Ở Việt Nam, công ty TNHH một thành viên lần đầu tiên được thừa nhận trong Luật doanh nghiệp 1999, trong khi đó, đối với pháp luật các nước trên thế giới, mô hình công ty này đã được thừa
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
TRẦN THỊ THU THỦY
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
Kon Tum, tháng 7 năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
BÁO CÁO THỰC TẬP
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : Châu Thị Ngọc Tuyết
SINH VIÊN THỰC HIỆN : Trần Thị Thu Thủy
Kon Tum, tháng 7 năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sáu tuần thực tập ngắn ngủi là cơ hội cho em tổng hợp và hệ thống hóa lại những kiến thức đã học, đồng thời kết hợp với thực tế để nâng cao kiến thức chuyên môn Tuy chỉ có sáu tuần thực tập, nhưng qua quá trình thực tập, em đã được mở rộng tầm nhìn và tiếp thu rất nhiều kiến thức thực tế Từ đó em nhận thấy, việc cọ sát thực tế là vô cùng quan trọng – nó giúp sinh viên xây dựng nền tảng lý thuyết được học ở trường vững chắc hơn Trong quá trình thực tập, từ chỗ còn bở ngỡ cho đến thiếu kinh nghiệm, em đã gặp phải rất nhiều khó khăn nhưng với sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô khoa Sư phạm và
dự bị đại học và sự nhiệt tình của các cô chú, anh chị trong Phòng đăng ký thành lập doanh nghiệp thuộc Sở kế haochj và đầu tư tỉnh Kon Tum đã giúp em có được những kinh nghiệm quý báu để hoàn thành tốt kì thực tập này cũng như viết lên bài báo cáo cuối
kỳ Em xin chân thành cám ơn
Trang 4i
MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Kết cấu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP 3
1.1 Lịch sử hình thành của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum 3
1.2 Chức năng nhiệm vụ 3
1.3 Phòng Đăng ký kinh doanh 3
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 5
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 5
2.1.1 Lịch sử hình thành môt hình công ty TNHH 5
2.1.2 Khái niệm công ty TNHH một thành viên 5
2.1.3 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 7
2.1.4 Phân biệt loại hình công ty TNHH một thành viên với một số loại hình công ty khác 9
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 10
2.2.1 Điều kiện để thành lập công ty TNHH một thành viên 10
2.2.2 Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 13
2.2.3 Quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục về đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên 14
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN TẠI KON TUM - GIẢI PHÁP 20
3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN TẠI KON TUM 20
3.1.1 Tình hình thành lập và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại Kon Tum 20
3.1.2 Đánh giá thực trạng về đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên 21
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THANH VIÊN 24
3.2.1 Giải pháp nhằm giảm hạn chế về quy định góp vốn khi thành lập công ty 24
3.2.2 Giải pháp nhằm giảm hạn chế về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp 24
Trang 53.2.3 Giải pháp nhằm giảm hạn chế về việc áp dụng công nghệ trực tuyến trong đăng
ký doanh nghiệp 24
KẾT LUẬN 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 6Bảng 3.1 Tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2015-2016 23
Bảng 3.2 Tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2016-2017 24
Bảng 3.3
Tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2017-2018 25
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 21/12/1990, Quốc hội khóa VIII nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua hai đạo luật quan trọng là Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, tạo
cơ sở pháp lý cho các loại hình DN ngoài quốc doanh như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), DN tư nhân phát triển, góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước Tuy vậy, theo thời gian nhiều nội dung của hai đạo luật đó đã tỏ ra bất cập, không còn đáp ứng nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các loại hình DN giai đoạn mới Để đảm bảo phát huy nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế; đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh của các DN thuộc mọi thành phần kinh tế; bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư; tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật Luật doanh nghiệp (1999) thay thế Luật Công ty (1990), Luật doanh nghiệp (2005) thay thế Luật doanh nghiệp (1999) và hiện nay, Luật doanh nghiệp năm 2014 đã thay thế Luật doanh nghiệp năm 2005 Công ty TNHH mặc dù ra đời muộn nhưng là loại hình DN được các nhà đầu tư ưa chuộng bởi sự kết hợp hoàn hảo những ưu điểm của công ty hợp danh và công ty cổ phần, phù hợp với các nhà đầu tư có quy mô nhỏ và vừa Ở Việt Nam, công ty TNHH một thành viên lần đầu tiên được thừa nhận trong Luật doanh nghiệp
1999, trong khi đó, đối với pháp luật các nước trên thế giới, mô hình công ty này đã được thừa nhận cách đây nhiều năm và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lựa chọn một loại hình kinh doanh phù hợp giảm được rủi ro, chuyển dịch vốn, hợp vốn dễ dàng với các chủ thể kinh doanh khác mà không làm mất đi bản chất pháp lý của DN Và hiện nay đây là một loại hình kinh doanh được nhiều nhà đầu tư lựa chọn để thành lập doanh nghiệp Mặc dù
hệ thống pháp luật Việt Nam đang không ngừng được hoàn thiện để tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các nà đầu tư trong quá trình thành lập công ty TNHH một thành viên, tuy nhiên trong quá trình áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập như: quy định chưa rõ ràng dẫn đến việc áp dụng luật trên thực tế còn nhiều vướng mắc, có những vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa được luật điều chỉnh gây khó khăn cho các chủ thể khi tiến hành đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên
Với những lý do trên, em chọn nghiên cứu về đề tài “Pháp luật về đăng ký thành
lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên - thực tiễn tại tỉnh Kon Tum”
2 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những vấn đề lý luận về Pháp luật
về đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên theo Luật DN (2014) và thực tiễn áp
dụng các quy định pháp luật đó trên địa bàn thành phố Kon Tum, từ đó kiến nghị nhằm năng cao hiệu quả của các quy định pháp luật về đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Bài viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về quy định đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên, trong đó trọng tâm là nghiên cứu các quy định của Luật DN (2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi theo không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu họạt động đăng ký thành lập của công ty TNHH một thành viên do thành phố Kon Tum quản lý và hoạt động trên địa bàn thành phố
Phạm vi theo thời gian: Từ năm 2015-2018
Trang 82
4 Kết cấu
Ngoài lời nói đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, bài báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đơn vị thực tập
Chương 2: Những vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về công ty tnhh một thành viên tại Kon Tum - giải pháp
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP 1.1 Lịch sử hình thành của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum
Vào ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 78/SL thành lập Ủy ban Nghiên cứu Kế hoạch Kiến thiết - tiền thân của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước trước đây và Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày nay Gắn bó chặt chẽ với vận mệnh của
Tổ quốc qua những chặng đường lịch sử, ngành Kế hoạch và Đầu tư đã có nhiều đóng góp vào việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược mà Đảng đã đề ra trong từng thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội; bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Cùng với sự phát triển chung của tòan ngành, ngay từ những năm chiến tranh, chính quyền tỉnh còn ở trong căn cứ, ngành kế hoạch tỉnh Kon Tum đã ra đời, với nhiệm vụ xây dựng hậu cứ, lập kế hoạch phát triển sản xuất, cung cấp vật tư trang thiết bị, lương thực thực phẩm và nhu yếu phẩm thiết yếu, bảo đảm đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, phục vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu; góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nói chung, giải phóng tỉnh nhà nói riêng Sau ngày thống nhất Tổ quốc, năm 1976, hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum được sáp nhập, bắt tay vào xây dựng phát triển kinh tế-xã hội, vừa tổ chức phòng thủ biên giới phía Tây của Tổ quốc, vừa đấu tranh truy quét các lực lượng phản động và bọn Fulrô Ngành kế hoạch tỉnh Gia Lai - Kon Tum đã tham mưu đắc lực cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội dài hạn, 5 năm và hàng năm; các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng nhằm phục vụ tốt công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Tháng 08/1991, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, tỉnh Kon Tum được tái lập trên
cơ sở chia tách từ tỉnh Gia Lai-Kon Tum Đây cũng là thời điểm Ủy ban Kế hoạch-Thống
kê tỉnh Kon Tum và các bộ phận kế hoạch các Sở, ngành, huyện, thị xã được thành lập Đến năm 1996, Ủy ban Kế hoạch tỉnh được đổi tên thành Sở Kế hoạch và Đầu tư
1.2 Chức năng nhiệm vụ
Qua nhiều lần thay đổi, bổ sung và hòan thiện, đến nay chức năng, nhiệm vụ của Sở
Kế hoạch và Đầu tư cơ bản đã được qui định rõ Theo Quyết định số 54/2009/QĐ-UB ngày 05/10/2009 của UBND tỉnh Kon Tum Về việc ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum thì Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư bao gồm các lĩnh vực: tham mưu tổng hợp về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; tổ chức thực hiện và kiến nghị, đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh; quản lý đầu tư trong nước, ngoài nước ở địa phương; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, các nguồn viện trợ phi Chính phủ NGO, đấu thầu, đăng
ký kinh doanh trong phạm vi địa phương Ngoài ra, Sở Kế hoạch và Đầu tư còn được UBND tỉnh giao thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng khác như triển khai Dự án giảm nghèo miền Trung; Dự án Kon Tum-Liên Hợp quốc; Thường trực Ban chỉ đạo sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp; Thường trực Ban Chỉ đạo các CTMTQG; … Để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao, bộ máy tổ chức của Sở bao gồm 09 phòng chức năng, 01 Trung tâm Xúc tiến đầu tư, 02 Ban quản lý, với trên 90 cán bộ, công chức, viên chức và người lao động
1.3 Phòng Đăng ký kinh doanh
Chức năng, nhiệm vụ:
Trang 104
- Dự thảo chương trình, kế hoạch sắp xếp, đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý; cơ chế quản lý và chính sách hỗ trợ đối với việc sắp xếp doanh nghiệp nhà nước; tổng hợp tình hình sắp xếp, đổi mới phát triển doanh nghiệp nhà nước;
- Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về thủ tục đăng ký doanh nghiệp; đăng ký tạm ngừng kinh doanh; cấp mới, bổ sung, thay đổi, cấp lại và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, Văn phòng đại diện trên địa bàn thuộc thẩm quyền của Sở; phối hợp với các ngành kiểm tra, theo dõi, tổng hợp tình hình và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm sau đăng ký doanh nghiệp của các doanh nghiệp tại địa phương; thu thập, lưu trữ và quản lý thông tin về đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
- Theo dõi tình hình hoạt động sau đăng ký kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh;
- Xây dựng, quản lý và cung cấp thông tin về doanh nghiệp trong phạm vi địa phương cho Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ngành có liên quan, Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo định kỳ và các tổ chức, cá nhân có yêu cầu;
- Hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký kinh doanh cho các huyện, thành phố trong tỉnh về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã;
- Quản lý, hướng dẫn hoạt động của Hội doanh nghiệp tỉnh;
- Thực hiện đăng ký doanh nghiệp trên hệ thống thông tin đăng ký kinh doanh quốc gia (NBRS)
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc phân công
Trang 11CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ
THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
2.1.1 Lịch sử hình thành môt hình công ty TNHH
a Lịch sử hình thành mô hình công ty TNHH trên Thế Giới
Về mặt lịch sử, mô hình công ty TNHH ra đời sau hình thức công ty cổ phần và càng muộn hơn so với các loại hình công ty đối nhân Các công ty theo mô hình của công
ty TNHH chỉ thực sự xuất hiện ở cuối thế kỷ 19 và phát triển mạnh ở thế kỷ 20 Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mô hình công ty TNHH xuất hiện như là một sản phẩm của hoạt động lập pháp khi mà người Đức đã "sáng tạo" ra mô hình Gesellschaft mit beschränkter Haftung - GmbH theo một đạo luật về công ty vào năm 1892
Sự xuất hiện của mô hình công ty TNHH có lẽ sẽ thích hợp cho kinh doanh ở quy
mô vừa và nhỏ Mô hình công ty này vừa có yếu tố quan hệ nhân thân gữa các thành viên như công ty đối nhân, vừa có tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm hữu hạn của thành viên như công ty cổ phần Vì thế, mô hình này dường như được ưa chuộng ở tất cả các nước Tỷ lệ các công ty TNHH trong tổng số các công ty thường chiếm rất cao, ví dụ ở Anh vào tháng 3 năm 2001 có tới 99% trong tổng số 1,5 triệu công ty ở nước này là công
ty TNHH (private company) Vào cuối tháng 6 năm 2002, ở Úc có tới 98,3% trong tổng
số 1,248 triệu các công ty là công ty TNHH (proprietary company limited by shares)
b Lịch sử hình thành mô hình công ty TNHH ở Việt Nam
Pháp luật công ty châu Âu đã được người Pháp đem đến Việt Nam từ cuối thế kỷ 19
và nửa đầu thế kỷ 20, vì thế chẳng có gì ngạc nhiên khi mà pháp luật công ty của Việt Nam đã bị ảnh hưởng lớn bởi mô hình luật công ty châu Âu Các hình thức công ty như trong luật thương mại của Pháp đã xuất hiện trong các Bộ luật thời Pháp thuộc như Dân luật thi hành tại các tòa án Nam Bắc kỳ 1931 và Bộ luật thương mại Trung Kỳ 1942 Hai
bộ luật này đều có quy định về các mô hình công ty, được gọi là hội hay công ty, mà chúng ta thấy ngày nay trong luật định Việt Nam Những quy định của Bộ luật thương mại Trung Kỳ vẫn tiếp tục được áp dụng tại miền Nam Việt Nam cho đến khi Bộ luật thương mại Việt Nam Cộng hòa năm 1972 có hiệu lực áp dụng Trong Bộ luật thương mại nước Việt Nam Cộng hòa năm 1972, mô hình công ty TNHH (hội trách nhiệm hữu hạn) cũng tiếp tục được ghi nhận bên cạnh các hình thức công ty khác
2.1.2 Khái niệm công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên còn được gọi với tên khác là “công ty TNHH một chủ” (Tiếng Anh là Sole member limited liability company) Công ty TNHH một chủ ra đời là hệ quả pháp lý đặc biệt của quá trình phát triển của công ty TNHH khi toàn bộ tài sản của một công ty TNHH nhiều thành viên (vì những lý do khác nhau) đã chuyển vào tay một thành viên duy nhất Ví dụ, khi một thành viên của công ty TNHH có hai thành viên chết, hoặc một thành viên ra khỏi công ty Trong trường hợp này, nếu công ty đang hoạt động có hiệu quả, pháp luật nhiều nước cho phép công ty này tiếp tục tồn tại, không phải chuyển đổi hình thức, cũng như không bị phụ thuộc phải giải thể công ty Như vậy, công ty TNHH từ chỗ có nhiều chủ sở hữu đã trở thành công ty chỉ có một chủ, từ chỗ có nhiều thành viên đã trở thành công ty chỉ có một thành viên Sau này, trong quá trình phát triển, công ty TNHH một chủ đã được thành lập mới và không ngừng tăng lên về số lượng
a Khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trên thế giới
Khái niệm về công ty TNHH một thành viên ở các nước trên thế giới có sự khác biệt Hệ thống pháp luật của Đức, Anh, Hoa Kỳ đều ghi nhận và có những quy định cụ
Trang 126
thể về loại hình công ty TNHH một thành viên Luật Công ty TNHH của Cộng hòa Liên bang Đức đã định nghĩa: “Công ty TNHH do một hay nhiều người sáng lập trên cơ sở những quy định của Luật và theo đó có mục đích hoạt động được pháp luật cho phép”1 Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: “Công ty có thể được thành lập trong những trường hợp do Luật định bằng hành vi ý chí của một người.”2 Trong khi đó pháp luật Mỹ không đưa ra quan niệm cụ thể về công ty TNHH một thành viên mà chỉ quy định trong Luật Thương mại Mỹ: luật pháp cho phép thành lập công ty TNHH một thành viên.3
Như vậy, tính đặc thù của công ty TNHH một thành viên ở các nước trên thế giới so với các loại hình công ty nói chung đó là không có sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân,
tổ chức để thành lập công ty, mà một cá nhân có thể độc lập thành lập công ty Loại hình công ty này được pháp luật các nước thừa nhận xuất phát từ những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, đó là một sự đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn kinh doanh Trường hợp
trong quá trình hoạt động vì nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho công ty TNHH chỉ còn một người Do đó, cần phải thừa nhận chính thức loại hình công ty này về mặt pháp
lý
Thứ hai, mô hình TNHH tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh hạn chế rủi ro bằng
cách chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp Chính đặc điểm này mà mô hình TNHH này giúp các nhà kinh doanh mạnh dạn đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào có lợi cho
xã hội Trường hợp phải chịu trách nhiệm vô hạn, họ không dám đầu tư vào những khu vực có rủi ro lớn và như vậy sẽ gây tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội Đây là lý
do cơ bản nhất cho sự ra đời và phát triển của công ty TNHH một thành viên
b Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên một thành viên ở Việt Nam
Pháp luật Việt Nam trước đây cũng không ghi nhận công ty TNHH một thành viên4 Bởi vì, ở giai đoạn này công ty vẫn được hiểu theo nghĩa truyền thống, gồm ba đặc trưng:
sự liên kết của nhiều người thể hiện thông qua việc góp vốn bằng tài sản hoặc bằng giá trị tinh thần; sự liên kết phải thông qua một sự kiện pháp lý đó là hợp đồng thành lập công ty; mục đích của sự liên kết đó là nhằm tìm kiếm lợi nhuận Như vậy, trong ba điều kiện thì công ty TNHH một thành viên không thỏa mãn hai điều kiện, bởi vì, nếu chỉ có một
cá nhân hay một tổ chức thì không thể hiện được bản chất của công ty TNHH theo quy định khi đó, không thể có sự góp vốn Công ty TNHH một thành viên là DN do một tổ chức hoặc một chủ cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty) Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ Lần đầu tiên Luật DN năm 1999 quy định về công ty TNHH một thành viên tuy nhiên, chỉ quy định công ty TNHH một thành viên là tổ chức làm chủ sở hữu Luật DN 2005 đã phát triển và mở rộng cả cá nhân cũng có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH một thành viên thuộc loại hình công ty đối vốn có
tư cách pháp nhân, nhưng không được quyền phát hành cổ phiếu Đến luật doanh nghiệp
2014 thì khái niệm công ty TNHH một thành viên được quy định tại khoản 1, Điều
73: ”Công ty TNHH một thành viên là DN do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở
hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty”
1
Nghị viện (1995), Luật Công ty TNHH Cộng hòa Liên bang Đức, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2
Nghị viện (1804), Bộ Luật Dân sự Cộng hòa Pháp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
3 Nghị viện (1962), Luật Thương mại thống nhất Mỹ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
4
Luật của quốc hội số 47-LCT/HĐNN ngày 21/12/1990 về công ty
Trang 132.1.3 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
a Thành viên công ty là một cá nhân hoặc một tổ chức
Theo Khoản 1, Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014 thì : “Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu”
Thành viên duy nhất này của công ty cũng chính là chủ sở hữu công ty Nếu như trước đây công ty TNHH một thành viên là một tổ chức thì bây giờ pháp luật nước ta đã thừa nhận chủ sở hữu công ty là một pháp nhân Điều này phù hợp với chính sách khuyến khích phát triển DN của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo ra môi trường pháp lý đa dạng và thuận lợi để cá nhân thành lập công ty riêng phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế cũng như các quy định của Luật DN Chính sự thừa nhận này tạo ra ưu thế riêng cho
công ty TNHH một thành viên so với loại hình DN tư nhân
b Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân
Cá nhân hay tổ chức thành lập công ty TNHH một thành viên được coi là có tư cách pháp nhân, tức là đáp ứng đầy đủ 4 điều kiện luật định theo Khoản 1, Điều 74 Luật dân
sự 2015, đó là: được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập; có
cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Pháp luật nước ta quy định các điều kiện để có tư cách pháp nhân như vậy là để góp phần tạo lập tư cách pháp lý độc lập và chế độ tự chịu trách nhiệm, nhất là trách nhiệm tài sản của các tổ chức, cá nhân đối với các hành vi pháp lý của mình Khi thành lập công ty, chủ
sở hữu là thành viên duy nhất của công ty phải cam kết góp vốn vào công ty với giá trị vốn góp và thời hạn góp vốn cụ thể Số vốn góp của chủ sở hữu được thể hiện trong Điều
lệ của công ty Trường hợp chủ sở hữu không góp đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi như là nợ của cá nhân, tổ chức đó đối với công ty Cá nhân,
tổ chức là chủ sở hữu công ty chỉ phải chịu trách nhiệm trong số vốn đã góp hoặc cam kết góp vào công ty, mọi nghĩa vụ phát sinh ngoài số vốn này thì không phải chịu trách nhiệm, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì chủ sở hữu phải liên đới chịu trách nhiệm đối với công ty Đây cũng chính là đặc điểm xuất phát từ chế độ chịu TNHH của công ty TNHH một thành viên
Thời điểm ghi nhận công ty TNHH một thành viên là pháp nhân cũng là một vấn đề quan trọng Theo nhiều nước thì công ty được coi là có tư cách pháp nhân ngay sau khi những thể thức thành lập đã hoàn tất, không cứ là công ty đã được công bố hay chưa Nói cách khác, pháp nhân của công ty phát sinh khi nó được thành lập xong mà không cần phải đợi đến lúc nó được công bố Còn ở Việt Nam Thời điểm ghi nhận công ty TNHH một thành viên là pháp nhân được quy định tại Khoản 2 Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014
thì: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được
cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”
c Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Một trong những đặc trưng của công ty đối vốn đó là tính chất hữu hạn của chủ sở hữu công ty đối với phần vốn góp của mình vào công ty đó Trong các loại hình DN thì công ty TNHH và công ty cổ phần đều có đặc điểm đó Tuy nhiên, ngay trong tên gọi của
nó, công ty TNHH đã thể hiện tính chất hữu hạn trong phạm vi trách nhiệm của thành viên công ty đối với các khoản nợ của công ty Theo quy định tại Khoản 29 Điều 5 Luật
doanh nghiệp 2014 thì: “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp
hoặc cam kết góp khi thành lập công ty” Vốn điều lệ của công ty có thể là tiền Việt Nam,
ngoại tệ, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sử dụng Trong quá trình hoạt
Trang 148
động kinh doanh, nếu phát sinh các khoản nợ và ngoài tài sản khác của công ty thì chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn điều lệ đã góp hoặc cam kết góp vào công ty chứ không phải đưa tài sản riêng của cá nhân, tổ chức ra để thanh toán các khoản
nợ đó như ở loại hình DN tư nhân Như vậy, DN TNHH một thành viên phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của công ty, chủ sở hữu công ty là cá nhân phải tách biệt các chi tiêu của cá nhân và gia đình mình với các chi tiêu trên cương
vị là chủ tịch công ty và giám đốc hoặc Tổng giám đốc5 Đây là một đặc điểm cho phép phân biệt công ty TNHH một thành viên với DN tư nhân vốn được coi là một loại hình
DN một chủ truyền thống DN tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn
ra thành lập và làm chủ DN tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh Trong DN tư nhân, không có sự tách bạch về tài sản cá nhân của chủ DN và tài sản của chính DN tư nhân đó
d Không được phát hành cổ phiếu ra công chúng để công khai huy động vốn
Theo khoản 1 Điều 120 Luật doanh nghiệp 2014 thì: “Cổ phiếu là chứng chỉ do
công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dũ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó” Rất nhiều công ty quyết định chọn phương án
phát hành cổ phiếu để phục vụ cho kế hoạch kinh doanh của DN mình Cổ phiếu là đại diện cho quyền sở hữu DN của mỗi cổ đông, vì thế DN không có trách nhiệm phải hoàn trả lại số tiền góp vốn đó cho những chủ sở hữu cổ phiếu DN của mình Trong các loại hình công ty thì công ty TNHH nói chung trong đó có Công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn Đây là một đặc điểm cho thấy sự khác biệt giữa công ty TNHH và công ty cổ phần Một đặc trưng nổi bật thể hiện rõ nét tính chất của công ty cổ phần đó là việc mô hình công ty này có quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn Đây là cách thức huy động vốn quy mô rất lớn mà công ty cổ phần có thể tiến hành Tuy nhiên, với đặc trưng của công ty TNHH thì hoạt động phát hành cổ phiếu
để huy động vốn là không đảm bảo vi fnó làm mất đặc trưng của loại hình doanh nghiệp này Do đó, trong trường hợp này công ty chỉ dựa trên khả năng tăng vốn điều lệ bằng tăng vốn góp của chủ sở hữu trong mô hình công ty TNHH một thành viên
e Quyền của chủ sở hữu trong việc thay đổi vốn điều lệ
Theo Khoản 1 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2014 Công ty TNHH một thành viên
được giảm vốn điều lệ trong trường hợp: “Hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ
của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký
DN và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu hoặc vốn điều lệ không được chủ sở hữu thanh toán đầy đủ và đúng thời hạn.” Đây là 1 điểm mới đáng ghi nhận trong Luật doanh nghiệp 2014 so với Luật doanh
nghiệp 2005, giải quyết được vấn đề trong quy định tại Khoản 1 Điều 67 Luật doanh nghiệp 2005 là công ty TNHH một thành viên được không được giảm vốn điều lệ với lý
do đây là loại hình DN do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đều lệ của công ty, nếu pháp luật cho phép công ty TNHH một thành viên được giảm vốn điều lệ, chủ sở hữu có thể lợi dụng quy định này để giảm vốn điều lệ một cách dễ dàng nhằm trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản, dẫn tới quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm Quy định trước đây lại không cho công ty TNHH một thành viên giảm vốn điều lệ, điều này làm hạn chế sự công bằng và bất hợp lý về quyền được giảm vốn điều lệ so với công ty TNHH hai thành viên được giảm vốn điều lệ khi đáp ứng được điều kiện đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký DN và
5 Khoản 3 Điều 76 Luật doanh nghiệp 2014
Trang 15bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ
sở hữu Đây là điều luật thể chế hóa nguyên tắc để xác định, đăng ký vốn thực góp của công ty, giải quyết tình trạng vốn không có thực (ảo) nhưng không thể xử lý được như hiện nay Theo đó, Công ty TNHH một thành viên trong trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định 90 ngày như đã cam kết khi đăng ký thành lập DN thì công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký vốn điều lệ 6
Ngoài ra, theo Khoản 5 Điều 76 Luật doanh nghiệp 2014 thì: “Trong quá trình hoạt
động DN cũng có thể điều chỉnh giảm vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn
bộ vốn điều lê cho tổ chức hoặc cá nhân khá;; trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn
đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty” Như vậy, chủ sở hữu công ty chỉ được
quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác Trường hợp chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày chuyển nhượng7 Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn8
2.1.4 Phân biệt loại hình công ty TNHH một thành viên với một số loại hình công ty khác
Đặc điểm Công ty TNHH một
thành viên
Công ty tư nhân Công ty cổ phần
Khái niệm Là doanh nghiệp do
một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ
sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công
ty
Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau, cổ đông có thể
là cá nhân hoặc tổ chức có quyền trự
do chuyển nhượng
cổ phần của mình cho người khác và chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm
vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
6 Khoản 3 Điều 74 Luật doanh nghiệp 2014
7
Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2014
8 Khoản 6 Điều 76 Luật doanh nghiệp 2014
Trang 16Không có quyền phát hành chứng khoán
Có quyền phát hành chứng khoán dưới hình thức cổ phần
Vốn góp - Công ty TNHH
một thành viên được quyền thay đổi vốn điều lệ
- Tài sản của chủ sở hữu và tài sản của công ty TNHH một thành viên tách biệt
- Chủ DN tư nhân
có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình tùy vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Không tách biệt tài sản của chủ DN tư nhân với tài sản của
DN tư nhân
- Công ty cổ phần có thể thay đổi vốn điều lệ
- Tài sản của chủ sở hữu và tài sản của công ty cổ phần tách biệt
Phạm vi chịu trách
nhiệm
Chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm
vi số vốn đã góp vào doạnh nghiệp
Tư cách pháp
nhân
Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp
Không có tư cách pháp nhân
Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
2.2.1 Điều kiện để thành lập công ty TNHH một thành viên
a Điều kiện về chủ sở hữu
Việc thành lập và đăng ký là quyền của công dân và tổ chức được nhà nước bảo hộ bằng pháp luật Công ty TNHH một thành viên là DN do tổ chức hoặc cá nhân làm chủ
sở hữu công ty, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ và tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn Điều lệ của công ty Do công ty TNHH một thành
Trang 17viên cũng là một DN và chịu sự điều chỉnh của luật DN, một số văn bản có liên quan khác đến luật DN như các công ty khác, công ty TNHH một thành viên sẽ được đăng ký theo những trình tự nhất định
Như vậy Luật DN 2014 phân chia 2 đối tượng về chủ thể: Đối tượng được quyền thành lập và quản lý DN, đối tượng được quyền góp vốn vào DN Đối với loại hình công
ty TNHH một thành viên chủ sở hữu công ty chính là người góp vốn để thành lập công ty TNHH một thành viên với điều kiện chủ sở hữu phải không thuộc đối tượng bị cấm thành lập DN Theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 18 Luật DN 2014 thì: tổ chức cá nhân ViệtNam, tổ chức, cá nhân nước ngoài đều có quyền thành lập và quản lý DN tại ViệtNam Trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật DN 2014 được quy định như sau:
”a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định
xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng
Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.”
b Điều kiện về tên công ty
Theo Điều 38 Luật doanh nghiệp 2014 thì tên công ty phải đảm bảo các yếu tố : ”a) Loại hình doanh nghiệp : Tên loại hình doanh nghiệp được viết là “công ty trách nhiệm hữu hạn” hoặc “công ty TNHH”
b) Tên riêng được viết bằng các chữ cái trong bảng tiếng việt
c) Tên công ty phải được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của công ty Tên công ty phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do công ty phát hành
Để đảm bào môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạng, pháp luật đã quy định một số điều cấm trong việc đặt tên doanh nghiệp như sau:
Thứ nhất, cấm đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn
Cấm đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký trong Cơ
sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã giải thể hoặc đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản.9
9 khoản 1 Điều 39 Luật doanh nghiệp 2014 và khoản 1 Điều 17 Nghị định 78/2015/NĐ – CP