- -Tháng 12/1953, liên quân Lào - Việt tiến công Trung Lào, giải phóngThà Khẹt, uy hiếp Xa-van-na-khet và Xê-nô Na-va buộc phải tăng việncho Xê-nô Xê-nô trở thành nơi tập trung quân thứ ba của Pháp
- Tháng 01/1954, liên quân Lào - Việt tiến công Thượng Lào, giải phónglưu vực sông Nậm Hu và toàn tỉnh Phong Xa-lì Na-va đưa quân từ đồng
Trang 9bằng Bắc Bộ tăng cường cho Luông bang và Mường Sài Luông bang và Mường Sài thành nơi tập trung quân thứ tư của Pháp.
Pha Tháng 02/1954, ta tiến công Bắc Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum, uyhiệp Plây-cu Pháp buộc phải tăng cường lực lượng cho Plây Cu và Plây
cu trở thành nơi tập trung quân thứ năm
- Phối hợp với mặt trận chính, ở vùng sau lưng địch, phong trào du kíchphát triển mạnh ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bình - Trị - Thiên, đồng bằngBắc Bộ…
(Hình ảnh: bản đồ chiến dịch thu đông 1953-1954)
c Ýnghĩa
Trang 10- Kế hoạch Nava bước đầu phá sản, Pháp bị phân tán làm 5 nơi.
- Chuẩn bị về vật chất và tinh thần cho ta mở cuộc tiến công quyết địnhvào Điện Biên Phủ
2 Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954
a Âm mưu của Pháp, Mỹ
Điện Biên Phủ là thung lũng rộng lớn ở phía tây rừng núi Tây Bắc, gần biêngiới Lào
- Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược then chốt ở Đông Dương và ĐôngNam Á nên Pháp cố nắm giữ
- Nava xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhấtĐông Dương, gồm 16.200 quân, đủ loại binh chủng, được bố trí thành baphân khu với 49 cứ điểm
Phân khu Bắc gồm các cứ điểm Độc Lập, Bản Kéo
Phân khu Trung tâm Mường Thanh, nơi đặt cơ quan chỉ huy, tậptrung 2/3 lực lượng, có sân bay và hệ thống pháo binh
Phân khu Nam Hồng Cúm, có trận địa pháo, sân bay
- Pháp và Mỹ coi Điện Biên Phủ là “một pháo đài bất khả xâm phạm”,trung tâm của kế hoạch Nava
b Chủ trương của ta
- Tháng 12/1953, Đảng quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ nhằmtiêu diệt lực lượng địch, giải phóng Tây Bắc, tạo điều kiện cho Lào giảiphóng Bắc Lào
- Ta huy động một lực lượng lớn chuẩn bị cho chiến dịch, khoảng 55.000quân, hàng chục ngàn tấn vũ khí, đạn dược; lương thực, cùng nhiều ô tôvận tải, thuyền bè… chuyển ra mặt trận
- Đầu tháng 3/1954 công tác chuẩn bị hoàn tất, ngày 13/3/1954 ta nổ súngtấn công
Trang 11c Diễn biến
Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra qua 3 đợt
Đợt 1, từ ngày 13/03 đến 17/03/1954: Ta tiến công tiêu diệt các căn cứ Him
Lam và toàn bộ phân khu Bắc, loại khỏi vòng chiến 2.000 địch
Đợt 2, từ ngày 30/03 đến 26/04/1954:
- Ta đồng loạt tiến công phía đông khu Trung tâm Mường Thanh như E1,D1, C1, C2, A1 …,chiếm phần lớn các căn cứ của địch, tạo điều kiện baovây, chia cắt, khống chế địch
- Mỹ khẩn cấp viện trợ cho Pháp và đe dọa ném bom nguyên tử ở ĐiệnBiên Phủ
- Ta khắc phục khó khăn về tiếp tế, quyết tâm giành thắng lợi
Đợt 3, từ ngày 01/05 đến 07/05/1954:
- Ta tiến công khu Trung tâm Mường Thanh và phân khu Nam, tiêu diệtcác căn cứ còn lại của địch
- Chiều 7/5, ta đánh vào sở chỉ huy địch
- 17 giờ 30 ngày 07/05/1954, Tướng Đơ Ca-xtơ-ri cùng toàn bộ Ban thammưu địch đầu hàng và bị bắt sống
- Các chiến trường toàn quốc đã phối hợp chặt chẽ nhằm phân tán, tiêuhao, kìm chân địch, tạo điều kiện cho Điện Biên Phủ giành thắng lợi
- Đập tan kế hoạch Nava
Trang 12(Hình ảnh: Lược đồ chiến dịch Điện biên Phủ)
Trang 13- Đông xuân 1953 -1954, cùng với cuộc tiến công quân sự, ta đẩy mạnhđấu tranh ngoại giao.
- Tháng 1/1954, Hội nghị Ngoại trưởng Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp ở lin thỏa thuận triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ giải quyết vấn đề Triều Tiên vàlập lại hòa bình ở Đông Dương
Béc Ngày 26/4/1954, hội nghị GiơBéc neBéc vơ về Đông Dương khai mạc
- 08/05/1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ bắt đầu bàn về vấn đề lập lại hòa bình ởĐông Dương Phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoànđược chính thức mời họp
- Cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị diễn ra gay gắt do lập trường thiếuthiện chí và ngoan cố của Pháp - Mỹ Lập trường ta là giải quyết vấn đềquân sự và chính trị cho ba nước Đông Dương trên cơ sở độc lập, chủquyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
- Căn cứ vào điều kiện cụ thể của cuộc kháng chiến cũng như so sánh lựclượng giữa ta và Pháp và xu thế giải quyết tranh chấp bằng thương lượng,Việt Nam đã ký Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 21/07/1954
- Miền Bắc hòan tòan giải phóng, chuyển sang cách mạng xã hội chủnghĩa
Các bên tham chiến ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn ĐôngDương
Thực hiện di chuyển, tập kết quân đội ở hai vùng:
Trang 14* Ở Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 (dọc theo sông Bến Hải - Quảng Trị) làm giớituyến quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến.
* Ở Lào, tập kết ở Sầm Nưa và Phong Xa- lì
* Ở Cam-pu-chia, lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ, không có vùng tậpkết
- Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào ĐôngDương, không được đặt căn cứ quân sự ở Đông Dương Các nước ĐôngDương không được tham gia liên minh quân sự và không để cho nướckhác dùng lãnh thổ vào việc gây chiến tranh hoặc xâm lược
- Việt Nam sẽ tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước vào tháng07/1956 dưới sự kiểm soát của một Ủy ban quốc tế do Ấn Độ làm Chủtịch
- Trách nhiệm thi hành Hiệp định thuộc về những người ký Hiệp định vànhững người kế tục họ
Ý nghĩa
- Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương là văn bản pháp lý quốc tếghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Đông Dương và đượccác cường quốc, các nước tham dự Hội nghị tôn trọng
- Đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, song chưa trọnvẹn vì mới giải phóng được miền Bắc Cuộc đấu tranh cách mạng vẫnphải tiếp tục để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
- Pháp buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút quân đội về nước
- Mỹ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng, quốc tế hóa chiến tranhxâm lược Đông Dương
IV Ý NGHĨA LỊCH SỬ, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI CỦA CUỘCKHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
1 Nguyên nhân thắng lợi
Trang 15- Do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,với đường lối chính trị, quân sự và đường lối kháng chiến đúng đắn, sángtạo.
- Toàn dân, toàn quân ta đoàn kết dũng cảm trong chiến đấu, lao động,sản xuất
- Có hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, có mặt trậndân tộc thống nhất, có lực lượng vũ trang sớm xây dựng và không ngừnglớn mạnh
- Có hậu phương rộng lớn, vững chắc về mọi mặt
- Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung
- Sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nướcdân chủ nhân dân khác, của nhân dân Pháp và loài người tiến bộ
* Nguyên nhân quan trọng hơn cả:
- Do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh,với đường lối chính trị, quân sự và đường lối kháng chiến đúng đắn, sángtạo
- Đảng lãnh đạo là nguyên nhân chi phối các nguyên nhân khác …
- Nếu không có Đảng lãnh đạo tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc vàcủa thời đại Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợicủa cách mạng Việt Nam
Trang 16- Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, nô dịch của chủ nghĩa đếquốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giảiphóng dân tộc trên thế giới ở Á, Phi, Mỹ La- tinh
- Cổ vũ các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng mình
CÂU 3:
TẠI SAO NÓI NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 15 (1/1959) ĐÃ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẤP BÁCH CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM LÚC BẤY GIỜ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA GIAI ĐOẠN 1958-1960.
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA CM VIỆT NAM SAU 7/1954
Ngay sau khi Hiệp định Giơ ne vơ 1954 được kí kết, Mĩ liền thay thế Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình DIệm ở miền Nam, thực hiện âm mưu chia cắtViệt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ
ở Đông Dương và Đông Nam Á
• Tháng 9/1954 Mĩ ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối SEATO và giúp đỡ Diệm thực hiện ý đồ của mình
• Đưa được tay sai lên nắm chính quyền ở miền Nam Việt Nam, gạt hết quân Pháp và tay sai của chúng ra khỏi miền Nam, Mĩ đã thực hiện đượcbước đầu ý đồ độc chiếm miền Nam Việt Nam
• Chính quyền Ngô Đình DIệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mĩ,
ra sức phá hoại Hiệp định Giơ ne vơ Diệm tuyên bố “không có hiệp thương tổng tuyển cử, chúng ta không kí hiệp định Giơ ne vơ, bất cứ phương diện nào chúng ta không bị ràng buộc vào hiệp định đó” Bằng một loạt hành động trái với Hiệp định, như bày trò “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại rồi suy tôn Ngô Đình Diệm làm tổng thống (10/1955),
tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (5/1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” (10/1956), Diệm đã trắng trợn
từ chối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam
Cuối năm 1954, chúng thành lập “phong trào cách mạng quốc gia” và đưa ra mục tiêu: “chống cộng, đả thực, bài phong”
Trang 17• Sau khi đứng vững ở miền Nam, Diệm bắt đầu đẩy mạnh chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”; vây bắt, tàn sát, tù đày những người kháng chiến cũ, những người đấu tranh đòi tuyển cử thống nhất đất nước và cả những người không phục tùng chúng với phương châm “tiêu diệt cộng sản không thương tiếc”, “thà giết lầm còn hơn bỏ sót”… nhằm làm nhụt ý chí đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam.
• Chính quyền Diệm còn thực hiện chương trình cải cách điền địa nhằm lấy lại ruộng đất mà cách mạng đã giao cho nhân dân, lập ra các khu dinh điền, khu trù mật để kìm kẹp nhân dân
• Chính quyền Ngô Đình Diệm còn gây nhiều tội ác đối với nhân dân:Ngày 04/9/1954, chúng tàn sát nhân dân ở Chợ Được – Quảng Nam làm
39 người chết, 37 người bị thương
Ngày 21/01/1955, chúng trả thù những người kháng chiến cũ ở Vĩnh Trinh (Quảng Nam)
Ngày 01/12/1958, chúng đầu độc 6000 người yêu nước ở nhà tù Phú Lợi, làm hơn 1000 người chết
Nghiêm trọng hơn, Diệm ra sắc lệnh “đặt cộng sản ngoài vòng pháp
luật” và tháng 5/1959, ra đạo luật 10/59, lê máy chém khắp miền Nam giết hại những người vô tội.
Cùng với sự giúp đỡ dưới hình thức “viện trợ” quân sự, chính trị, kinh tế, miền Nam Việt Nam được xây dựng thành căn cứ quân sự, thành cơ sở kinh tế thực dân kiểu mới của Mĩ Tất cả việc làm trên của Mĩ – Diệm không ngoài mục đích tách hẳn một phần lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để lập ra một quốc gia riêng biệt, thậm chí là một phần lãnh thổ của Mĩ Tháng 5/1957, Ngô Đình Diệm tuyên bố tại Oasinhton “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”
Nhân dân miền Nam đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 – 1959)
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ mới cho cách mạng miền Nam là: chuyển từ cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp sang cuộc đấu tranh chính trị chống Mĩ – Diệm đòi chúng thi hành Hiệp định
để củng cố hòa bình, giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng
Dưới sự chỉ đạo đó, tháng 8 năm 1954, phong trào hòa bình của tri thức
và các tầng lớp nhân dân ra đời ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã tổ chức nhiều cuộc Mittinh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, hiệp thương tổng tuyển cử…, nhưng đã bị chính quyền Diệm đàn áp và khủng bố
Trang 18Tiếp sau đó, phong trào chống “trưng cầu dân ý”, chống bầu cử quốc hội, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước, chống khủng bố, đàn áp, chống chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, đòi quyền tự
do dân chủ… lại tiếp tục dâng cao và lan rộng từ thành thị đến nông thôn
Các cuộc đấu tranh chính trị hòa bình của ta đã bị chính sách khủng bố
và tàn sát dã man của Diệm dìm trong bể máu, lực lượng cách mạng tổn thất nặng nề: nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt bớ, giam cầm và giết hại Nhưng cũng chính sự tàn bạo đó của Diệm đã làm cho tinh thần cách mạng của quần chúng ngày càng dâng cao
2 Tại sao nói nghị quyết trung ương 15 đã đáp ứng yêu cầu cấp bách của cách mạng Miền Nam lúc bấy giờ?
Từ sau năm 1954, cách mạng miền Nam gặp vô vàn khó khăn, tổn thất, tưởng chừng như không thể gượng dậy được Trong bối cảnh đó, nghị quyết Trung ương lần thứ 15 của Đảng ra đời (1/1959) như ngọn đuốc soi
đường, giúp cho cách mạng miền Nam vượt qua được “cơn hiểm
nghèo” và có bước tiến lớn trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Có thể nói nghị quyết Trung ương lần thứ 15 ra đời trong “bão táp”
Sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương 1954), quân và dân ta nghiêm chỉnh thi hành các điều khoản của Hiệp định Trái lại, cả Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm tìm mọi cách phá bỏ Hiệp định,
(20-7-cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử, đàn áp đẫm máu những người cộng sản, cán bộ kháng chiến và người dân yêu nước sử dụng đấu tranh chính trị, đòi dânsinh, dân chủ, hòa bình
Mặc dù bị chính quyền Ngô Đình Diệm thẳng tay khủng bố, song cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước ở Miền Nam cơ bản vẫn nghiêm túc chấp hành chủ trương đấu tranh và sự chỉ đạo của Đảng, không manh động Điều đó chứng tỏ đảng viên và quần chúng vẫn tin tưởng và chờ đợi một sự thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ về chủ trương, phương pháp đấu tranh của Đảng đối với kẻ thù
Chính sách độc tài phát xít của Mỹ – Diệm làm cho phong trào cách mạng bị thiệt hại nặng nề Chậm nổi dậy đấu tranh ngày nào, cách mạng sẽ bị thiệt hại
thêm ngày đó Phong trào cách mạng ở miền Nam đang trong cảnh “nước sôi lửa bỏng”, không thể chờ đợi hơn được nữa Yêu cầu lịch sử đặt ra, Đảng phải
Trang 19nhanh chóng tìm ra một con đường, một phương pháp đấu tranh mới phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của cách mạng miền Nam, đưa cách mạng miền Nam qua cơn hiểm nghèo Trong những tháng ngày phong ba bão táp đó, bản nghị quyết Trung ương lần thứ 15 của Đảng ra đời (1/1959) như ánh mặt trời soi chiếu cho cách mạng miền Nam.
Nội dung cơ bản
Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (1/1959) có những nội dung cơ bản sau:
Về tính chất của xã hội miền Nam: Là thuộc địa nửa phong kiến dưới sự thống
trị của tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm
Về mâu thuẫn trong xã hội miền Nam: Có 2 mâu thuẫn cơ bản, đó là mâu thuẫn
giữa nhân dân ta ở miền Nam và bọn đế quốc xâm lược, chủ yếu là đế quốc Mỹ
và mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam, trước hết là nông dân, và giai cấp địa chủ phong kiến Trong đó mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc ta, nhân dân ta ở miền Nam và bọn đế quốc xâm lược Mỹ cùng tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm
Về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam ở miền Nam như sau:
– Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
– Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc
Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ
sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới
Về phương hướng phát triển của cách mạng ở miền Nam là khởi nghĩa giành
chính quyền về tay nhân dân
Về phương pháp đấu tranh của cách mạng miền Nam là: Lấy sức mạnh của
quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân
Về yêu cầu đặt ra với cách mạng miền Nam: Cần phải có một quá trình đấu
Trang 20tranh lâu dài và gian khổ, phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, thì mới có thể có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi cuối cùng.
Nghị quyết 15 ra đời đã đáp ứng đúng đòi hỏi của tình hình và nguyện vọng của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển đi lên của cách mạng Miền Nam là phải dùng bạo lực cách mạng, phải chuyển hướng sang đấu tranh vũ trang, để đưa phong trào vượt thoát khỏi tình thế hiểm nghèo Đây là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu sự chuyển biến về tư tưởng chỉ đạo đấu tranh cách mạng ở cấp lãnh đạo cao nhất, sự chuyển hướng mạnh mẽ về hình thức và phương pháp đấu tranh Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 là một minh chứng điển hình thành công trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh cách mạng ở Miền Nam nói riêng và cách mạng Việt Nam nói chung
Như vậy, có thể thấy rằng Nghị quyết 15 ra đời là vô cùng cần thiết, đáp ứng đúng đòi hỏi của tình thế cách mạng, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam ở Miền Nam, khi tình thế đã đầy đủ và chín muồi, giải tỏanỗi bức xúc bị kìm nén và nguyện vọng tha thiết của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Miền Nam Nghị quyết 15 như ngọn đuốc soi sáng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam ở Miền Nam, là cơ sở trực tiếp cho phong trào Đồng khởi
nổ ra và giành thắng lợi
Nghị quyết 15 còn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ đấu tranh cách mạng giải phóng Miền Nam, đánh đổ sự thống trị của Mỹ-Diệm, với nhiệm vụ xây dựng, củng cố bảo vệ Miền Bắc, hậu phương lớn và trực tiếp của cách mạng Miền Nam Đồng thời, Nghị quyết 15 cũng góp phần xác định và giải quyết tốt mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng, đấu tranh bảo vệ hòa bình, giải phóng dân tộc trên thế giới
Tóm lại, với tất cả những giá trị và ý nghĩa của nhóm mình, nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (1/1959) đã đáp ứng yêu cầu cấp bách của Cách Mạng Miền Nam lúc bấy giờ, xứng đáng là một trong số những nghị quyết
Trang 21quan trọng nhất của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
3 Phong trào Đồng Khởi 1959-1960
Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 15 xác định: con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân
Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của nghị quyết 15 như một ngọn gió thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng; phong trào Đồng Khởi bùng lên khắp miền Nam
Diễn biến
Đồng khởi Bến Tre
Đêm 2 tháng 1 năm 1960, ban lãnh đạo tỉnh Bến Tre họp tại xã Tân Trung,
quyết định: "phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi, diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, giải phóng nông thôn, làm chủ ruộng vườn" và quyết định khởi nghĩa
thống nhất từ 17/1 đến 25/1 Điểm đột phá tại cù lao Minh (gồm 3 huyện Minh Tân, Mỏ Cày, Thạnh Phú), điểm chính ở Mỏ Cày
17/01/1960 theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra đúng như dự kiến tại
ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre) và kiểm soát hoàn toàn các xã sau 2 ngày Trung đội quân giải phóng đầu tiên của Bến Tre thành lập tại vườn dừa, xã Bình Khánh
Sau đó, phong trào chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở các xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ dưới sự lãnh đạo của nữ
tướng Nguyễn Thị Định
Từ thắng lợi trên, trong vòng một tuần (17 đến 24 tháng 1), 47 xã ở Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú nổi dậy Lực lượng nổi dậy làm chủ nhiều ấp, trong đó hoàn toàn làm chủ 22 xã
Trước phong trào, chính quyền Việt Nam Cộng hòa phản kích lại Ngày 22 tháng 2, 1 đại đội từ Mỏ Cày tiến vào Phước Hiệp Ngày 24 tháng 2, huy động 3.000 quân đánh vào 3 xã "điểm" (Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp) Quândân ba xã đã dùng các vũ khí thô sơ phản kích, điển hình là súng ngựa trời Cuộc tấn công thất bại Từ Bến Tre, phong trào Đồng Khởi lan khắp miền Nam, làm lung lay chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại các cấp địa phương
Từ những tháng lợi trên, Xứ ủy Nam Bộ Đảng Lao động Việt Nam đề nghị Trung ương Đảng nâng đấu tranh vũ trang lên ngang với đấu tranh Chính trị
Trang 22Ngày 25/3/1960, hơn 10.000 quân hỗn hợp thủy-bộ-biệt kích-dù tiến vào vây quét các xã "điểm" ở huyện Mỏ Cày Trước tình hình trên, lãnh đạo Bến Tre quyết định dùng biện pháp chính trị, phát động quần chúng, đặc biệt là phụ nữ.
Tháng 3/1960, hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm biểu tình đòi các đơn vị quân chủlực của chính phủ đang càn quét phải rút về vị trí cũ
Tháng 6/1960, các chi bộ của những người cộng sản quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ
Ngày 24/ 9/1960, những người cộng sản ở Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi lần hai Bấy giờ, phong trào không chỉ diễn ra ở những nơi họ nghĩ là có thể thắng thế mà còn dám phát động ngay cả ở những vùng yếu khác.[1]
Tây Nam Bộ
Cùng thời gian với Bến Tre, tỉnh Kiến Phong cũng nổi dậy Các đại đội 272,
274 đã có các trận đánh tiêu diệt và làm bị thương 25 lính, chiếm trụ sở xã, thu súng và làm chủ xã Mỹ Hòa Đến ngày 20 tháng 1 năm 1960 thì tỉnh Kiến Phong đã tiêu diệt, làm bị thương 165, bắt 40, giáo dục cải tạo 40 binh lính QLVNCH Một số địa điểm tiêu biểu
• Trong khi chính quyền địa phương đang lo đối phó với Mỹ Hòa thì huyện Hồng Ngự nổi dậy Bắt đầu từ ba xã "điểm" Tân Thành, Thường Thới, Thường Phước Đại đội 271 diệt đồn Cả Cái, giải phóng Tân Thành
• Tại Cao Lãnh, lực lượng vũ trang xã Bình Thạnh bức rút đồn Bà Cò, làm chủ 1 ấp (thuộc xã Đốc Bình Kiều)
• Từ ngày 6 tháng 3 năm 1960, phong trào càng lan rộng ra các tỉnh:
• Tại Cà Mau, tiểu đoàn Ngô Văn Sở phục kích đánh bại, tiêu diệt và bắt sống 150 lính, thu 133 súng, giải phóng nhiều xã
• Tại Sóc Trăng, sáu tháng đầu năm 1960, các vùng nông thôn các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Gia Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lộc với hàng chục vạn dân do những người giải phóng làm chủ
Trang 23Lực lượng giải phóng gồm gần 1 tiểu đoàn và một số đoàn quân giáo phái tấn công ngày 26 tháng 1 năm 1960 QLVNCH thiệt hại 500 binh sĩ, 500 bị bắt sống Lực lượng Đồng Khởi thu 1500 súng các loại.
Trận Tua Hai mở đầu cho cuộc đồng khởi ở Đông Nam Bộ Sau Tua Hai, lực lượng giải phóng Tây Ninh gỡ 50% đồn bốt, giải phóng 24 xã và làm chủ nhiều phần tại 19 xã khác
Ngày 16 tháng 3 năm 1961, lực lượng Tiểu đoàn 800 quân Giải
phóng Đông Nam Bộ tấn công Chi khu quân sự Hiếu Liêm, hôm sau tấn công bốt An Lạc, hỗ trợ dân chúng các nơi nổi dậy
Bên cạnh các hoạt động quân sự, các phong trào chính trị tại đây cũng tăng cao, điểm hình là các cuộc biểu tình thị uy của công nhân đồn điền cao
su các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa,Thủ Dầu Một vào cuối năm 1960 Đoàn biểu tình phá hủy các trụ sở, bốt gác của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa
Liên khu V
Do phần lớn lực lượng quân sự đã tập kết ra Bắc, lực lượng hoạt động chính trị ở các tỉnh miền trung - Tây Nguyên bị cô lập khá nhiều Trong đạoluật Tố Cộng - Diệt Cộng, phần lớn lực lượng Việt Minh còn lại ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và nhiều lực lượng ở Tây Nguyên bị chính quyền giết hại Việt Minh gần như bị xóa sổ, buộc phải tự thành lập các lực lượng vũ trang nhỏ lẻ để tự vệ
Những cuộc nổi dậy tự phát đầu tiên của nông dân người dân tộc thiểu số:
Ba Na, Chăm, Răgklay Đến cuộc khởi nghĩa lớn nhất ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) phát động phong trào Đồng Khởi trên toàn miền nam Các tỉnh QK5
thành lập liên tiếp những lực lượng vũ trang Sau Nghị quyết trung ương
15, Bộ Chỉ huy quân sự QK5 thành lập do Võ Chí Công đứng đầu Bộ Chỉ
huy này hoạt động bằng những chỉ thị trực tiếp từ miền bắc và đón cán bộ vào
Ngày 31/7/1960, lực lượng vũ trang tỉnh Bình Thuận giành quyền làm chủ
ở một số khu vực giáp ranh giữa đồng bằng và rừng núi, tấn công Bắc Ruộng và quận lỵ Hoài Đức Tiêu diệt, bắt sống 300 binh sĩ Đây là trận mởmàn, trên thực tế có rất nhiều trận tấn công ở miền núi và đồng bằng Qua các trận đánh, lực lượng tiêu hao nhanh chóng được bổ sung bằng quân số mới gia nhập, đồng thời thành lập liên tiếp các đơn vị võ trang ở từng tỉnh
Để trả đũa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa dồn quân càn quét những lực lượng Giải phóng tại từng tỉnh Đồng thời uy hiếp, khủng bố tinh thần người dân, giết hại dã man những người đứng đầu các cuộc Đồng Khởi ở
Trang 24địa phương Trên Tây Nguyên là địa bàn ít dân, QLVNCH lập nhiều đồn bót nhằm cô lập QGPMN với các bản làng người dân tộc thiểu số Tuy nhiên VNCh cũng chỉ kiểm soát được các đô thị và những nơi đông dân, không giữ nổi những buôn làng đã được MTDTGPMN kiểm soát.
Đến cuối năm 1960, ta đã giải phóng được 600/1298 xã ở Nam bộ,
904/3829 thôn ở Trung bộ, 3200/5721 thôn ở Tây Nguyên
Ý nghĩa
*Đối với Mỹ Diệm
– Giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mỹ
– Làm lung lay tận gốc chế độ tay sai Ngô đình Diệm
Mở rộng : Vì sao nói : phong trào “đồng khởi” (1959 – 1960) được coi là mốc đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam ?
+“đồng Khởi” thắng lợi đã làm lung lay tận gốc chế độ Mĩ – Diệm ở miền Nam nước ta và là thắng lợi có ý nghĩa quyết định của công nhân miền Nam trong việc đánh bại chiến lược “Chiến tranh một phía” của Mĩ và tay sai
+Thắng lợi của phong trào “đồng Khởi” đã làm cho lực lượng vũ trang cáchmạng miền Nam xuất hiện Hai lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều lớn mạnh
+Vùng giải phóng ở miền Nam nước ta ra đời Hàng ngàn xã, thôn, ấp ở miền Nam được giải phóng Nhân dân đã giành quyền làm chủ ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, trực tiếp lãnh đạo thống nhất phong trào cách mạng miền Nam
+Cách mạng miền Nam đi từ thế giữ gìn, bảo vệ lực lượng và cơ sở cách mạng sang thời kỳ tiến công để đánh đổ chế độ thống trị của Mĩ – Diệm, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước
+Với tất cả những điểm đó, cuộc “đồng khởi” (1959 – 1960) được coi là mốc đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam nước ta
Trang 25“Việt Nam hóa chiến tranh” hay “Đông Dương hóa chiến tranh” là chiến
lược của Chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Richard Nixon trong Chiến tranh Việt Nam, được bắt đầu từ năm 1968, áp dụng toàn diện trên toàn Đông Dương từ ngày 8 tháng 6 1969 nhằm từng bước chuyển trách nhiệm tiến hành chiến tranh cho chính quyền và quân đội Sài Gòn để Mỹ có thể rút dần quân về nước nhưng vẫn giữ được miền Nam Việt Nam và cả bán đảo Đông Dương trongtầm ảnh hưởng của Mỹ
1.1 Hoàn cảnh ra đời:
Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, thất bại này đã tác động sâu sắc đến tình hình chính trị nước Mỹ Người dân Mỹ thúc ép Chính phủ sớm kết thúc chiến tranh để đưa quân Mỹ trở về nước Vì vậy, tổng thống Nixon đề ra chiến lược “Việt Nam hóa” và “Đông Dương hóa” chiến tranh để củng cố thêm niềm tincủa nhân dân Mỹ và gỡ lại màn thua trong trận chiến trước
1.2 Nội dung:
Việt Nam hóa chiến tranh thực hiện song song với rút quân đội Mỹ, thương lượng
ở Paris (Pháp), chia rẽ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước xã hội chủ nghĩa, là một chiến lược nhằm giành thắng lợi với giá chấp nhận được
Ngày 18 tháng 2 năm 1970, Nixon công bố nội dung chính sách Việt Nam hóa chiến tranh là một chương trình 3 giai đoạn:
• Giai đoạn 1: Từng bước chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho quânđội Sài Gòn, rút dần quân chiến đấu trên bộ của Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam
• Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho quân lực Việt Nam Cộng hòa, trang bị cho quân lực Việt Nam Cộng hòa đủ sức đương đầu
Trang 26với lực lượng quân Giải phóng, giữ vững được Nam Việt
Nam và Đông Dương trong quỹ đạo của Mỹ
• Giai đoạn 3: Hoàn tất những mục tiêu của Việt Nam hóa chiến tranh Củng
cố kết quả đã đạt được, quân Giải phóng sẽ suy yếu đến mức không thể tiếp tục chiến đấu và chiến tranh sẽ kết thúc, 2 miền Việt Nam sẽ trở thành 2 quốc gia riêng biệt
Trong ba giai đoạn đó, theo Mỹ, giai đoạn 1 (dự kiến thực hiện từ năm 1969 đến giữa năm 1972) là giai đoạn quan trọng nhất được chia làm ba bước để thực
hiện:
• Bước 1 (từ năm 1969 đến giữa năm 1970): Bình định một số vùng đông
dân quan trọng Xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở cách mạng ở vùng quân Giải phóng kiểm soát Rút một số đơn vị chiến đấu của Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam Khống chế và đẩy lùi quân Giải phóng, làm cho quân Giải phóng không hoạt động được ở quy mô từ đại đội trở lên
• Bước 2 (từ giữa những năm 1970 đến giữa năm 1971): Bình định được tất
cả các vùng đông dân quan trọng Làm cho quân Giải phóng bị phân tán nhỏ, không hoạt động được từ cấp đại đội trở lên ở những vùng căn cứ Hoàn thành kế hoạch hiện đại hóa quân lực Việt Nam Cộng hòa, rút phần lớn quân Mỹ về nước
• Bước 3 (từ giữa năm 1971 đến giữa năm 1972): Cơ bản bình định xong
cả miền Nam Lực lượng vũ trang quân Giải phóng không còn hoạt động được ở các vùng căn cứ trên biên giới Lào, Campuchia, quân lực Việt NamCộng hòa đủ sức đương đầu với khối chủ lực Việt Nam Dân chủ Cộnghòa Rút hết lực lượng chiến đấu trên bộ của Mỹ về nước, chỉ duy trì cố
vấn quân sự và sĩ quan chỉ huy tác chiến
1.3 Âm mưu và thủ đoạn của Mỹ:
• Âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt” để giảm xương máu người
Mỹ trên chiến trường
• Mở rộng xâm lược Lào và Campuchia, thực hiện âm mưu “Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”.
• Mỹ tăng viện trợ giúp quân số ngụy tăng lên 1 triệu người cùng với trang thiết bị hiện đại để quân ngụy tự gánh vác được chiến tranh
Trang 27• Lợi dụng mâu thuẫn Trung – Xô, thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, đế quốc Mỹ đề ra năm biện pháp cụ thể:
• Xây dựng quân lực Việt Nam Cộng hòa thành một lực lượng mạnh, hiện đại, đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang quân Giải phóng
• Củng cố chính quyền các cấp của Việt Nam Cộng hòa, tăng cường viện trợ kinh tế
• Tập trung sức hoàn thành chương trình bình định, phản kích ra ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam (sang Lào và Campuchia)
• Tập hợp liên minh chống Cộng khu vực do quân đội và chính quyền Sài Gòn làm nòng cốt
• Chặn đứng các nguồn tiếp tế chi viện cho quân Giải phóng miền Nam, xúc tiến hoạt động ngoại giao để kiềm chế, cô lập, đẩy lùi cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam
Chiến dịch Phượng Hoàng (1968-1975)
Là chiến dịch tình báo, ám sát bí mật trong Chiến tranh Việt Nam được tiến hành bởi Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa (CIO) với sự phối hợp của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA).[1]Chương trình này được hoạch định với mục đích phát hiện và "vô hiệu hóa" – bắt giam, chiêu hàng, giết, hoặc kiềm chế – các cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTGP) nằm vùng, những người tuyển dụng và đào tạo cơ sở cộng sản tại các xã ấp Miền Nam Việt Nam, cũng đồng thời là những người hỗ trợ các nỗ lực đấu tranh vũ trang
2. CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” VÀ “ĐÔNG DƯƠNG HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ
Nhân dân ta chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là chống lại cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương Ta vừa chiến đấu chống địch trên chiến trường, vừa đấu tranh với địch trên bàn đàm phán
Trang 28Ngày 6-6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập Đó là chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam Vừa ra đời, Chính phủ cách mạng lâm thời đã được 23 nước công nhận, trong đó 21 nước đặt quan hệ ngoại giao.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miền đang trên đà thắng lợi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9-1969 Đó là một tổn thất vô cùng to lớn đối với dân tộc ta, đối với cách mạng ta
Trong hai năm 1970-1971, nhân dân ta cùng với nhân dân hai nước Campuchia vàLào đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận quân sựu
và chính trị
Trong những năm đầu, lực lượng cách mạng đã gặp không ít khó khăn và tổn thất
do ta chủ quan trong việc đánh giá âm mưu mới của địch Nhưng những khó khăn
đó đã từng bước được khắc phục; quân dân hai miền Nam – Bắc đã phát huy những thuận lợi, chiến đấu chống địch và đã giành được nhiều thắng lợi trên tất cảcác mặt trận:
2.1 Trên mặt trận chính trị – ngoại giao.
Thắng lợi đầu tiên là sự ra đời của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa MiềnNam Việt Nam (6/6/1969) Đây là chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam,
đã được 23 nước trên thế giới công nhận, trong đó có 21 nước chính thức đặt quan
hệ ngoại giao
Trên khắp các đô thị miền Nam, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân
nổ ra liên tục Đặc biệt là tại Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, phong trào của học sinh, sinh viên diễn ra rất rầm rộ, lôi cuốn đông đảo giới trẻ tham gia
Tại các vùng nông thôn, phong trào “phá ấp chiến lược”, chống “bình định nông
thôn” diễn ra rất quyết liệt Đến đầu năm 1971, cách mạng đã giành quyền làm chủ thêm 3.600 “ấp chiến lược” với hơn 3 triệu dân
2.2 Trên mặt trận quân sự.
a/ Đập tan âm mưu mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia.
Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Mĩ giật dây Lon-non đảo chính Xihanúc và dựng lên chính quyền tay sai của chúng để cắt đứt con đường tiếp viện qua Campuchia của
ta và mở rộng chiến tranh sang Campuchia để truy quét các cơ quan trung ương cách mạng miền Nam
Đồng thời, Mĩ còn mở rộng chiến tranh sang Lào để cô lập cách mạng miền Nam
và cắt đứt con đường tiếp viện chiến lược – đường trường sơn của ta
Trước tình hình đó, ngày 24, 25/4/1970, ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia đãhọp hội nghị cấp cao để biểu thị quyết tâm đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương
Từ 30/4 đến 30/6/1970, quân giải phóng miền Nam đã phối hợp với quân cách
Trang 29mạng Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của hơn 10 vạn quân Mĩ – Ngụy Sài Gòn; loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 quân Mĩ – Ngụy, giải phóng 5 tỉnh Đông Bắc Campuchia, giam chân một lực lượng lớn quân ngụy Sài Gòn ở đây.
Cũng trong thời gian trên, quân tình nguyện của ta đã cùng quân dân Lào đập tan cuộc hành quân lấn chiếm cánh đồng Chum (Xiêng Khoảng) của Mĩ – Ngụy, giải phóng một vùng rộng lớn (A-tô-pô, Saravan, Nam Lào)
Ý nghĩa: - Khẳng định sức mạnh của quân và dân ta
- Khẳng định tinh thần đoàn kết của 3 nước Đông Dương trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước
b/ Đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mĩ – Ngụy.
Đầu năm 1971, Mĩ-Ngụy mở một cuộc hành quân lớn mang tên Lam Sơn 719 nhằm chiếm giữ đường 9 Nam Lào, cắt tuyến chi viện chiến lược của ta trên đường Trường Sơn
Từ 12/2/1971 đến 23/3/1971, quân dân ta đã phối hợp với quân dân Lào đánh bại cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của hơn 450.000 quân Mĩ-ngụy, buộc chúng phải rút khỏi đường 9; giữ vững được tuyến đường chi viện chiến lược của ta
Ở khắp các thành thị, phong trào của các tầng lớp nhân dân nổ ra liên tục Đặc biệt ở Sài Gòn, Đà Nẵng, phong trào học sinh, sinh viên phát triển rầm rộ đã thu hút đông đảo giới trẻ tham gia
Tại khắp các vùng nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven đô thị đều có phong trào cảu quần chúng nổi dậy chống “bình định”, phá “ấp chiến lược” cảu địch Đến đầu năm 1971, cách mạng giành quyền làm chủ thêm 3 600 âp với 3 triệu dân Chính quyền cách mạng cũng đã cấp cho nông dân trên 1,6 triệu héc ta ruộng đất.Chiến dich này bao gồm 4 pha:
Trong pha đầu tiên, quân Mỹ sẽ chiếm vùng sát biên giới và thực hiện các hoạt động nghi binh
Pha 2, đội hình dù phối hợp tăng thiết giáp của VNCH sẽ tấn công dọc theo đường 9 về phía thị trấn Xêpon của Lào
Căn cứ hậu cần 604 của QĐNDVN
Pha 3: các hoạt động tìm diệt tại Xêpon sẽ được thực hiện
Từ những nguồn tin tình báo quan trọng, QĐNDVN sớm có bản kế hoạch chi tiết của cuộc hành quân Lam Sơn 719, tương kế tựu kế ta mở chiến dịch 9 – Nam Lào Binh đoàn 70 đã lệnh cho 3 sư đoàn 304, 308, 320 vào vùng chiến sự ở Nam Lào cùng với các đơn vị tại chỗ của đoàn 559 chuẩn bị đón địch Sư đoàn 2 cũng
Trang 30được lệnh hành quân từ phía Nam tới Xêpon Để đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ, phàn công, các đơn vị chính quy được lệnh chốt chặt và ếm giữ lực lượng để nhữ địch tiến về hướng tây theo kế hoạch.
Năm 2/1971, sau khi đón lỏng địch và chiến dịch đã không còn yếu tố bất ngờ Bộ
tư lệnh mặt trận đường 9-Nam lào chỉ thị các binh đoàn 70 chuyển hướng chiến dịch sang tấn công Ta đại phá bản đông làm thất bại kế hoạch của địch từ trong trứng nước
Phía QĐSG dù biết chắc sẽ thất bại vẫn tiến hành chiến dịch đẫm máu vì những lý
do chính trị như lời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chỉ cần đến Xêpôn rồi rút về
Cuộc hành quân Lam Sơn 719, đã nhanh chống biến thành cuộc tháo chạy chưa từng có với hơn 1 nửa quân số bị thương
Đánh dấu bước phát triển mới về chiến thuật của QĐNDVN, không giống như những chiến tranh trước đó Bỏ chiến thuật cũ và tiến hành tấn công theo kiểu chiến tranh quy ước truyền thống, Lần đầu tiên, mở đợt chiến công lớn bằng bộ binh với yểm trợ thiết giáp, pháo binh hạng nặng đè bẹp các vị trí của QĐSG Sau
52 ngày đêm quân dân ta phối hợp với quân dân nước bạn Lào đã đánh tan cuộc hành quân Lam Sơn 719, giành thắng lợi vang dội trên chiến trường
Ý nghĩa: Làm tiêu tan những đơn vị thiện chiến nhất của quân đội SG và phá tan
sự tự tin được xây dựng trong 3 năm lớn nhất Đây là cuộc hành quân thiệt hại nặng nề nhất đối với QLVNCH Lực lượng tinh nhuệ Biệt động quân và quân dù
đã bị thiệt hại nặng, đây là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Việt Nam
Cộng hòa Một tướng Mỹ sang giám sát tình hình đã nhận xét: "Chiến dịch Lam Sơn đã phá hủy mất phần tinh nhuệ nhất của QLVNCH và trở nên nghiêm trọng, bất lợi hơn nhiều so với điều mà người ta tưởng lúc đó.
Nguyên nhân thất bại của Liên quân Mỹ - VNCH:
Cuộc hành quân không bảo đảm tính bất ngờ chiến lược, đã bị đối phương dự đoán và chuẩn bị từ lâu để chặn đánh
Các căn cứ của QGP là những nơi họ đã lâu năm thông thuộc địa bàn và có bố phòng Vùng Hạ Lào là nơi tập trung rất nhiều binh lực hiện đại của quân Giải phóng, còn mạnh hơn rất nhiều các khu căn cứ khác mà Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn chưa có đủ sức mạnh, kinh nghiệm và bản lĩnh để đương đầu Trong
chiến dịch, QLVNCH đã có những thiếu sót nghiêm trọng "từ việc lập kế hoạch,
tổ chức, lãnh đạo, cho tới tinh thần và kỹ năng chiến đấu".
Khi hoạch định kế hoạch, người ta chú ý nhiều đến khía cạnh phô trương sức mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh được vào "đất thánh Cộng sản" chứ
Trang 31ý nghĩa quân sự thì ít Chính vì để phô trương nên ban đầu khi gặp khó khăn rất lớn đã không chấm dứt chiến dịch mà cố gắng tiến khó nhọc đến Xê-pôn để rồi bị bao vây, phải cố sức mở đường máu quay về với thiệt hại lớn mới thoát dù chỉ cách biên giới vài chục km
Sự phối hợp của quân Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa không tốt Không quân
Mỹ chỉ ném bom B-52 dọn đường theo yêu cầu, còn nhiệm vụ phối hợp hoả lực chiến thuật cho bộ binh tác chiến thực hiện không hiệu quả
Lực lượng máy bay trực thăng vào khu vực đậm đặc phòng không đã chờ sẵn của đường mòn Hồ Chí Minh đã bị thiệt hại quá nặng nên không thể hoàn thành nhiệm vụ
c/ Ta mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972.
Phát huy thắng lợi trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao trong hai năm
1970 – 1971, ta đã quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền
Nam trong năm 1972
Ngày 30/3/1972, quân ta tấn công vào Quảng Trị, Từ đó mở rộng tiến công ra khắp chiến trường miền Nam và kéo dài trong năm 1972
Đến cuối tháng 6-1972, quân ta đã chọc thủng ba phòng tuyến mạnh nhất của địch
là Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 20 vạn quân Sài Gòn, giải phóng những vùng đất đai rộng lớn và đông dân
Trong 3 tháng đầu, quân ta đã loại khỏi vòng chiến hơn 20 vạn quân ngụy, giải phóng một vùng lãnh thổ rộng lớn với hơn 1 triệu dân Sau đòn tấn công bất ngờ của ta, quân ngụy được sự yểm trợ của không quân và hải quân Mĩ đã phản công mạnh, gây cho ta nhiều thiệt hại Đồng thời, Mĩ cũng tiến hành ném bom và bắn phá miền Bắc trở lại
Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 cho thấy, quân ngụy với quân số hơn 1 triệu được trang bị hiện đại vẫn không đủ khả năng để “tự đứng vững” và “tự gánh vác lấy chiến tranh” khi quân viễn chinh Mĩ rút lui
Ý nghĩa: Ta giáng một đòn nặng nề vào chiến lược VNHCT, buộc Mỹ tuyên bố “
Mỹ hoá” trở lại chiến tranh xâm lược, thừa nhận sự thất bại của VNHCT
3. MIỀN BẮC GIAI ĐOẠN 1969-1973
3.1 Khắc phục hậu quả chiến tranh (11/1968 – 4/1972).
• Nông nghiệp: áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật Chính phủ chủ trương khuyến khích sản xuất, chú trọng chăn nuôi, sản xuất, thâm canh tăng vụ (5
Trang 32tấn/ha) Sản lượng nông nghiệp năm 1970 tăng 60 vạn tấn so với năm 1968.
• Công nghiệp: nhanh chóng khôi phục nhiều xí nghiệp Khôi phục và xây dựng, ưu tiên thủy điện Thác Bà (Hòa Bình) (phát điện tháng 10/1971) Giá trị sản lượng 1971 tăng 142% so với 1968
• Giao thông vận tải được khẩn trương khôi phục
• Văn hóa, giáo dục, y tế phát triển đáng kể, đời sống nhân dân được ổn định
3.2 Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại lần 2 (4/1972 – 1/1973).
• 6/4/1972: Mỹ tập kích Khu Bốn (cũ) sau khi quân ta mở cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam (30/3/1927)
• 16/4/1972: Mỹ chính thức thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc lần 2
• Mục đích của Mỹ là muốn cứu nguy cho chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và tạo thế mạnh tại Hội nghị Paris
• 9/5/1972: Mỹ tăng cường mở rộng qui mô, tốc độc và cường độ đánh phá (phong tỏa cảng Hải Phòng, cửa sông, vùng biển miền Bắc) bằng các loại máy bay hiện đại nhất như B.52, F.111
3.3 Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần 2.
• Nhờ được chuẩn bị trước nên quân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất: chuyển mọi hoạt động cho phù hợp với chiến tranh, thực hiện quân
sự hóa toàn dân
• Giao thông vận tải thông suốt
• Duy trì và phát triển các hoạt động của đời sống xã hội
• Đỉnh cao là cuộc tập kích bằng B.52 của Mỹ với hơn 700 phi vụ B.52 rải
10 vạn tấn bom vào Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm (18/12/1972 – 29/12/1972)
• Quân dân ta đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích nàh, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, bắn rơi 81 máy bay (trong đó có 34 máy bay B.52)
• Miền Bắc đã anh dũng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần 2 của Mỹ,bắn rơi 735 máy bay và 125 tàu chjến, đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Parisvào ngày 27/1/1973
• Từ đây, thế và thực của ta đã hơn hẳn địch
3.4 Miền Bắc chi việc cho miền Nam.
• Từ năm 1969 – 1971, tuy miền Bắc gặp khó khăn do chiến tranh để lại nhưng vẫn tăng cường chi viện cho miền Nam
• Cuộc chiến tranh phá hoại lần 2 tuy rất ác liệt nhưng vẫn không ngăn được miền Bắc chi viện cho miền Nam
Trang 33• Từ 1969 – 1971, khối lượng vật chất đưa vào miền Nam tăng 1,6 lần so vớinăm 1966, năm 1972, tăng 1,7 lần so với năm 1971 Năm 1972, 22 vạn thanh niên được đưa vào miền Nam.
• 1969 – 1973: chi viện của miền Bắc cho miền Nam rất lớn trong lúc viện trợ từ bên ngoài cho miền Bắc giảm đáng kể
4. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA HIỆP ĐỊNH PARI NĂM 1973 VỀ VIỆC CHẤM DỨT CHIẾN
TRANH, LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM.
4.1 Hoàn cảnh lịch sử :
• Đầu năm 1967, sau thắng lợi trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 -
1967, ta chủ trương mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao Mục tiêu ngoạigiao trước mắt là đòi Mĩ chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, coi đó là điều kiện để đi đến thương lượng ở bàn hội nghị
• Năm 1968, sau Mậu Thân 1968 và thắng lợi của ta trong chiến tranh phá hoại II, Mỹ phải thương lượng với ta từ 13/5/1968 (Từ 25/1/1969, giữa 4 bên gồm Mỹ + Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa + Mặttrận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam)
• Ngày 8/5/1969, phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã nêu lên giải pháp toàn bộ 10 điểm để làm cơ sở cho việc đàm phán Lúng túng và bị động trước giải pháp hợp tình hợp lý này, Nixon phải đề ra việc rút quân từng bước để xoa dịu dư luận và che đậy việc tiếp tục thực hiện chương trình Việt Nam hóa chiến tranh
• Do bản chất ngoan cố của Mỹ, cuộc đàm pháp kéo dài mấy năm trời
• Ngày 1/7/1971, chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam lại đưa ra giải pháp 7 điểm
• Đến ngày 2/2/1972, phái đoàn Việt Nam nói rõ thêm 2 điểm then chốt, xác định lập trường đúng đắn để giải quyết một cách căn bản và vững chắc vấnđền Việt Nam là :
- Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn chiến tranh xâm lược Việt Nam
- Phải tôn trọng những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, chấm dứt ủng hộ chính quyền Sài Gòn, thành lập chính phủ liên hiệp 3 thành phần bao gồm mọi lực lượng và xu hướng chính trị ở miền Nam
• Những biện pháp nói trên đã được dư luận tiến bộ trên thế giới và cả ở nước Mỹ đồng tình, ủng hộ
• Sau nhiều cuộc tiếp xúc, lập trường hai bên quá xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt đến mức nhiều lúc phải gían đoạncuộc thương lượng:
- Phía Việt Nam tập trung vào vấn đề mấu chốt nhất là đòi Mỹ rút hết quân viễn chinh cùng quân chư hầu khỏi miền Nam và đòi họ tôn
Trang 34trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam.
- Phía Mỹ thì trước sau nêu quan điểm “có đi có lại”, đòi hai bên (cả quân miền Bắc ở miền Nam) “cùng rút quân” Họ đã đặt ngang hàng kẻ đi xâm lượng và người chống xâm lược
• Do liên tiếp bị thất bại nặng nề ở hai miền của nước ta, lại muốn trúng cử tổng thống một lần nữa vào dịp bầu cử (11/1972), Nixon dùng thủ đoạn lùi bước trong thương lượng với ta và xuống thang phá hoại miền Bắc
• Đầu thắng 10/1972, phái đoàn Mỹ đến Paris để nối lại cuộc đàm pháp đã bịgián đoạn từ tháng 3/1972
• Trong cuộc tiếp xúc riêng với đại diện Mỹ ngày 8/10/1972, ta đưa ra bản
dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”
và đề nghị thảo luận để đi đến kí kết
• Ngày 17/10/1972, văn bản Hiệp định được hoàn tất và hai bên thỏa thuận ngày kí chính thức
• Để đi đến kí chính thức Hiệp định, ngày 22/10/1972, Nixon tuyên bố ngưng mọi hành động chống phá miền bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra
• Sau khi tái đắc cử tổng thống (8/11/1972), Nixon trở mặt đòi xét lại văn bản Hiệp định đã thỏa thuận, đòi ta nhân nhượng
• Để ép ta nhân nhương, kí một Hiệp định do Mỹ đưa ra, Nixon âm mưu giành một thắng lợi quyết định bằng quân sự Tháng 12/1972, Mỹ mở cuộctập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm Việt Nam đập tan cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải trở lại ký Hiệp định Pari
• Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được
ký kết giữa 4 Bộ trưởng đại diện các Chính phủ tham dự hội nghị Hiệp định Paris được 12 nước công nhận về mặt pháp lý quốc tế
4.2 Nội dung cơ bản của Hiệp định Pari :
• Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
• Hai bên ngừng bắn ở miền Nam lúc 24 giờ ngày 27/01/1973 và Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam
• Hoa Kỳ rút hết quân đội của mình và quân đồng minh trong vòng 60 ngày
kể từ khi kí hiệp định, huỷ bỏ các ¬căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếptục can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam
Trang 35• Nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị thông qua tổng tuyển
cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài
• Hai miền Nam - Bắc Việt Nam sẽ thương lượng về việc thống nhất đất nước, không có sự can thiệp của nước ngoài
• Hai bên ngừng bắn, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt
• Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị (lực lượng cách mạng, lực lượng hoà bình trung lập và lực lượng chính quyền Sài Gòn)
• Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, tiến tới thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa hai nước
4.3 Ý nghĩa lịch sử
• Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành đượcthắng lợi
• Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao Với hiệp định, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự.Ngụy mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng Mỹ phải lùi về chiến lược, rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại
• Với Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánhcho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào” Là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 1975
• Hiệp định Paris 1973 phản ánh được ở mức cao thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hìnhthành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược” Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân
• Hiệp định Paris và việc Mỹ rút khỏi Việt Nam, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia Giải pháp về Lào gần như đồng thời với Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 2/1973 Hiệp định Paris mở đường cho thắng lợi của Campuchia tháng 4/1975
Trang 36• Đặc biệt, thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở Đông Nam Châu Á; quân đội Mỹ rút khỏi khu vực; khối SEATO giải tán;
xu thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển
• Hội nghị Paris đã để lại nhiều bài học lớn lao, trong đó bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế vẫn còn nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với các quốc gia trong một thế giới đầy biến động
CÂU 5:
NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ CNH, HĐH GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRI THỨC KẾT QUẢ THỨC HIỆN ĐƯỜNG LỐI CNH, HĐH CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1986- NAY
I CÔNG NGHIỆP HÓA THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI
1 Mục tiêu và phương hướng của công nghiệp hóa xã hội chủ
khác, vừa phải xây dựng CNXH vừa phải chiến đấu chống Mỹ
Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng III xác định rõ mục tiêu cơ bản của công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
(Slide 3)
- Trên phạm vi cả nước, sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước độc lập thống nhất và quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chiến lược “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng…” tiếp tục được khẳng định lại sau 16 năm tại Đại hội IV của
Trang 37Đảng (1976) nhưng chính sách thì đã có thay đổi chút ít : Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ (Hình ảnh)
Tuy nhiên, do trên thực tế chúng ta chưa có đủ điều kiện để thực hiện (nguồn viện trợ từ nước ngoài đột ngột giảm, cách thức quản lý nền kinh tế nặng tính quan liêu, bao cấp, nhiều công trình nhà nước xây dựng dở dang vì thiếu vốn, công nghiệp trung ương giảm, nhiều mục tiêu không đạt được…) nên đây vẫn
là sự biểu hiện của tư tưởng nóng vội trong việc xác định bước đi, và sai lầm trong việc lựa chọn ưu tiên giữa công nghiệp và nông nghiệp Kết quả là thời
kỳ 1976 – 1980 nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, suy thoái, cơ cấu kinh tế mấtcân đối nghiêm trọng
(Slide 4)
Đại hội lần thứ V của Đảng (3-1982) đã xác định trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước ta phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; việc xây dựng và phát triểncông nghiệp nặng trong giai đoạn này cần làm có mức độ, vừa sức, nhằm phục
vụ thiết thực, có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Đại hội V coi
đó là nội dung chính của công nghiệp hóa trong chặng đường trước mắt Đây làbước điều chỉnh rất đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam Nhờ vậy, nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ này đã có sự tăng trưởng khá hơn so với thời kỳ
5 năm trước đó Cụ thể là:
(Slide 5)
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế 1981: 2,3% 1985: 5,7%
+ Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 1981: 9,5%
+ Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 1981: 5,3% 1985: 3%
+ Năm 1985, công nghiệp nhóm A chiếm 32,7%, công nghiệp nhẹ 67,3%, tiểu thủ công nghiệp 43,5%, công nghiệp địa phương 66%, công nghiệp quốc doanh
và công tư hợp doanh 56,5%
+ Tỷ trọng công nghiệp tăng từ 20,2%/1980 lên 30%/1985
+ Nhập khẩu lương thực giảm hẳn so với 5 năm trước (từ 5,6 triệu tấn thời kỳ 1976-1980 xuống 1 triệu tấn thời kỳ 1981-1985)
Tuy nhiên, trên thực tế chính sách này vẫn không có mấy thay đổi so với trước.Mặc dù nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu nhưng Đại hội vẫn xác
Trang 38định “Xây dựng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp hiện đại, lấy hệ thống công nghiệp nặng tương đối phát triển làm nòng cốt” Sự điều chỉnh không dứt khoát
đó đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam không tiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn và khuyết điểm mới, tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân sau 5 năm không những không ổn định được mà còn lâm vào khủng hoảng trầm trọng
(Slide 6)
2 Đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới
Nhìn chung trong thời kỳ 1960-1985 chúng ta đã nhận thức và tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu cũ với các đặc trưng cơ bản sau đây:
- Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng
- Chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa chủ yếu bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu trong nền kinh tế thị trường
- Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quantâm đến hiệu quả kinh tế xã hội
(Slide 7)
II-hạn chế và nguyên nhân
- Hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới còn nhiều hạn chế Cơ sở vật chất kỹ thuật còn hết sức lạc hậu Những ngành công nghiệp then chốt còn nhỏ bé và chưa được xây dựng đồng bộ, chưa
đủ sức làm nền tảng vững chắc cho nên kinh tế quốc dân
Lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mới chỉ bước đầu phát triển, nông nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội Đất nước vẫn trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu, kém phát triển, rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội
(Slide 8)
Những hạn chế trên xuất phát từ nguyên nhân:
Trang 39+ Về khách quan, chúng ta tiến hành công nghiệp hóa từ một nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn và trong điều kiện chiến tranh kéo dài, vừa bị tàn phá nặng nề, vừa không thể tập trung sức người sức của cho công nghiệp hóa.
+ Về chủ quan, chúng ta mắc những sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định mục tiêu, bước đi về cơ sở vật chất kỹ thuật, bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư… Đó là những sai lầm xuất phát từ chủ quan duy ý trí trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa
II (Slide 9) QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ
CNH, HĐH
1 Sự đổi mới nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
a Tính tất yếu của việc đổi mới nhận thức của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa ra đời là nấc thang phát triển cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tất yếu phải xây dựng cho mình một cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại hơn Cho đến nay, hầu hết các nước tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi và chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đều có nền công nghiệp chưa phát triển Vì vậy, để có nền tảng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội tất yếu phải thực hiện CNH
Trong bộ Tư bản, C.Mác đã phân tích kỹ sự phát triển của cách mạng công nghiệp và cho thấy quy luật tất yếu phải thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp
(Slide 10+11+12) b.Các giai đoạn chủ yếu thay đổi nhận thức Đại hội VI của Đảng(3/1986), Kế hoạch 5 năm 1986-1990:
tập trung sức người, sức của vào ba mục tiêu: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng,hàng xuất khẩu Đại hội đã thông qua đườnglối đổi mới toàn diện, trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế
Đại hội VII của Đảng(7/1994): thông qua Chiến lược ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội nước ta đến năm 2000 Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7/1994) đã ra Nghị quyết "Về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới" Nghị quyết đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ chế, chính sách cụ thể thúc đẩy phát triển công nghiệp, đẩy mạnh công tác khoa học công nghệ phục vụ sản xuất Quan niệm này
Trang 40đánh dấu một bước phát triển tư duy lý luận của Đảng về phạm vi,nội dung, mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đại hội VIII của Đảng(6/1996) đã xác định sau 10 năm đổi
mới, nước ta cơ bản đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội Mục tiêu, nhiệm vụ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đến năm 2020: "Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xâydựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh"
Đại hội IX của Đảng(4/2011): đã kiểm điểm, đánh giá việc
thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 2000; Tổng kết những thành tựu, bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới; từ đó đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém pháttriển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại "
Đại hội X của Đảng(4/2006): Mục tiêu tổng quát là: "Đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quantrọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân Tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 "
Đại hội XI của Đảng(1/2011): thực hiện Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010, nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển; vị thế của đất nước đã được nâng lên một tầm cao mới trên trường quốc tế, do đó đang tạo ra những tiền đề mới, quan trọng cho việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa của nước ta
Như vậy, có thể thấy tư duy về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đã được hình hành, điều chỉnh và hoàn thiện dần qua các kì Đại hội phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước và bối cảnh quốc tế, khu vực.
(Slide 13)
2 Mục tiêu, quan điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa