CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN TẠI KON TUM - GIẢI PHÁP
3.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN TẠI KON TUM
3.1.1. Tình hình thành lập và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại Kon Tum
a. Tình hình thành lập và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại Kon Tum giai đoạn 2015-2016
Bảng 3.1: Tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2015-2016 Công ty
TNHH một thành
viên
Công ty tư nhân
Công ty TNHH hai thành
viên trở lên
Công ty cổ phần
Công ty hợp danh
Tổng số
Số doanh nghiệp thành lập (doanh
nghiệp )
129 25 46 16 0 216
Vốn (tỷ đồng) 605,7 26,3 237,47 188,8 0 1.058,27
Theo số liệu của sở kế hoạch và đầu tư cho thấy giai đoạn 2015-2016 có 216 doanh nghiệp đăng ký thành lập doanh nghiệp trong đó: Công ty TNHH hai thành viên trở lên chiếm 21.3 %, công ty cổ phần chiếm 7.4%, công ty tư nhân chiếm 11.6%, công ty TNHH một thành viên chiếm 59.7%, công ty hợp danh chiếm 0% trong tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập. Từ số liệu trên ta có thể thấy rằng loại hình công ty TNHH một thành viên là loại hình được các nhà đầu tư, kinh doanh lựa chọn nhiều nhất.
b. Tình hình thành lập và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại Kon Tum giai đoạn 2016-2017
Bảng 3.2: Tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2016-2017 Công ty
TNHH một thành
viên
Công ty tư nhân
Công ty TNHH hai thành
viên trở lên
Công ty cổ phần
Công ty hợp danh
Tổng số
Số doanh nghiệp thành lập (doanh
nghiệp )
141 7 37 29 0 214
Vốn (tỷ đồng ) 420,85 9,5 237,55 817,11 0 414,105
Theo số liệu trên bảng thì giai đoạn 2016-2017 có 214 số doanh nghiệp được thành lập là 2014 doanh nghiệp trong đó: Công ty tư nhân chiếm 3,3% (giảm 8,3% so với giai đoạn 2015-2016), công ty TNHH một thành viên chiếm 65,9% (tăng 6,2% so với giai đoạn 2015-2016), công ty cổ phần chiếm 13,6% (tăng 6,2% so với giai đoạn 2015-2016), công ty TNHH hai thành viên trở lên chiếm 17,2% (giảm 4,1% so với giai đoạn 2015- 2016) công ty hợp danh chiếm 0%. Ta có thể thấy rằngmô hình công ty TNHH một thành viên vẫn là mô hình được lựa chọn nhiều nhất và có sự tăng lên. Trongkhi đó mô hình công ty tư nhận lại có số lượng đăng ký sụt giảm. Có thể đưa ra giả thuyết rằng số nhà
21
đầu tư kinh doanh muốn kinh doanh riêng lẻ, tự làm chủ không lựa chọn mô hình công ty tư nhân mà chuyển qua lựa chọn mô hình khác là công ty TNHH một thành viên, có cùng bản chất là một chủ sở hữu
c. Tình hình thành lập và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại Kon Tum giai đoạn 2018-2019
Bảng 3.3: Tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2017-2018 Công ty
TNHH một thành
viên
Công ty tư nhân
Công ty TNHH hai thành
viên trở lên
Công ty cổ phần
Công ty hợp danh
Tổng số
Số doanh nghiệp thành lập (doanh
nghiệp )
157 3 54 33 0 247
Vốn (tỷ đồng ) 650,202 0 258,8 861,598 0 1.174,79
Ở giai đoạn 2017-2018 thì tổng số doanh nghiệp đăng ký là 247 doanh nghiệp tăng 33 doanh nghiệp so với giai đoạn 2016-2017 cụ thể như sau: Công ty TNHH 157 doanh nghiệp chiếm 63,6% (giảm 2,3% so với giai đoạn 2016-2017), công ty tư nhân 3 doanh nghiệp chiếm 1,2% (giảm 2,07% giai đoạn 2016-2017), công ty TNHH hai thành viên trở lên 54 doanh nghiệp chiếm 21,9% (tăng 4,7% so với giai đoạn 2016-2017), công tư hợp danh là 0%. Đây là số liệu thống kê gần đây nhất của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kon Tum. Số liệu thống kê này cho thấy loại hình doanh nghiệp TNHH một thành viên vẫn là loại hình doanh nghiệp được đăng ký thành lập nhiều nhất, cùng với đó số lượng doah nghiệp tư nhân có xu hướng giảm xuống. Ngyà càng có nhiều nhà đầu tư chọn mô hình công ty TNHH một thành viên thay cho mô hình công ty tư nhân, đây là loại hình công ty có tính rủi ra cao vì phải chịu trách nhiệm vô hạn các khoản nợ của công ty.
d. Nhận xét về tình hình đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn Kon Tum trong 3 năm
Trong 3 năm có tổng cộng 677 doanh nghiệp được đăng ký thành lập với tổng số vốn là 6647, 165 tỷ đồng. Điều này cho thấy Kon tum là địa điểm ngày càng thu hút nhiều nhà đầu tư lựa chọn để thực hiện hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên điều kiện kinh tế- xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, đây vẫn chưa là một địa bàn phát triển về kinh tế vì vậy đa số loại hình doanh nghiệp được thành lập là loại hình TNHH đặc biệtn là loại hình TNHH một thành viên. Bởi vì đây là loại hình có quy mô vừa và nhỏ dễ dàng điều hành hoạt động và không yêu cầu vốn cao. Vì vậy đây là loại hình doanh nghiệp phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở địa bàn Kon Tum.
3.1.2. Đánh giá thực trạng về đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên a. Hạn chế về quy dịnh góp vốn khi thành lập công ty
Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp mới ở nước ta. Loại hình doanh nghiệp này đã thực sự đi vào các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, thỏa mãn phần nào nhu cầu của một số chủ thể trong việc lựa chọn hình thức đầu tư, góp phần vào việc đa dạng hóa các quan hệ kinh tế trong điều kiện từng bước hoàn thiện cơ chế thị trường theo thông lệ quốc tế cho nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng chế định pháp luật này, một số quy định liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp cũng như một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đã thể hiện một số điểm bất hợp lý.
Tuy công ty TNHH một thành viên có ưu điểm nổi bậc đó là chế độ chịu TNHH, và vì vậy đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của các nhà đầu tư có số vốn ít, với việc
22
chịu TNHH đã giúp họ an tâm hơn khi đầu vào những ngành nghề hoặc kinh doanh trong những lĩnh vực có nhiều rủi ro, bởi vì nếu có bất trắc xảy ra đối với công ty của họ thì họ chỉ chịu TNHH trong phạm vi số vốn mà họ đã góp vào Công ty.tuy nhiên tại khoản 2 Điều 74 luật doanh nghiệp 2014 thì có quy định: ”Chủ sở hữu phải góp đủ vốn và đúng loại tài sản đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”. Trong thực tế, rất nhiều trường hợp doanh nghiệp không góp đủ số vốn như đã đăng ký. Việc này gây khó khăn cho doanh nghiệp vì phải đăng ký lại điều lệ của công ty với việc thay đổi vốn. Ví dụ thực tế, theo số liệu thống kê số doanh nghiệp chuyển đổi loại hình từ năm 2015-2018 thì: công ty TNHH một thành viên là loại hình công ty có hồ sơ đăng ký sửa đổi nhiều nhất và chủ yếu là thay đổi vốn điều lệ (giảm số vốn điều lệ) do không góp đủ số vốn đã cam kết.
Điều này khiến doanh nghiệp phải sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký nhiều lần, gây phiền hà cho doanh nghiệp.
b. Hạn chế về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
So với các quy định trước đây về thủ tục, điều kiện gia nhập thị trường thì Luật Doanh nghiệp 2014 có nhiều điểm mới, mang tính bước ngoặt như một lần nữa khẳng định quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, chuyển đổi loại hình, thay đổi nội dung đăng ký được đơn giản hóa; thời gian thành lập doanh nghiệp được rút ngắn; doanh nghiệp được chủ động trong việc lựa chọn hình thức, số lượng, nội dung con dấu…Tuy nhiên, một số quy định trong luật còn chưa phù hợp, thiếu thực tế, làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Một trong số đó là quy định về thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.
Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được hiểu là các văn bản, tài liệu mà người dự định thành lập doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan đăng ký doanh nghiệp, trên cơ sở đó, căn cứ theo quy định của pháp luật, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. So với các quy định trước đây về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thì Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn không có sự thay đổi, mặc dù, có thể nói đây là quy định góp phần hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được quy định từ Điều 20 đến Điều 23 Luật Doanh nghiệp 2014, bao gồm hồ sơ đăng ký thành lập mới doanh nghiệp, hồ sơ thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và hồ sơ chuyển đổi loại hình (sau đây gọi chung là hồ sơ đăng ký doanh nghiệp) của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Một điểm chung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của các loại hình doanh nghiệp đều bao gồm giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, điều lệ công ty (trừ doanh nghiệp tư nhân), danh sách thành viên, giấy chứng thực cá nhân..
Bất cập trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các loại hình doanh nghiệp thể hiện ở 02 điểm:
Thứ nhất, về ngành, nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm, quyền chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh (Điều 7). Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải kê khai ngành, nghề kinh doanh trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bằng cách lựa chọn ngành nghề kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam18 nhằm phục vụ cho công tác thống kê. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
18 Khoản 1 Điều 7 Luật doanh nghiệp 2014
23
không thể hiện nội dung ngành nghề. Nội dung ngành nghề chỉ ghi nhận trên Hệ thống thông tin đăng ký kinh doanh Quốc gia và ghi nhận trong giấy xác nhận cho doanh nghiệp. Trong thời điểm hiện tại, việc không ghi ngành nghề trên đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp một phần làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Bởi vì, nhiều trường hợp, do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên một số tổ chức, đơn vị khi nhận hồ sơ đấu thầu, đấu giá hoặc ký kết hợp đồng kinh tế thường yêu cầu trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải có ngành nghề kinh doanh liên quan đến hoạt động đó. Mặt khác, doanh nghiệp đăng ký rất nhiều ngành nghề kinh doanh trong hồ sơ nhưng không hoạt động hết các ngành nghề đã đăng ký. Điều này gây khó khăn không chỉ cho doanh nghiệp trong việc tìm hiểu mã ngành kinh doanh để kê khai trong hồ sơ mà còn gây khó khăn cho cán bộ làm công tác đăng ký doanh nghiệp (phải nhập ngành nghề lên hệ thống thông tin đăng ký kinh doanh quốc gia, cấp giấy xác nhận ngành nghề cho doanh nghiệp…). Điều này làm tăng chi phí thực hiện thủ tục, giảm hiệu quả của việc cải cách thủ tục hành chính.
Thứ hai, về điều lệ của doanh nghiệp. Về bản chất, điều lệ là văn bản thỏa thuận, mang tính nội bộ của doanh nghiệp gồm cơ cấu tổ chức, quản lý doanh nghiệp, vốn điều lệ của doanh nghiệp, thời hạn góp vốn, cơ chế phân chia lợi nhuận…trên cơ sở quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014 thì điều lệ công ty bao gồm điều lệ khi đăng ký doanh nghiệp và điều lệ được sửa đổi, bổ sung trong quá trình hoạt động. Điều lệ công ty có 13 nội dung chủ yếu như: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; tên, địa chỉ chi nhánh và văn phòng đại diện (nếu có); ngành, nghề kinh doanh; vốn điều lệ; tổng số cổ phần, loại cổ phần và mệnh giá từng loại cổ phần đối với công ty cổ phần; họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của chủ sở hữu công ty, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần; phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh; số cổ phần, loại cổ phần, mệnh giá cổ phần từng loại của cổ đông sáng lập; quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; của cổ đông đối với công ty cổ phần; cơ cấu tổ chức quản lý; người đại diện theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần; thể thức thông qua quyết định của công ty; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ; thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty… Có thể thấy, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định khá cụ thể, mang tính nguyên tắc các nội dung phải có trong điều lệ doanh nghiệp. Khi xây dựng và thông qua điều lệ các thành viên trong doanh nghiệp phải căn cứ vào quy định này. Do đó, về bản chất, điều lệ doanh nghiệp là sự cụ thể hóa quy định của pháp luật doanh nghiệp. Do đó, việc quy định điều lệ doanh nghiệp trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là không cần thiết, gây khó khăn cho cả người thành lập doanh nghiệp lẫn cơ quan đăng ký doanh nghiệp19.
c. Hạn chế về việc áp dụng công nghệ trực tuyến trong đăng ký doanh nghiệp Kể từ ngày 15/4/2013, đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử chính thức triển khai trên phạm vi cả nước theo Thông tư số 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quy định này nhằm giảm tải nhiều thủ tục rườm rà khi các cá nhân phải trực tiếp đến cơ quan hành chính Nhà nước để thực hiện nhiều thủ tục đăng ký.
Tuy nhiên, qua thực tế triển khai, rất ít doanh nghiệp có thể tự sử dụng công cụ trực tuyến để đăng ký doanh nghiệp. Nguyên nhân là do việc đăng ký doanh nghiệp trực tuyến tương đối phức tạp. Để thao tác hoàn thành bộ hồ sơ đăng ký, nhà đầu tư phải đọc toàn
19Ths. Đỗ Đình Chuyền (2018): Hạn chế quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp 2014
24
bộ Hướng dẫn quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử gồm 77 trang tại cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và phải nắm luật, phải biết điền chọn đúng ngành nghề trong hệ thống ngành nghề kinh doanh… Điều này khiến cho người dân lúng túng và không thực hiện được. Ngoài ra, nguyên nhân là người dân chưa có thói quen sử dụng dịch vụ hành chính điện tử thì mặt phức tạp của hệ thống đăng ký doanh nghiệp trực tuyến cũng khiến cho nó không mang nhiều ý nghĩa thực tiễn, gây lãng phí nguồn lực và không đạt được những hiệu quả như kỳ vọng.