1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài liệu thi môn chủ nghĩa xã hội khoa học

66 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 119,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Vị trí trong quan hệ SX: là những người lao động không có tư liệu SX, phải bán sức laođộng cho TB và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư - Nội dung sứ mệnh lịch sử GCCN: 03 nội dung

Trang 1

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

1 Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân:

* Cơ sở lý luận:

- Định nghĩa giai cấp công nhân:

GCCN là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nềncông nghiệp hiện đại với nhịp độ phát triển của LLSX có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, làLLLĐ cơ bản tiên tiến trong quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp thamgia vào quá trình SX, tái SX của cải vật chất và cải tạo các quan hệ XH, đại biểu cho LLSX vàPTSX tiên tiến trong thời đại hiện nay

- Hai thuộc tính cơ bản của GCCN:

+ Về phương thức lao động và phương thức SX: là những người trực tiếp hoặc gián tiếp sửdụng các công cụ SX có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và XH hóa ngày càng cao

+ Vị trí trong quan hệ SX: là những người lao động không có tư liệu SX, phải bán sức laođộng cho TB và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư

- Nội dung sứ mệnh lịch sử GCCN: 03 nội dung

Là những nhiệm vụ cần phải thực hiện trong quá trình xây dựng hình thái KTXH cộng sảnchủ nghĩa, sứ mệnh này có 3 nội dung cơ bản:

+ Nội dung kinh tế: GCCN dù ở chế độ chính trị nào cũng là chủ thể của quá trình sản xuất,thông qua cách mạng khoa học hiện đại, quá trình CNH-HĐH giai cấp công nhân thực hiện “mộtkiểu tổ chức xã hội mới về lao động” để tăng năng suất lao động và thực hiện tiến bộ, công bằng xãhội Nội dung KT này là yếu tố sâu xa khẳng định sứ mệnh lịch sử của GCCN đối với quá trình pháttriển của văn minh nhân loại Thực hiện đầy đủ và thành công nội dung này cũng là điều kiện vậtchất để CNXH chiến thắng CNTB

+ Nội dung chính trị - xã hội: giai cấp CN cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị lật đổ chế độ TBCN Nhà nước pháp quyền củaGCCN và nhân dân lao động được xác lập và trở thành công cụ có hiệu lực để lãnh đạo chính trị,quản lý KTXH trong quá trình cải tạo XH cũ và xây dựng XH mới là vấn đề cơ bản của tiến trìnhthực hiện sứ mệnh lịch sử này, đây là một quá trình lâu dài và phức tạp CNXH hiện thực chỉ có thể

ra đời thông qua thắng lợi của cuộc cách mạng chính trị của GCCN

+ Nội dung văn hóa, tư tưởng: nhiệm vụ lịch sử trao cho giai cấp công nhân trong tiến trìnhcách mạng của mình là một cuộc cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cải tạo cái cũ, xây dựngcái mới trong sự kế thừa những tinh hoa của thời đại và giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc.Xây dựng nền văn hóa XHCN và con người được phát triển tự do và toàn diện trong XH công bằng,dân chủ, văn minh

- Những điều kiện khách quan:

+ Thứ nhât, do sự quy định địa vị kinh tế - xã hội của GCCN gắn liền với phương thức sảnxuất công nghiệp ngày càng hiện đại, mang tính xã hội hóa cao, có tính tổ chức, kỷ luật, tác phongcông nghiệp, tinh thần triệt để cách mạng, tình đoàn kết quốc tế, tính dân tộc,…Những phẩm chấtnày khách quan xác định GCCN là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất và có năng lực lãnh đạocác giai cấp khác trong sự nghiệp xây dựng XH mới

+ Thứ hai, những tiền đề vật chất của CNTB và sự vận động của mâu thuẩn cơ bản củaphương thức sản xuất TBCN Mâu thuẩn cơ bản đó là xung đột giữa tính luật chung là quan hệ sảnxuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Công hữu những tư liệu sản xuấtchủ yếu của XH là yêu cầu khách quan và đã được quá trình sản xuất hiện đại vạch ra Xã hội hiện

Trang 2

đại với xu thế xã hội hóa, dân chủ hóa mạnh mẽ hiện nay cũng đang làm chín muồi những tiền đềkhách quan cho sứ mệnh lịch sử của GCCN.

+ Thứ ba, mâu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa GCCN và giai cấp tư sản tất yếu dẫn đến sứ mệnhlịch sử của GCCN Giải quyết mâu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa hai giai cấp này theo hướng xóa bỏchế độ bóc lột giá trị thặng dư là tất yếu khách quan Muốn thực hiện được điều đó phải xóa bỏ quan

hệ sản xuất tư nhân TBCN Nhưng muôn xóa bỏ nó thì phải xóa bỏ chế độ chính trị là cái đang bảo

vệ quan hệ sản xuất ấy Lật đổ chế độ tư sản, nhà nước của giai cấp tư sản, xác lập nhà nước của giaicấp công nhân là tất yếu trong quá trình cách mạng kinh tế

- Những điều kiện chủ quan để hoàn thành sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân:

+ Sự phát triển của giai cấp công nhân: được thể hiện ở sự phát triển về lượng và phát triển

về chất Sự phát triển về lượng được quy định bởi yêu cầu của SX công nghiệp và cơ cấu kinh tếhiện đại, thông qua đó có thể thấy được trình độ, quy mô của công nghiệp hóa và sự tự chuẩn bị củagiai cấp đang làm sứ mệnh lịch sử Sự phát triển về chất của gia cấp công nhân được thể hiện ở nănglực làm chủ công nghệ hiện đại và ý thức giác ngộ giai cấp, ý thức dân tộc Với tư cách là chủ thểcủa sứ mệnh lịch sử, GCCN cần phải đạt tới trình độ giác ngộ cao về chính trị, đồng thời là đại biểuchoc ho lợi ích chân chính của dân tộc Phấn đấu trở thành giai cấp dân tộc vươn lên vị thế lãnh đạo

và cùng với dân tộc để giải quyết những nhiệm vụ lịch sử trong quá trình phát triển của quốc gia dântộc là phẩm chất chính trị cần được tu dưỡng với GCCN và chính đảng của nó

+ Đảng công sản - nhân tố chủ quan cơ bản nhất để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử củaGCCN: Thông qua sự tuyên truyền giác ngộ của Đảng, GCCN nhận thức được vị trí của mình trong

XH, hiểu được con đường, biện pháp đấu tranh cách mạng, từ đó tập hợp nhân dân lao động thựchiện lật đổ TBCN giải phóng gia cấp, giải phóng XH Sự ra đời của Đảng cộng sản là điều kiện đểGCCN hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình

* Quan điểm của ĐCSVN về GCCN Việt Nam hiện nay:

- Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm:

GCCN Việt Nam ra đời từ đầu thế kỷ 20, sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phongkiến, dưới sự thống trị của đế quốc Pháp nêm GCCN VN phát triển chậm Mặc dù số lượng ít, trình

độ nghề nghiệp thấp, còn mang nhiều tập quán nông dân, song GCCN VN đã nhanh chóng vươn lênđảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng ở nước ta do những điều kiện sau đây:

+ GCCN VN sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoạixâm, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì áp bức bóc lột của giai cấp tư sản làm cho lợi ích giaicấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến cho động cơ cách mạng của GCCN được tăng lên gấpbội

+ GCCN VN ra đời từng bước trưởng thành trong không khí sôi sục của hàng loạt phong tràoyêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân

+ Phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng 10 Nga bùng

nổ và giành thắng lợi ảnh hưởng đến phong trào công nhân thế giới, trong đó có Việt Nam Tấmgương cách mạng Nga và một số phong trào cách mạng ở nhiều nước đã cổ vũ cho phong trào côngnhân non trẻ ở Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta đồng thời cũng làchất súc tác khích lệ nhân dân lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng chủ nghĩa và đi theo conđường của GCCN Từ đó GCCN VN là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng

- Sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam:

Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn, là giai cấp lãnh đạo cách mạng thôngqua đội tiền phong là Đảng CSVN; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấptiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Trang 3

vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là lực lượng nòng cốt trongliên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Thực hiệnthành công sứ mệnh ấy là đảm bảo cho thắng lợi của CNXH ở Việt Nam.

- Khái niệm và thực trạng GCCN VN hiện nay:

+ Khái niệm: GCCN VN là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm nhữngngười lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình SXKD và dịch vụ côngnghiệp, hoặc SXKD và dịch vụ có tính chất công nghiệp

+ Thực trạng: cùng với sự nghiệp đổi mới và quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH, GCCN nước ta

đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng đượcnâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức; đang tiếp tục phát huy vaitrong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo củaĐảng Tuy nhiên, sự phát triển của GCCN chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình

độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếunghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong côngnghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế, đa phần công nhân từ nông dân, chưa được đào tạo cơbản và có hệ thống Một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường

- Phương hướng phát triển GCCN VN hiện nay:

+ Đảng CSVN khẳng định: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển GCCN cả về

số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghênghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động; đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH và hộinhập quốc tế; bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của công nhân” Phấn đấu đếnnăm 2020 đạt được sự chuyển biến tối đa các mặt sau:

1 Giải quyết có hiện quả những vấn đề bức xúc, cấp bách của GCCN, tạo chuyển biến trongviệc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân (vấn đề nhà ở tại các khu CN, tiền lương vàthu nhập, nơi sinh hoạt VH, cơ sở nuôi dạy trẻ,…).Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến

bộ trong các loại hình doanh nghiệp

2 Có bước tiến về đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,chú trọng đào tạo nghề cho công nhân từ nông dân và nữ công nhân

3 Nâng cao hơn về giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, tác phong công nghiệp và kỷ luật laođộng

4 Đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức công đoàn, đổi mới phương thức hoạt động vànâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đã có nhất là ở những doanh nghiệp có đông công nhân

+ Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về GCCN trong điêu kiện KTTTđịnh hướng XHCN, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước và hội nhập KT quốc tế

+ Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hóa GCCN

+ Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc

Cho GCCN

+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chứcchính trị-xã hội khác trong xây dựng GCCN

Trang 4

1 Trình bày những điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân? Liên hệ thực tiễn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

Giai cấp công nhân là giai cấp lao động sản xuất vật chất trong nền công nghiệp hiện đạingày càng phát triển, là lực lượng sản xuất hàng đầu, đại biểu phương thức sản xuất mới trongthời đại ngày nay; giai cấp bị áp bức, bóc lột trong CNTB; người làm chủ, lãnh đạo xã hội mớiXHCN

phương thức lao động

GCCN là đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội và là nhân tố quyết địnhtrong việc thủ tiêu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Họ chi phối sự tồn tại của xã hội

EX: công nhân đình công  ảnh hưởng nhà mày ảnh hưởng đến đời sống

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, GCCN không có tư liệu sản xuất, nếu có thì là rất nhỏ Họphải bán sức lao động và bị bóc lột nặng nề Nhưng là lực lượng xã hội ngày càng lớn mạnh cả

về số lượng lẫn chất lượng

Địa vị kinh tế xã hội của GCCN quy định một cách khách quan những đặc điểm nổi bậtcủa giai cấp công nhân hiện đại, những đặc điểm đó là :

GCCN hiện đại là giai cấp tiên tiến nhất

Là giai cấp có tinh thần triệt để cách mạng

Là gia cấp có tính tổ chức và kỷ luật cao

Là giai cấp có bản chất quốc tế

* Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh

CNTB ra đời đánh dấu một bước tiến vĩ đại và phát triển của

Chủ nghĩa Mác Lênin xác định giai cấp công nhân chính là giai cấp có sứ mệnh lịch sử hết sức

to lớn là xoá bỏ chế độ bóc lột TBCN, thực hiện sự chuyển biến cách mạng từ XH TBCN lên xãhội XHCN và Cộng sản chủ nghĩa.Theo Mác và Ăngghen, sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân không phải do ý muốn chủ quan của giai cấp công nhân hoặc do sự áp đặt của các nhà tưtưởng mà do những điều kiện khách quan quy định

* Do địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân quy định nên sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân

+ CNTB ra đời đánh dấu một bước tiến vĩ đại và phát triển của lực lượng sản xuất Sự ra đời củanền đại công nghiệp, một mặt tạo ra cơ sở vật chất, mặt khác sản sinh ra giai cấp công nhân, lựclượng xã hội đại diện cho lực lượng sản xuất mới, lực lượng sản suất hiện đại, tiên tiến

Giai cấp công nhân xét về nguồn gốc ra đời là con của nền đại công nghiệp, sinh ra và phát triểntheo đà phát triển của kỹ thuật và công nghiệp, họ chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi sảnxuất đại công nghiệp đã thay thế về cơ bản nền sản xuất thủ công

Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của giai cấp công nhân, lực lượng sản xuất mang tínhchất xã hội hóa ngày càng cao, trong khi đó quan hệ sản xuất TBCN lại dựa trên chế độ chiếmhữu tư nhân về tư liệu sản xuất Chính điều đó đã tạo ra mâu thuẫn cơ bản trong lòng XHTB vàđược biểu hiện ra ngoài bằng mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp công nhân - đại diện cho lựclượng sản xuất mới - với giai cấp tư sản - đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời

+ Theo quy luật khách quan, quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất Một khi quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ xảy

ra xung đột gay gắt trong xã hội, lúc đó giai cấp tiên tiến trong xã hội - đại diện cho lực lượngsản xuất mới - sẽ lãnh đạo cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp thống trị, thiết lập quan hệ sản xuấtmới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, tạo nên phương thức sản xuất mới,

Trang 5

tiến bộ hơn phương thức sản xuất cũ bị thay thế Khi ấy hình thái kinh tế xã hội cũ sẽ thay đổibằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao, tiến bộ hơn : đó là quy luật phát triển cơ bản của xã hộiloài người đã được lịch sử chứng minh, không một học thuyết nào bác bỏ được

* Giai cấp công nhân là giai cấp có khả năng giải quyết mâu thuẩn phương thức sản xuất TBCN

- Với mâu thuẫn trong xã hội tư bản, sớm hay muộn người đại diện cho lực lượng sản xuất mới

sẽ lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản - đại diện cho quan hệ sản xuất lỗithời - thiết lập quan hệ sản xuất mới, mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Giaicấp công nhân là lực lượng sản xuất tiên tiến, cơ bản nhất của phương thức sản xuất TBCN,vìvậy nó sẽ là người quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất TBCN, hình thành phương thức sản xuất mới : phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa, nền tảng cho xã hội CSCN ra đời

- Mặt khác, trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân luôn luôn phát triển ngày càng đông về sốlượng và tăng về chất lượng cùng với sự phát triển không ngừng của công nghiệp và quá trìnhCNH-HĐH nền kinh tế

Về số lượng:

Theo thống kê của tổ chức lao động quốc tế

Năm 1950 thế giới có 290 triệu công nhân

Cùng với sự phát triển nhanh của khoa học-công nghệ, trình độ người lao động nói chung cũngđược nâng lên đáng kể Thể hiện ngay ở nước ta nhưng năm gần đây trình độ học vấn của côngnhân đã tăng nhanh Nếu như năm 1986 ta có khoảng 40% công nhân có văn hoá cấp PTTH thìđến nay số lượng đó là 70% Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2005 chỉ 26%, năm 2006 khoảng31%

Ở các nước tư bản phát triển phần lớn công nhân có trình độ lành nghề Chỉ có khoảng 10

% công nhân có trình độ thấp và không lành nghề

Cơ cấu công nhân lao động ở các khu vực:

Nước Ngành nông lâm nghiệp Khai thác chế tạo dịch vụ, công nghệ cao

Trang 6

Pháp 5% 29% 66%

Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân cũng đồng thời dẫn đến sự gia tăng mâu thuẫnngày càng gay gắt giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản tất yếu dẫn đến cách mạng xã hộinhằm xóa bỏ CNTB, hình thành xã hội mới, xã hội XHCN và CSCN Hiện nay, giai cấp tư sản

đã và đang tìm mọi cách để điều chỉnh các quan hệ TBCN nhằm cứu vãn chế độ thống trị củagiai cấp mình và trên thực tế giai cấp tư sản đã đạt được một số thành tựu và kết quả nào đấynhưng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của XHTB, vẫn phải thường xuyên đối đầuvới các cuộc khủng hoảng nặng nề với nhiều cơn suy thoái và nạn thất nghiệp thường xuyênkhông tránh khỏi của hàng chục triệu người, những khoảng nợ công chồng chất Phong trào đấutranh của giai cấp công nhân tuy đang đứng trước những thử thách hết sức nặng nề nhưng bứctranh toàn cảnh của sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới vẫn đang chuẩn bị những tiền đềkhách quan cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, dù có trãi qua nhữngbước thăng trầm, quanh co nhưng nó vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử

* Do yêu cầu phát triển của thời đại: Nhu cầu phát triển nhanh nhân bản và bền vững của thếgiới hiện đại cũng là điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.CNTB phát triển không bền vững ngày càng de dọa đến loài người : nguồn tài nguyên cạn kiệt,môi trường ô nhiễm nghiêm trọng

Mục tiêu cuối cùng của CNTB là lợi nhuận nên chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì càng nảysinh ra những vấn đề bất ổn về xã hội , phát triển bất chấp hậu quả…

VD: Kinh doanh ma túy, mua bán nội tạng con người…

* Những điều kiện chủ quan quy định sứ mệnh

Sự ra đời của Đảng CS là 1 tất yếu khách quan và là điều kiện tiên quyết bảo đảm thắng lợitrong quá trình ĐT của GCCN, sự ra đời của Đảng CS thể hiện sự trưởng tah2nh về chất củaphong trào công nhân Ở những nước XHCN GCCN thông qua Đảng CS vẫn là lực lượng lãnhđạo sự nghiệp CM xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc hiện nay

GCCN và Đảng tiên phong là trung âm đoàn kết dân tộc, đoàn kết QT, ý chí, nhận thức và hànhđộng thống nhất, đồng thời ĐT chống mọi biểu hiện tiêu cực và mọi âm mưu phá hoại của các

kẻ thù của ND, của CNXH

Hiện nay có 1 số quan điểm đánh gia 1kho6ng đúng về vai trò, SMLS của GCCN, có nhận địnhcho rằng với xu hướng tri thứ hóa công nhân thì GCCN hòa tan vào trí thức và không cònGCCN và không còn SMLS của mình, nhưng thực tế thì không phải như vậy, vì xu hướng trithức hóa CN chỉ làm thay đổi cơ cấu LĐ, có sự thay đổi ở đây chỉ là công nhân sử dụng nhiều vềtrí óc thay vì cơ bắp trư trước đây, ngược lại trí thức hóa CN giúp cho người công nhân cải tiếnmáy móc, tự động hóa

Cũng có quan điểm cho rằng ngày nay đời sống CN trung lưu hóa, người công nhân có CP trongCTY, vì vậy CN không phải là người VS, vì vậy sẽ không còn tinh thần CM, từ đó họ không cònSMLS Trên thực tế thì có tình trạng này nhưng phải hiểu rằng người CN có CP trong CTYnhưng số CP ấy chiếm tỷ lệ rất nhỏ, không ảnh hưởng đến hoạt động điều hành của nhà TS chủCTY Đời sống CN có cải thiện nhưng không bằng giá trị mà họ bỏ ra so với nhà TS vẫn cóchênh lệch rất cao, không thể có nhận định là GCCN giàu lên thì không còn tinh thần CM, vì cáiquy định định SMLS là địa vị KT-XH, là xóa bỏ chế độ TBCN XD XHCN

Trang 7

SMLS của GCCN không thay đổi cho dù trải qua nhiều biến cố, trong đó sự sụp đổ của nhànước Liên XôÂ nhưng cần phải hiểu rằng đây chỉ là sự sụp đổ về mô hình mà thôi , loài người

sẽ tiến tới XHCN va øGCCN sẽ lãnh đạo Tóm lại sứ mệnh lịch sử của GCCN vẫn giữ nguyêngiá trị

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong giai đoạn ngày nay:

Trong điều kiện ngày nay, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại rất đa dạng, có nhiềutrình độ khác nhau và không ngừng biến đổi theo hướng không thuần nhất:

Công nhân kỹ thuật ngày càng tăng công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ, đóngvai trò chính trong quá trình phát triển, công nhân truyền thống giảm dần Do tính quy định củasản xuất hiện đại, giai cấp công nhân ngày nay có một số biểu hiện mới: trình độ văn hóa - taynghề cao hơn; một số công nhân đã có cả tư liệu sản xuất, cổ phiếu, đời sống một bộ phận đượccải thiện v.v Với tri thức và khả năng làm chủ công nghệ cao, với năng lực sáng tạo và ý thức

về sứ mệnh, giai cấp công nhân hiện đại đang có thêm điều kiện để tự giải phóng

Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động ra của cải vật chất trong lĩnhvực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại Sản phẩm thặng dư do

họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và sự phát triển của xã hội

Giai cấp công nhân vừa là người lãnh đạo, đồng thời cùng với nông dân, trí thức và cácgiai cấp, tầng lớp lao động khác họp thành lực lượng tổng hợp của quá trình thực hiện sứ mệnhlịch sử đó

Nhờ có những điều chỉnh lớn và tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa học vàcông nghệ, đặc biệt là qua toàn cầu hóa kinh tế, chủ nghĩa tư bản đang còn khả năng tiếp tục kéodài sự tồn tại nhưng không thể tránh được “định mệnh” mà Mác đã vạch ra từ sứ mệnh lịch sửthế giới của giai cấp công nhân Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay là biểu hiện tập trungcủa xu thế xã hội hóa lực lượng sản xuất và cũng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn cơ bản trong lòngchủ nghĩa tư bản Nó khai triển mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩađến mọi ngõ ngách của thế giới qua những biểu hiện xã hội đa dạng Đó là mâu thuẫn giữa giaicấp công nhân hiện đại đang bị chủ nghĩa tư bản toàn cầu bóc lột giá trị thặng dư với một giaicấp “ngày càng trở nên là giai cấp thừa” trong sản xuất và phản động về chính trị; Đó là mâuthuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, hay “phương Bắc và phương Nam”,giữa “trung tâm và ngoại vi” ; là mâu thuẫn của lợi ích từng quốc gia - dân tộc với lợi ích củacác tập đoàn tư bản; giữa những nước phát triển và đang phát triển; giữa chủ quyền quốc gia -dân tộc với xu thế đồng hóa cưỡng bức; giữa văn hoá dân tộc với cuộc xâm lăng bằng tư tưởng,lối sống của những nước đế quốc trong môi trường toàn cầu đang vận hành theo những cơ chếbất bình đẳng; Đó còn là mâu thuẫn giữa các nước tư bản xung quanh việc tranh giành vị trí, thếlực và ảnh hưởng thông qua việc chiếm lĩnh ưu thế về khoa học và công nghệ, những nguồn tàinguyên

Nhìn chung từ thực tiễn hiện đại, nhu cầu có một toàn cầu hóa với chất lượng mới đanghiện rõ Và mầm mống của một phương thức sản xuất mới cũng đang lớn dần, chủ yếu là theocách này Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế và không hề xa

lạ với những hiện tượng quốc tế phản ánh tiến bộ xã hội Chủ động, tích cực hội nhập quá trìnhtoàn cầu hóa kinh tế; tận dụng những thời cơ, tranh thủ ngoại lực từ quá trình toàn cầu hoá hiệnnay và làm biến đổi nó theo hướng tích cực là một tiến trình hợp quy luật và là con đường đểthực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân

* Liên hệ giai cấp CNVN (khái niệm trong nghị quyết TW6 khóa 11 – chép nguyên

si, câu này đảm bảo chính xác)

Trang 8

- Hoàn cảnh ra đời

Khái niệm "giai cấp công nhân" là một phạm trù mang tính lịch sử, ở mỗi giai đoạn khácnhau có sự thay đổi nhất định về nội hàm và phạm vi

Căn cứ lý luận Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn nước ta, Nghị quyết đã

có khái niệm sau:

"Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồmnhững người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuấtkinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất côngnghiệp"

Nội dung sứ mệnh lịch sử giai cấp VN

- Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

- Giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến

- Giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh

- Lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Ưu điểm, hạn chế, phương hướng (NQTW6)

- Một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường

- Địa vị chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ; còn hạn chế về phát huy vai trònòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới dựlãnh đạo của Đảng

- Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều Một phận công nhânchưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội

- Lợi ích một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của côngcuộc đổi mới và những đóng góp của chính mình

- Việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang có nhiều khó khăn, bức xúc

c) Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém:

- Đảng quan tâm chưa đầy đủ

- Chính sách, pháp luật của Nhà nước còn nhiều hạn chế, bất cập

Trang 9

- Hiệu quả đóng góp của Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong việc xây dựnggiai cấp công nhân chưa cao, còn nhiều yếu kém.

- Sự nỗ lực vươn lên của bản thân giai cấp công nhân chưa cao

- Không ít trường hợp các doanh nghiệp và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tếcòn vi phạm chính sách, pháp luật đối với người lao động

Quan điểm chỉ đạo của Đảng nhằm tiếp tục phát triển giai cấp công nhân thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là

Thứ nhất, kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội

tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ hai, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức

mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnhđạo của Đảng, phát huy sức mạnh của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội; đồng thời tăngcường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp công nhân trên toàn thế giới

Thứ ba, chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng tri thức hoá

giai cấp công nhân là một nhiệm vụ chiến lược

Thứ năm, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của

toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng góp tíchcực của người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vaitrò quyết định, Công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp

2 Phân tích quan điểm của Đảng ta đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta và sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

- Quá trình ra đời, những đặc trưng cơ bản của XHXHCN (ct, kt, vh, xh) – chép bài viết của

giáo sư, đúng nhưng phải tự viết theo văn của mình

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ ngày lập nước đến nay của Đảng và nhân dân ta

là quá trình không ngừng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minhtrong cách mạng Việt Nam Đó cũng là quá trình không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lýluận để vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hiện thực, vừa hoàn thiện những đặc trưng xã hội

xã hội chủ nghĩa về mặt lý luận của Đảng qua mười một kỳ đại hội

Tư tưởng về chủ nghĩa xã hội do các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vạch ra đã đượcChủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và có kết quả vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam Tuy nhiên, đó cũng mới chỉ là những nét khái quát: Xã hội không có áp bức bóclột; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, làm theo năng lực, phân phối theo laođộng; đời sống vật chất và tinh thần cao; con người được phát triển toàn diện; xã hội công bằng,bình đẳng; có chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; nhà nước của toàn dân; v.v Hơn nữa, trongmột thời gian dài, chủ nghĩa xã hội được xây dựng theo mô hình kế hoạch hóa tập trung đã bịbiến dạng và tụt hậu không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước thành trì của chủ nghĩa xã hội.Đường lối đổi mới (từ Đại hội VI) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đột phá vào những quanđiểm sai lầm về chủ nghĩa xã hội, như tuyệt đối hóa vai trò của chế độ công hữu; đối lập mộtcách máy móc sở hữu tư nhân với chủ nghĩa xã hội; đồng nhất chế độ phân phối bình quân vớichế độ phân phối xã hội chủ nghĩa; phủ định chủ nghĩa tư bản một cách sạch trơn; phủ định kinh

tế hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản; v.v

Trang 10

Tổng kết 5 năm đổi mới, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã nêu 6 đặc trưng của xã hội xã hộichủ nghĩa: “Đó là xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựatrên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; Có nền vănhóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công,làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiệnphát triển toàn diện cá nhân; Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùngtiến bộ; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”(1).

Đến Đại hội X (năm 2006), Đảng ta nhận định: “lý luận về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội đã hình thành trên những nét cơ bản” Đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩađược Đảng nêu cụ thể hơn: “là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;

do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan

hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do,hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tácvới nhân dân các nước trên thế giới”(2)

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển

năm 2011) đã điều chỉnh, chuẩn hóa một số nội dung và cô đọng hóa một số đặc trưng: “Xã hội

xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,

văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiệnđại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; conngười có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trongcộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnhđạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(3)

1 - Đặc trưng bao quát nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa do nhân dân ta xây dựng được Cươnglĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)

khẳng định, là: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là những giá trị xã hội tốt đẹp nhất, ước mơ ngàn đờicủa loài người, cho nên cũng là mục tiêu phấn đấu của chủ nghĩa xã hội Vì vậy, đây là đặc trưngphổ quát, có tính bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, nó thể hiện sự khác nhau căn bản, sự tiến

bộ hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ xã hội trước đó Xã hội tư bản có đờisống vật chất và tiện nghi rất cao; dân có thể giàu, nước có thể mạnh, nhưng từ trong bản chấtcủa chế độ xã hội tư bản, ở đó không thể có công bằng và dân chủ: nhà nước là nhà nước tư sản;giàu có là cho nhà tư bản; sự giàu mạnh có được bằng quan hệ bóc lột Trong xã hội như vậy,người dân không thể là chủ và làm chủ xã hội

Xây dựng xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” là quá trình vô cùng khó khăn, gian khổ và lâudài trong hoàn cảnh và điều kiện Việt Nam - một nước còn nghèo, đang phát triển, chưa có “nềnđại công nghiệp” (điều kiện cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội như C.Mác đã chỉ rõ), v.v Nhưng để trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng nêu trên, không có cách nàokhác là toàn Đảng, toàn dân ta phải nỗ lực sáng tạo, chiếm lĩnh các đỉnh cao của xã hội Và, ViệtNam đang từng bước đạt tới các mục tiêu cần có trong hiện thực

Đảng ta đã vạch ra phương hướng, chính sách cụ thể, có cơ sở lý luận - thực tiễn để thực hiệntrong hiện thực: “nước mạnh” gắn với “dân giàu”, “công bằng” và “văn minh”, bảo đảm “dân

Trang 11

chủ”; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; hoànthiện nhà nước pháp quyền với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; v.v

2 - Xã hội “do nhân dân làm chủ”.

“Làm chủ” được coi là bản chất và quyền tự nhiên của con người, bởi xã hội là xã hội của loàingười, xã hội đó do con người tự xây dựng, tự quyết định sứ mệnh của mình; tuy nhiên trongthực tiễn lại là chuyện khác Lịch sử đấu tranh cho tiến bộ của nhân dân các dân tộc trên thế giớichính là lịch sử đấu tranh giành và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Chỉ đến chủ nghĩa xãhội, nhân dân mới thực sự có được quyền đó Cho nên “nhân dân làm chủ xã hội” là đặc trưngquan trọng và quyết định nhất trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Đặc trưng nàykhông thể tách rời những yêu cầu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Nóidân giàu, nước mạnh chính là thể hiện vai trò chủ thể của nhân dân đối với nhà nước - dân làchủ “Dân chủ” trong đặc trưng nêu trên chính là nền dân chủ của xã hội - xã hội vận hành theochế độ và nguyên tắc dân chủ Và chính nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện xã hội “donhân dân làm chủ” Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta; với bản chất nêu trên, nóvừa là mục tiêu, lại vừa là động lực của sự phát triển đất nước Để có một xã hội do nhân dânthực sự làm chủ, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủnghĩa để bảo đảm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”; mọi đường lối, chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải là

“công bộc” của nhân dân, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân,tận tụy phục vụ nhân dân; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ

3 - “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến

bộ phù hợp”.

Để có được một xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, điều tiên quyết là xã hội đóphải có một nền kinh tế phát triển Bởi vì kinh tế là lực lượng vật chất, nguồn sức mạnh nội tạicủa cơ thể xã hội, nó quyết định sự vững vàng và phát triển của xã hội Đến lượt mình, nền kinh

tế đó chỉ có thể phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại Mác đã khẳng định: chủ nghĩa xãhội chỉ thực hiện được bởi “một nền đại công nghiệp” Nền đại công nghiệp phát triển trên cơ sởkhoa học - công nghệ, là hiện thân và là yếu tố tạo nên lực lượng sản xuất hiện đại Lực lượngsản xuất hiện đại quyết định việc nâng cao năng suất của nền sản xuất - yếu tố quy định sự pháttriển lên trình độ cao của phương thức sản xuất mới Trên cơ sở đó thiết lập quan hệ sản xuất xãhội chủ nghĩa tiến bộ phù hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Với các nội dung và lô-gíc vận động như đã luận giải trên, Đảng ta đã tập trung phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, mà trước mắt là hoàn thiện thể chế của nó; đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, nhằm xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại

để có một nền kinh tế phát triển cao - điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững xã hội xãhội chủ nghĩa

4 - “Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Nếu như “nền kinh tế phát triển cao” là nội lực, là sức mạnh vật chất cho phát triển xã hội thìvăn hóa là nguồn lực tinh thần bên trong của phát triển xã hội Văn hóa là tinh hoa con người vàdân tộc, tinh hoa xã hội và thời đại; bởi vậy, nó là sức mạnh con người và dân tộc, sức mạnh xãhội và thời đại Mỗi nền văn hóa phải kết tinh tinh hoa và sức mạnh thời đại để tiến tới đỉnh caothời đại, đồng thời phải chuyển hóa chúng thành các giá trị của dân tộc, làm đậm đà thêm bảnsắc riêng của mình Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vì vậy, chính là mục tiêu của

xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời là động lực và sức mạnh thúc đẩy xã hội đó phát triển Để xây

Trang 12

dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần kế thừa và phát huy những giá trị, tinh hoa vănhóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc; đồng thời, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và văn hóathời đại để phát triển văn hóa Việt Nam thực sự là nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắcdân tộc, thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và sức mạnh cho xã hội phát triển.Hơn nữa, bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa là tiến bộ, khoa học và nhân văn Cho nên, chủ nghĩa

xã hội đồng chất và cùng chiều với văn hóa; phấn đấu cho những mục tiêu của chủ nghĩa xã hộicũng chính là phấn đấu cho những giá trị văn hóa - xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội văn hóacao Những phẩm chất, những giá trị của xã hội xã hội chủ nghĩa là những phẩm chất và giá trịphổ quát của xã hội tương lai Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa xã hội xã hội chủ nghĩa làmột xã hội đại đồng không tồn tại những bản sắc riêng biệt Xã hội xã hội chủ nghĩa là một vườnhoa muôn sắc các phẩm chất, các giá trị, ở đó bản sắc văn hóa các dân tộc, cộng đồng ngườikhác nhau phải được độc lập tồn tại, tôn vinh, phát huy, phát triển Chính vì vậy, Đảng ta chủtrương phát triển nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đadạng, làm phong phú diện mạo văn hóa Việt Nam

5 - “Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Nói đến cùng, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, quá trình phấn đấu đạt tới những giá trị của xã hội

xã hội chủ nghĩa đều là vì con người Con người là thực thể cao nhất của giới tự nhiên, nó là sảnphẩm của thiên nhiên nhưng cao siêu và bí ẩn gấp ngàn lần thiên nhiên Bởi con người có trí tuệ

và tình cảm, có khát vọng và khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao hiểu biết để tạo cho mình mộtthế giới Người - thế giới Văn hóa Cho nên lịch sử của loài người là lịch sử con người đấu tranhxóa bỏ mọi lực cản thiên nhiên và xã hội để vươn tới một xã hội cao đẹp nhất - xã hội đó chính

là xã hội xã hội chủ nghĩa Bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa, trình độ phát triển của xã hội chủnghĩa, rõ ràng, là bản chất và trình độ phát triển Người, của Con người Xã hội xã hội chủ nghĩaphải đem lại ấm no cho con người như là đòi hỏi tiên quyết Nhưng bản tính con người là khôngbao giờ thỏa mãn với những gì đã đạt được Con người phải được tự do - tự do không chỉ bó hẹptrong nghĩa được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, nô dịch, kìm hãm về mặt xã hội Điều quantrọng hơn là nó được thăng hoa tiềm năng trí tuệ, tình cảm và năng lực vốn có để thực hiệnnhững khát vọng cao đẹp của mình Sự phát triển toàn diện con người là ước mơ, khát vọng củacon người tự do Xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nơi: sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người như C.Mác đã nói Đặc trưng Người nhất củakhát vọng con người là hạnh phúc Bởi có thể người ta giàu có, đầy đủ tiện nghi, được phát triển,song vẫn bất hạnh Hạnh phúc là trạng thái yên lành, hài hòa, là tinh thần thoải mái biểu hiện sựmãn nguyện thanh cao nhất của con người Phấn đấu đạt tới một xã hội bảo đảm hạnh phúc chocon người, đó là một xã hội văn hóa cao

6 - “Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển”.

Nếu như các đặc trưng nêu trên (kinh tế, văn hóa, con người) là những yếu tố thuộc phẩm chấtbên trong tạo nên một chỉnh thể xã hội, thì ở đặc trưng này đòi hỏi những yếu tố thiết yếu cho sựtồn tại bền vững của xã hội lành mạnh “Bình đẳng” là một phẩm chất và giá trị nhân quyền thểhiện trình độ phát triển và chất nhân văn cao của xã hội Một đòi hỏi quan trọng của xã hội chủnghĩa là bảo đảm bình đẳng không chỉ cho cá nhân người công dân, mà còn ở cấp độ cho tất cảcác cộng đồng, các dân tộc trong một quốc gia Ngay trong xã hội hiện đại, ở các nước pháttriển, thực hiện bình đẳng giữa các tộc người, các dân tộc cũng đang là vấn đề nan giải Mặtkhác, “đoàn kết” là sức mạnh - đó là một chân lý Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vìthắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đã kêu gọi: Những người lao động ở tất cảcác nước trên thế giới đoàn kết lại (C.Mác); còn trong cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã

Trang 13

khái quát một chân lý: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thànhcông Đồng thời đây cũng là một giá trị đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa “Bình đẳng” và

“đoàn kết” chính là nền tảng của sự “tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” Tôn trọng và giúpnhau không chỉ là tình thương, lòng nhân đạo, mà thực sự là đòi hỏi, yêu cầu, trách nhiệm vàđiều kiện thiết yếu cho sự phát triển của từng cá nhân, cộng đồng, dân tộc; là một tiêu chuẩnquan trọng của xã hội phát triển Đoàn kết toàn dân, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc

đã làm nên thành công của cách mạng Việt Nam Và giờ đây, tinh thần đó, phương châm đóđang là những nét đặc sắc của giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam

7 - “Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.

Nhà nước pháp quyền là một hình thức quản lý nhà nước trên một trình độ cao và hiệu quả Nóđiều hành hoạt động của các cơ quan nhà nước và xã hội bằng pháp luật Nhưng vấn đề ở đây làpháp luật nào? Pháp luật của ai và vì ai?

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và xã hộibằng pháp luật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân; vì vậy, là nhà nước của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân

Đây là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng là liên minh giữagiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý xã hội bằng hệthống pháp luật đó và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồngthời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượnghoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đòi hỏi khách quan để thựchiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa hiện nay Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân không thể nào khác là dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản -đảng mang bản chất, lý tưởng, nội dung xã hội chủ nghĩa, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng

xã hội chủ nghĩa

8 - “Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”.

Theo nguyên lý phát triển xã hội, đặc biệt trong thế giới hiện đại, mỗi quốc gia là một bộ phậnhợp thành cộng đồng quốc tế Sự phát triển quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có được khiđẩy mạnh “quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” Quan hệ hữu nghị và hợptác chính là thể hiện bản chất hòa hảo, thiện chí và tạo điều kiện cho các quốc gia hội nhập, tiếpthu những thành quả phát triển của mỗi bên, tích lũy kinh nghiệm và rút ngắn quá trình pháttriển của mỗi nước Điều có ý nghĩa lớn lao hơn là ở chỗ, “hữu nghị”, “hợp tác”, “phát triển”chính là bản chất, là khát vọng hòa đồng theo bản chất trí tuệ và tình cảm nhân văn cao cả cótính nhân loại của con người, của loài người; điều thể hiện bản chất cao đẹp nhất của xã hội xãhội chủ nghĩa

Qua đó chúng ta thấy quan điểm, đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Namtrước sau đều phù hợp với bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa nêu trên Đây là một đặc trưng nổibật của nội dung và mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam Và chính nó là yếu tố,điều kiện để Việt Nam phát triển nhanh chóng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Để thựchiện được đặc trưng nêu trên, Đảng ta vạch ra đường lối đối ngoại: độc lập, tự chủ, hòa bình,hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc

Trang 14

tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốcgia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, văn minh.

- Tính chất toàn diện, triệt để của cách mạng XHCN

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sảnxuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dântộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; cóNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộngsản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằmtạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua mộtthời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen.Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam doChủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dạn kinhnghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt; nhân dân ta cólòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luônủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ

sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hìnhthành và phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là mộtthời cơ để phát triển

Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảngkinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp,tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc

Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trởthành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam (bỏ qua TBCN)

chúng ta thực hiện quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN Điều kiện bên trong là nước ta đã

giành được độc lập dân tộc, có chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, doĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua,đặc biệt là những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới, đất nước ta đã ra

Trang 15

khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhậptrung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thếquốc tế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới Đây là điều kiện tiên quyết, quyếtđịnh con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.

Thời kỳ quá độ là thời kỳ mà trình độ phát triển kinh tế - xã hội chưa vượt hoàn toàn khỏi tiếntrình phát triển của CNTB, tiến trình đó phải được tiếp tục đẩy mạnh dưới chính quyền của nhândân, mà hình thức thích hợp nhất là CNTB nhà nước và kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhànước XHCN theo định hướng XHCN Đó cũng là tư tưởng cốt lõi của Chính sách kinh tế mới(NEP) trong TKQĐ lên CNXH do V.Lê-nin vạch ra

Hai là, hai xu hướng phát triển khách quan của nền kinh tế nước ta và sự lựa chọn một trong hai xu hướng đó Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, từ nền nông nghiệp lạc

hậu, mang nặng tính chất tự cung tự cấp, nền kinh tế nước ta nảy sinh một yêu cầu khách quanlà: chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa và thúc đẩy sản xuất hàng hóa nhỏ phát triển lênthành sản xuất lớn dựa trên cơ sở kỹ thuật, công nghệ hiện đại Để đáp ứng yêu cầu khách quan

đó, nền kinh tế nước ta chứa đựng trong mình hai khả năng phát triển, hai xu hướng vận động

Và nền kinh tế nước ta có thể lựa chọn một trong hai hướng sau đây: Hướng thứ nhất, để nền

kinh tế phát triển tự phát chuyển thành nền kinh tế TBCN, trên cơ sở phân hóa những người sảnxuất hàng hóa nhỏ, do tác động của quy luật giá trị Nhưng, đi theo hướng này, CNTB ra đời, sẽdẫn đến những hậu quả sau: Chính quyền do chính nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam đã phải tốn bao xương máu mới giành được, sẽ bị mất; và chính nhân dân laođộng lại rơi xuống địa vị người làm thuê và bị bóc lột Đi theo con đường TBCN thì không thểthực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Chúng ta không đitheo con đường TBCN vì thời đại ngày nay không phải là thời đại của CNTB, mặc dù CNTBđang có sự điều chỉnh để thích nghi với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhưng CNTBvẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn, bất công xã hội thuộc về bản chất của chế độTBCN Theo quy luật phát triển của lịch sử thì CNTB không thể không bị phủ định Đó là xu thếkhách quan CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải đượcthay thế bằng một chế độ xã hội mới, phát triển ở trình độ cao hơn, với giai đoạn đầu là CNXH.Với sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, chính CNTB cũng đã và đang tạo ra những tiền đề

vật chất - kỹ thuật để chuyển sang CNXH Hướng thứ hai, là thực hiện quá độ lên CNXH bỏ qua

chế độ TBCN dựa trên cơ sở củng cố chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;dựa vào khối liên minh công - nông - trí thức để tổ chức và huy động mọi tiềm lực của các tầnglớp nhân dân, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH Con đường này hoàn toàn mới

mẻ và không ít khó khăn, nhưng giảm bớt được đau khổ cho nhân dân lao động "Động lực chủyếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nôngdân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huymọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội "(5) Những thành tựu

đã đạt được qua 25 năm đổi mới đã chứng tỏ: chọn con đường thứ hai này là đúng hướng, phùhợp với lợi ích của cả dân tộc và hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của nước ta, phù hợp với xu thế pháttriển của thời đại Bởi lẽ, chỉ có CNXH mới giải phóng được nhân dân lao động khỏi mọi ápbức, bất công, mới đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Toàn bộ lịch sửcách mạng Việt Nam đã chứng minh: quy luật của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắnliền với CNXH Chỉ có đi lên CNXH mới giữ được độc lập, tự do cho dân tộc, như Chủ tịch HồChí Minh đã chỉ rõ: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác conđường cách mạng vô sản Chỉ có CNXH mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và nhữngngười lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ Và trong thực tiễn, CNXH không những đã trở thành

Trang 16

động lực tinh thần, mà còn là sức mạnh vật chất to lớn góp phần đưa sự nghiệp cách mạng dântộc dân chủ nhân dân ở nước ta đến thắng lợi Quá trình cách mạng do Đảng ta lãnh đạo đã tạonhững tiền đề cả vật chất và tinh thần để có thể "rút ngắn" tiến trình phát triển lịch sử - tự nhiêncủa xã hội Vì thế, trong sự lựa chọn con đường đi lên cho mình, dân tộc ta đã chọn con đườngquá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN Đó là con đường phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, cả

về đặc điểm lịch sử - cụ thể trong nước và hoàn cảnh quốc tế

+ nội dung bỏ qua

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng bỏ qua phải có sự giúp đỡ của các nước tiên tiến đi trước.Xung quanh vấn đề “bỏ qua” cần nhận thức đúng đắn và toàn diện đó là:

Bỏ qua cái gì? Bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa tức là bỏ qua quan hệ sản xuất, kiến trúcthượng tầng

Bỏ qua như thế nào? Bỏ qua không có nghĩa là phủ định sạch trơn mà phải có tính kế thừa nghĩa

là phải kế thừa sự phát triển khoa học công nghệ; lực lượng sản xuất; khoa học quản lý; cơ sở hạtầng vì đây là những thành tựu của nhân loại giai cấp tư sản đã sử dụng trước

Bỏ qua được không? Từ thực tế tình hình trên cho phép chúng ta khẳng định Việt Nam đi lênchủ nghĩa xã hội là đi vào giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là hoàntoàn phù hợp với bối cảnh thế giới và tình hình trong nước

+ nội dung kế thừa

Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là sự phủ định sạch trơn, mà có thể chỉ là bỏ quaviệc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và đương nhiên cả thượng tầngkiến trúc tư bản chủ nghĩa Bởi vậy, phải vận dụng và tiếp thu những thành tựu khoa học vàcông nghệ, cũng như kinh nghiệm quản lý, điều hành sản xuất, xã hội, của chủ nghĩa tư bản đểphát triển nhanh, rút ngắn và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

"Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏqua việc xác lập vị thế thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưngtiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoahọc và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại"

- Những đặc trưng cơ bản của CNXH ở VN

Xuất phát điểm lên chủ nghĩa xã hội còn quá thấp, từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ

là chính với lực lượng sản xuất thấp kém, quan hệ sản xuất manh mún, đại đa số là nông dânmang nặng tư tưởng nho giáo, phong kiến, tiểu nông

Hậu quả chiến tranh nặng nề, vừa khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa phát triển kinh

tế, vừa thực hiện chính sách xã hội

Các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp nhất là tệ quan liêu, tham nhũng làm mất lòng tin của dânđối với chế độ xã hội mới

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, côngchức là nguy cơ của một đảng cầm quyền

Chủ nghĩa đế quốc và âm mưu diễn biến hòa bình hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội với các chiêubài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc là lực cản cho quá trình phát triển của dân tộc

Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam tạm thời chia hai miền:Miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; miền Bắc vừa bước vào thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, vừa làm hậu phương lớn cho cách mạng miền Nam Đảng ta xác định rõ:Đặc điểm lớn nhất của miền Bắc, xét về kinh tế, là từ nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Những thành tựu của miềnBắc trong những năm chống Mỹ, cứu nước đã thực sự xứng đáng là hậu phương lớn của miềnNam và có vai trò quyết định nhất đến toàn bộ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước:Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Trang 17

Vận dụng những quan điểm cơ bản mà V.I.Lênin đã nêu ra về đặc điểm thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở “những nước tiểu nông”, Đảng ta và nhân dân ta đã có những thành quả bước đầutrong xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc Nhưng khoảng thời gian1975-1985, chúng ta đã phạm một số sai lầm, trong đó có biểu hiện chủ quan, nóng vội, giảnđơn, nhất là về quản lý kinh tế: Đó là quá chú trọng hai thành phần kinh tế là quốc doanh và tậpthể một cách hình thức, thực hiện quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, hành chính bao cấp củaNhà nước; nhận thức chưa đúng quan điểm của V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần, kinh tế đan xen nhau, trong thời kỳ quá độ, do đó đã biến chế độ sởhữu toàn dân và tập thể trở nên trừu tượng, hình thức bề ngoài, nhiều tư liệu sản xuất chung của

xã hội, nhất là đất đai trở nên không có chủ cụ thể Đó là một trong những nguyên nhân làmtriệt tiêu các động lực, các tiềm năng của toàn dân ta, của đất nước ta và không phát huy hết nộilực, không tranh thủ được sự hợp tác quốc tế Vì vậy, kinh tế - xã hội đã lâm vào trì trệ, khủnghoảng

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đánh dấu sự mở đầu chính thức công cuộc đổi mớiđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta xác định đúng đắn, bắt đầu từ đổi mới tưduy lý luận, nhất là tư duy kinh tế Đổi mới toàn diện nhưng có trọng điểm đúng: Trên cơ sở ổnđịnh, phát triển kinh tế, cải thiện từng bước đời sống nhân dân, đồng thời và từng bước đổi mới

hệ thống chính trị để phát triển đất nước đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

Chúng ta đã có nhận thức ngày càng rõ hơn về “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, có thể thấy

rõ những bước cụ thể hoá về phát triển “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa” Đường lối đổi mớicủa Đảng ta đã khẳng định đó là “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” Đến Đại hội IX, Đảng tanhận thức rõ hơn nữa: “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trịcủa quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa nhữngthành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và côngnghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”

Nội dung của thời kỳ quá độ ở nước ta

Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hộitrên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, cho nên thời kỳ quá độ ở nước ta rất lâudài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Trongcác lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa conđường tư bản chủ nghĩa và con đường xã hội chủ nghĩa, đấu tranh quyết liệt chống âm mưu

“diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động

Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế,giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội

đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội Mối quan hệ giữa các giaicấp, tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp táclâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích giai cấpcông nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội

Nội dung chủ yếu của thời kỳ quá độ là tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Độnglực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhânvới nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội,phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền vănhoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xãhội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

Trang 18

nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảmvững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.

- Phương hướng đi lên CNXH ở VN

Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cáchmạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượtqua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo

vệ tài nguyên, môi trường

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng caođời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển;chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường

2 Chủ nghĩa xã hội khoa học

* Cơ sở lý luận:

- Khái quát các hình thái KTXH trong lịch sử:

Xu hướng phát triển của các hình thái KTXH: XH nguyên thủy, XH chiếm hữu nô lệ, phongkiến, tư bản, XHCN

+ Tính tất yếu ra đời của XH, XHCN:

Sự ra đời của CNXH không phải là hiện tượng tự phát, ngẫu nhiên mà có nguồn gốc kinh tế

và xã hội sâu xa của nó

- Kinh tế: đó là mâu thuẫn giữa LLSX đã xã hội hóa cao với QHSX chiếm hữu tư nhânTBCN về TLSX

- Xã hội: đó là mâu thuẩn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản ngày càng phát triển.Cuộc đấu tranh của GCCN chống lại giai cấp tư sản phát triển đến mức cao là cách mạng xã hội nổ

ra, chế độ xã hội mới ra đời

+ Những đặc trưng, bản chất theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin:

- Chế độ dân chủ vô sản so với bất kỳ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ gấp triệu lần;chính quyền xô - viết so với nước cộng hòa tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần

Trang 19

Để thực hiện dân chủ vô sản, dân chủ XHCN thì nhà nước XHCN phải vừa mang bản chất củaGCCN vừa mang tính nhân dân rộng rãi Nhà nước đó phải do Đảng cộng sản lãnh đạo.

- Trong một thời gian nhất định, dưới chế độ cộng sản, không những vẫn còn pháp quyền tưsản, mà vẫn còn cả nhà nước kiểu tư sản nhưng không có giai cấp tư sản

- Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủyếu là bạo lực Cơ sở kinh tế của bạo lực cách mạng đó, cái bảo đảm sứ sống và thắng lợi của nóchính là việc giai cấp vô sản đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức lao động XH cao hơn sovới CNTB Đấy là thực chất vấn đề Đấy là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắng lợi hoàntoàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản

- Về đặc trưng kinh tế của XHXHCN là một nền KT phát triển cao với LLSX tiến bộ hiện đại

và QHSX dựa trên chế độ công hữu từng bước được xác lập và ngày càng hoàn thiện

- Về đặc trưng XH, quan hệ giữa người và người: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; quyền tựquyết của các dân tộc và đoàn kết của GCCN các dân tộc đã thể hiện tính ưu việt XH của XHCN.Các lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo cũng được CNXH giải quyết phù hợp: quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo được tôn trọng; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ Quan

hệ XH tốt đẹp còn thể hiện trong quan hệ tốt đẹp giữa người và người: “mọi người vì mỗi người vàmỗi người vì mọi người” Đó là quan hệ giữa người và người trong XHXHCN

- Về đặc trưng văn hóa: xây dựng một nền VH phát triển cao dựa trên sự phát huy những giátrị VH truyền thống của dân tộc, quốc gia với tiếp thu những tinh hoa của nhân loại Đời sống VHtinh thần ưu việt, tiến bộ, tốt đẹp là thể hiện đặc trưng về VH của XHXHCN

- Về đặc trưng trong quan hệ đối ngoại phải tuân thủ nguyên tắc: hòa bình, hữu nghị, hợp tác,cùng có lợi và không xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của nhau

* Nội dung cơ bản con đường đi lên CNXH ở Việt Nam:

Con đường đi lên CNXH ở nước ta là bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập địa vịthống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN Với điểm xuất phát từ trình độ pháttriển KTXH rất thấp, quá trình đó tất yếu phải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặngđường Có những điều kiện cho phép và bảo đảm như thời đại cho phép, có chính quyền cách mạng

là nhà nước XHCN Việt Nam, đã xây dựng được khối liên minh công – nông – trí thức vững mạnh,

kế thừa những giá trị đúng đắn mà chế độ tư bản đã thực hiện

* 8 đặc trưng cơ bản của CNXH VN:

1 Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

2 Do nhân dân làm chủ

3 Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp

4 Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

5 Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện

6 Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhaucùng phát triển

7 Có nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộngsản lãnh đạo

8 Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

Trang 20

Phân tích quan điểm của Đảng ta đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta và

sự lựa chọn đúng đắn của Đảng cộng sản VN và Chủ tịch HCM; phù hợp với sự phát triển của xu thế thời đại.

-Quá trình ra đời: C Mác và Ph Ăngghen đã luận giải làm rõ sự ra đời của hình thái kinh tế xã

hội cộng sản là hoàn toàn tất yếu mang tính quy luật

+Thứ nhất, đó là quy luật qhsx phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sx đây cũng là tấtyếu về kinh tế của sự ra đời một hình thái kinh tế xã hội cao hơn hình thái kinh tế xã hội tư bảnchủ nghĩa, nó sẽ tạo ra sự phù hợp giữa qhsx với llsx

+Thứ hai, quá trình phát triển của phương thức sx tư bản chủ nghĩa cũng đã chứng minh quan

hệ giữa llsx và qhsx trong phương thức đó

+Thứ ba, cùng với quy luật qhsx phù hợp với trình độ phát triển của llsx là quy luật cơ sở hạtầng quyết định kiến trúc thượng tầng mà chủ nghĩa duy vật mác xít đã vạch ra

-Nguyên nhân kinh tế xã hội mà những điều kiện cho sự ra đời của CNXH thay thế TBCN

+Về kinh tế: do llsx CNTB mang tính chat xã hội hóa, xã hội hóa có nghĩa lđ sx do nhiều ngườihợp tác làm mới có thể sx ra của cải vật chất, đó là chế độ công hữu là hợp tác xã, sở hữu toàndân, tập thể, phải định chế độ tư hữu tư sản cũng tuân theo quy luật qhsx phù hợp với tính chấttrình độ của llsx Đó là nguyên nhân kinh tế cho sự ra đời của CNXH thay thế TBCN

+Về xã hội: mâu thuẫn giữa gc vô sản và tư sản đòi hỏi phải được giải quyết

-Hai giai đoạn hình thái kinh tế của Đảng cộng sản chủ nghĩa: chủ nghĩa cộng sản phát triển theo

2 giai đoạn, giai đoạn đầu là XNCN, giai đạon sau là là XHCSCN Vì nội dung mục tiêu củatừng giai đoạn khác nhau nên tất cả các sự vật hiện tượng đều phát triển qua giai đoạn nhất định

-Những đặc trưng cơ bản của CNXH:

+Đặc điểm về chính trị: gc công nhân do Đảng cộng sản lãnh đạo, nhà nước XHCN là nhà nướccủa dân, phục vụ nhân dân, xây dựng nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa là đem lại quyền lựccho nhân dân Xóa bỏ bỏ áp bức bóc lột, giải phóng người lđ, đưa người lđ làm chủ chính quyền(quyền lực nhà nước)

+Đặc trưng về kinh tế: Xóa bỏ chế độ tư hữu, mà chế độ tư hữu là nguồn gốc người bóc lộtngười, vì vậy muốn người lđ không bị áp bức về kinh tế thì phài xóa bỏ chế độ tư hữu Hiện nay,phát triển llsx và cải tạo llsx sao cho phù hợp và cao hơn CNTB, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo,lạc hậu, và chậm phát triển, như Lê- nin nói rằng “CNXH muốn thắng CNTB thì năng suất lđcủa xã hội phải cao hơn CNTB” Quan hệ sx của CNXH dựa trên chế độ công hữu dưới nhiềuhình thức, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lđ và những hình thức phân phối khác

+Đặc trưng xã hội: giải phóng cho con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công… con ngườitrở thành con người tự do, khắc phục khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, lđ trí óc với lđtay chân, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo hoàn toàn tự do, con người sống trongmối quan hệ tốt đẹp, mình vì mọi người, mọi người vì mình

+Đặc trưng về văn hóa: là cho hệ tư tưởng phải trở thành nền tảng tinh thần xã hội chính là hệ

tư tưởng của gc công nhân, xóa bỏ sự nô dịch về tư tưởng trong con người, đặc biệt là hệ tưtưởng tôn giáo, phong tục tập quán lỗi thời, lạc hậu, fvvxd văn hóa vô sản vươn tới chân – thiện– mỹ, những giá trị nhân văn tốt đẹp của con người

+Đặc trưng quan hệ đối ngoại: đối ngoại bình đẳng hữu nghị hợp tác cùng có lợi, không canthiệp vào công việc nội bộ của nhau, không xúa phạm chủ quyền lãnh thổ của nhau

Trang 21

Tóm lại: những đặc điểm này mang tính chất toàn diện vì nó diễn ra trên tất cả các lĩnh vực,triệt để giải phóng con người, triệt để giải phóng xã hội, con người hoàn toàn được tự do về cáclĩnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng,…và trở thành con người có khả năng làm chủ tự nhiên,làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.

*Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở VN bỏ qua chủ nghĩa tư bản

Ở VN không có con đường nào khác là bỏ qua chủ nghĩa tư bản vì khi làm cách mạng từ năm

1958 là giai đoạn phong kiến, đáng lẽ phải xây dựng CNTB, nhưng Bác đã quyết định bỏ qua vì:-Xóa bỏ chế độ phong kiến là của gc tư sản, mà chủ nghĩa tư sản ra đời sau gc công nhân và bị

đế quốc chiếm đóng, khống chế Chính vì vậy sự ra đời gc công nhân Đảng Cộng sản bỏ qua chủnghĩa tư bản

-Xuất phát từ cuộc cách mạng toàn diện nên đi thẳng vào chủ nghĩa xã hội

-Nhược điểm: không hiểu rõ CNXH, phủ định sạch trơn CNTB

*Điều kiện thế giới: được thời đại ngày nay cho phép trên phạm vi toàn thế giới, thông qua sựthắng lợi của cách mạng thàng 10 Nga, nhưng tính chất quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa

xã hội vẫn không thay đổi Chính chế độ tạo điều kiện cho nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội

bỏ qua tư bản chủ nghĩa

*Điều kiện trong nước: sức mạnh của cách mạng VN trong nước

- Đảng Cộng sản VN vững mạnh lãnh đạo, mạnh để đảm bảo đường lối, tư tưởng, nguyên tắc

- Có chính quyền cách mạng: sự nghiệp giải phóng dân tộc sau nữa thế kĩ đã hình thành, ngàynay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN Sức mạnh của nhà nước là công cụ, phương tiện vậtchất để xây dựng bảo vệ Tổ quốc vững chắc Tổ chức xây dựng đất nước huy động được nhiềunguồn lực từ xã hội Nhà nước có đủ sức mạnh để trấn áp kẻ thù

- Đã xây dựng được khối liên mình công nông trí vững mạnh Thông qua Đại hội là IX, Đảng đãchỉ rõ: Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúcthượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt đượcdưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượngsản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại Bỏ qua chủ nghĩa tư bản là chỉ bỏ qua vai trò thống trị

về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản, còn những thứ khác cần kế thừa và sử dụng có chọnlọc Nội dung kế thừa gồm: Kinh tế thị trường: sản xuất dựa trên quy luật thị trường, chịu sự chiphối của 3 quy luật: quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh; Nhà nước phápquyền: là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, nhà nước chúng ta là nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa; Kế thừa những thành tựu nhân loại đạt được dưới CNTB, những thành tựu trên tất

cả các lĩnh vực: khoa học công nghệ, y tế, giáo dục, quản lý,…

-Theo Đại hội đại biểu lần thứ X, Đảng ta có 8 đặc trưng trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

+Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

+Do nhân dân làm chủ

+Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sx hiện đạivà quan hệ sx tiến bộ phù hợp +Có nền văn hóa tiên tiến, đậm dà bản sắc dân tộc

+Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện

Trang 22

+Các dân tộc trong cộng đồng VN bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng pháttriển.

+Có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nh6an dân do Đảngcộng sản lãnh đạo

+Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

-Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát

triển năm 2011), Đảng ta đã xác định 8 phương hướng cơ bản nhằm thực hiện thành công các

mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kì quá độ ở nước ta, bao gồm:

+Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môitrường

+Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

+Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm dà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đờisống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

+Đảm bảo vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

+Thực hiện đường lới đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triể, chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế

+Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mởrộng Mặt trận dân tộc thống nhất

+Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân +Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Như vậy phải khẳng định những phương án, đường lối cơ bản nêu trênđã thể hiện tính hệ thống,đồng nhất của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt không chỉ vừa đúng xu thếthời đại mà còn phù hợp với thực tiễn VN Đây cũng là hệ thống lý luận về CNXH và con đường

đi lên CNXH ở VN mà không gì thay đổi được

3 Dân chủ XHCN

* Cơ sở lý luận:

- Khái niệm dân chủ: là chính quyền, là quyền lực của dân (Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên

tại Hy Lạp có nghĩa là "quyền lực của nhân dân" được ghép từ chữ (dēmos), "nhân dân" và (kratos), "quyền lực") Qua

đó, ta thấy rằng dân chủ nào cũng mang bản chất của giai cấp thống trị, dân chủ nào cũng là hình thức chính quyền nhà nước mà quyền lực thuộc về dân.

- Đặc trưng cơ bản của dân chủ XHCN: mọi quyền lực đều thuộc về dân Mang bản chất giaicấp công nhân dựa trên nền tảng kinh tế

+ Là chế độ dân chủ mà mọi quyền lực thuộc về dân (Vừa qua ngày 22.5 nhân dân cả nước đã thực hiện quyền lợi của mình bằng cách tự mình bầu chọn ra những người đại diện có đủ đức, đủ tài vào Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021) Qua đó, ta thấy rằng bản chất của dân chủ XHCN là ưu việt và tốt đẹp nhất bởi mọi quyền lực đều thuộc về dân.

+ Bản chất của nó thể hiện ra đó là bản chất của giai cấp công nhân.

+ Cơ sở để bảo đảm quyền lực của dân là cơ sở kinh tế đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.

+ Điều kiện để bảo đảm và thực hiện trực tiếp là bằng nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản lãnh đạo.

* Quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam:

Trang 23

- Thuận lợi: (giáo trình)

- Khó khăn: (giáo trình)

- Cơ hội: (giáo trình)

- Thách thức: (giáo trình)

C TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ XÂY DỰNG DÂN CHỦ XHCN Ở NƯỚC TA:

Theo Cương lĩnh bổ sung phát triển năm 2011:

“ Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất

nước Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.

Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.

Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”.

-> Qua nội dung trên ta thấy rằng có 4 yêu cầu được đặt ra trong quan điểm của Đảng ta về xây dựng dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay, đó là:

+ Phải bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp (Ví dụ: như vụ việc tại quán cafe “Xin chào” ở Bình Chánh, đó là vi phạm nghiêm trọng dân chủ…)

+ Thực hiện dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội –

> thể hiện tính toàn diện).

+ Dân chủ phải gắn liền với kỷ luật, kỷ cương (Phê phán, lên án, đấu tranh với các biểu hiện vô chính phủ - > phải có ý thức chấp hành pháp luật Ví dụ: như việc chấp hành không xả rác bừa bãi, giữ gìn

vệ sinh môi trường trong các dịp lễ hội tại thành phố).

+ Dân chủ phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm (Ví dụ: như việc Thành phố đang cố gắng, nổ lực hồi phục lại các dòng kênh bằng cách cải tạo và thả cá Thế nhưng, một bộ phận người dân lại vô ý thức cố ý câu cá tại các dòng kênh trên -> Việc sai là thế nhưng hiện tại luật pháp vẫn chưa có quy định cụ thể về việc xử phạt đối với các hành vi này -> vì vậy, dân chủ nhất thiết phải được thể chế hóa bằng pháp luật để điều chỉnh những hành vi vi phạm trong xã hội và cũng để xây dựng ý thức của người dân ngày càng tốt đẹp hơn./.

3 Phân tích quan điểm của Lenin “Dân chủ VS so với bất cứ ché độ dân chủ TS nào tiến bộ nhất dân chủ gấp triệu lần hơn” Liên hệ với nhà nước ta hiện nay = giống câu 18 : dân chủ CMCN

3.1 Khái niệm dân chủ

Khái niệm của cô: “Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị xã hội trong đó thừa nhận nhân dân

là chủ thể của quyền lực”

+ là hình thức chính quyền nhà nước

+ luôn mang bản chất giai cấp

Abraham Lincoln cũng tuyên bố dân chủ là một chính quyền của dân, do dân và vì dân (a government of the people, by the people, for the people), đối lập với chế độ độc tài.

“Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát

triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội – 2011, trang 4)

Dân chủ gắn bó chặt chẽ với quyền sống của con người, là nhu cầu không thể thiếu của từng cá nhân cũng như của công đồng người trong xã hội nhất là xã hội văn minh Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và

sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, các chế độ xã hội khác nhau Lê Nin quan niệm: chế độ dân chủ là chế độ thống trị của đa số đối với thiểu số do vậy dân chủ được nhìn nhận như là một hình thái nhà nước,

Trang 24

hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân Là làm sao cho dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm Đảng cộng sản việt nam khẳng định dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước; dân chủ gắn liền với kỷ luật kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật đảm bảo; dân chủ là nguyên tắc tổ chức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.

Từ các cách tiếp cận trên , có thể hiểu dân chủ: là một giá trị xã hội phản ánh chủ thể quyền lực

là nhân dân, khẳng định những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền thành một chế độ chính trị xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự

do, bình đẳng, tôn trọng dự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời các quyền lực này được thể chế thành các nguyên tắc đề quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

Dân chủ là sản phẩm của lịch sử, là thành quả đấu tranh của giai cấp, đấu tranh của giải phóng dân tộc, đấu tranh cho văn minh tiến bộ của loài người qua các giai đoạn lịch sử Mỗi giai đoạn lịch sử đều ghi mốc quan trọng trên bước đường phát triển dân chủ và thể hiện sự đấu tranh không khoan nhượng với những yếu tố phi dân chủ (sự độc tài, chuyên chế, phát xít…) Chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã chỉ rõ dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên, cũng không phải là bẩm sinh , càng không phải là quà tặng của thế giới siêu nhân nào đó, mà là kết quả của quá trình đấu tranh trong trường kỳ lịch sử của nhân loại vì sự tiến bộ, văn minh Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh bước tiến về quyền của con người dân chủ phát triển càng cao quyền con người càng được khẳng định; tự do bình đẳng trong xã hội càng cao Do vậy dân chủ ngày càng trở thành tiêu chí, thước đo của sự tiến bộ xã hội, trình độ văn minh của loài người Bản chất của dân chủ được thể hiện ở tính giai cấp của nó.

Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội Nó gạt bỏ những kẻ đặc quyền, đặc lợi ra khỏi vị trí quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Xây dựng nền

dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc

về nhân dân Muốn vậy, vấn đề trung tâm là phải xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước pháp quyền không phải cái riêng có của

chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa xã hội cũng cần thực hiện nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa khác về bản chất với nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ: pháp quyền dưới chủ nghĩa tư bản thực chất là công cụ của giai cấp tư sản để thống trị và bóc lột giai cấp công nhân và nhân dân lao động; pháp quyền dưới chủ nghĩa xã hội là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và các công cụ khác, nhưng việc sử dụng bất cứ công cụ nào cũng phải trong khuôn khổ pháp luật Thông qua thực thi pháp luật, nhà nước thể hiện nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

3.2 Những đặc trưng cơ bản của dân chủ XHCN

(bảng so sánh của cô)

Trang 25

Mang bản chất của GCTS Mang bản chất của GCCN

- Chủ nghĩa Mác – lê Nin cũng khẳng định dân chủ mang tính giai cấp sâu sắc không có dân chủ trừu tượng, phi giai cấp, ngoài giai cấp

- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là đảng cộng sản giành được chính quyền, tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (CM tháng 10 Nga), hoặc thông qua cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một số nước (Việt Nam, trung quốc…).

Dựa trên chế độ chiếm hữu TN, TBCN về các TLSX

chủ yếu

Dựa trên CĐ công hữu XHCN về các TLSX chủ yếu

có thể thấy, trong thời kỳ quá độ cũng như khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng xong, nền kinh tế vẫn

là đa sở hữu, tuy vị trí, vai trò của từng loại sở hữu trong hai thời kỳ không hoàn toàn giống nhau Thành phần công hữu tồn tại và phát triển trong chế

độ đa sở hữu đó.

Sở hữu công mà tiêu biểu là kinh tế nhà nước, đóng vai trò nòng cốt và là xương sống của nền kinh tế, định hướng và dẫn dắt các loại hình sở hữu khác phát triển theo quỹ đạo xã hội chủ nghĩa bằng luật pháp và chính sách của Nhà nước, bằng các đòn bẩy của kinh tế nhà nước như đầu tư vốn, cho vay tín dụng, cung ứng thiết bị và công nghệ cao, đặt hàng, tiêu thụ sản phẩm, liên kết, liên doanh sản xuất, kinh doanh

Được thực hiện bằng nhà nước PQ tư sản Được thực hiện bằng nhà nước PQ XHCN

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người khởi xướng những quan điểm về nhà nước pháp quyền của dân, do dân,

vì dân gắn với quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hiến pháp năm 1946 đã thể hiện tinh thần xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: 1/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân 2/ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp 3/ Nhà nước được

tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội 4/ Nhà nước tôn trọng và bảo

Trang 26

đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật 5/ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Dưới sự lãnh đạo của Đảng TS trên nền chính trị đa

nguyên

Không vượt quá giới hạn cho phép của CNTB

Dưới sự LĐ duy nhất của Đảng Cộng sản

- Ngày càng mở rộng quyền làm chủ cho nhân dân trên tất các lĩnh vực của đời sống xã hội

Nhìn lại năm qua có thể thấy quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện theo chiều hướng tiến bộ hơn, đi vào chiều sâu hơn Chẳng hạn trong vấn đề giải trình, hoạt động tiếp dân, các cơ quan công quyền từ trung ương đến địa phương đã có những đối thoại để giải quyết các khiếu nại, tố cáo, bức xúc của người dân theo chiều hướng tốt hơn, đó là một giải pháp thể hiện tôn trọng nhân dân là người chủ Trong vấn đề thông tin, trách nhiệm thông tin cho dân biết (trừ bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng) gần đây được chấn chỉnh rõ ràng hơn Hiện nay mạng xã hội cũng đưa tin rất nhanh và đã bắt đầu thâm nhập sâu vào đời sống xã hội Chúng ta cũng không thể ngăn cấm thông tin trên mạng xã hội - Thủ tướng cũng đã nói như vậy Đó là một ý thức rất khác, ngày xưa cái gì quản không được thì cấm.

3.3 Quá trình dân chủ ở nước ta (dựa trên gợi ý của cô, chép của phó giáo sư)

17.1.1 Thành tựu

Nhận thức về dân chủ tăng lên

- Trong quá trình đổi mới, thực hiện chủ trương dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội, chúng ta có

nhiều bước tiến quan trọng trong thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Trên lĩnh vực kinh tế: một

là, chúng ta đã xác lập và từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế; đặt nền kinh tế dưới sự kiểm soát của nhân dân, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân Hai là, chúng ta đang từng bước

hình thành cơ chế kinh tế, mà ở đó mọi người lao động đều được tham gia vào sở hữu, quản lý dưới nhiều hình thức khác nhau Trong khi khẳng định vai trò nền tảng của chế độ công hữu, chúng ta cũng chủ trương đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp cổ phần, làm cho nó trở thành hình thức tổ chức

kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu Ba là, chúng ta đã nỗ lực kết

hợp giữa việc thực hiện nghiêm ngặt kế hoạch của Nhà nước với việc phát huy sáng kiến của doanh nghiệp, của người lao động Thông qua xây dựng và vận hành quy chế dân chủ trong doanh nghiệp, quyền tham gia của người lao động vào xác định phương án sản xuất kinh doanh, điều hành doanh nghiệp, bảo đảm các chế độ cho người lao động có những bước tiến đáng kể Việc thực hiện chủ trương giao quyền chủ động cho doanh nghiệp, quyền hành của giám đốc, của cán bộ quản lý doanh

nghiệp được xác định rõ hơn Bốn là, Đảng, Nhà nước có nhiều chủ trương, biện pháp để định hướng

sự phát triển của thị trường, làm cho thị trường thực sự là nơi cạnh tranh trên nguyên tắc giá trị, chất lượng để bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và người tiêu dùng

- Trên lĩnh vực chính trị, quyền làm chủ của nhân dân bao gồm: Thứ nhất, quyền được có một Nhà

nước thực sự dân chủ Nhà nước thực sự là công cụ thực thi những quyền chính đáng của nhân dân Nhà nước và mọi hoạt động của nó phải đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp và thông qua các tổ chức đại diện của nhân dân Nhân dân có quyền bày tỏ tín nhiệm hay bất tín nhiệm với mọi cơ quan nhà nước,

công chức nhà nước Thứ hai, mở rộng quyền của người dân tham gia vào công việc nhà nước Mức

độ nhân dân tham gia vào công việc nhà nước và xã hội, hiệu quả của sự tham gia đó là thước đo

Trang 27

trình độ dân chủ về chính trị của nhân dân , trình độ dân chủ của chế độ chính trị Thứ ba, bảo đảm

giữ vững định hướng XHCN, giữ vững nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh,

bảo đảm cho mọi người dân quyền tự do suy nghĩ, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng Thứ tư, mọi đại

biểu của dân phải được nhân dân bầu ra một cách thực sự dân chủ; mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật Nhìn vào thực tế, trên cả bốn vấn đề vừa nêu, chúng ta đều có những bước tiến căn bản, góp phần nâng cao quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội; từ đó, tính tích cực chính trị của nhân dân có bước tiến mới về chất.

- Trên lĩnh vực xã hội, chúng ta có những bước tiến quan trọng trên những vấn đề cơ bản sau Một là,

quyền công dân, quyền con người của nhân dân không chỉ được bảo đảm bằng pháp lý, thông qua

việc thể chế hoá các quyền đó thành luật, mà quan trọng hơn, nó được bảo đảm trong thực tế Hai là, quyền được bảo vệ về mặt xã hội của mọi công dân có nhiều chuyển biến tích cực Ba là, sự khác

biệt giữa các tầng lớp xã hội, giữa các vùng của đất nước, từng bước được khắc phục Việt Nam đã

hoàn thành chỉ tiêu xoá đói giảm nghèo trước thời hạn so với Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) mà Liên hiệp quốc đưa ra và được nhiều nước xem là mẫu mực Bốn là, hình thức các tổ chức ngoài nhà nước

ngày một đa dạng, phong phú; số lượng các tổ chức ngoài nhà nước phát triển mạnh; vai trò của các thiết chế ngoài nhà nước ngày một tăng.

- Ý thức bảo vệ thành quả dân chủ được hình thành

3.3.1 Hạn chế

- Trình độ dân trí không đều

Về trình độ chuyên môn và học vấn giữa đô thị và nông thôn cũng có một khoảng cách lớn 27,4% dân số đô thị từ 15 tuổi trở lên có trình độ trung học phổ thông, 15,3% có trình độ cao đẳng/đại học và 0,7% có trình độ sau đại học Trong khi đó, tỉ lệ tương ứng cho khu vực nông thôn là 16,9%, 3% và 0,03% Trên thực tế, đa số lớp người trẻ tuổi ở nông thôn di chuyển tới các khu vực đô thị để tiếp tục theo học các bậc học cao hơn hoặc để được học ở các cơ sở giáo dục có chất lượng tốt hơn; nhưng sau khi tốt nghiệp, phần đông trong số họ quyết định ở lại để sinh sống và làm việc tại các thành phố.

- Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, chỉ có 8% dân cư nông thôn từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc trình độ cao hơn (cao đẳng, đại học, trên đại học) Trong khi tỉ lệ dân cư đô thị

có trình độ chuyên môn kĩ thuật là 25,4% và có trình độ cao đẳng hoặc cao hơn là 13,4% Điều đó bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân bố trình độ kĩ thuật, chuyên môn và giáo dục giữa thành thị và nông thôn.

Trình độ dân trí, năng lực nhận thức và thực hành dân chủ của quần chúng nhân dân trong những năm đổi mới, tuy đã được nâng lên một bước, nhưng vẫn còn nhiều biểu hiện non yếu Sự hiểu biết

về các quy định của pháp luật, về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, nhìn chung còn chưa đầy đủ, còn cảm tính, xuôi chiều Tình trạng coi thường pháp luật, kỷ cương, kỷ luật, quy tắc sinh hoạt xã hội vẫn còn tiếp tục diễn ra.

- Năng suất lao động thấp

Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế công bố mới đây, năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần , “năng suất lao động của 15 người Việt Nam chỉ bằng 1 người Singapore”

- Năng lực quản lý nhà nước còn yếu kém

Một số tổ chức và cấp ủy đảng còn có biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quan liêu, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, không chấp hành nghiêm nghị quyết, không thực hiện tốt việc phê bình và tự phê bình trong Ðảng

Một ví dụ điển hình: là nước hàng đầu về xuất khẩu gạo, song cho đến nay Việt Nam vẫn bị động với thị trường gạo thế giới, luôn ở thế yếu so với các nước khác; người nông dân Việt Nam luôn chịu nhiều thua thiệt, rủi ro Việt Nam không tạo được hệ thống liên kết vững vàng trong sản xuất, xuất khẩu gạo, lại càng không chiếm lĩnh được vị thế làm chủ, hoặc ít nhất là tác động mạnh vào thị

Trang 28

- Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, nặng nề; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện

và đồng bộ; thực hiện cải cách hành chính còn chậm trễ gây nhiều phiền hà cho nhân dân Chưa quy định rõ ràng hợp lý chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy dẫn đến tình trạng vừa chồng chéo, vừa sơ hở, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau; một số bộ, ngành không thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được giao phó.

Ex: tình trạng “lạm phát” cấp phó

bài toán cân đối ngân sách Theo Phó Thủ tướng: Việc chúng ta không tăng được lương không phải chỉ tại ngân sách Ngân sách hiện nay kể cả dừng hết tất cả các thứ khác thì việc giải quyết tiền lương vẫn chưa cơ bản được vì chính bộ máy của chúng ta Số người hưởng lương từ ngân sách quá lớn.

"Kế hoạch biên chế công chức hàng năm của các bộ, ngành, địa phương gửi về Bộ Nội vụ luôn đề nghị tăng từ 9-11% so với số biên chế công chức giao của năm trước Tuy nhiên, trong thời gian các bộ, ngành, địa phương đang xây dựng đề án vị trí việc làm để làm cơ sở xác định biên chế công chức theo quy định của pháp luật, khi thẩm định, tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng biên chế công chức năm 2012 và năm 2013, Bộ Nội vụ đã đề nghị giữ cơ bản ổn định tổng biên chế công chức đã giao trong năm trước Từ tháng 8/2011 đến tháng 11/2013, biên chế công chức cơ bản không tăng, giữ ổn định số biên chế công chức đã giao và điều chỉnh trong năm 2011” – Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình cho biết.

Biên chế công chức tiếp tục được giữ ổn định như số biên chế công chức đã được giao các năm trước Tuy nhiên, theo báo cáo của các Bộ, ngành và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tính đến ngày 30/6/2014,

có một số địa phương vẫn có tình trạng sử dụng vượt chỉ tiêu biên chế công chức được giao.

- Tổ chức các đoàn thể nhân dân nhìn chung khắc phục chưa tốt tình trạng hành chính hóa trong hoạt động dẫn đến không nắm chắc được tâm tư, nguyện vọng và vướng mắc của quần chúng để kịp thời giải quyết hoặc báo cáo với tổ chức đảng, chính quyền phối hợp giải quyết

- Một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ của Ðảng, Nhà nước và các đoàn thể còn bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém so với yêu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới Trong điều kiện kinh tế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ sa sút về phẩm chất chính trị, về đạo đức lối sống, lợi dụng chức quyền dẫn đến quan liêu, tham nhũng, sa vào chủ nghĩa cá nhân.

3.3.2 Cơ hội

- Hội nhập vào dân chủ hóa trên thế giới

Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO Việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu mối quan hệ thương mại với các nước, các tổ chức là một cơ hội

để đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển và đây cũng là xu hướng tất yếu Rõ ràng rằng, việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong thời gian qua đã thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh

Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục-đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến.

Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế.

Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước.

Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước và không bị lề hóa

Trang 29

Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền.

Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế để các nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới

- Trình độ dân trí ngày càng cao

Nếu tính sinh viên đại học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội ngũ trí thức Việt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 300 nghìn người trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều, trong đó có khoảng 200 giáo sư, tiến sĩ đang giảng dạy tại một số trường đại học trên thế giới.

3.3.3 Thách thức

- Âm mưu diễn biến hòa bình

- Kiến thức pháp luật thấp

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991) đã nêu rõ: "Toàn

bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng

bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với

công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm" 2

- Hội nhập thế giới

+ Phương hướng

Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thời cơ, thuận lợi to lớn, song cũng có không ít khó khăn, thách thức Để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, theo chúng tôi, Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau.

Trước hết, cần tiếp tục khẳng định rõ: dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực của sự phát triển đất nước; xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân là vấn đề cơ bản nhất của dân chủ XHCN Dân chủ XHCN phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm Nhà nước quy định và bảo vệ các quyền công dân, quyền con người, đi đôi với đề cao nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người; đồng thời, chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của mỗi người.

Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;

thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Đây là vấn đề thuộc về nguyên tắc đảm bảo cho nền dân chủ XHCN ở nước ta không ngừng phát triển và hoàn thiện Để thực hiện tốt vấn đề đó, cần xây dựng nhà nước có đủ năng lực định ra pháp luật và tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân Hệ thống nhà nước phải không ngừng được hoàn thiện; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung

Trang 30

dân chủ; quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong thực hiện các quyền đó.

Thứ ba, phát huy vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể trong sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong việc đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chăm lo lợi ích của đoàn viên, hội viên

Thứ tư, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là Đảng cầm quyền, đủ sức

lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là vấn đề nguyên tắc, quyết định đến bản chất, phương thức, tổ chức hoạt động và hiệu quả của nền dân chủ XHCN ở nước ta Tóm lại, ở nước ta trong giai đoạn hiện nay việc mở rộng và phát huy dân chủ là mục tiêu và động lực phát triển Hơn lúc nào hết chúng ta phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, phải "làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình" Do vậy, "thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn"

Tham khảo: Thực trạng dân chủ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Đất nước đang trong thời kỳ phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng đang từng bước được hình thành, đang được xây dựng, nó chưa đạt tới độ chín muồi Song sau 30 năm đổi mới, dân chủ trong xã hội đã có những bước tiến căn bản.

Về thành tựu

1- Dân chủ trong kinh tế

Dân chủ trong kinh tế là cơ sở cho dân chủ trong các lĩnh vực khác Trong những năm đổi mới, với đường

lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mở ra những dư địa cho

việc thực hành và phát huy dân chủ Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Thể chế hóa chủ trương đó, Nhà nước đã ban hành Hiến pháp và nhiều đạo luật về kinh tế để tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành của nền kinh tế và cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Phá sản Nhờ đó người dân đã có quyền được tự do kinh doanh, quyền làm chủ trong lao động sản xuất, quyền sở hữu tài sản, quyền được làm những gì mà pháp luật không cấm Người dân cũng có quyền tham gia các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; tham gia quản lý và giám sát các hoạt động kinh tế của bộ máy nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã Người lao động có quyền được hưởng thụ một cách bình đẳng những thành quả kinh tế của đất nước Tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động kinh tế ngày càng thể hiện rõ Tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh của người dân ngày càng được phát huy Nhà nước chăm

lo cho người dân có công ăn việc làm, quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo.

2- Dân chủ trong chính trị

Trong những năm đổi mới, dân chủ trong chính trị có bước tiến nổi bật Chúng ta đã tiến hành đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, qua đó dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát huy Đã và đang tiến hành đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhờ đó dân chủ trong Đảng ngày một nâng cao Thực hiện bầu cử có số dư, ban hành Quy chế chất vấn trong Đảng Việc quy chế hóa hoạt động của cơ quan lãnh đạo các cấp đã đưa sự lãnh đạo của Đảng ngày càng vào nền nếp, dân chủ tốt hơn Sự tham gia của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên vào việc hoạch định, triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ngày càng rộng rãi và có hiệu quả Sinh hoạt dân chủ trong nội bộ

Trang 31

Đảng có bước tiến rõ rệt Những bước tiến đó đã có tác động mạnh mẽ đến việc phát huy dân chủ trong xã hội.

Chúng ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân Đã ban hành Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 với nhiều sửa đổi, bổ sung rất mới liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân Đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng liên quan tới tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức chính trị

- xã hội, các thành phần kinh tế; nhiều quyền công dân và quyền con người đã được cụ thể hóa và thể chế hóa Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, tăng cường hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các phiên họp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; toàn dân góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992; cải tiến việc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân, bầu cử có số dư; tăng cường đóng góp ý kiến của nhân dân vào các dự án luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hoạt động của ngành tòa án và Viện kiểm sát cũng có nhiều đổi mới theo hướng phát huy dân chủ của công dân, tăng cường vai trò của luật sư và tranh tụng tại tòa án để hạn chế bớt các án oan, sai.

Đã cải cách một bước nền hành chính quốc gia trên cả bốn phương diện: thể chế hành chính, tổ chức bộ máy, cán bộ công chức và tài chính công để giảm bớt phiền hà cho người dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh Cùng với việc đa dạng hóa hình thức tập hợp quần chúng, chúng ta cũng đã đa dạng hóa chức năng các tổ chức này Hàng loạt các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ra đời đã đáp ứng nhu cầu đa dạng, nhiều chiều của nhân dân về tập hợp quần chúng theo giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn, quê

hương, tâm linh Vừa qua Bộ Chính trị đã ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã

hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”.

Các hình thức thực hiện dân chủ (dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện) từng bước được hoàn thiện Quy chế dân chủ cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã thâm nhập sâu rộng vào mọi tầng lớp nhân dân, làm cho bầu không khí dân chủ ở cơ sở ngày càng khởi sắc, có sinh khí.

3- Dân chủ trong văn hóa - xã hội

Nhà nước bảo đảm cho nhân dân các quyền cơ bản, như quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do sáng tạo, quyền đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, quyền thảo luận và biểu quyết những vấn đề quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư Nhân dân

có quyền thảo luận và giám sát các dự án về an sinh xã hội, về xóa đói, giảm nghèo, về hỗ trợ do thiên tai

Để tạo hành lang pháp lý cho phát huy dân chủ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước đã ban hành các đạo luật, như Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Pháp lệnh Ưu đãi người có công Nhờ đó đã phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong sinh hoạt văn hóa tinh thần, trong hoạt động xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân được hưởng thụ những thành quả của văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Ngoài ra trong hoạt động lý luận khoa học môi trường dân chủ có bước tiến, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tự do tư tưởng, tranh luận, thảo luận, phát huy tính sáng tạo của mình, phản biện, đóng góp vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vào các chương trình, dự án kinh tế - xã hội của Trung ương và địa phương.

Tóm lại, qua 30 năm đổi mới, những thành tựu về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta rất quan trọng, góp phần tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đúng như Văn kiện Đại hội XI đã nhận định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ”; “Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng, nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn.

Trang 32

Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi trọng”(4).

- Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân Tình trạng quan liêu của bộ máy hành chính làm cho yêu cầu quản lý các quá trình kinh tế - xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa nhanh nhạy và có hiệu quả cao.

- Phương thức tổ chức, phong cách hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng quan liêu, chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở; cán bộ của nhiều đoàn thể chính trị - xã hội vẫn trong tình trạng “hành chính hóa”, “viên chức hóa”.

- Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một số lĩnh vực còn bị vi phạm Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức Dân chủ quá trớn, dân chủ cực đoan cùng sự độc đoán chuyên quyền vẫn diễn ra ở một số nơi, một số lĩnh vực Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp còn nhiều biểu hiện thiếu thực chất, chưa phát huy tốt vai trò của mình.

- Dân chủ trong Đảng chưa được thực hiện đầy đủ, vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức Tình trạng thiếu dân chủ trong Đảng thường đi đôi với việc lãnh đạo, quản lý độc đoán, chuyên quyền, thậm chí gia trưởng Ngược lại, có tình trạng dân chủ không đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít; chấp hành nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước không nghiêm Còn nhiều vi phạm trong việc thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu và tổ chức đảng, chính quyền quy định chưa rõ ràng, thực hiện chưa nghiêm dẫn đến tình trạng “tranh công đổ lỗi” - thành tích thì cá nhân nhận về mình, khuyết điểm thì đổ cho tập thể.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém: có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.

- Dân chủ với tư cách là một vấn đề chính trị do trình độ phát triển kinh tế quy định Trình độ thấp kém của kinh tế hiện nay ở nước ta với thể chế kinh tế thị trường còn sơ khai, chưa hoàn thiện sẽ hạn chế rất nhiều sự phát triển của dân chủ trong xã hội.

- Nước ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa xã hội cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ tư sản, nhân dân chưa có ý thức và năng lực thực hành dân chủ, chưa qua trường học của dân chủ tư sản, chưa

có một nền văn hóa dân chủ ở mức cần thiết, chưa có thói quen tuân thủ pháp luật trong một nhà nước pháp quyền nên dễ rơi vào cực đoan.

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mới đang từng bước được xây dựng; hệ thống pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ, thiếu nhất quán Nước ta còn thiếu nhiều cơ chế, quy chế, thiết chế để thực thi dân chủ, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

- Dân chủ gắn liền với dân trí, nhưng mặt bằng dân trí, trình độ dân trí chung của nhân dân còn thấp.

Trang 33

- Tác động của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của chúng ta để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Nhiều cấp bộ đảng, tổ chức nhà nước, cán bộ, đảng viên chưa thực sự là tấm gương về dân chủ trong xã hội.

4 Liên minh công – nông – trí thức Vì sao trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lại phải thực hiện liên minh công – nông – trí thức? Liên hệ với Việt Nam hiện nay (bao gồm luôn câu nội dung cơ bản của liên minh công nông)

*Khái niệm:Liên minh công nông trí thức là sự đoàn kết ,hợp lực ,hợp tác của công

nhân,nông dân và đội ngũ tri thức nhằm thực hiện nhu cầu và lợi ích của mỗi lực lượng vàcủa cả khối liên minh ,đồng thời góp phần thực hiện lợi ích chung của dân tộc của sự nghiệpxây dựng CNXH

* Tính tất yếu của liên minh trong thời kỳ quá độ lên CNXH:

- Xét dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật và phân công lao động, xuất phát từ yêu cầu khách quancủa quá trình sản xuất, trong XH tất yếu hình thành các lĩnh vực kinh tết cơ bản: công nghiệp, nôngnghiệp, khoa học và công nghệ, dịch vụ,…Thời kỳ quá độ xây dựng CNXH đặt ra yêu cầu kháchquan phải gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực này với nhau để hình thành nền kinh tế quốc dân thống nhất

và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho quá trình xây dựng CNXH

- Xét dưới góc độ chính trị XH, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, liên minh công – nông - tríthức nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để cải tạo XH cũ, xây dựng chế độ XH mới dưới sự lãnhđạo của Đảng Nói cách khác, thực hiện liên minh công – nông - trí thức nhằm tập hợp lực lượngtiến hành cách mạng vì công nhân, nông dân, trí thức không chỉ là 3 lực lượng đông đảo nhất trong

XH, mà họ còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển KT và trong đời sống chính trị Do vậy xâydựng khối liên minh nhằm tạo thành lực lượng nòng cốt của chế độ chính trị xã hội, trên cơ sở đóthực hiện đại đoàn kết toàn dân để tiến hành xây dựng CNXH Nhưng khối liên minh này phải được

tỗ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của GCCN

* Tầm quan trọng của liên minh trong thời kỳ quá độ lên CNXH:

Là lực lượng cơ bản đóng vai trò quan trọng về chính trị, KT, VH và XH Khi sản xuất càngphát triển hiện đại thì GCCN, giai cấp nông dân càng phải gắn bó chặt chẽ với đội ngũ trí trức để tạothành nền tảng vững chắc của chế độ và là cơ sở chính trị XH bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộngsản đối với toàn XH và khối liên minh Như vậy khối liên minh có tầm quan trọng đặc biệt nhằm tạo

ra nguồn lực và động lực to lớn để phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

* Nội dung toàn diện của liên minh trong thời kỳ quá độ:

Gồm nội dung chính trị, kinh tế, VHXH Trong đó nội dung kinh tế là nội dung cơ bản nhất

- Chính trị: thực chất là sự đoàn kết, hợp lực của công nhân, nông dân, trí thức để thực hiệncác nhiệm vụ chính trị nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chính trị để giữ vững định hướng lênCNXH

Ngày đăng: 31/08/2021, 12:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

tiến bộ hơn phương thức sản xuất cũ bị thay thế. Khi ấy hình thái kinh tế xã hội cũ sẽ thay đổi bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao, tiến bộ  hơn : đó là quy luật phát triển cơ bản của xã hội  loài người đã được lịch sử chứng minh, không một học thuyế - Tài liệu thi môn chủ nghĩa xã hội khoa học
ti ến bộ hơn phương thức sản xuất cũ bị thay thế. Khi ấy hình thái kinh tế xã hội cũ sẽ thay đổi bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao, tiến bộ hơn : đó là quy luật phát triển cơ bản của xã hội loài người đã được lịch sử chứng minh, không một học thuyế (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w