Thực hiện nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng hiện thực khách quan và nguyên tắc phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức phát huy nhân tố con người một mặt phải th
Trang 1Ý thức là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” vào bộ óc con người và được thể hiện ra là tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí của con người, sự tồn tại của ý thức là sự tồn tại chủ quan và có khả năng phản ánh hiện thực khách quan, bởi bộ óc con người và được thể hiện ra là tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí của con người.
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức theo chủ nghĩa Mac – Lênin thể hiện ở hai nội dung:
a Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật macxit cho rằng vật chất có trước, quyết định ý thức, ý thức, tinh thần
là cái có sau, cái phụ thuộc vật chất Vật chất là cái có trước, là nguồn gốc của ý thức Vật chất là thực tại khách quan, ý thức phản ảnh vật chất vào bộ óc con người thể hiện ra là tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí, cho nên vật chất là nguồn gốc của ý thức Vật chất quyết định nội dung ý thức của ý thức Ý thức phản ánh thực tại khách quan, vật chất như thế nào thì ý thức có nội dung như thế đó.
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức: Vật chất là nguồn gốc của ý thức, phương thức tồn tại của vật chất là vận động biến đổi và phát triển không ngừng Vận động là tự thân, do những mâu thuẫn bên trong bản thân các sự vật và hiện tượng tạo thành và vận động không do
“ai” sinh ra và không thể mất đi, vận động mang tính khách quan, tính vĩnh viễn và tuyệt đối Ý thức phản ánh thực tại khách quan nên vật chất biến đổi thì ý thức cũng biến đổi theo.
( Đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động trong sự “cân bằng”, trong sự ổn định tương đối của sự vật và hiện tượng cụ thể Thế giới vật chất luôn ở trong quá trình vận động và phát triển không ngừng Không có sự đứng im tương đối thì sẽ không có sự vật và hiện tượng vật chất
cụ thể nào tồn tại Đứng im chỉ xét trong một quan hệ nhất định của sự vật, còn khi xét trong mọi quan hệ thì sự vật vận động chứ không phải đứng im )
Vật chất là điều kiện để hiện thực hóa ý thức, tư tưởng.
b Ý thức tác động trở lại vật chất:
Xuất phát từ quan điểm cho rằng ý thức có khả năng nhận thức được hiện thực khách quan Cho nên, sự phản ánh của ý thức về hiện thực khách quan, không phải là sự phản ánh thụ động, đơn giản mà nó có tính tích cực, năng động và sáng tạo
Trang 2Ý thức quay trở lại chỉ đạo cho con người trong hoạt động Sự tác động theo khuynh hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm Kết quả của sự tác động phụ thuộc vào các yếu tố:
+ Ý thức phản ánh thế giới đúng hay sai, đúng sai đến mức đột nào Nếu phản ánh đúng về thế giới thì định hướng cho hoạt động thực tiễn và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của hoạt động thực tiễn, có tác dụng thúc đẩy thế giới phát triển, ý thức phản ánh càng đúng thì việc thúc đẩy càng phát triển Nếu phản ánh sai về thế giới thì định hướng cho hoạt động thực tiễn trong thế giới vật chất sai, sẽ kìm hãm sự phát triển của thế giới Ý thức phản ánh càng sai thì việc kìm hãm càng tăng.
+ Ý thức, tư tưởng ấy thể hiện, bảo vệ lợi ích của giai cấp nào Ý thức, tư tưởng bảo vệ lợi ích của gia cấp tiến bộ, sẽ thúc đẩy thế giới phát triển, nếu bảo vệ lợi ích cho giai cấp phản động, giai cấp đến thời điểm lâm vào khủng hoảng thì sẽ kìm hãm sự phát triển của thế giới
EX: chế độ phong kiến, ý thức hệ tư tưởng phong kiến bảo vệ lợi ích cho giai cấp địa chủ, người nông dân chỉ làm thuê hoặc sở hữu số ít ruộng đất, Giai cấp địa chủ ra sức bóc lột người nông dân, họ không thể tích lũy của cải không thể giàu lên, kìm hãm sự phát triển của xã hội
+ Sự tác động của ý thức vào thế giới vật chất còn phụ thuộc vào mức độ thâm nhập vào đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân
EX: tư tưởng Phật giáo xâm nhập sâu vào đời sống người dân Việt Nam, Phật giáo khuyên con người sống có ích, làm điều thiện, tránh điều ác, báo dung độ lượng, có tác dụng làm cho thế giới tốt đẹp hơn
Trong những điều kiện khách quan nhất định, ý thức của con người có thể giữ vai trò quyết định đến kết quả của hoạt động thực tiễn Điều này có nghĩa là, ý thức, tư tưởng của con người với sự nhận biết đúng đắn và ý chí của mình, con nguời có thể phát huy được năng lực tối đa của các nhân tố vật chất và nhân tố tinh thần trong những điều kiện khách quan nhất định Nhưng xét
về quá trình lâu dài thì nhân tố vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với nhân tố tinh thần.
1.2 Ý nghĩa phương pháp luận
Thứ nhất, trong hoạt động nhận thức phải bảo đảm nguyên tắc tính khách quan trong sự xem xét các sự vật, hiện tượng không xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà phải xuất phát từ đối tượng trên cơ sở hiện thực khách quan vốn có để phản ánh đúng đắn và xây dựng mô hình lý luận phù hợp với đối tượng Từ quan điểm biện chứng duy vật, Vật chất là cái có trước, ý thức là cái
có sau, Vật chất quyết định ý thức Cho nên, bộ óc con người dù có nhận thức được hay không thì vật chất vẫn là hiện thực khách quan Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sự vật, từ hiện thực khách quan, phản ánh sự vật đúng với những
gì vốn có của nó, không lấy ý muốn chủ quan của mình áp đặt cho thực tế, phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan nóng vội, phiến diện, định kiến
Trang 3Yêu cầu của nguyên tắc tính khách quan còn đòi hỏi phải tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan chống chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan.
Thứ hai, phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức trong cải tạo thế giới, khắc phục bệnh thụ động, tùy thời, ỷ lại vào điều kiện khách quan
Nguyên tắc tính khách quan không những không bài trừ, mà trái lại còn đòi hỏi phải phát huy tính sáng tạo của ý thức Ý thức không phải là sự phản ánh thụ động, đơn giản mà có tính tích cực, năng động và sáng tạo Tính tích cực, năng động và sáng tạo của nhân tố tinh thần được thể hiện ngay từ khi con người xác định đối tượng, mục tiêu, phương hướng hoạt động cũng như việc lựa chọn cách thức, phương pháp thực hiện mục tiêu đã đề ra Sức mạnh của ý thức còn tùy thuộc vào mức độ sự xâm nhập của tri thức khoa học vào hoạt động của quần chúng
Thực hiện nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng hiện thực khách quan và nguyên tắc phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức phát huy nhân tố con người một mặt phải thấy được vai trò quyết định của các nhân tố khách quan (vật chất) đối với nhân tố tinh thần (chủ quan); mặt khác phải phê phán bệnh chủ quan duy ý chí, chống chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường tri thức khoa học trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn xã hội.
2 Phân tích các nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu hai nguyên lý cơ bản và ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là hệ thống các nguyên lý, phạm trù, qui luật cơ bản của phép biện chứng và lý luận nhận thức duy vật biện chứng Đó là Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển; Các qui luật: Qui luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại; Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; Qui luật phủ định của phủ định
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ biến Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật hiện tượng xãy ra trong thế giới.
Từ nguyên lý này, triết học duy vật macxit rút ra ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người: quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể.
Quan điểm toàn diện:
Trang 4Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cho rằng mối liên hệ mang tính khách quan, phổ biến Con người có thể nhận thức được hay không mối liên hệ phổ biến thì nó vẫn tồn tại, con người có thể nhận thức và vận dụng trong hoạt động thực tiễn Vật chất tồn tại khách quan, khi phân tích về sự vật, hiện tượng ngoài việc tôn trọng tính khách quan của sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong mối quan hệ với sự vật khác, những mặt, những yếu tố, những mối liên hệ vốn có của nó.
Mối liên hệ còn mang tính phong phú, đa dạnh, có mối liên hệ bên trong – bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ tất yếu, nốn liên hệ tất nhiên – ngẫu nhiên, mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Trong hoạt động thực tiễn ngoài xem xét bao quát tất cả các mặt, các yếu tố, các mối liên hệ của nó, còn đồng thời phải xác định dung vai trò,
vị trí từng mối liên hệ, để từ đó có thể nắm được bản chất, qui luật của sự vật và hiện tượng
Trong hoạt động thực tiễn, muốn cải tạo sự vật phải sử dụng đồng bộ các biện pháp Phương tiện, lực lượng, đồng thời phải biết kết hợp chính sách có trọng tâm, trọng điểm, chống phiến diện, một chiều, bình quân, cào bằng.
Quan điểm lịch sử, cụ thể:
Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ đã cho chúng ta thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể.
Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận động
và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể Cho nên khi phân tích tính toàn diện về các mối liên hệ của sự vật phải đặt
nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thể của các mối quan hệ đó
Khi nhận thức và cải tạo sự vật phải gắn với không gian – thời gian xác định, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể; chống giáo điều, máy móc, rập khuôn, chung chung, trừu tượng.
Nguyên lý về sự phát triển hình thành quan điểm phát triển:
Phát triển là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phép biện chứng duy vật cho rằng phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng;
Cần phân biệt giữa khái niệm vận động và khái niệm phát triển: Vận động là sự biến đổi nói chung và là phương thức tồn tại của vật chất Ngược lại, khái niệm phát triển thì không khái quát mọi sự vận động, biến đổi nói chung, nó chỉ khái quát những vận động đi lên, theo một khuynh hướng từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Trong hoạt động nhận thức, khi xem xét các sự vật, hiện tượng ngoài việc phải xem xét chính sự vật, hiện tượng đó, đặt nó trong các mối liên hệ, cần phải đặt sự vật trong sự vận động, biến đổi
Trang 5và phát triển không ngừng, thừa nhận khuynh hướng phát triển là khuynh hướng tất yếu cùa sự vật, hiện tượng, từ đó dự báo được tình hình, đưa ra sách lược đúng đắn.
Quan điểm phát triển còn đòi hỏi phải nhận thức đúng về cái mới, về tiêu chuẩn của sự phát triển Sự ra đời của cái mới là một quá trình, trong đó yếu tố kế thừa những mặt tích cực của cái cũ là điều kiện tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của cái mới
Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
Mỗi sự vật là 1 thể thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, Các mặt đối lập vừa liên
hệ, vừa phụ thuộc lẫn nhau, vừa tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nahu Khi cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập lên đến đỉnh cao nhất trong điều kiện nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết Sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời và quá trình trên lại tiếp diễn
Khi muốn nhận thức và thúc đẩy sự phát triển sự vật, hiện tượng phải phát hiện, phân tích, phân loại và tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn Xác định được mâu thuẫn sẽ dẫn đến hoạt động thực tiễn đúng, có tác dụng thúc đẩy sự vật phát triển.
EX: Cách mạng giai đoạn 1941 – 1945, cách mạng Việt Nam có 02 mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn
giai cấp, mâu thuẫn dân tộc, Đảng và Bác Hồ xác định đúng mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn dân tộc, nên đã có quyết sách đúng cho cách mạng Việt Nam, lấy nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Qui luật những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi chất và ngược lại
Qui luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại nghiên cứu về cách thức của sự phát triển Cần phân biệt sự khác nhau giữa tính qui định về chất và lượng Xem xét quá trình thay đổi về chất phải nghiên cứu quá trình tích lũy về lượng, biến đổi về lượng trong những điều kiện khách quan nhất định Phê phán những khuynh hướng tuyệt đối việc thay đổi chất mà không chú ý đến quá trình thay đổi lượng và ngược lại v.v
Qui luật phủ định của phủ định
Khi phân tích nội dung qui luật phủ định của phủ định trước hết phải phân biệt sự khác nhau giữa phủ định biện chứng và phủ định tự phát ngẫu nhiên Phải có quan điểm đúng về cái mới, cái mới với tính cách là tiêu chuẩn của sự phát triển.
Quá trình phát triển là sự thống nhất giữa cái mới và cái cũ, sự chuyển hóa giữa cái mới và cái cũ Cho nên cần phân biệt giữa cái gọi là “mới” nhưng thực chất là sự biến dạng của cái cũ.
3 Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ vấn
đề này.
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất lịch sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo thế giới tự nhiên và xã hội
Trang 6Hoạt động thực tiễn có ba hình thức cơ bản: Hoạt động sản xuất vật chất, Hoạt động biến đổi xã hội mà thực chất là hoạt động đấu tranh xã hội; Hoạt động thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn.
* Nhận thức là một quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan bởi chủ thề là con người trên cơ sỡ thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội.
Thực tiễn là cơ sở và nguồn gốc của nhận thức Hoạt động thực tiễn làm thế giới khách quan bộc lộ bản hên, giúp con người ghi nhận, hiểu biết về thế giới khách quan Qua hoạt động thực tiễn giúp rèn luyện các giác giác làm năng lực phản ánh của con người về thế giới khách quan càng hoàn thiện Hoạt động thực tiễn “nối dài” giác quan, khắc phục được giới hạn nhận thức của con người.
Cho nên, không có hoạt động thực tiễn con người không thể nhận thức được thế giới.
Thực tiễn là động lực của nhận thức: hoạt động thực tiễn làm xuất hiện hàng loạt các mâu thuẫn buộc con người phải giải quyết, thúc đẩy nhận thức con người phát triển không ngừng Có đấu tranh giữa các mặt đối lập, có mâu thuẫn được giải quyết, con người phải nâng cao nhận thức để giải quyết mâu thuẫn, thông qua giải quyết mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn, nhận thức con người càng nâng cao.
Thực tiễn là mục đích của nhận nhức, kết quả của nhận thức suy đến cùng vẫn là để hướng dẫn hoạt động thực tiễn nhẳm mục đích cải tạo thế giới khách quan.
Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý, thông qua hiệu quả của hoạt động thực tiễn mới khẳng định được nhận thức đó là đúng hay sai, đúng sai đến mức độ nào.
Lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động thực tiễn Lý luận góp phần giáo dục, thuyết phục tập hợp quần chúng để tạo thành hoạt động thực tiễn của quần chúng Lý luận dự báo, định hướng cho hoạt động thực tiễn hay nói cách khác lý luận có tính “vượt trước” Lý luận phản ánh
sự vận động, phát triển, quy luật của sự vật, hiện tượng Sự phát triển chỉ theo 1 quy luật bằng cách con người biết được quy luật, dự báo được tình hình, đề ra các hoạt động, giải pháp.
Nhận thức được mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tác dụng hình thành quan điểm thực tiễn:
Nhận thức xuất phát từ thực tiễn, luôn gắn bó với thực tiễn, Khi thực tiễn thay đổi thì nhận thức cũng phải thay đổi theo cho phù hợp
Coi trọng công tác tổng kết, khái quát thựctiển để nâng lên thành lý luận, định hướng cho hoạt động con người.
Tổ chức hoạt động động thực tiễn hiệu quả, chống bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm, thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Trang 74 Trình bày nội dung và ý nghĩa của qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất ? liên hệ sự vận dụng này trên đất nước ta ?
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
· Tính chất của LLSX: là tính chất của TLSX và của người lao động Nền SX đó bằng thủ công cá thể hoặc bằng máy móc tập thể, thể hiện là sự đòi hỏi phân công lao động trong nền sản xuất.
· Trình độ của LLSX: được biểu hiện ở trình độ công cụ lao động cộng với trình độ tổ chức lao động xã hội + trình độ ứng dụng khoa học và sản xuất + kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con người + trình độ phân công lao động.
- LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức sản xuất nhưng trong đó LLSX là mặt động thường xuyên biến đổi, còn QHSX mang tính bảo thủ, trì trệ hơn, thể hiện con người luôn cải tiến công cụ để giảm nhẹ lao động, thời gian lao động, tạo nên năng suất lao động hiệu quả cao Vì vậy công cụ lao động là yếu tốt động nhất trong LLSX cho nên cộng cụ lao động thay đổi dẫn đến QHSX thay đổi theo và thể hiện SX ngày càng mang tính chất xã hội hóa cao.
- Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX giống như mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Nội dung là cái quy định hình thức Nội dung thay đổi thì hình thức cũng thay đổi theo.
- Tính chất và trình độ của LLSX là quyết định nhất đối với sự phát triển của QHSX Trong lực lượng SX còn nhiều yếu tố khác nhưng quyết định nhất đối với việc hình thành và phát triển của quan hệ sản xuất là do tính chất và trình độ của LLSX quyết định quan hệ chặt chẽ như thế nào giữa người lao động với người lao động chứ không phải do phương pháp của đối tượng lao động hoặc tư liệu lao động Điều này được Mác chứng minh, Mác nói “Trong PTSX kiếm sống của mình mà con người làm thay đổi các quan hệ xã hội của mình, các cối xay quay bằng tay đem lại
xã hội có lãnh chúa phong kiếm, cái cối xay chạy bằng hơi nước đẹm lại xã hội có nhà TBCN”.
- Trong các hình thức kinh tế không phải lúc nào LLSX cũng quyết định được QHSX Cho nên dẫn đến mâu thuẫn được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giai cấp.
- LLSX phát triển được là nhờ nhiều yếu tố quyết định như dân số, hoàn cảnh địa lý, trình độ phát triển của khoa học, còn QHSX chỉ giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của LLSX.
- QHSX là sự phản ánh LLSX nhưng chính nó lại quy định mục đích của SX, khuynh hướng phát triển của các nhu cầu về lợi ích vật chất và tinh thần, quyết định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội Bởi vậy nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì nó
sẽ thúc đẩy, tạo điều kiện cho LLSX phát triển Còn nếu QHSX không phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì nó sẽ cản trở LLSX.
Trang 8- Sự tác động của QHSX đối với LLSX: chỉ khi xem xét QHSX trong một tình huống đầy đủ với
ba mặt của nó, đồng thời chịu sự chi phối của yếu tố chung:
+ Các quy luật kinh tế cơ bản
+ phụ thuộc vào trình độ của người lao động
+ tùy thuộc vào sự phát triển của khoa học, công nghệ
- Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì khi LLSX phát triển tới mức QHSX cản trở sự phát triển của nó thì CMXH là bước cuối cùng để thay đổi QHSX hiện có.
Như vậy, ta có thể khẳng định:
- Quy luật về sự phù hợp của QHSX và tính chất, trình độ của LLSX là quy luật chung cho toàn
xã hội loài người, chính sự tác động của quy luật này làm cho xã hội loài người phát triển từ hình thái kinh tế XH này sang hình thái kinh tế XH khác cao hơn.
- Quy luật này là cơ sở lý để chống lại các quan điểm duy tâm tôn giáo về sự phát triển của lịch sử.
- Quy luật này là cơ sở lý luận cho việc hoạch định các đường lối của Đảng, phê phán các chủ trương sai lầm trong việc xây dựng phương thức sản xuất mới.
- Đây là quy luật khách quan, tất yếu đối với 5 hình thái kinh tế, xã hội và lịch sử của nhân loại.
* Vận dụng quy luật:
Ở Việt Nam, sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954) và thống nhất đất nước (1975) chúng ta đã tiến lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN Vào buổi đầu, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng ta đã xây dựng CNXH theo mô hình kế hoạch hoá tập trung Trong điều kiện chiến tranh, mô hình đó đã đóng vai trò tích cực nhưng trong điều kiện hoà bình, mô hình đó dần dần bộc lộ những hạn chế và dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế - xã hội.
Đứng trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của ĐCSVN đã đưa ra đường lối đổi mới đất nước Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là nhận thức cho đúng mục tiêu, và con đường tiến lên CNXH ở nước ta ĐCSVN đã định ra đường lối chuyển từ
mô hình kế hoạch hoá tập trung sang xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với đặc điểm phát triển của LLSX của nước ta trong điều kiện hiện nay Nó cho phép khai thác tốt nhất các năng lực sản xuất trong nước, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nước, và gắn phân công lao động trong nước với quốc tế và khu vực, thúc
Trang 9đẩy LLSX phát triển nhanh chóng Những thành tựu đạt được về mặt kinh tế trong 20 năm đổi mới đã chính minh tính đúng đắn của đường lối đó.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng chủ trương giải phóng mạnh mẽ hơn nữa LLSX, phát huy nguồn lực toàn XH, mọi công dân, mọi vùng, mọi ngành kinh tế, phát triển, phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực, phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng XH CN, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phát triển và ứng dụng kinh tế trí thức, định hướng tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển Với sự phát triển của LLSX, loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội Xu hướng tất yếu
là không dừng ở CNTB mà tiến lên CNCS Việt Nam đang trong quá trình quá độ lên CNXH, vì thế chúng ta cần hoàn thiện, hoàn chỉnh hệ thống chính trị và cơ cấu chính trị Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ? ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này ?
Cơ sở hạ tầng (CSHT): là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh
Khái niệm CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm những QHSX thống trị, những QHSX là tàn dư của xã hội trước và những QHSX là mầm mống của xã hội sau Trong một CSHT
có nhiều thành phần kinh tế, nhiều QHSX thì kiểu QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế và các kiểu QHSX khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chugn của toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tính chất giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống trị quy định Tính chất đối kháng giai cấp
và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong CSHT.
* Kiến trúc thượng tầng (KTTT): là toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời; quan điểm và tổ chức của các giai cấp trung gian Tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của KTTT trong một hình thái xã hội nhất định Trong đó bộ phận mạnh nhất của KTTT là nhà nước – công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xã hội.
* Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Quan điểm duy vật Mác xít khẳng định rằng sự vận động và phát triển hình thái KT-XH còn bị chi phối bởi quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Trang 10Quy luật này khẳng định rằng cơ sở hạ tầng (kinh tế) là quan hệ cơ bản quyết định kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng sinh ra từ cơ sở hạ tầng nhưng nó có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng với tính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng tương ứng qui định tính chất, cơ cấu và mục đích hoạt động của kiến trúc thượng tầng Khi cơ sở
hạ tầng thay đổi thì kiến trúc thượng tầng phải thay đổi theo nhưng sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng diễn ra khá lâu dài, một cách biện chứng
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện qua vai trò định hướng chính trị cho hoạt động kinh tế theo yêu cầu mục đích của giai cấp thống trị, mà trong đó Nhà nước là thiết chế quan trọng nhất khi tác động trở lại kinh tế Kiến trúc thượng tầng cũng có nhiệm vụ bảo vệ và phát triển cơ sở kinh tế đã sinh ra nó Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng có thể diễn ra 2 khả năng sau đây : một là phù hợp với tính tất yếu kinh tế, với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất thì có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển; hai là do yếu kém và sai lầm của kiến trúc thượng tầng tác động không phù hợp với quy luật kinh tế thì sẽ kìm hãm sự phát triển của đời sống kinh tế Trong những trường hợp đặc biệt, kiến trúc thượng tầng
có thể tác động làm đảo lộn nhanh chóng cơ sở hạ tầng nhưng suy đến cùng thì kiến trúc thượng tầng vẫn bị kinh tế quyết định
Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này :
Qua nghiên cứu, tổng kết thực tiển với tư duy quan điểm mới Đảng ta đã nhìn nhận vấn đề bỏ qua
“giai đoạn” hay “thời kỳ” đơn thuần là rút ngắn thời gian trên cơ sở có được những điều kiện, thời
cơ và tiền đề vật chất quan trọng nhất đó là sự phát triển của LLSX và sự trưởng thành của giai cấp vô sản Cụ thể hoá nội dung “bỏ qua”, đại hội ĐBTQ lần IX của Đảng đã nêu rõ :”Bỏ qua chế
độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và KTTT TBCN, nhưng tiếp thu,
kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh LLSX, xây dựng nền KT hiện đại” Nghĩa là chúng ta thừa nhận
sự tồn nền KT nhiều thành phần theo định hướng XCHN Có tiếp nhận, cải tạo các quan hệ sản xuất cũ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy mọi thành phần kinh tế, nâng sức sản xuất của
XH, tạo ra thật nhiều sản phẩm phong phú có sức cạnh tranh trên thị trường Đồng thời thông qua
sự nghiệp CNH-HĐH – đây là nội dung mang tính quyết định và đột phá nhằm nâng tầm về chất của LLSX và xây dựng LLSX cần thiết cho chế độ mới Sự nghiệp CNH phải đi đôi với HĐH nghĩa là trong xu thế tất yếu của toàn cầu hoá kinh tế và trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay chúng ta tiếp tục đường lối kinh tế đối ngoại rộng mở, hoà nhập đi trước đón đầu, mở cửa hiện đại hoá ra bên ngoài tiếp thu những thành tựu khoa học hiện đại của nhân loại, chú trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu đó là xây dựng LLSX phát triển với thiết bị hiện
Trang 11đại, công nghệ hàng đầu, đặc biệt là đào tạo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn hoá cao
là điều kiện cần thiết để nền KT phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả
Tóm lại ”XD CNXH bỏ qua chế độ TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của XH, trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn phức tạp, cho nên phải trãi qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế XH có tính chất quá độ” là quan điểm đúng đắn của Đảng ta trong việc vận dụng một cách hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, phù hợp với tình hình đất nước Phù hợp với tiến trình lịch sử – tự nhiên của sự phát triển xã hội
Đấu tranh giai cấp là gì ? nguyên nhân của đấu tranh giai cấp ? vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xã hội có giai cấp ?
1 Đấu tranh giai cấp:
a Định nghĩa: (Lênin) Đấu tranh g.c là đấu tranh giữa những gc mà lợi ích căn bản đối lập và kết cục của cuộc đấu tranh đó đi đến 1 cuộc cách mạng XH để thay đổi chế độ XH này bằng 1 chế độ khác tiến bộ hơn.
Chủ yếu đấu tranh gc là đấu tranh giữa gc bị bóc lột, bị áp bức, bị thống trị chống lại gc bóc lột,
áp bức, thống trị
b Nguyên nhân:
- Trực tiếp: Do địa vị đối lập nhau.
- Sâu xa: sự đối kháng gc xuất phát từ mâu thuẫn giữa LLSX mới với LLSX lỗi thời
c Vai trò của đấu tranh gc:
Lịch sử XH kể từ khi xuất hiện gc đến nay là lịch sử đấu tranh gc Trong XH có gc đối kháng thì
gc là 1 trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của XH Vai trò đó thể hiện:
+ Thông qua đấu tranh gc thì mâu thuẫn giữa LLSX mới & QHSX lỗi thời sẽ giải quyết Thúc đẩy
sự phát triển của XH từ HTKT- XH này đến HTKT XH khác tiến bộ hơn.
Sự phát triển của XH xèt đến cùng là do sự phát triển của LLSX quyết định LLSX mới mâu thuẫn với QHSX lỗi thời, biểu hiện về mặt XH là mâu thuẫn giữa gc đại diện cho LLSX mới và
gc đại diện cho QHSX lỗi thời Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết bằng cuộc đấu tranh gc mà đỉnh cao là CMXH nhằm xóa bỏ QHSX cũ, thiết lập QHSX mới.
Trang 12+ Đấu tranh gc là động lực phát triển XH Trong XH có gc đối kháng không chỉ thể hiện trong thời kỳ CMXH mà còn thể hiện trong cả thời kỳ hòa bình Vd: cuộc đấu tranh chống kéo dài thời gian lao động, sử dụng kỹ thuật hoàn thiện hơn để nâng cao năng suất LĐ cho nhân công, đấu tranh trong nước và áp lực của các nước khác để có những cải cách tiến bộ.
+ Đấu tranh gc không chỉ có tác dụng cải tạo XH mà còn có tác động cải tạo bản thân gc cách mạng Qua đấu tranh gc , gc CM được tôi luyện và trưởng thành về lý tưởng, lý luận, tổ chức Trình bày nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước ? Các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử?
Nhà nước ra đời và tồn tại trong khi xã hội xuất hiện những mâu thuẩn giai cấp phát triển đến mức không điều hòa được Xã hội cộng sản nguyên thủy không có giai cấp, nhà nước cũng chưa xuất hiện Khi xã hội phân chia giai cấp, mâu thuẩn giai cấp ngày càng gay gắt không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện Khi đó nhà nước xuất hiện để bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của mình và đàn áp sự phản kháng của các giai cấp khác.
Nhà nước nào củng mang bản chất giai cấp Bản chất Nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về mặt kinh tế Nhưng bản chất của nhà nước là để khống chế những đối kháng giai cấp, làm xoa dịu xung đột giai cấp, làm cho xung đột giai cấp diễn ra trật tự hơn
Nhà nước là công cụ chính trị giai cấp, tồn tại như một công quyền, một quyền lực cộng cộng,
có chức năng thống trị giai cấp và chức năng xã hội, chức năng xã hội còn là cơ sở cho sự thống trị chính trị Nhưng xét theo phạm vi tác động nhà nước còn thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại.
Có 3 kiểu nhà nước: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản được tồn tại dưới những hình thức khác nhau:
Nhà nước chủ nô có nhà nước chủ nô dân chủ, nhà nước chủ nô quý tộc.
Nhà nước phong kiến có nhà nước phong kiến quân chủ phân quyền, nhà nước quân chủ tập quyền.
Nhà nước tư bản thì hình thức nhà nước phổ biến là chế độ công hòa dân chủ tư sản.
Trang 13Tóm lại, nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng dù tồn tại dưới hình thức nào, độc tài hay dân chủ, quân chủ hay công hòa thì bản chất của nhà nước vẫn là quyền lực chính trị của một giai cấp.
Cách mạng xã hội là gì? Nguyên nhân của cuộc cách mạng xã hội? Phân tích điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của một cuộc cách mạng xã hội.
Cách mạng xã hội là sự biến đổi có tính chất bước ngoặt và căn bản về chất trong toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội, là phương thức chuyển biến từ một hình thái kinh tế xã hội lỗi thời lên một hình thái kinh tế xã hội cao hơn, tiến bộ hơn Trong xã hội có giai cấp Cách mạng xã hội là thời kỳ đấu tranh giai cấp quyết liệt nhất Trong thời kỳ đó, giai cấp bị trị- đại biểu cho trật tự xã hội mới, lật đổ giai cấp thống trị- đại biểu cho trật tự xã hội cũ.
Nguyên nhân của cuộc cách mạng xã hội:
Là do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; lực lượng sản xuất mang tính cách mạng đang đòi hỏi phải được phát triển với quan hệ sản xuất đã lỗi thời đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Nguyên nhân kinh tế xâu xa này biểu hiện về mặt xã hội thành nguyên nhân xã hội trực tiếp Đó là mâu thuẩn giữa một bên là giai cấp cách mạng và quần chúng lao động đại biểu cho sự phát triển lực lượng sản xuất mới với một bên là giai cấp thống trị nhưng
đã lỗi thời, phản động đại biểu cho quan hệ sản xuất cũ đang cản trở lực lượng sản xuất Nên các cuộc cách mạng xã hội đều bắt nguồn từ những nguyên nhân khách quan đó Phân tích điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của một cuộc cách mạng xã hội:
Muốn cho cách mạng nổ ra và thắng lợi phải có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định:
Điều kiện khách quan chín muồi cho cách mạng nổ ra được gọi là tình thế cách mạng Tình thế cách mạng là một cuộc khủng hoảng toàn quốc, lay chuyển cả giai cấp thống trị lẫn giai cấp bị trị Biểu hiện của cuộc khủng hoảng đó là : một mặt những giai cấp bị trị không muốn sống như cũ nữa, tính tích cực chính trị của họ được nâng cao, hoàn cảnh buộc họ phải có một hành động chính trị độc lập, mặt khác giai cấp thống trị không thể cai trị theo lối cũ được nữa, nó phải dùng những hình thức cực đoan gây ra sự rối loạn trong toàn xã hội Sự xuất hiện hay qua đi của tình thế cách mạng là khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của giai cấp hay chính Đảng nào Các tầng lớp trung gian đã ngã về phía Cách mạng.
Nhân tố chủ quan của cuộc cách mạng chin muồi vì tính thế cách mạng là điều kiện phải có nhưng chưa đủ để cách mạng nổ ra và giành được thắng lợi Đó là giai cấp có khả năng phát động, lãnh đạo quần chúng đứng lên lật đổ chế độ cũ và tính tích cực cách mạng của quần chúng
Trang 14được nâng lên đến một mức độ nhất định Nhân tố chủ quan tập hợp, giác ngộ, giáo dục và tổ chức cho quần chúng đấu tranh; thành lập Chính Đảng tiên phong, Đảng có năng lực đề ra đường lối Cách mạng đúng đắn Tính tích cực Cách mạng của quần chúng được nâng cao sẳn sàng cho hành động Cách mạng
Ý thức xã hội là gì? Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nguyên cứu vấn đề này?
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng… của những cộng đồng xã hội nảy sinh từ tồn tại xã hội của họ
và phản ánh tồn tại xã hội đó trong những giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định.
Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội:
Ý thức xã hội không phụ thuộc vào tồn tại xã hội một cách thụ động, thông qua hoạt động thực tiễn của con người , ý thức xã hội có thể tác động trở lại tồn tại xã hội Hơn nữa trong quá trình phát triển của mình, mặc dù chịu sự quy định các quy luật của sự tồn tại xã hội nhưng ý thức xã hội có những quy luật riêng Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội còn thể hiện ở chức năng đặc thù của ý thức xã hội như một nhân tố sáng tạo tích cực của con người ra đời sống xã hội trong mối quan hệ với tồn tại xã hội.
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội biểu hiện ở những điểm sau:
Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
Tính vượt trước của tư tưởng khoa học.
Tính kế thừa của ý thức xã hội.
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội.
Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
- Ý nghĩa của ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội: Những tư tưởng lỗi thời lạc hậu không mất đi một cách dể dàng Muốn xóa bỏ cái cũ xây dựng cái mới trong đời sống tinh thần xã hội đòi hỏi phải có một quá trình Đối với nước ta hiện nay cần tăng cường công tác tư tưởng kiên trì đấu tranh xóa bỏ ý thức tư tưởng lỗi thời lạc hậu và kiên quyết đấu tranh với sự chống phá của các thế lực thù địch trên môi trường văn hóa tư tưởng.
- Ý nghĩa tính vượt trước của tư tưởng khoa học: Thấy được vai trò, ý nghĩa tầm quan trọng của các dự báo khoa học, các tư tưởng kho học thể hiện trong việc định hướng cho hoạt động thực
Trang 15tiễn của con người Đã là dự báo thì không thể đầy đủ chính xác hoàn toàn trên mọi chi tiết mà chỉ có thể đứng trên định hướng cơ bản mà thôi
- Ý nghĩa tính kế thừa của ý thức xã hội: Khi xem xét một hiện tượng ý thức Xã hội nào đó chúng ta cần chú ý đến không chỉ các điều kiện kinh tế xã hội đã sinh ra nó mà còn cả mối quan
hệ với nó với ý thức tư tưởng của cái thời đại trước đó Nắm vững tính kế thừa của ý thức xã hội, xây dựng cơ chế kế thừa có chọn lọc, có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay, tránh phủ định sạch trơn hay kế thừa một cách mù quáng.
- Ý nghĩa Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội: Khi xem xét một hình thái ý thức nào đó, chúng ta còn phải xem xét mối quan hệ giữa nó với các hình thái ý thức xã hội khác Đối với nước ta hiện nay các hoạt động tinh thần như: triết học, văn học nghệ thuật phải được đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Nếu xa rời đường lối lãnh đạo của Đảng thì những hoạt động này có thể rơi vào sai lầm lệch lạc, tác động tiêu cực đến sự nghiệm cách mạng của nhân dân ta.
- Ý nghĩa Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội: Thấy được vai trò vô cùng quan trọng của ý thức xã hội trong sự tác động trở lại của sự tồn tại xã hội Trong nhận thức củng như trong hoạt động thực tiễn cần chú ý phân biệt tư tưởng khoa học, tiến bộ Cách mạng với những tư tưởng phản khoa học lỗi thời phản động.
* Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu tính dộc lập tương đối của ý thức xã hội Một là:Ý thức xã hội mới không phải được hình thành một cách tự phát mà chủ yếu là kết quả tự giác của công tác giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự tham gia và rèn luyện tích cực của quần chúng nhân dân Quá trình tự giác rèn luyện, bồi dưỡng của mỗi cá nhân củng như của cả cộng đồng xã hội mới là nhân tố đóng vai trò quyết định trong sự hình thành ý thức xã hội mới.
Hai là:Ý thức xã hội mới củng là quá trình tiếp thu những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của dân tộc và nhân loại Ý thức xã hội mới không phải xuất hiện từ hư vô mà có cơ sở lý luận của nó là toàn bộ những giá trị trong lịch sử tư tưởng của dân tộc và nhân loại Ý thức xã hội mới không loại trừ mà còn bao hàm trong nó những giá trị tinh thần của nhân loại và dân tộc Quá trình hình thành ý thực xã hội mới cũng đồng thời là quá trình đấu tranh không khoan nhượng với những ý thức lạc hậu, phản tiến bộ, khắc phục những tư tưởng phong tục tập quán cũ kỷ, chống lại mọi biểu hiện của Chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng phản động, làm thất bại cuộc tiến công về tư tưởng của lực lượng phản cách mạng Đồng thời đây củng là cuộc đấu tranh bảo vệ trong sáng của Chủ Nghĩa Mác- LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Đây là quá trình đầy khó khăn, gian khổ lâu dài đòi hỏi sự nổ lực cố gắng của mỗi cán bộ Đảng viên, của toàn Đảng và dân ta.
Trang 16Ba là:Ý thức xã hội mới phải gắn liền với phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Muốn vậy phải phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải không ngừng củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, cần phải chú ý giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển kinh tế.Bởi lẽ, kinh tế thị trường không chỉ có tác động tích cực mà còn là môi trường thuận lợi cho những hiện tượng tiêu cực về tinh thần, tư tưởng đạo đức nảy sinh, đây là những nhân tố phá hoại cản trở sự hình thành, củng
cố ý thức xã hội chủ nghĩa ở nước ta Bởi thế chúng ta cần phải phát huy được quyền làm chủ của nhân dân lao động, có phát huy đươc thì chúng ta mới có thể lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia cải tạo những tư tưởng lạc hậu, đấu tranh có hiệu quả với những tư tưởng sai trái, phản tiến bộ, tự giác hình thành trong bản thân ý thức mới, xã hội mới, thu hút được động đảo tham gia quản lý, xây dựng phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học Đây là điều kiện cơ bản, quan trọng cho việc hình thành và phát triển ý thức xã hội mới /.
5 Hai thuộc tính của hàng hóa, liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam (soạn theo cô
hướng dẫn)
a Hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán, gồm hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình.
EX: Cái quạt là hàng hóa vì nó là sản phẩm của lao động thỏa mãn nhu cầu quạt mát của con người, thông qua trao đổi và mua bán Đây là hàng hóa hữu hình.
Dịch vụ du lịch là hàng hóa vì nó là sản phẩm của lao động, thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người, thông qua trao đổi và mua bán Đây là hàng hóa vô hình.
Hàng hóa có 2 thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.
Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị
sử dụng là do thuộc tính của tự nhiên của vật phẩm quy định, tính chất vật lý, hóa học quyết định Giá trị sử dụng được phát hiện dần dần do có sự phát triển của KH-KT.
EX: Sắt để làm công cụ lao động, nhờ KHCN sắt làm vật liệu trong xây dựng
Giấy để viết, nhờ KHCN giấy còn sử dụng làm vật liệu hoa giả, trang trí tường…
Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sx kết tinh trong hàng hóa, có đặc trưng là một phạm trù lịch sử và giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị, giá trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi.
EX: 1 mét vải đổi 5 kg thóc
Chúng có mối quan hệ thống nhất và đối lập với nhau
Thống nhất là cả hai cùng tồn tại không thể tách rời
Trang 17Đối lập thể hiện ở việc:
• Xét về mặt GTSD, HH không đồng nhất về chất, xét về mặt giá trị HH đồng nhất về chất.
• Quá trình thực hiện 2 thuộc tính khác nhau cả về không gian, thời gian
• Mối quan tâm của người bán và người mua đối với 2 thuộc tính là khác nhau.
b Liên hệ nước ta:
Nhờ việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nước ta đã tăng được sản lượng HHXK trong những năm qua, đây là một dấu hiệu khả quan phản ánh sự phát triển ngày càng cao của yếu tố
HH trong nền KTTT nước ta hiện nay Hàng hoá nước ta đã có sự biến đổi về chất và phát triển
vượt bậc về lượng
Ưu điểm:
Chất lượng, mẫu mã hàng hóa được nâng lên
Không thể phủ nhận một thực tế là đã từ lâu, trong nếp nghĩ, nếp sống của nhiều người tiêu dùng (NTD) nước ta đã hình thành một quan niệm: Hàng nội không bằng hàng ngoại Đây là hậu quả khi mà một thời gian dài trước đây, hàng hóa sản xuất trong nước đã từng có chất lượng kém, mẫu mã nghèo nàn, giá cả không hợp lý
Thế nhưng, hiện nay nhiều sản phẩm Việt Nam chất lượng cao như: sữa Vinamilk, dầu Tường An, bánh Kinh Đô, ắc quy Đồng Nai, áo Việt Tiến, vỏ ruột xe Casumina đã dần được NTD ưa chuộng và tín nhiệm
Hàng hóa Việt Nam được cải thiện mẫu mã bao bì, cải tiến chất lượng sản phẩm Các doanh nghiệp nhạy bén nắm bắt nhu cầu NTD kết hợp với hoạt động quảng cáo, khuyến mãi; thuyết phục người tiêu dung bằng chính những ưu thế của sản phẩm.
Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài tăng, trong đó có ngành dệt may xuất khẩu ra thị trường châu âu
EX: Xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tiếp tục đứng đầu về kim ngạch với 1,57 tỷ USD, tăng 9,37% so với cùng kỳ với thị phần chiếm tới 48,32% tổng kim ngạch, trong năm nay có thể đạt trên 11 tỷ USD
+ Về giá trị, muốn thực hiện được giá trị tức là muốn bán được hàng hóa thì phải làm sao cho giá trị cá biệt của nó thấp hơn giá trị xã hội thì mới có lãi; do vậy phải đổi mới kỷ thuật và công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động
Giá trị: hao phí lao động, giả + Giá trị sử dụng phải làm cho hàng hóa tốt, bền, đẹp, có nhiều tính năng, tác dụng.
EX: Sản phẩm của Việt Tiến là một ví dụ Đầu năm 2010, Tổng Công ty may Việt Tiến chính thức ra mắt nhãn hiệu mới, Việt Long - thời trang công sở gồm sơ mi, quần tây, áo thun, quần jeans, cà vạt… dành cho người lao động, sinh viên, công chức… với mức giá hoàn toàn bình dân, từ 80.000 - 180.000 đồng/sản phẩm.Với nhãn hàng Việt Long, Việt Tiến đang khép kín dãy hàng may mặc cung cấp cho người tiêu dùng nội địa với những thương hiệu Sanciaro,
Trang 18Manhattan, TT-up dành cho người có thu nhập cao; Việt Tiến, Viettien Smartcasual dành người
có thu nhập từ trung bình đến khá; và Việt Long nhắm đến người tiêu dùng có thu nhập trung bình thấp đang chiếm số đông Bên cạnh việc xây dựng chuỗi cửa hàng, đại lý độc quyền bán sản phẩm may mặc của mình, Việt Tiến còn phối hợp với các cửa hàng dệt may khác cùng phân phối các sản phẩm hàng may mặc Việt Nam đến tay người tiêu dùng bình dân một cách rộng rãi hơn Tuy thâm nhập sâu hơn với đối tượng khách hàng bình dân, nhưng Việt Tiến luôn khẳng định việc lấy chất lượng sản phẩm là tiêu chí cạnh tranh hàng đầu Việt Tiến chỉ cung cấp những mẫu quần
áo có chất lượng vải được kiểm nghiệm, cam kết không có chất gây kích ứng da Luôn luôn cải tiến mẫu mã sản phẩm, đa dạng màu sắc quần áo Nhờ đó, các sản phẩm thời trang Việt Tiến đã vượt qua được định kiến “chê” hàng Việt Nam.
Số lượng có tăng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng Hiện, hàng Việt Nam chủ yếu phục vụ người dân có thu nhập trung bình khá Còn thị trường nông thôn rộng lớn lại "bỏ trống" cho hàng nhập ngoại giá rẻ chiếm lĩnh.
Xuất khẩu nhưng chủ yếu là xuất thô như xuất dầu thô sang Trung Quốc
Nguyên nhân
Giải pháp
- Nhà nước phải có chính sách tạo điều kiện để các doanh nghiệp đổi mới kỹ thuật công nghệ, cụ thể:
+ Hợp lý hoá sản xuất, nâng cao tay nghề của công nhân;
+ Tăng năng suất lao động nhằm hạ thấp hao phí lao động cá biệt;
+ Bán hàng hoá thu được lợi nhuận ngày càng cao.
- SX phải quan tâm đến giá trị sử dụng tốt, giá thành phải hợp lý → Phải đổi mới kinh tế để sản xuất ra nhiều hàng hoá đa dạng đáp ứng xuất khẩu;
6 Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong quá trình phát triển kinh tế thị
trường ở Việt Nam
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động
Tác dụng của quy luật là điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Trang 19+ Điều tiết sản xuất là mở rộng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất.
+ Lưu thông hàng hóa: Hàng hóa di chuyển từ nơi có giá cả thấp đến nơi giá cả cao
EX: Rau củ sản xuất ở Đà lạt có giá thành thấp sẽ được chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh nơi
rau củ có giá trị cao vì không có điều kiện trồng trọt, sản xuất rau như Đà lạt
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
- Phân hóa những người sản xuất nhỏ, làm nảy sinh quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa
=> Chính các tác động của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hàng hóa thực sự là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực
* Ý nghĩa thực tiễn: (liên hệ với tình hình hiện nay ở nước ta):
Nền kinh tế hiện nay là kinh tế thị trường định hướng XHCN, hay chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần “Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ở đâu có trao đổi, sx hàng hóa ở đấy co sự hoạt động của quy luật giá trị” Như vậy quy luật giá trị có tồn tại, phát huy tác động trong nền kinh tế nước ta
Thực trạng nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay là quy mô sx vừa và nhỏ là chủ yếu Do
đó quy luật giá trị tác động đến những người sx hàng hóa nhỏ theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực
Mặt tích cực là : buộc người sx hàng hóa phải nắm bắt nhu cầu thị hiếu thị trường Việc chuyển đổi kinh doanh dễ dàng, đầu tư máy móc công nghệ, quản lý tổ chức hợp lý hơn, nâng cao trình độ người lao động từ đó nâng cao năng suất và hạ giá cả.
Mặt tiêu cực là việc chuyển đổi mục đích kinh doanh dễ nên dễ chạy theo lợi nhuận, mất cân bằng cung cầu, đời sống bị ảnh hưởng
Do quy mô sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu nên việc nâng cao tay nghề, đổi mới đầu tư máy móc hạn chế, sức cạnh tranh thấp, sự thất bại nghiên về phía họ Do đó cần có sự quản lý của nhà nước.
+ Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, để phát huy vai trò tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặc tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo
sự công bằng xã hội
+ Nhận thức và vận dụng quy luật giá trị bằng các chính sách kinh tế phù hợp, trên cơ sở khoa học nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu kinh tế, xã hội thông qua các chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo, gia đình có công cách mạng, xây nhà tình thương, trợ cấp những cán
bộ công chức có bậc lương thấp (dưới 3.0), …
Trang 207 Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản và lý luận về hàng hóa sức lao động
7.1 Mâu thuẫn
Công thức chung của TB: T – H – T’
Trong đó: T’ = T + ∆T
Bất cứ đồng tiền vận động theo công thức này gọi là tư bản
Người sử dụng số tiền theo công thức này gọi là nhà tư bản.
Toàn bộ nhà tư bản hợp thành giai cấp gọi là giai cấp tư bản.
* Thoạt nhìn vào công thức chung của lưu thông TB ta thấy tiền sinh ra tiền lớn hơn Điều này vô
lý vì bản thân tiền không tự lớn lên và hình như lưu thông tạo ra giá trị Điều này không đúng vì giá trị chỉ được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất Còn lưu thông chỉ thực hiện giá trị mà thôi.
Lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư Và GTTD cũng không thể nằm ngoài lưu thông Hay mâu thuẩn công thức chung lưu thông TB là GTTD không được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông, nhưng nếu không có lưu thông cũng không có GTTD.
GTTD không phải do tiền tự lớn lên mà GTTD có được là nhờ nhà TB tìm được trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt có đặc điểm khi sử dụng nó do loại hàng hóa đặc biệt, nó không những không mất đi mà còn tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó, đó chính là hàng hoá SLĐ.
Để giải đáp công thức chung của tư bản…nhà tư bản phải mua được trên thị trường một loại hàng hóa là sức lao động
7.2 Ý nghĩa (lý luận thực tiễn)
Lý luận: bản chất của nền kinh tế TBCN là bóc lột CNTB chỉ tồn tại được nhờ bóc lột, đó là xu hướng phát triển tất yếu của CNTB
Thực tiễn:
Biện pháp cách thức tạo ra giá trị ngày càng lớn trong nền kinh tế thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế
Thực tế Việt Nam đã vận dụng sáng tạo 2 phương pháp này (ntn)
EX: Bộ luật lao động: cho phép tăng ca, thêm giờ trong giới hạn , thu nhập tăng thêm để
không phát sinh mâu thuẫn giữa người lđ và người sd lđ
Trong nền sản xuất hiện nay, CNH HĐH để nâng cao chất lượng xã hội (trong giáo trình kinh tế chính trị chủ nghĩa mác lê nin)
8 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, so sánh và rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu (sửa theo cô giảng)
* Tạo giá trị thặng dư tuyệt đối
Trang 21- kéo dài NGÀY LAO ĐỘNG vượt quá THỜI GIAN LAO ĐỘNG XÃ HỘI CẦN THIẾT khi năng suất lđ, tgian lđ…không thay đổi
* Tạo giá trị thặng dư tương đối
- rút ngắn THỜI GIAN LAO ĐỘNG XÃ HỘI CẦN THIẾT trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi nhờ tăng NSLĐ trên toàn xh
So sánh 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
• Đều là cách mà nhà tư bản sử dụng để bóc lột công nhân để tạo giá trị thặng dư.
• Đều dựa trên cơ sở thời gian lao động thặng dư được kéo dài Trong xã hội tư bản luôn tồn tại mâu thuẫn giữa hai giai cấp đối kháng
+ Khác nhau:
Thời điểm giai đoạn đầu của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa khi kỹ thuật còn thấp
giai đoạn đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư bản khi kỹ thuật phát triển hơn
Biện pháp kéo dài ngày lao động hoặc tăng
cường độ lao động
tăng năng suất lao động xã hội
Giới hạn Độ dài của ngày tự nhiên, thể
chất, tinh thần của người lđ
Phát triển thuận lợi dưới sự phát triển của KHCN
9 Thực chất của tích lũy tư bản, mối quan hệ giữa tích lũy, tích tụ và tập trung tư bản
9.1 Tính tất yếu khách quan của tích luỹ tư bản
a Khái niệm
Tích luỹ tư bản là quá trình biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất
Tích luỹ tư bản là quá trình tư bản hoá giá trị thặng dư.
b Tính tất yếu khách quan của tích luỹ tư bản
- Đáp ứng nhu cầu của tái sản xuất mở rộng nền kinh tế TBCN.
- Để có ưu thế trong cạnh tranh.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật, đổi mới công nghệ.
- Bảo đảm sự thống trị của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân.
9.2 Thực chất của tích luỹ tư bản
Thực chất của tích luỹ tư bản được thể hiện thông qua quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Khái niệm: Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và đổi mới không ngừng.
- Nội dung của tái sản xuất:
+ Tái sản xuất ra của cải vật chất.
Trang 22+ Tái sản xuất ra sức lao động.
+ Tái sản xuất ra quan hệ sản xuất.
- Loại hình tái sản xuất:
Tái sản xuất được chia thành tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
a Tái sản xuất giản đơn
- Tái sản xuất giản đơn là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như cũ.Tái sản xuất giản đơn TBCN là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô tư bản như cũ, nhà tư bản tiêu dùng hết giá trị thặng dư.
Ví dụ: Một nhà tư bản có lượng tư bản ứng trước là 100 triệu USD (80 dùng để mua tư liệu sản xuất, 20 dùng để mua sức lao động); m’ = 100%
- Quy mô sản xuất năm thứ nhất: 80c + 20v
Kết quả: G = 80c + 20v + 20m = 120 (tiêu dùng hết 20m)
- Quy mô sản xuất năm thứ 2: 80c + 20v (như năm I)
- Kết luận của Mác:
+ Nguồn gốc của tư bản khả biến hay tiền lương
+ Nguồn gốc của toàn bộ tư bản ứng trước
+ Địa vị phụ thuộc của công nhân làm thuê đối với nhà tư bản
b Tái sản xuất mở rộng
Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước
Tái sản xuất mở rộng TBCN là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô tư bản lớn hơn trước, nhà tư bản không tiêu dùng hết giá trị thặng dư mà biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất.
Ví dụ: Tiếp tục ví dụ trên:
(1) Quy mô tư bản: 100 80c + 20v (m’ = 100%)
Kết quả sản xuất năm thứ nhất: G = 120 = 80c + 20v + 20m
Trong 20m, nhà TB tiêu dùng 10m và tích luỹ 10m để mở rộng sản xuất
(2) Quy mô tư bản: 110 88c + 22v
(theo tỷ lệ như cũ, với 10 tr.đô tư bản phụ thêm, nhà tư bản sẽ chia thành 8c và 2v)
Kết quả sản xuất năm thứ hai: G = 132 = 88c + 22v + 22m
Trong 22m, nhà tư bản tiếp tục tiêu dùng 11m và tích luỹ 11m.
- Kết luận của Mác:
+ Nguồn gốc duy nhất của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư
+ Sự chuyển hoá của quy luật sở hữu trong nền sản xuất hàng hoá thành các quy luật chiếm hữu
tư bản chủ nghĩa.
9.3 Các nhân tố làm tăng quy mô tích luỹ tư bảnQuy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào hai nhân tố, khối lượng giá trị thặng dư và quy mô tiêu dùng, do đó, để tăng quy mô tích luỹ tư bản, nhà tư bản phải tác động vào hai nhân tố đó.
a Trường hợp 1
Trang 23Giả định khối lượng giá trị thặng dư không đổi, khi đó quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào tỷ
lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản Do
đó, để tăng quy mô tích luỹ, nhà tư bản sẽ phải giảm tiêu dùng.
b Trường hợp 2
Giả định tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư không đổi, khi đó quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Do đó, để tăng quy mô tích luỹ tư bản, nhà tư bản phải tăng khối lượng giá trị thặng dư Vì vậy, những nhân tố làm tăng khối lượng giá trị thặng dư cũng
là những nhân tố làm tăng quy mô tích luỹ tư bản.
Bốn nhân tố làm tăng khối lượng giá trị thặng dư:
- Tăng quy mô tư bản ứng trước (c + v).
- Nâng cao trình độ bóc lột công nhân (cắt xén tiền lương; tăng cường độ lao động hay kéo dài thời gian lao động);
- Tăng năng suất lao động (xã hội và cá biệt);
- Sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng.
9.4 Các quy luật của tích luỹ tư bản
a Tích luỹ tư bản là quá trình làm cho cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng
- Cấu tạo kỹ thuật của tư bản: là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất với số lượng lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó.
- Cấu tạo giá trị của tư bản: là tỷ lệ về số lượng giá trị giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến (hay giữa giá trị tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động) cần thiết để tiến hành sản xuất (c/v).
- Cấu tạo hữu cơ của tư bản:+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản, do cấu tạo
kỹ thuật quyết định và phản ảnh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật Ký hiệu là c/v.
+ Trong quá trình tích lũy, cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) ngày một tăng.
c/v tăng do: + c tăng nhanh, v tăng chậm
+ c tăng, v không đổi
+ c tăng, v giảm
+ Cấu tạo hữu cơ tư bản tăng, hay là trong quá trình tích luỹ tư bản (c) luôn tăng tuyệt đối và (v) giảm tương đối Đây là nguyên nhân tiềm ẩn của nạn thất nghiệp trong xã hội tư bản.
b Tích luỹ tư bản là quá trình làm cho tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng
- Tích tụ tư bản: là quá trình làm tăng quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư Tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản.
- Tập trung tư bản: là quá trình làm tăng quy mô tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất các tư bản sẵn
có lại với nhau
- Tích tụ và tập trung tư bản tuy có nhiều điểm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau và luôn thúc đẩy nhau phát triển.
Tích luỹ tư bản làm cho quá trình tích tụ và tập trung tư bản tăngnhanh, đến lượt nó, tích tụ và tập trung tư bản tăng nhanh lại khiến cho quy mô tích luỹ không ngừng được mở rộng.
c Tích luỹ tư bản là quá trình làm bần cùng hóa giai cấp công nhân
Trang 24- Tích luỹ tư bản đồng nghĩa với tích luỹ sự giàu sang về phía giai cấp tư sản và tích luỹ sự nghèo khổ về phía giai cấp công nhân, nói cách khác, tích luỹ tư bản là quá trình bần cùng hoá của giai cấp công nhân.
- Bần cùng hóa tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối:
+ Bần cùng hóa tương đối: là sự giảm sút tỷ trọng thu nhập của giai cấp công nhân so với thu nhập của các nhà tư bản (nói cách khác là sự chênh lệch thu nhập ngày càng lớn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân).
+ Bần cùng hóa tuyệt đối: là sự giảm sút mức sống của công nhân xuống dưới mức sống tối thiểu của xã hội.
- Tích luỹ tư bản càng diễn ra mạnh mẽ thì mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc.
* Vận dụng vào Việt Nam
CNXH cũng cần tích lũy vốn cho nền kinh tế.
CNXH muốn vậy phải
Tăng quy mô vốn đầu tư để huy động vốn trong nước và ngoài nước
Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam được thể hiện dưới 04 hình thức chính: (1) Đầu tư trực tiếp (FDI); (2) Đầu tư gián tiếp (FII); (3) Tín dụng quốc tế (chủ yếu thu hút qua hình
thức thu hút vốn ODA); (4) Nguồn kiều hối gửi về Việt Nam hàng năm Nhận thức được
tầm quan trọng của nguồn vốn FDI, ngay từ năm 1987, Chính phủ đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Từ đó, việc thu hút nguồn vốn này đã đạt những thành tựu quan trọng
- Giai đoạn hai từ 1991-1997 là những năm diễn ra làn sóng FDI thứ nhất Giai đoạn này
đã thu hút được 2.130 dự án với vốn đăng ký là hơn 33,4 tỷ USD, vốn thực hiện 12,34 tỷ USD Trong đó, chỉ riêng năm 1997, vốn thực hiện đã đạt 3,115 tỷ USD, gấp gần 9,5 lần năm 1991
- Giai đoạn 2005-2009, bắt đầu một làn sóng FDI thứ hai vào Việt Nam Đỉnh điểm là
năm 2008 khi vốn đăng ký đạt hơn 71 tỷ USD.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần hoá nhằm gia tăng năng lực và hiệu quả cạnh tranh khi gia nhập WTO Cổ phần hoá phải đi đôi với việc hình thành các thị trường vốn, các kênh huy động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán (TTCK)) Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng tốt đối với hoạt động của các doanh nghiệp
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Đây là nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức, là hình thức tín dụng quốc tế nhằm hỗ trợ các nước cải thiện môi trường đầu tư hoặc cải thiện môi trường sống của quốc gia.
Lãi suất vay ODA thường thấp, bình quân từ 2-4%/năm so với lãi vay thương mại Nguồn vốn ODA vào Việt Nam gia tăng đáng kể ở cả 3 giác độ: cam kết, ký kết và giải ngân Trong đó, nguồn vốn dành cho nhà đầu tư cơ sở hạ tầng chiếm 40% tổng vốn ODA đã góp phần phát triển mạnh mẽ kinh tế Việt Nam.
Trang 25Ngày 12/09/1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 170/1999/QĐ-TTg khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nước Tiếp theo đó từ đầu tháng 06/2006, Pháp lệnh Ngoại hối của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực đã tác động trực tiếp đến nguồn kiều hối, cụ thể là việc mở rộng đối tượng được vay vốn nước ngoài, bao gồm cả cá nhân Việt kiều có thể chuyển tiền về nước cho người thân để đầu tư, kinh doanh dưới hình thức cho vay, cho mượn vốn kinh doanh.
Bên cạnh đó, lãi suất tiền gửi nội tệ cũng có sự chênh lệch khá cao so với lãi suất ngoại
tệ nên đã thúc đẩy kiều hối tăng.
Trong nước như hình thức trái phiếu, lãi suất ngân hàng cao, chứng khoán …
Huy động vốn qua phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế là quan hệ tín dụng thông thường, không bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện như vốn hỗ trợ ODA, miễn là người vay trả được nợ Đầu tư vào trái phiếu phát hành trên thị trường vốn quốc
tế cũng khá an toàn, ngay cả trường hợp quốc gia đi vay không trả được nợ, thì các tổ chức tài chính quốc tế trung gian đứng ra thu xếp vốn phải trả nợ thay Trong bối cảnh lãi suất ngân hàng ở nhiều nước gần như bằng không, thì nhà đầu tư không bỏ qua cơ hội cho các quốc gia khác vay vốn để kiếm lợi nhuận Và trái phiếu do Chính phủ Việt Nam phát hành chắc chắn là thứ hàng hóa rất hấp dẫn.
10 Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản ngày nay (mượn của anh Đức)
1 Khái niệm: CNTBĐQ nhà nước là sự kết hợp sức mạnh giữa các tổ chức độc quyền với nhà nước TB thành một thiết chế và thể chế thống nhất; nbảo vệ lợi ích cho các tổ chức độc quyền và
để cứu nguy cho CNTB.
2 Xu hướng vận động của CNTBĐQ nhà nước:
- CNTB thay thế cho CNPK là một sự tiến bộ của lịch sử;
- Do biết tận dụng những tiến bộ của cuộc CM KH-CN hiện đại đồng thời do biết tự điều chỉnh,
tự thích nghi nền CNTB sẽ còn tồn tại và phát triển nhất định;
- Mặc dù vậy, XHTB vẫn không phải là XH tốt đẹp mà loài người hướng tới và với những mâu thuẫn nội tại cả về mặt KT, CT, XH của CNTB sớm muộn sẽ sụ đổ và thay thế vào đó là một XH tương lai tốt đẹp hơn.
Trang 2611 Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua phát triển
TBCN ở Việt Nam
Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn
Bỏ quan chế độ TNNCN là bỏ qua cái gì (bỏ quan nhưng vẫn kế thừa)
Bỏ qua chế TBCN thì phải làm gì
Phát triển lực lượng sản xuất CNH – HĐH
Hoàn thiện QHSX hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
Hội nhập quốc tế
* Điều kiện trong nước:
- Lấy chủ nghĩa Mác Lenin – Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, dưới dự lãnh đạo của ĐảngThắng lợi trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, được người dân tin tưởng.
- Truyền thống dân tộc Việt Nam
- Có tiềm năng kinh tế (vị trí địa lý, con người, tài nguyên…) và có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế thế giới
* Điều kiện quốc tế:
- Sự tan rã của hệ thống chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu và Liên Xô đã tác động mạnh mẽ tới Việt Nam về việc tự cường và kiên định trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Thông qua hội nhập quốc tế, Việt Nam dễ dàng tiếp cận với các nền kinh tế phát triển hơn để học hỏi, giao lưu và hợp tác phát triển mà không bị tác động ràng buộc về chính trị.
- Hợp tác quốc tế sâu rộng giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiến nhanh và tiến vững chắc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
12 Những vấn đề liên quan đến thành phần kinh tế, liên hệ với thực tiễn Việt Nam
Khái niệm thành phần kinh tế
Theo Mác-Lênin, trong thời kì quá độ, thành phần kinh tế là" những mảnh, những bộ phận" của một kết cấu kinh tế xã hội Nói cách khác, thành phần kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế được hình thành trên cơ sở hình thức
sở hữu này hay hình thức sở hữu khác Trên cơ sở các ba chế độ sở hữu ở nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất hiện các thành phần kinh tế:
- Kinh tế nhà nước
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế các thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân
- Kinh tế tư bản nhà nước
Trang 27- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Các thành phần kinh tế này đan xen, tác động lẫn nhau và đều chịu sự
quản lí chặt chẽ của nhà nước.
Mục đích phát triển kinh tế của nhà nước do bản chất của nhà nước quy định Đối với nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi chính sách
và phát triển kinh tế của nhà nước đều nhằm phục vụ cho lợi ích của nhân dân lao động Điều 9 hiến pháp 1959, nhà nước ta đã xác định mục đích chính sách kinh tế của nhà nước là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Điều 15 hiến pháp 1980, mục đích
đó được xác định là" thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hoá ngày càng tăng của xã hội" Hiến pháp 1992 trên cơ sở kế thừa những quy định của các hiến pháp trước đó, khẳng định mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước:" làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân"(điều 16) Để đạt được mục đích đó, nhà nước cần đề ra những chủ trương chính sách phù hợp bảo đảm vai trò quản lí, điều tiết nền kinh tế.
Tại sao phải phát triển kinh tế nhiều thành phần
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, gọi là thời kỳ quá độ với ý nghĩa là đất nước ta phải trải qua một trạng thái xã hội mang tính trung gian, chuyển tiếp giữa phương thức sản xuất cũ và phương thức sản xuất mới, trong đó nền kinh tế là nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần kinh tế.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đi từ giai đoạn thấp đến giai đoạn cao bằng những cuộc biến đổi cách mạng từ một phương thức sản xuất này lên một phương thức sản xuất khác tiến bộ hơn Đó là kết quả tất yếu từ sự phát triển của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất không ngừng phát triển với quan hệ sản xuất lạc hậu Nhưng không phải phương thức sản xuất cũ đi đến chỗ kết thúc là có ngay phương thức sản xuất mới cao hơn; cũng không phải phương thức sản xuất cũ kết thúc hoàn toàn rồi mới nảy sinh phương thức sản xuất khác, mà giữa chúng bao giờ cũng có một thời kỳ quá độ, trong đó phương thức sản xuất
cũ suy yếu dần, phương thức sản xuất mới ra đời, lớn lên và tiến tới giữ địa vị thống trị Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế là nền kinh tế quá độ Đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần.
Tính tất yếu khách quan của phát triển kinh tế nhiều thành phần
Một số thành phần kinh tế của phương thức sản xuất cũ như: kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân để lại đang còn có tác dụng đối với sự phát triển LLSX.
Một số thành phần kinh tế mới hình thành trong quá trình cải tạo và xây dựng quan
hệ sản xuất mới như: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước Các thành
Trang 28phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tế mới tồn tại khác quan, có quan hệ với nhau cấu thành cơ cấu kinh tế, trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
Suy cho cùng là do quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX quy định Thời kỳ quá độ ở nước ta do trình độ LLSX còn thấp, lại phân bố không đều giữa các ngành, vùng, nên tất yếu còn tồn tại nhiều loại hình, hình thức sở hữu,
* Là động lực thúc đẩy, kích thích sự phát triển LLSX xã hội:
Có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế
Làm phong phú và đa dạng các chủ thể kinh tế, phát triển kinh tế hàng hoá, khắc phục tình trạng độc quyền
Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước Đó là những " cầu nối", " trạm trung gian" cần thiết để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên CNXH bỏ qua chế dộ TBCN Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta
Đáp ứng được nhiều lợi ích kinh tế của các giai cấp tầng lớp xã hội, có tác dụng khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng của đất nước: như sức lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, kinh nghiệm quản lý…
* Liên hệ VN (đại hội 11 có mấy thành phần? cái này em chép nguyên si trên báo cộng sản nha)
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã được Đảng ta nêu ra từ Đại hội VI (1986) Đây
là chủ trương, chính sách nhất quán và lâu dài của Đảng ta, cho đến nay đã trải qua 25 năm đổi mới, thực tiễn đã chứng minh rằng, đây là một luận điểm, một chính sách hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan, là quyết sách chiến lược đúng đắn, sáng tạo góp phần vào “những thành tựu
to lớn và có ý nghĩa lịch sử”.
Trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta lại tiếp tục khẳng định tính khách quan của việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, coi trọng mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức kinh doanh và vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới, Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã có những khái quát mới về lý luận: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.”(1)
Văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ nhấn mạnh “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh”, còn số lượng các hình thức sử hữu, các thành phần kinh tế và theo đó là bao nhiêu loại hình doanh nghiệp là do nhu cầu khách quan của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất quyết định Đây là một bước tiến nhằm tạo một không gian mở cho quy luật về sự
Trang 29phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất hoạt động, để có thể tránh giáo điều chủ quan.
Như vậy, ở các giai đoạn khác nhau thì nhận thức về thành phần kinh tế cũng có sự thay đổi, đó là quá trình khách quan phù hợp với quy luật nhận thức Vì vậy, quá trình đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức về các thành phần kinh tế ở nước ta qua các kỳ đại hội của Đảng là hoàn toàn phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thời kỳ đang phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu.
“Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”(5).
Như chúng ta đã biết, tại Đại hội VIII (năm 1996) Đảng ta lần đầu tiên đưa ra phạm trù kinh tế nhà nước thay vì cách gọi kinh tế quốc doanh trước đó, với nội hàm rộng hơn, bao quát được toàn
bộ các hoạt động quản lý tài nguyên của đất nước; những cơ sở hạ tầng được tạo ra; các loại quỹ của quốc gia; các doanh nghiệp nhà nước bao gồm cả doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh nhờ đó đã giải quyết được vấn đề nhận thức thực tiễn cũng như lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả cao sẽ góp phần tăng cường tiềm lực và sức mạnh của kinh tế nhà nước trong sứ mệnh chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cho nên, việc tăng hay giảm cả về quy mô, số lượng, chất lượng hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước chỉ phản ánh một bộ phận của kinh tế nhà nước nói chung, chứ không thể coi đó là toàn bộ kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
“Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất”(6) Luận điểm nêu trên của Đảng ta là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn kinh tế khách quan Bài học từ các nền kinh tế lớn vừa qua cũng cho thấy, vai trò của nhà nước không chỉ thể hiện ở sự điều hành vĩ
mô nền kinh tế, mà còn ở thực lực của kinh tế nhà nước.
Để chuyển biến nhận thức từ giai đoạn phân chia các thành phần kinh tế thành hai loại: kinh tế xã hội chủ nghĩa và phi xã hội chủ nghĩa (trước đổi mới), đến thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần (trong đổi mới), và thừa nhận tất cả các thành phần kinh tế đều là những bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài, phải trải qua hơn 15 năm đổi mới (đến Đại hội IX năm 2001) Ngày nay, từ kết quả 25 năm đổi mới chúng
ta lại có một bước tiến quan trọng trong quá trình nhận thức bằng việc khẳng định vai trò của các thành phần kinh tế qua sự đóng góp đối với sự tăng trưởng và hiệu quả kinh tế mang lại cho nền kinh tế quốc dân.
Vì thế, trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
Trang 30đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa”(7).
Như vậy, từ thực tiễn đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta đã có những đóng góp quan trọng về mặt lý luận về những đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội./.
13 Trình bày những điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân? Liên hệ thực tiễn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
Giai cấp công nhân là giai cấp lao động sản xuất vật chất trong nền công nghiệp hiện đại ngày càng phát triển, là lực lượng sản xuất hàng đầu, đại biểu phương thức sản xuất mới trong thời đại ngày nay; giai cấp bị áp bức, bóc lột trong CNTB; người làm chủ, lãnh đạo xã hội mới XHCN
phương thức lao động
GCCN là đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội và là nhân tố quyết định trong việc thủ tiêu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Họ chi phối sự tồn tại của xã hội.
EX: công nhân đình công ảnh hưởng nhà mày ảnh hưởng đến đời sống
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, GCCN không có tư liệu sản xuất, nếu có thì là rất nhỏ Họ phải bán sức lao động và bị bóc lột nặng nề Nhưng là lực lượng xã hội ngày càng lớn mạnh cả về
số lượng lẫn chất lượng.
Địa vị kinh tế xã hội của GCCN quy định một cách khách quan những đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân hiện đại, những đặc điểm đó là :
GCCN hiện đại là giai cấp tiên tiến nhất
Là giai cấp có tinh thần triệt để cách mạng
Là gia cấp có tính tổ chức và kỷ luật cao
Là giai cấp có bản chất quốc tế
* Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh
CNTB ra đời đánh dấu một bước tiến vĩ đại và phát triển của
Chủ nghĩa Mác Lênin xác định giai cấp công nhân chính là giai cấp có sứ mệnh lịch sử hết sức to lớn là xoá bỏ chế độ bóc lột TBCN, thực hiện sự chuyển biến cách mạng từ XH TBCN lên xã hội XHCN và Cộng sản chủ nghĩa.Theo Mác và Ăngghen, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Trang 31không phải do ý muốn chủ quan của giai cấp công nhân hoặc do sự áp đặt của các nhà tư tưởng
mà do những điều kiện khách quan quy định
* Do địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân quy định nên sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
+ CNTB ra đời đánh dấu một bước tiến vĩ đại và phát triển của lực lượng sản xuất Sự ra đời của nền đại công nghiệp, một mặt tạo ra cơ sở vật chất, mặt khác sản sinh ra giai cấp công nhân, lực lượng xã hội đại diện cho lực lượng sản xuất mới, lực lượng sản suất hiện đại, tiên tiến
Giai cấp công nhân xét về nguồn gốc ra đời là con của nền đại công nghiệp, sinh ra và phát triển theo đà phát triển của kỹ thuật và công nghiệp, họ chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi sản xuất đại công nghiệp đã thay thế về cơ bản nền sản xuất thủ công.
Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của giai cấp công nhân, lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ngày càng cao, trong khi đó quan hệ sản xuất TBCN lại dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Chính điều đó đã tạo ra mâu thuẫn cơ bản trong lòng XHTB và được biểu hiện ra ngoài bằng mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp công nhân - đại diện cho lực lượng sản xuất mới - với giai cấp tư sản - đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời
+ Theo quy luật khách quan, quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Một khi quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ xảy ra xung đột gay gắt trong xã hội, lúc đó giai cấp tiên tiến trong xã hội - đại diện cho lực lượng sản xuất mới - sẽ lãnh đạo cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp thống trị, thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, tạo nên phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn phương thức sản xuất cũ bị thay thế Khi ấy hình thái kinh tế xã hội cũ sẽ thay đổi bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao, tiến bộ hơn : đó là quy luật phát triển cơ bản của xã hội loài người
đã được lịch sử chứng minh, không một học thuyết nào bác bỏ được
* Giai cấp công nhân là giai cấp có khả năng giải quyết mâu thuẩn phương thức sản xuất TBCN
- Với mâu thuẫn trong xã hội tư bản, sớm hay muộn người đại diện cho lực lượng sản xuất mới sẽ lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản - đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời - thiết lập quan hệ sản xuất mới, mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Giai cấp công nhân là lực lượng sản xuất tiên tiến, cơ bản nhất của phương thức sản xuất TBCN,vì vậy
nó sẽ là người quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất TBCN, hình thành phương thức sản xuất mới : phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa, nền tảng cho xã hội CSCN ra đời
Trang 32- Mặt khác, trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân luôn luôn phát triển ngày càng đông về số lượng và tăng về chất lượng cùng với sự phát triển không ngừng của công nghiệp và quá trình CNH-HĐH nền kinh tế.
Về số lượng:
Theo thống kê của tổ chức lao động quốc tế
Năm 1950 thế giới có 290 triệu công nhân
Cùng với sự phát triển nhanh của khoa học-công nghệ, trình độ người lao động nói chung cũng được nâng lên đáng kể Thể hiện ngay ở nước ta nhưng năm gần đây trình độ học vấn của công nhân đã tăng nhanh Nếu như năm 1986 ta có khoảng 40% công nhân có văn hoá cấp PTTH thì đến nay số lượng đó là 70% Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2005 chỉ 26%, năm 2006 khoảng 31%.
Ở các nước tư bản phát triển phần lớn công nhân có trình độ lành nghề Chỉ có khoảng 10
% công nhân có trình độ thấp và không lành nghề.
Cơ cấu công nhân lao động ở các khu vực:
Nước Ngành nông lâm nghiệp Khai thác chế tạo dịch vụ, công nghệ cao