A. Tác giả I. Cuộc đời 1. Tiểu sử Tố Hữu (19202002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở tỉnh Thừa Thiên Huế, từng học ở trường Quốc học 1937 được kết nạp vào Đảng 1939 bị địch bắt 1942 vượt ngục trở về vối cách mạng 1945 là chủ tịch ủy Ban khởi nghĩa ở Huế Từ đó 1986 giữ những trọng trách quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước. 19A. Tác giả I. Cuộc đời 1. Tiểu sử Tố Hữu (19202002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở tỉnh Thừa Thiên Huế, từng học ở trường Quốc học 1937 được kết nạp vào Đảng 1939 bị địch bắt 1942 vượt ngục trở về vối cách mạng 1945 là chủ tịch ủy Ban khởi nghĩa ở Huế Từ đó 1986 giữ những trọng trách quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước. 1996 được nhà nước trao tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ tuật 96 được nhà nước trao tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ tuật
Trang 11945 là chủ tịch ủy Ban khởi nghĩa ở Huế
Từ đó - 1986 giữ những trọng trách quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nước
1996 được nhà nước trao tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ tuật
2 Những nhân tố chính tạo nên hồn thơ Tố Hữu
- Sinh ra trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước Cha và mẹ đuề là những người yêu văn chương và thích sưu tấm ca dao tục ngữ Đó là cái nôi nuôi dưỡng tình yêu với văn chương và kho tàng ca dao dân ca của dân tộc
- Quê hương ông ở xứ Huế mộng mơ có núi Nghự ,sông Hương và các dền dài lăng tẩm ở đất Cố
Đô Là mành đất cua những làn điệu dân ca Nam ai ,Nam bình Hồn thơi ấy in dậm trong thơ của Tố Hữu Tạo nên một giọng điệu rất Huế, giọng tâm tình ngột ngào, tha thiết
Thời đại: TH sộng trong thời nước mất nhà tan, khi phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi ông sớm giác ngộ cách mạng, tìm ra con đường đi đúng đắn cho cuộc đời và thơ ca của mình Khác với
những nhà thơi mới khác bế tác nên buồn và cô đơn
Cho nên từ khi bắt gặp lý tưởng cách mạng thì đường đời, đường cách mạng, đường thơ hòa chung làm một
II Sự nghiệp văn học
1 Các chặng đường thơ Tố Hữu
- Từ ấy là tiếng ca reo vui của một trái tim trẻ tuổi sớm bắt gặp lý tưởng cách mạng
Diễn tả nỗi buồn nỗi cô đơn khi bị tách rời khỏi cuộc sống, khao khát hướng về cuộc sống tự
do bên ngoài Là lời thề quyết giữ lòng mình trong sáng trong bất cứ hoàn cảnh nào
Trang 2dân Ông tập trung ca ngợi những con người bình thường nhưngvi4 đại Tập thơ được sử dụnghình thức nghệt thuật dân gian giầu truyền thống dân tộc và đại chúng
c Chặng đường 1955 – 1961 “ Gió Lộng”
- Nội dung là tiếng ca reo vui của sự phục hồi kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh tiến lên xây dựng XHCN Nó còn là tiếng thơ day dứt vế miền Nam đau thương trong lửa đạn nhân vật trữ tình là sự xuất hiện của cái tôi cá nhân, không đại diện cho cái tôi cá nhân như trong
Từ Ấy mà nhân danh Đảng thời đại
- Nghệ thuật: Cảm hứng lãng mạn CM
d Chặng đường 1962 – 1972 hai tập thơ “Ra trận” 1962 – 1972 và “Máu và hoa” 1972 – 1977
“ chúng muốn biến ta thành ô nhục
Ta làm sen thơm ngát gữa đồng”
- Là tiếng thơ của cả một dân tộc ra trận trong niềm tin tưởng vào sự tháng lợi của cách mạng,
ca ngợi cổ cũ tinh thần đấu tranh của nhân dân Cho ta thấy những hi sinh , những chiến thắng vinhquang của dân tộc nhân vật trữ tình cái tôi nhân danh đảng và thời đại
Nghệ thuật: cảm hứng sử thi lãng mạn được nâng lên thành cảm hứng chính luận anh hùng Nhiều bài thơ thiên về khái quát tổng kết trữ tình như “ nước non ngàn dặm, Việt Nam máu và hoa
e Chạng đường từ sau 1978 được tập hợp trong hai tập thơ “ một tiếng đờn” 1992 và “Ta với Ta” 1999
- Cảm hứng về thời sự kho6ng còn là mạch duy nhất, hai tập thơ là những chiêm nghiệm về đời sống về lẽ đời trước những biến động phức tạp của đời sống giọng thơ vì thế thường trầm lắng suy tư
2 Phong cách nghệ thuật thơ TH
Đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị
- Nhả thơ của lý tưởng cộng sản, phản ánh những vấn đề chính trị bằng hình thức thơ trữ tình
“ Với TH tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người Viết về cái lớn hay một sự việc nhỏ là để nói cho được cái lý tưởng cộng sản đó thôi”
(Chế Lan Viên)
- Nhà thơ của lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn đối với dân tôc, tổ Quốc, Bác Hồ
Mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
- Đế tài: những sự kiện chính trị trọng đại của đất nước
- Nhân vật là những con người anh hùng, những người chiến sĩ mang vẻ đẹp của dân tộc với những tầm vóc hoành tráng( những chàng trai đuoc75 xem là thạch Sanh của thế kỷ 21)
- Cảm hứng lãng mạn được thể hiện ở niềm vui, niềm lạc quan của nhà thơ vào tương lai dân tộc với những hình ảnh thơ lang mạn, bay bổng
Giọng thơ mang tình cảm mến thương của tiếng hát ân tình thủy chung Có được nhờ chất Huế, nhạc điệu tâm hồn của người xứ Huế nhờ quan niệm của TH
“ Thơ là chuyện đồng diệu, là tiếng nói đồng ý, đòng tình, đồng chí”
- Biểu hiện
Lời gọi dáp thân mật (em oi… / Bác oi….)
Giọng điệu thủ thỉ tâm tình, dễ thấm vào lòng người
Đậm đà bản sắc dân tộc từ nội dung tới hình thức biểu hiện
ND:Xây dựng những hình ảnh quen thuôc của quê hương , đất nước
Ca ngợi đạo lý tình cảm của dân tộc như uống nươc nhớ nguồn
HT: Tìm về các thể thơ dân tộc với những mộc mạc bình dị, cách so sánh ví von gần gũi, thơ giàu nhạc điệu nên dễ ngấm dễ thuộc
Trang 3B TÁC PHẨM
I Tìm hiểu chung
Sau chiến tháng Điện Biên Phủ hiệp định Giơnevo được kí kết, hòa bình được lập lại trên miền bắc,Tháng 10 /1945 cơ quan trung ương Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội, dây là phút giao thời của lịch sử và lòng người, đặt ra nhiều vấn đề về tư tưởng và tình cảm Cuộc sống mòi yên vui dễ làm con người quên đi những khó khăn gian khổ
Chọn đúng vào lúc dễ quên nhất bài thơ ra đời như một sự nhắc nhở, nhắn nhủ kịp thời làm xúc động lòng người Bài thơ là đỉnh cao của tập thơ Việt Bắc
- Cầu tứ tác phẩm: vận dụng lối đối đáp giao duyên ở chặng “giã bạn” nhưng thay tình yêu lứa đôi bằng tình nghĩa cách mạng TH biến cuộc chia tay lịch sử thành cuộc chia tay của những đôi bạn tình, làm cho tình nghĩa cách mạng trở nên gần gũi thắm thiết da diết vô cùng Đó không phải là lời đối đáp trực tiếp mà là lời hỏi đáp liên tưởng của chủ thể trữ tình tự phân thân nên “ta” và “mình” hôứng đồng vọng , thể hiện sâu sắc tình cảm cách mạng Người hỏi băn khoăn về chuyện quên nhớ cùangười ra đi Người đáp khẳng định chắc chắn tình cảm thủy chung son sắt của mình Họ đều lấy nỗi nhớ làm trung tâm Nhân vật trữ tình là hình ảnh của tác giả, là người mẫn cảm với những bước ngoặt llich5 sử dân tộc, là người trong cuôc trực tiếp tham gia vào sự kiện lịch sử này Vì thế bài thơ
là lời nhắn nhủ với chính mình, nhắn nhủ với người về xuôi trong niềm vui hiện tại không quên những năm tháng gian khổ nghĩa tình, không quên cội nguồi thắng lợi
II Phân tích
A, 4 câu thơ đầu là lời ướm hỏi của người dân Việt Bắc
Điệp từ”nhớ” được lập lại thể hiện tình cảm chủ đạo của bài thơ, là tình cảm tự nhiên của cuộc chia tay
Hai câu hỏi: về một thời kì cách mạng “15 năm” lượng thời gian cụ thể, có thể đo đếm được, nhưng lượng ân tình thì vô hạn “ thiết tha mặn nồng Đó là khoảng thời gian lịch sử thiêng liêng, gian khổ
mà nghĩa tình Về một vùng không gian cách mạng: cây, núi tương trưng cho Việt Bắc, tượng trưng cho không gian nguồn cội đầy ân nghĩa, có khả năng đành thức tình cảm cội nguồn trong lòng nhữngngười dân Hai câu hỏi ấy vừa là lời nhắc nhở về Việt Bắc, vừa là lời gợi nhớ, đành thức kỉ niệm Cách xưng hô “ mình, ta” đằm thắm ịu ngọt
b Bốn câu tiếp là lời giãi bày của người ra đi
Đáp lại lời người Việt Bắc, người ra đi im lặng để lắng nghe, để tri âm, sự tri âm thể hiện bằng sự
hô ứng ngôn từ, lấy cái thiết tha đáp lại cái thiết tha, lấy cái bâng khuâng đáp lại cái mặn nồng Người ra đi bày tỏ cái bâng khuâng bồn chồn thông qua hệ thống từ láy đặc tả tâm trạng lưu luyến bịn rin không muốn xa rời Từ “ cầm tay” thể hiện sự gắn bó keo sơn, thân thiết thay cho bao lời muốn nói, không nói nhưng thật ra đang nói rất nhiều Nhịp thơ thay đổi “ cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” (3/3/2) diễn tả tâm trạng rối bời ngổn ngang, bao nỗi nhớ bao sự lưu luyến Dấu chấm lửng cuối câu diễn tả sự trống vắng, không nói nên lời, bởi từ đây họ phải xa nhau Áo chàm hình ảnh ẩn dụ mang màu của tấm lòng người dân Việt Bắc
c 12 câu tiếp theo: Lời nhắc nhở của người Việt Bắc
Tạo thành 6 cặp câu hỏi, mỗi câu hỏi khơi gợi một kỷ niệm về một thời gắn bó bên nhau Câu hỏi không đơn điệu, có khi hỏi người về, có khi hỏi khônggian, có khi hỏi chính lòng mình Nhịp điệu cấu trúc câu hỏi “ đi v- về, về - đi, đi – về” vừa tạo âm điệu nhịp nhàng cho đoạn thơ, vừa diễn tả sự dùng dằng lưu luyến
Câu hỏi độc đáo “ mình đi mình có nhớ mình” Ba chữ mình lập lại đồng nhất kẻ ở người đi thành bản hợp ca hòa hai nỗi lòng chung một tâm trạng Đó khôngchi3 là một câu hỏi đơn giản mà còn diễn tả một vấn đề mang mầu sắc nhân sinh về sự quên nhớ về thái độ của con người đối với quá
Trang 4khứ Câu hát là những câu khơi gợi kỷ niệm “Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” đến “tân trào Hồng Thái Kỉ niện đi từ xa xôi mù mịt đến xác định cụ thể
Kỉ niệm mở đầu bằng một khônggian tranh đấu và khép lại bằng một địa danh lịch sử Qua những
kỉ niệm ấy,ta có thể thấy sự đối lập giữa cuộc sống vật chất gian khổ thiếu thốn như “ mưa lũ, cơm chấm muối….” với tấm lòng yêu nước, căm thù giặc, ý thức trách nhiệm cao “ mối thù nặng vai”, giữa cuộc sống hoang sơ vắng vẻ “ hắt hiu lau xám” với nghĩa tình đạm đà,thủy chung son sắt “đậm
đà lòng son”
“ Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa”
Câu diễn tả độc đáo đưa mái đình cây đa ra cuối câu, người về xuôi đã xem Việt bắc là quê hương thứ 2 của mình bởi hình ảnh mái đình cây đa ở đâu và nơi nào cũng khơi gợi về quê hương Việt Nam Kỉ niệm chung nhưng xưng hô riêng từ làm kỉ niệm ấy như trở nên gắn bó máu thịt với những con người
Nghệ thuật tiểu đối (đối trong câu) hài hòa cân xứng giàu nhịp điệu như lời ru mang con người trở
về với những kỉ niệm xưa
2 Tâm tình người ra đi
a Khẳng định lòng thủy chung son sắt của mình đối với ta
TÁc giả đã dùng 70 câu để trả lới 16 câu băn khoan thắc mắc của người ở lại, cho thấy người đi thấuhiểu sâu sắc, giải quyết thấu đáo mọi băn khoăn thắc mắc của người ở lại
Bốn câu thơ “ ta với mình ……….bấy nhiêu” Khẳng định chắc chắn tấm lòng son sắt thủy chung của người về xuôi đối với người Việt Bắc Cách ngắt nhịp 3/3 đã diễn tả sự quấn quýt gắn bó giữa ta và mình không dễ gì chia cắt giữa “ ta và mình” “ Lòng ta…… ” Cách ngắt nhịp 2/2/2/2 cùng từ láy “mặn mà”, “ đinh ninh” đã khẳng định chắc nịch tấm lòng son sắt thủy chung, trước sau như một của người ra đi “Mình đi……” từ mình được lập lại 3 lần là lời khẳng định, cũng là lời nguyện thề với người ở lại và với chính mình “Nguồn bao nhiêu……” cách so sánh đậm màu sắc dân gian cho thấy tình nghĩa với Việt Bắc như suối nguồn không bao giờ cạn
b Nỗi nhớ của người ra đi về thiên nhiên, cuộc sống, con người và những ngày tháng kháng chiến ở Việt Bắc
“ Nhớ gì như nhớ người yêu” Lối so sánh đôc đáo, thể hiện tình cảm tha thiết mãnh liệt, sâu đậm với người Việt Bắc Nhớ Việt Bắc là nhớ cảnh Việt Bắc đẹp thi vị, mang đậm màu sắc miền núi, thiên nhiên vừa thơ mộng với những hình ãnh khói sương, trăng đầu núi, vừa có cái ấm áp của hơi thở sự sống con người là bếp lửa,lả người thương Nghệ thuật liệt kê: Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê đây là một vùng đất hoang sơ nhưng lại là những địa danh lưu dấu lịch sử với những kỉ niệm chiến đấu Nhớ người Việt Bắc “ sớm khuyê bếp lửu người thương đi về” các từ chỉ thời gian “sớm
khuya”, các từ chỉ hành động cho thấy con người Việt Bắc cần cù chăm chỉ,không quản ngày
đênde9m hết nhiệt tình phục vụ cách mạng Nhớ Việt Bắc còn là nhớ những ngày tháng gian khổ màlạc quan đầy ắp tình nghĩa Nghệ thuật liệt kê: Cơm sẻ nửa, chia sắn lùi, chăn sui đắp cùng cho thấy cuộc sống kham khổ,thiếu thốn nhưng được bù đắp đầy đủ bằng nghĩa tình, bằng sự chia sẽ gắn bó Động từ “ chia, sẻ, đắp cùng” dùng rất đắt cho sự đoàn kết, gắn bó yêu thương giữa người dân Việt bắc và người cách mạng Nhớ nhất là hình ảnh người mẹ Việt Bắc “ Nhớ người mẹ nắng cháy
lưng… ” Bao nhiêu vất vả, khắc nghiệt đổ dồn lên tấm lưng người mẹ trẻ nhưng cũng từ đó ánh lên
sự rắn rỏi chắc khỏa với tư thế lao động cần mẫn tỉ mỉ miệt mài với tình yêu thương con tha thiết Nhớ Việt Bắc là nhớ những niềm vui,niềm lạc quan, yêu đời tin tưởng vào tương lai “: gian nan đời vẫn ca vui núi đèo”.Đoạn thơ khép lại bằng âm thanh của tiếng mua rừng chiều, tiếng chày nện cối vừa biểu tượng cho cuộc sống con người chốn Việt Bắc, vừa là tiếng vang vọng da diết trong lòng tác giả
c Búc tranh tứ bình
Trang 5“ Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”
Hai câu thơ vừa có mạch cảm hứng cho đoạn thơ vừa mang cái nhìn khái quát vế hoa và người ViệtBắc Tác giả chọn 2 chi tiết đặc sắc hoa là những gì tinh túy của trời đất, tương xứng với đất trời là người ( người ta là hoa đất) Câu lục nói về hoa, câu bát nói về người cho thấy hoa người gắn bó hòahợp trong nỗi nhớ da diết của tác giả Mùa đông: mùa gặp gỡ đầu tiên “ Rừng xanh hoa….” Cho tới bây giờ vẫn sáng bừng và in đậm trong kí ức “Rừng xanh “ là gam màu của rừng già yên tĩnh, màu của sự sống ngồn ngộn giữa ngày đông tháng giá Màu đỏ của hoa chuối là màu của chiến tháng,thắplên niêm2 hi vọng Đó không chỉ là màu sắc mà còn chứa đựng sự bừng thức, sự khám phá ngỡ ngàng đối với thiên nhiên Việt Bắc của tác giả Bằng nghệ thuật điểm xuyết làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động có hòn và ấm áp Hình ảnh con người “ đéo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Con người trong tư thế lao động nhưng không có mồ hôi nhọc nhằn mà có ánh nắng tôn vinh, con người tự chủ,tự tin làm chủ núi rừng, tỏa sáng cùng thiên nhiên Mùa xuân cùng với sự chuyển mùa của thời gian là sự chuyển màu Từ màu xanh của rừng già chuyển thành màu trắng của hoa mơ làm sáng bừng lên cả không gian rộng lớn Đó là bức tranh thiên nhiên nhẹ nhàng trong trẻo, trẻ trung, quyến rũ, cho thấy rừng già đã hồi sinh trở lại thay áo từ màu xanh thành màu trắng thanh nhẹ Câu thơ “ nhớ người đan nón chuất từng sợi giang” Những con người loa động cần mẫn cản trọng, tài hoa đang làm dẹp cho đời đã làm nao lòng người ra đi, dường như bao yêu thương chờ đợi mong ngóng gửi vào sợi nhớ sợi thương kết nên vành nón Cảnh xuân thơ mộng, tình xuân đượm nồng trong nỗi nhớ khắc khoải của người ra đi
Mùa hè: Không chỉ có màu sắc mà còn có âm thanh Sự chuyển mùa không được thông báo trực tiếp mà được thể hiện qua sự chuyển màu của thảo mộc và bản nhạc rộn ràng của tiếng ve Tác giả
đã dùng không gian để nói về thời gian, dùng âm thanh để gợi màu sắc, dùng màu sắc gợi sự chuyển động Từ “ đổ” diễn tả sự chuyển màu mau lẹ Con người “ nhớ cô em gái hái măng một mình” gợi
sự ít ỏi bởi hai chữ : một mình”, gợi 1 cái gì đó ít ỏi nhỏ bé nhưng không hề cô đơn, mà lại đang làmchủ thiên nhiên trong bức tranh sinh động, rực rỡ màu sắc âm thanh Đồng thời trong lòng người ra
đi như gợi bao nỗi nhớ thương, baotình ý cho người ở lại
Mùa thu: Cảnh có ánh trăng biểu tượng cho khát vọng hòa bình Con người hòa quyện trong tiếng hát ân tình, thủy chung Là khúc hát chia tay giã bạn gửi gắm bao ân nghĩa nhớ thương Từ “ai” gộp chung hai người làm một đồng điệu với nhau trong nỗi nhớ lưu luyến
Bức tranh tứ bình hài hòa âm thanh của tiếng ve mùa hè, tiếng hát đêm thu, hài hòa màu sắc bốn mùa bốn cảnh sinh động đặc sắc của vùng quê Việt bắc Hình ảnh con người xuất hiện qua bốn mùa vùa mạnh mẽ vừa gần gũi, thân mến bình dị
3 Nỗi nhớ thiên nhiên và con người Việt Bắc
“ nhớ khi giặc đến giặc lùng” Từ “khi” cho thấy căn cứ địa cách mạng bị kẻ thù dòm ngó, đó là những năm tháng lịch sử đầy nguy hiểm.Điệp từ rừng xuất hiện dày đặc và nghệt thuật nhân hóa chothấy thiên nhiên trở thành bạn đồng hành của con người trong cuộc chiến đấu,kết nên một thành lũy vững trãi bảo vệ chiến khu Việt Bắc “Đất trời ta đã chiến khu một lòng” cho thấy sự hòa hợp của đấttrời con người “ thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đã làm nên sức mạnh chiến đấu
4 Đoàn quân ra trận tràn đầy khí thế hào hùng, mạnh mẽ chiến đấu và chiến tháng
“ Những đường Việt Bắc của ta” thể hiện thái độ tự hào khảng định đó là quê hương cách mạng, là con đường lý tưởng chung của toàn dân tộc, chungmo6t5 trái tim Với nghệ thuật điệp từ “điệp, trùng” nhấn mah5 một đội quân đông đảo với khí thế ngút trời dũng mãnh “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” Thể hiện khối đoàn kết vững chắc,cả dất trời như cùng hành quân với bộ đội với nhândân Việt Bắc trong cuộc ra trận ngày hôm ấy Đó là ý thức vươn tới tầm cao, mơ ngày chiến thắng của quân dân “Dân công đỏ đuốc từng đoàn, Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”” Nghệ thuật nói
Trang 6quá nhấn mạnh sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc ra trận Hai câu đối lập “ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày với đèn pha bật sáng…lên” Thể hiện con đường đi lên của dân tộc từ nô lệ hướng đến tương lai
5 Nhớ niền vui chiến thắng
“Tin vui chiến thắng trăm miền
…………đèo De, núi Hồng”
Cấu trúc câu “vui + địa danh” thể hện niềm vui tràn ngập và chiến thắng thần tốc của dân tộc Từ
“lên, về” thể hiện niềm vui lan tỏa khắp mọi miền đất nước và tâmho6n2 của nhân vật trữ tình cũng đang thănghoa trong niềm vui chiến thắng Khổ cuối cùng nhấn mạnh vị trí quantrong5 của Việt Bắc, của Bác,của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc và khẳng định tính chất thủy chung của quê hương cách mạng
III TỔng kết
Tiếng thơ trữ tình dung di trong Việt Bắc thể hiện dưới hình thức đối đáp giao duyên,thể thơ lục bát đậm đà tính dân tộc Nhời vậy Tố Hữu đã thơ hóa một sự kiện chính trị một cách có hiệu quả không ngờ
Ngôn ngữ thơ cân xứng trầm bổng ngọt ngào vừa thể hiện tìn cảm đối với cách mạng vừa nói lên vấn đề to lớn của thời đại, vừa chạm được vào chỗ sâu thẳm nhất cảu tâm hồn dân tộc, đó là tình cảm ân tình thủy chung, uống nước nhớ nguồn
Dù viết về tình yêu Tổ Quốc, tình yêu lứa đơi hay tình yêu trẻ thơ thì thơ Xuân Quỳnh luôn thể hiện
vẻ đẹp nữ tính Thiên chức của người làm vợ ,làm mẹ đã cho Xuân Quỳnh một tâm hồn mẫn cảm, tinh tế, một bản năng chăm lo, vun vén tạo dựng hạnh phúc bình yên, một đức tính nhân nại chu đáo Thơ Xuân Quỳnh là thơ của lòng trắc ẩn của niềm trìu mến với tất cả những gì là bé nhỏ mỏng manh, là một tiếng thơ khao khát tực bộc bạch giãi bày, để được nương tựa, chở che gắn bó
II, Tác phẩm
Sóng là một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh, ra đời năm 1967 trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhưng cũng cho thấy nhận thức về cái tôi riêng tư đã có vị trí dù rất khiêm tốn bên cạnh cái ta chung
Tác phẩm in trong tập hoa dọc chiến hào xuất bản năm 1967 khi Xuân Quỳnh 25 tuổi và từng một lần thất bại trong hạnh phúc gia đình Xuân Quỳnh chọn sóng để thể hiện khát vọng tình yêu, một hình ảnh không mới, một đề tài quen thuộc, chứng tỏ Xuân Quỳnh rất tự tin vào bản lĩnh nghệ thuật của mình đủ lực phả hồn vào sóng, khắc sâu vào tâm khảm người đọc một tình yêu đích thực
III Phân Tích
1, khổ 1,2 Sóng là đối tượng để cảm nhận tình yêu
Mở đầu là các đối cực của sóng “ dữ dội- êm dịu”, “ ồn ào – lặng lẽ” các hình ảnh mâu thuẫn phức tạp về hình thức, khó hiểu về bản chất, cùng thủ pháp dung quen để nói lạ Dùng những cung bậc muôn thưở của sóng để nói đến tình yêu và tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu ấy, những biểu hiệnphức tạp khi yêu
Trang 7Hai tính từ êm dịu và lặng lẽ dồn về cuối câu sâu lắng phải chăng cái ồn ào dữ dội chỉ là những khoảnh khắc của tâm hồn, còn bản chất thì vẫn đằm thắm dịu dàng
Hai câu thơ là lời tự bạch của người phụ nữ khi yêu táo bọa và chân thành, tha thiết
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Mượn quy luật của tự nhiên, nơi đích thực của sóng là biển, để thể hiện những băn khoăn của long mình Đó chính là hành trình tìm kiếm tình yêu của người phụ nữ, hướng đến một tình yêu cao cả bao dung vị tha Qua đó cho ta thấy quan niện táo bạo trong tình yêu với cách thể hiên rất chủ động của Xuân Quỳnh
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày nay vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Thán từ ôi và sự kết nối thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai thể hiện quy luật bất biến của sóng và cũng là của tình yêu Dung quy luật của tự nhiên ai cũng thừa nhận để khẳng định một cách thuyết phục quy luật của tình yêu Tình yêu như sóng biển luôn vĩnh hằng với thời gian và luôn là tình cảm say đắm mãnh liệt, bồi hồi da diết trong tim mọi người “ Ngực trẻ” là tình yêu gắn liền với tuổi trẻ, tình yêu làm con người trẻ mãi, nếu con người còn khát vọng tình yêu thì tâm hồn con người ấy vẫntrẻ mãi Đó là triết lí dung dị ma thấm thía trong tình yêu của Xuân Quỳnh
Dùng sóng là đối tượng để cảm nhận về tình yêu, Xuân Quỳnh nhận ra những cung bậc mâu thuẫn, phức tạp, đối lập trong tình yêu của người phụ nữ nhưng cái bao trùm vẫn là sự đằm thắm lắng sâu Đồng thời thấy được tình yêu luôn là sự trăn trở, kiếm tìm và vươn tới một tình yêu đích thực Xuân quỳnh cũng nhờ sóng để thấy được tình yêu là một quy luật bất biến gắn liền với tuổi trẻ và nuôi dưỡng tâm hồn con người mãi trẻ trung
2, khổ 3,4 Sóng là đối tượng để suy tư về tình yêu
Lien hệ với quy luật tâm lí khi yêu con người ta luôn có những băn khoăn thắc mắc về người mình yêu và chính mình “trước … yêu nhau” Tác giả đứng trước vũ trụ bao la, trước muôn vàn sóng vỗ, đặt vào không gian rộng lớn như vậy để đo đếm được những cảm súc phong phú, đa dạng của con người trong tình yêu
Động từ nghĩ lập lại hai lần với hai câu hỏi tu từ cho ta thấy dường như lí trí đang vận động để truy tìm nguồn gốc của tình yêu Tình yêu là một tâm lí tự nhiên nhưng đầy bí ẩn, khó tìm,khó lí giải về nguồn gốc và thời điểm ban đầu
Các hình ảnh an hem, biển lớn ,sóng cho thấy em vá anh cũng như đại dương bao la kia chứa đầy bí
ẩn đang mời gọi con người tìm hiểu khám phá
Em cũng không biết nũa
Khi náo ta yêu nhau
Câu thơ như cái lắc đầu nhu tiếng thở hụt hơi của cô gái cú muốn truy tìm cội nguồn của tình yêu, nhưng tình yêu lại là một trò chơi ú tim không thể nào nắm bắt cách lí giải về cội nguồn của tình yêu đó rất nữ tính và trực cảm
3 Sóng và những cảm xúc trong tình yêu
Nỗi nhớ
“ Con sóng dưới long sâu… Trong mơ còn thức” đây là khổ thơ duy nhất có 6 câu trong bài thơ, việc tăng dung lượng ngôn từ như thế để nói ho hết cho trọn vẹn nỗi nhớ trong tình yêu Điệp từ sóng và nghệ thuật nhân hóa , nhà thơ đã mượn sóng để nói hộ lòng mình
Các từ chỉ không gian bao la: dười long sâu, trre6n mặt nước, thời gian vô tận ngày, đêm, trạng thái không ngủ được, mơ còn thức diễn tả nỗi nhớ bao trùm cả không gian thời ggian, xoáy vào tầng sâu
Trang 8bề rộng, xuyên suốt thời gian ngày đêm,, thống trị cả tiềm thức tha thiết, khắc khoải thao thức khôn cùng
ly tử biệt Hàng loạt các từ nhữ như : nơi nào cũng hứng, nghĩ về… Tác giả muốn khẳng định cái bất biến giữa cái vạn biến đó là long thủy chung son sắt trong tình yêu
Khát khao gần nhau
“ ở ngoài kia đại dương… chẳng tới bờ” tác giả mượn quy luật muôn đời của sóng là hướng tới
bờ, để nói đến quy luật muôn thưở của tình yêu là muốn được ở gần nhau Dù muôn vời cách trở Nghệt thuật nhân hóa dung sóng để nói về đặc điểm của tình yêu, đó là tình yên muốn vững bền phải qua thử thách và cách trở
Tình yêu dù say mê nhưng boa giờ cũng gắn với đời thường mà đời thường thì nhiều dâu bể nên conngười phải có niềm tin nghị lực để vượt qua
Em trở về đúng nghĩa trái time m
Là máu thịt đời thường ai chẳng có
Biết ngựng đập khi cuộc đời không còn nữa
Biết yêu anh ngay cả lúc chết đi rồi
Khao khát hóa thân
Làm sao tan được ra thành trăm con sóng vỗ
Câu hỏi tu từ thể hiện niềm khát khoa mãnh liệt muốn được hóa thân thành sóng đầy hối thúc, bức bách để tình yêu trường tồn với thời gian
Hai hình ảnh sóng đôi rất đẹp: trăm con sóng nhỏ , biển lớn tình yêu Tác già hòa tình yêu nhỏ vòa tình yêu lớn lao để hướng tới tình yêu vĩnh hằng, say đắm hết mình, hiến dâng trọn vẹn và thủy chung tuyệt đối
IV, nghệ thuật
Sử dụng thể thơ ngũ ngôn có âm điệu độc đáo, đó chính là âm điệu của sóng biển, cũng là nhịp diệu của sóng long, lúc dịu êm lúc khoan thai, lúc dữ dội nhung bao giờ cũng triền miên
Cách tổ chức ngôn từ theo nguyên tắc tương xứng hô ứng trùng điệp với các cặp từ vế câu, cặp câu
đi liền kề kế tiếp luân phiên ( dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ)
Cách xây dựng hình ảnh ẩn dụ sóng được lập lại nhiều lần, mỗi khổ thơ là mỗi khám phá về sóng vàcũng là khám phá về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu Sóng và em trở thành hai hình tượng xuyên suốt, khi tách rời khi hoa nhập khi đan xen, giọng thơ tha thiết
TÂY TIẾN
Quang Dũng
Trang 9I, Tác giả tác phẩm
Là một nghệ sĩ đa tài vừa làm thơ vừa viết nhạc, vẽ tranh, dấu ấn hội họa và âm nhạc in đậm trong các tác phẩm của Quang Dũng
Phong cách thơ là một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu lãng mạn và tài hoa
Đoàn binh Tây tiến được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt Lào Địa bàn hoạt động chủ yếu là rừng núi : Châu mai, Châu Môc, Sầm Nưa, Hòa Bình, Tây Thanh Hóa
Thành phần lính Tây Tiến là thanh niên trí thức học sinh sinh viên Hà Nội
Điều kiện chiến đấu gian khổ thiếu thốn sốt rét hoành hành nhưng họ vẫn lạc quan yêu đời
Sau một thời gian đoàn binh Tây Tiến trở về thành lập trung đoàn 52
Một bổi chiều cuối 1948 tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng làm bài thơ nhờ Tây Tiến sau đổi thành Tây Tiến
II Đọc hiểu
1 Nhan đề
Bỏ từ “nhớ” để: đảm bảo tính hàm xúc của thơ, không lộ mạch thơ Nhấn mạnh địa danh đã gắn bó sâu vào hoài niệm, máu thịt của nhà thơ, gắn bó với cuộ đời binh lửa của tác giả Nhấn mạnh sự mạnh mẽ gân guốc đầy mạnh mẽ của một đoàn quân tiến về phía tây Vĩnh viễn hóa đội quân tây Tiến, để nó không chỉ là một đoàn quân cụ thể mà trở thành một đoàn binh bất tử trong thơ
2 Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên dữ dội hùng vĩ nhưng cũng rất thơ mộng.
a, 2 câu thơ đầu: khát quát mạch cảm xúc cho bài thơ
“ sông mà xa rỗi tây tiền ơiNhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ về sông Mã, về Tây Tiến, về rừng núi đó là nhữngđại danh những vùng không gian gắn bó máu thịt với cuộc đời binh lửa của nhà thơ
Cách thể hiện đầy da diết đau đáu “ xa rồi” như tiếng thở dài đầy nuối tiếc
“ ơi” tiếng gọi một địa danh như gọi người yêu dấu
“ nhớ chơi vơi” cùng với âm “ơi” ở câu trên để diễn tả một nỗi nhớ trong lòng tác giả, chan hòa cả không gian thời gian Nỗi nhớ không hình không lượng không thể đo đếm nhưng da diết thường trựcbám diết trong lòng nhà thơ
b những cuộc hành quân trong đêm
Những địa danh Sài Khao, Mường Lát, Fa Luông, Mường Hịch nghe rất lạ tai nó không mang nghĩa xác dịnh mà mang hiệu quả về một vùng đất hoang sơ hẻo lánh
Miêu tả những cuộc hành quân vừa hiện thực vừa lãnh mạn
Hiện thực: sương lấp, quân mỏi- gợi lên những cuộc hành quân trên những vùng núi cao dày đặc sương mù có lúc các chiến sĩ mạnh mẽ vượt qua nhưng cũng có lúc mệt mỏi
Lãng mạn: hoa về trong đêm hơi- gợi lên một không gian huyến ảo dù mệt nhưng họ vẫn để hồn mình cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên điều đó hé lộ ở họ một tâm hồn lãng mạn yêu đời
c, Con đường hành quân dữ dội hiểm trở nhưng rất thơ mộng
3 Câu đầu đã đặc tả những con đường hành quân dữ dội
“ dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”
Âm điệu trắc trở thiên nhiên như thử thách con người
Hai từ láy thanh trắc “ khúc khuỷu ” làm sống dậy những con đường hành quân hiểm trở dữ dội
Từ “ heo” gợi lên vùng núi hoang sơ hẻo lánh, heo hút gợi cảm giác ghê rợn của gió rít rừng đại ngàn
Trang 10“ súng ngửi trời” đặc tả độ cao, thể hiện chiến lính tinh ghịch qua cái nhìn độc đáo trêu đùa làm giảm độ mệt nhọc trên con đường hành quân
“ ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” Từ ngàn làm câu thơ bị bẻ đôi ý thơ bị gấp khúc giữa hai chiều sâu thăm thẳm và cao vời vợi
= 3 câu thơ với cái nhìn cận cảnh với nét vẽ gân guốc cứng cỏi với những gam màu nóng đậm Quang Dũng đã vẽ tranh bằng thơ qua ngôn ngữ giảu chất tạo hình về một vùng núi hoang sơ hiểm trở, vừa gợi lên cái hùng vĩ dữ dội của thiên nhiên vừa hình dung được cuộ hành quân gian khổ của người lính
“ nhà ai pha luông mưa xa khơi”
Đối lập với 3 câu trên câu thơ toàn thanh bằng làm không gian như được nới rộng ra
Nhịp thơ nhẹ bỗng giàn trải như nhịp thở thư giãn của người lính để dừng lại nghỉ ngơi lưng chừng đèo, tạo nên một Tây Tiến không chỉ dữ dội mà còn rất thơ mộng
= qua một vùng thiên nhiên hiểm trở hoang vu và thơ mộng ta thấy thấp thoáng hính ảnh người lính trên đường hành quân, vừa có cái bi của cuộc hành quân mệt nhọc vừa có chất trẻ trung lãng mạn cửa chàng trai đầy nhiệt huyết
d, Hình ảnh người lính trên đường hành quân
“ anh bạn” cách gọi thân mật, đậm chất lính
“ không bước nữa, bỏ quên đời” dù rất can trường nhưng không vượt qua được sự hung dữ của thiênnhiên, người lính đã gục ngã
Tác giả không miêu tả người lính bách chiến bách thắng
“ anh ngã xuống đường băng tân sơn nhất”
Và anh chết trong ki đang đứng bắnMáu anh phun theo lửa đạn cầu vồng
Lê Anh Xuân
Hệ thống từ ngữ: anh bạn, dãi dầu gợi lên quyết tân sống chiến đấu và nằm xuống của người lính tây Tiến
Nghệ thuật nói giàm nói tránh cho thấy vẻ đẹp của người lính Tây Tiến coi thường cái chết xem cáichết nhẹ tựa lông hồng
e, Thiên nhiên Tây Tiến theo trục thời gian đầy nguy hiểm và bí ẩn
Điệp từ chỉ thời gian: chiều chiều đêm đêm cho thấy mối nguy hiểm đang rình rập cận kề
các thanh trắc: thác gầm thét, hịch cọp gợi lên sự dữ dội, bí hiểm, đầy ghê rợn
Nghệ thuật nhân hóa: cọp trêu ngươi cách nói rất lính khiến cho việc đối mặt với nguy hiểm trở nên nhẹ nhàng, con người trở nên quả cảm gan dạ
g, Tình quân dân thắm thiết
sau chặng đường hành quân vất vả mệt nhọc người lính dừng chân bên một bản làng, dòng cảm xúc thay đổi đột ngột trở nên ấm nóng tươi vui hơn
Trang 11= đoạn một được vẽ bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn, vừa đậm chất nhạc, đậm chất họa đưa người đọc trở về hành trình của những người lính tây Tiên đến khám phá vẻ đẹp của vùng Tây bắc vừa dữ dội hoang sơ hùng vĩ vừa thơ mộng diễm lệ và cảm nhận vẻ đẹp của người lính Tây tiến vượt qua bao dốc đéo cọp dữ vẫn can trường dũng cảm, vẫn lạc quan yêu đời, vẫn tinh tế nhạy cảm lãng mạn
3, Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong dêm văn nghệ và cảnh sông nước miến tây thơ mộng
a, Nỗi nhớ về tính quân dân trông đêm liên hoan
doanh trại: không khí trang nghiêm, khí thế mạnh mẽ hào hùng của đoàn binh
bừng: động từ dùng rất đắt phù hợp với không khí lễ hội, đó là sự bừng sáng của ánh lửa ngọn đuốccủa âm thanh, của tiềng nhạc,tiếng nói tiếng cười, của những guơng mặt hồng hào tình tứ
“ Hội đuốc hoa” biến doanh trại của người lính thành đêm hội vui vẻ hạnh phúc yêu đời lãng mạn “ Kìa em xiêm áo tựa bao giờ” lời chào tiếng thốt trầm trồ khen ngợi, ngạc nhiên ngỡ ngàng trước
vẻ đẹp rực rỡ của những cô gái Tạy Bắc
Không khí đêm liên hoan được đặc tả bằng hệ thống hình ảnh âm thanh của đuốc hoa, tiếng khèn, của xiêm áo rực rỡ Ánh lửa rự rỡ màu sắc của đuốc hoa củ xiêm áo, của những đôi mắt tươi vui với những âm thanh rộn rã của tiếng khèn tiếng nhạc Hình ảnh những con người vừa e ấp vừa kín đáo vừa đắm say
= đoạn thơ với nhịp thơ nhanh vui tươi dồn dập thể hiện một không khí tưng bừng đồng thời cho thấy một tâm hồn phong phú của người lính, đó là những chàng trai rất hồn nhiên yêu đời,yêu văn nghệ yêu ca hát
b, Khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc
Đoạn thơ chuyển ý đột ngột, mang nỗi vấn vương luyến tiếc, gặp gỡ càng đậm tình chia tay càng lưu luyến
Người đi có thể là nhâ vật trữ tình trong bài thơ cũng có thể đó là người đồng đội tác giả
Chiều sương có thể là hình ảnh thực, hình ảnh đặc trưng vùng núi tây Bắc, là một buổi chiều của hoài niệm của nỗi nhớ giăng mắc trong lòng tác giả
-= cảnh thiên nhiên Tây Bắc để lại trong lòng người đi những dấu ấn trên đường hành quân đó là hồn lau là dáng người trên độc mộc là hoa đong đưa
Bức tranh thiên nhiên bình yên cảnh thưa ít người Phép điếp có nhớ có thấy như gợi lên bao kỉ niệm như gieo vào lòng người bao nỗi nhớ da diết như lời nhắc nhở đừng quên Tây Bắc
4, Nhớ đoàn binh Tây tiến
a, Chân dung bên ngoài và nội lực bên trong
tây Tiến đứng đầu câu nhằm nhấn mạnh hình ảnh đoàn quân TT hướng về phía Tây
đoàn binh thay đoàn quân hình dung về một đoàn quân được trang bị vũ khí mạnh mẽ hùng dũng Hình ảnh đối lập: đoàn binh >< không mọc tóc
Xanh màu lá >< dữ oai hùm
= Quang Dũng không hề né tránh cái khắc nghiệt và hậu quả củ những cơn sốt rét rừng dữ dội Nhưng trái ngược với ngoại hình tiều tụy bên ngoài là nội lực bên trong mạnh mẽ bên trong với một
tư thế chủ động ( không mọc tóc) và khí thế của chúa tể rừng xanh ( dữ oài hùm.)
Trang 12= người lính TT là những con người có ý chí mãnh liệt có tình cảm đắm say vừa anh hùng vừa lãng mạn.
c, Cái chết bi tráng và sự bất tử
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Đảo ngữ nhấn mạnh vẻ hoang lạnh của nấm mồ xa xứ, câu thơ tả thực với nỗi buồn đau thương Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh: câu thơ trả lời dứt khoát cho những con người đứng cao hơn cái chết, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng Cái chết không ngăn nổi tinh thần tự nguyện dấn thân “ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”
Đoạn thơ nhắc nhiều đến cái chết: mồ viễn xứ, về đất, hồn về nhưng không hề bi lụy mà rất bi tráng bởi : cách sử dụng từ hán việt đầy trang trọng ( biên cương, viến xứ) Nghệ thuật nói giảm nói tránh “ chết là về đất mẹ yêu thương” và trên hết là lí tưởng xả thân cao cả
Sông mã gầm lên khúc độc hành: cái chết lớn cầm một cuộc tiễn đưa lớn Tiếng gầm tuy đau thươngnhưng mạnh mẽ hào hùng của sông mã là tiếng khóc lớn của thiên nhiên tiễn
Đưa người lính vào cõi trường sinh bất tử, nâng cái chết lên tầm sử thi hoành tráng
d, Lời thề của người lính TT
Nhịp thơ chậm, trầm như lời tâm sự nhắn nhủ họ ý thức rằng : đến với TT là đến với cái chết và sẵ sàng đối mặt với nó
Ai lên tt : mùa xuân ko xác định là mốc lịch sử không bao giờ trở lại mốc nhớ thương vĩnh viễn trong lòng tác giả, mùa xuân của tuổi trẻ những người lính dã cống hiến cho dất nước
Hồn về: lời thế tự nguyện gắn bó với TT kể cả ki đã chết
4 Nghệ thuật
Bài thơ được viết bằng cảm hứng lãng mạn Chất lãng mạn thể hiện ở cái tôi tràn đầy cảm xúc của tác giả, ở thiên nhiên và con người tây bắc hùng vĩ mà thơ mộng hoang sơ ấm áp hòa hợp với chất bitráng của người lính
Vẻ đẹp độc đáo của bài thơ
Cách sử dụng ngôn từ đặc sắc ( từ chỉ địa danh, từ tượng hình, từ hán việt vừa quen thuộc vừa độc đáo vừa cổ kính vừa mới lạ)
“ Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”
Hành trình thơ của CLV đi từ chân trời của một người đến với chân trời của mọi ngườ, đi từ thung lũng đau thương của số phận cá nhân đến cánh đồng vui THơ ông giàu chất suy tưởng, triết lý mang
vẻ đẹp trí tuệ với việc sáng tạo những hình ảnh đẹp, mới lạ nhưng sắc sảo
2 Tác phẩm
Trang 13Bài thơ gợi cảm tưởng từ một sự kiện chính trị từ 1958 – 1960 Đảng vận động nhân dân miền xuôilên xây dựng Tây Bắc Nhưng bài thơ không sa vào vận động cho một chính sách mà nhưu cầu giãi bày ân nghĩa của tác giả đối với nhân dân và cách mạng Bái thơ đã vượt qua một thời gian để sống với muôn đời In trong tập “Ánh sáng và phù sa” Do sức khỏe yếu không thể đến những vùng đất xaxôi nên ông đã khảng định khát vọng lên đường bằng những vần thơ
2 Sự trăn trở giục giã lên đường qua hai khổ đầu
Được thể hện bằng hình thức phân thân để tạo cuộc đối thoại giả định tự vấn chính mình, Tâm hồn tác giả đang phân vân giữa hai lựa chọn “đi” hay “ở” Ở đây xuất hiện những hình ảnh đối lập về không gian, trời Hà Nội đô thành thế giới của cái tôi nhỏ bé đối lập với gió ngàn Tây Bắc không gian
xa xôi, hùng vĩ rộng mở là cuộc sông 1lo7n1 của nhân dân Động từ “giữ” đối lập với “ rú gọi” hai động thí đối lập giữ cho mình một không gian riêng hay thoát khỏi nó để đi theo tiếng gọi của tổ quốc Hình ảnh “ đát nước mêng mông” đối lập với “ đời anh nhỏ hẹp” sãn sàng từ bỏ mà đến với cuộc đời chung rộng lớn “ Tàu đói những vành trăng”, “ vành trăng biểu hiện cho cái đẹp của thei6nnhiên, của cuộc sống là đối tượng của nghệ thuật, “tàu đói” hay là tâm hồn người nghệ sĩ đang cạn kiệt nguồn cảm hứng Vì thế lên Tây Bắc không chỉ là niềm khao khát mà còn là một nhu cầu bức thiết có tính sống còn của người nghệ sĩ Hệ thống các câu hỏi tu từ ( anh đi chăng ? sao chử ra đi….?) vừa tự vấn chính mình vừa khơi gợi thôi thúc giục giã người nghệ sĩ lên đường Tca1 giả khái quát quy luật của nghệ thuật là “ chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” Hiện thực cảm hứng
là ngọn nguồn cảm hứng cho thơ ca, từ đó đặt ra yêu cầu cho người nghệ sĩ phải hòa mình vào cuộc sống lớn của nhân dân mới có nghệ thuật chân chính Đó là quy luật rút ra từ sự chiêm nghiệm của tác giả
3 Hoài niệm về Tây Bắc, cội nguồn của khát vọng lên đường
Tứ thơ lộn ngược về quá khú đào sâu về hoài niệm, mạch cảm xúc thay đổi từ mới gọi giục giã tới trầm lắng tha thiết Hiện thực kháng chiến ở Tây Bắc được hiện lên qua chiều sâu của kí ức, của nỗi nhớ suy tư “Trên Tây Bắc ôi! Mười năm Tây Bắc” Địa danh Tây Bắc được nhắc lại 2 lần cùng thán
từ “ôi” đã đánh thức phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn nhà thơ bởi Tây Bắc là nơi ghi dấu bao kỉ niệm ân nghĩa, là cái nôi của cách mạng, là mảnh đất anh hùng “ xứ thiêng liêng Nơi máu rỏ : rừng núi >< anh hùng, máu rỏ>< chín trái đầu xuân” Động từ rở cho thấy sự hi sinh thầm lặng và bền bỉ của Tây Bắc Hình ành “ chín trái đầu xuân” khẳng định sức sống bất diết của đất và người Tây Bắc
“ Ơi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường”
Tác giả sử dụng phép đếm ước lệ, câu thô giàu chất triết lí cho thấy chính kháng chiến đã soi đường cho nhân dân cho người nghệ sĩ không những hôm nay mà cả ngàn năm sau
“ Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Trang 14Cho con về gặp lại mẹ yêu thương”
Nhân dân chính là người mẹ hiền vĩ đại Cách xưng hô ruột thịt cho thấy sự hòa mình của người nghệ sĩ vào đời sống lớn của nhân dân, giống như con người đi xa lâu ngày được trở về bên mẹ yêu thương
Niền vui được gặp lại nhân dân được diễn tả bằng một chuỗi so sánh kép “con gặp lại nhân dân: như nai về suối cũ” về với cội nguồn thân thuộc gần gũi đậm đà nghĩa tình gắn bó “ cỏ đón giêng hai chin ém gặp mùa” Tác giả dùng quy luật sinh trưởng của tử nhiên để diễn tả quy luật tất yếu khách quan của lịch sử, của người nghệ sĩ Về với nhân dân sẽ tìm tháy niền vui, niềm cảm hứng, sức sáng tạo “ Như đứa trẻ thơ đói lòng khát sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” Nhân dân là bầu sữa ngọt là nguồn sức mạnh tiếp sức cho người nghệ sĩ saunhu7ng4 năm tháng cạn kiệt sức sáng tạo tìm thấy được nguồn cảm hứng cho nghệ thuật về với nhân dân là như cầu chủ quan bức thiết của người nghệ sĩ Bốn câu thơ khái quát vai trò to lớn của nhân dân với tư cách là con người, nhân dân
là nguồn sống là nơi che chở là nguồn cội ấm áp Với tư cách là người nghệ sĩ thí nhân dân là nguốn cảm hứng sáng tạo Nhân dân là những con người cụ thể: anh du kích, em liên lạc, mế, cô gái nuôi quân Đó là những con người nghèo khó nhưng giầ đức hi sinh dũng cảm và ân nghĩa
Cách sử dụng cụm từ như ‘ suốt một đời, mười năm tròn, một mùa dài,trọn đời” thể hiện sự trọn vẹnthủy chung hết lòng vì cách mạng vì kháng chiến của nhân dân
Nhớ Tây Bắc còn là nhớ những vùng đất mình đã đi qua “ Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ” Đó là một vùng không gian không xác định,tạo nên một lớp khói mơ hồ như nỗi nhớ của tác giả đang giăng mắc đầy trời “ nƠi nào qu lòng chẳng nhớ thương” Một câu hỏi không hồi âm, chữ
“nao” như gieo vào lòng người bao man mác, da diết với hồn người đất là nơi neo đậu
Chiêm nghiệm về một triết lí:
“ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”
Hai câu thơ có sự đối lập giữa đi và ở, giữa vật vô tri và hồn người, tạo nên một quy luật kì diệu, đó
là chính tâm hồn con người như bao yêu thương gắn bó đã biến đất đai vô tri, đại danh vô cảm thànhmảnh tâm hồn chính tình yêu sự gắn bó đã chuyển hóa dạng thô sơ của vật chất là đất thành kết tinh của tinh thần là tâm hồn Hai câu thơ cuối chỉ là những kinh nghiệm cá nhân nòa ngờ đã trở thành tiếng lòng của muôn người
“ Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét” nỗi nhớ bất chợt nhưng da diết,phép so sánh lạ cho thấy cái rét là linh hồn của mùa đông,em là lih hồn thẳm sâu của nỗi nhớ khắc khoải trong trái tim anh và nỗi nhớ là cái tất yếu của tình yêu “tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng” Cánh kiến hoa vàng là loài hoa mọc ở vùng đất đá khô cằn, sống tầm gửi vào các loại cây khác Cho thấy đó là tình yêu nảy sinhtrong gian khó nên gắn bó bền chắt ssa6u sắc thủy chung “ như xuân đến chim rừng lông trở biếc” tình yêu đẹp trẻ trung , tràn trề sức sống nỗi nhớ, tính yêu như bao trùm cả bốn mùa thất sâu sắc và vĩnh cửu chính bản nhạc tình yw6u ấy đã dọn đường cho một triết lí “ tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” Tác giả đã biến một đối tượng cụ thể mà xa lạ đó là “ đất lạ” thành một đối tượng trừu tượng mà thân thuộc “ quê hương” Triết lí ấy cón là sự hóa giải về cơ sở tình yêu đất nước từ tình yêu lứa đôi nên rất sâu sắc bền chặt
“ anh nắm tay em………
Trang 154 Khúc hát lên đường
“ tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”
Lên Tây Bắc khôngchi3 là niềm vui là yêu cầu cảu người nghệ sĩ mà Tây Bắc đã trở thành nỗi khoa khát sự hối thúc trong lòng người
Các hình ảnh so sánh” Tâ Bắc- mẹ của hồn thơ- con tàu mộng tưởng- vầng trăng… những hình ảnh đẹp diễn tả niềm vui sướng tràn ngập khi được trở về với Tây Bắc về với hồn thơ về với cội nguồn của sự sáng tạo nghệ thuật
III Tổng kết
Bài thơ thể hiện sâu sắc khát vọng trở về với nhân dân để khẳng định mình để khơi nguồn sáng tạo nghệ thuật đồng thời cũng là lời tri ân về một vùng đất anh hùng nhân dân tình nghĩa Bài thơ cón
là sự chiến thắng chình mình khai hoang tâm hồn mình để tìm trái chìn cho mình
Nghệ thuật thơ tài hoa, hình ảnh thơ sáng tạo mới lạ, cảm xúc thơ hòa cùng trí tuệ
Trang 16Nguyễn Khoa Điềm có phong cách thơ bình dị đầy suy tư, cảm súc dồn nén, hình ảnh thơ giàu lien tưởng, bình dị gần gũi.
Đoạn trích “ đất nước” thuộc chương năm của trường ca “ mặt đường khát vọng” viết trên chiền trường Bình Trị Thiên khói lửa với mục đích thức tỉnh tinh thần dân tộc của tuồi trẻ Giúp họ : nhận
rõ bộ mặt sâm lược của bọn đế Quốc Mĩ, nhận ra vai trò trách nhiệm của thế hệ mình đối với đất nước để xuống đường hòa nhập vỏa cuộc chiến đấu của toàn dân tộc Cấu tứ đoạn trich1 như một cuộc trò chuyện tâm tình của lứa đôi, giữa anh với em để giự gìn một tình cảm lớn lao thiêng liêng với nhân dân đất nước ví thế giọng thơ như lời thủ thỉ tâm tình làm cho những lí giải mang tấm triết học về đất nước trở nên dung dị dễ hiểu gần gũi Bài thơ vừa thể hiện chất chính luận chặt chẽ vừa thể hiện chất trữ tình phóng khoáng thoải mái
II Đọc hiểu
1 cảm nhận mới mẻ về cội nguồn đất nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước
Khác với những nhà thơ nhà văn khác thường tạo nên một khoảng cách riêng khá xa về Đất nước
để chime nghiệm ngợi ca về Đất nước bằng những từ ngữ mĩ lệ như: Nam quốc sơn hà, đất nước là nơi vua ở, là nơi đế cư đã được định sẵn ở đất trời hay như Nguyễn Trãi Đất nước là nơi lẫy lừng những triều đại Đinh Lí trần ,Lê còn dối với Nguyễn Khuyến thì đất nước kì vĩ với một mói sa thư
đồ sộ, hai vầng nhật nguyệt chói lòa Thì Nguyễn Khoa Điềm đã chọn một điểm nhìn gần gũi thân thuộc với mọi người nhưng không kém phần thiêng liêng cao đẹp tác giả cảm nhận đất nước từ nhiều phương diện
a, cảm nhận đất nước từ phương diện nhân hóa tinh thần
“ khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi”
Trang 17Đất nước có nguồn gốc từ xa xôi, không xác định được cụ thể thời gian, câu thơ như một lời cảm nhận tạ ơn của người thừa hưởng mùa màng mà không đổ mồ hôi gieo hạt “ Đất nước… ” “ ngày xửa ngày xưa … kể” đó là nhịp điệu muôn đời của cổ tích tốt đẹp, nơi có cô Tấm dịu hiền, có chàngThạch sanh dũng cảm “ Đất nước bắt đầu … bà ăn”, “ Đất nước lớn lên…… giặc” hai chữ lớn lên cho ta thấy sự vươn mình quật khởi của đất nước qua bao thăng trầm, vất vả để được có ngày hôm nay Nó như cái vươn vai của cậu bè Gióng trong thần thoại Đất nước ra đời với sự nghiệp đấu tranhgiữ gìn bờ cõi, Đất nước gằn liền với những phong tục tập quán miếng trầu bà ăn, búi tóc của mẹ Miếng trầu vật nhỏ né bình dị nhưng lại là một sinh hoạt văn hóa truyền thống, là biểu tượng vẻ đẹp tâm hồn người Việt nam thủy chng son sắt, nghĩa tình Đất nước còn có từ những câu cao dao đậm nghĩa nặng tình“ Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Đất nước có từ đời sống lao động vất vả để sinh tồn “ cái kèo, cái cột….làm nhà” “ hạt gạo: xay, giã, dần, sàng” Với tư duy thơ hiện đại, tác giả đã lí giải vấn đề triết học lớn lao về cội nguồn Đất nước từ cái nhỏ bé, bình d5, gần gũi nhất của người dân Việt Nam Nhưng chính cái bình dị ấy lại trở thành lớp trầm tích văn hóa lâu đời
và thiêng liêng nhất của dân tộc bằng cách sử dụng sang tạo những thi liệu văn hóa dân gian nhưng không nhắc lại nguyên vẹn mà chỉ lất ý nhằm khơi gợi những liên tưởng giúp người đọc tự do đi về trong các chiều đại văn hóa lịch sử để cảm nhận nguồn cội đất nước và như vậy tác giả đã đưa đất nước từ trời cao ngai vàng hóa vào miền cổ tích, vào miếng trầu vào búi tóc, vào cái kèo, cái cột thân thuộc bình dị
b, Đất nước được nhận diện từ phương diện không gian địa lí
Có hai loại không gian
+ Không gian sinh hoạt đời thường: tác giả đi vào định nghĩa Đất nước là gì “ Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm” Tác giả chiết từ thành hai thành tố để lí giải cụ thể đầy đủ sau đó gộp lại thành Đất nước Đây là cách diễn đạt theo lối tư duy tổng – phân – hợp chặt chẽ logic Cách lí giải mang đậm màu sắc triết học phương đông, đất trong nước, nước trong đất tạo thành một Đất nước bền chặt như quy luật tự nhiên của vũ trụ
“ Đất nước là nơi ta hò hẹn Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” xuất hiện những định nghĩa bất ngờ, tác giả kéo những cái xa vời trừu tượng thành những cái gần gũi riêng tư, kín đáo đời thường nhất đó có thể là nơi anh đến trường, nơi em tắm, nơi lưu gĩ nhưng kỉ niệm của tình yêu, nơi nỗi nhớ riêng tư kín đáo Lời đối thoại thành độc thoại nhập nhằng khiến cho người đọckhông nhận ra đâu là định nghĩa nghiêm trang đâu là khúc tâm tình tha thiết
+Không gian huyền thoại “ Đất nước là nơi con chim … Hạc nước là nơi con cá… khơi” Không gian đậm tính huyền thoại được đẩy ra từ hai chiều kích lớn bao la núi và biển Tách ra hai thành tố đất và nước để chỉ ra địa bàn cư trú của người Việt qua các thế hệ “ Đất nước là nơi tự”, gộp đất nước lại cho thấy dù họ sống ở đâu núi cao hay biểu rộng đều gắn kết ở một khối thống nhất “ Thời gian đằng đẵng không gian menh mông ” Hai câu thơ ngắn gọn nhưng đã bao quát chiều dài,chiều sâu thăm thẳm của thời gian, chiều rộng vô cùng của không gian đó cũng là quá trình hình thành khai khẩn các vùng đất sinh sống của người Việt Không gian huyền thoại được đẩy lên một chiều kích to lớn tạo nên một đất nước mênh mông hùng vĩ gắn với sự giàu có của rừng vàng biển bạc và sự cao quý của nòi giống tiên rồng Thời gian lịch sử là sự gắn kết không thể tách rời của quá khứ hiện tại và tương lai
+ Thời gian quá khứ
Đẫm tính nguồn cội với các hình ảnh : chim, rồng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, bọc trứng, giỗ tổ Thời gian chật ních các huyền thoại về lịch sử hình thành đất nước đánh thức trong mọi chúng ta niềm tự hào về dòng giống cao quý của dân tộc, ý thức hướng về nguồn cội trong đáy sâu tâm linh người Việt “ cúi đầu” là sự thành kính, ngưỡng vọng khi hướng về cha ông, chạm đúng vào tình cảm cội nguồn sâu nặng của mọi người “ tổ” một khái niệm lớn lao chỉ giống nòi dân tộc, đó có thể là gia
Trang 18đình dòng họ nhưng dù lớn hay nhỏ thì đó cũng là nơi cưu mang, dùm bọc, che chở cho người Lànơi ta thắp nén hương, bày tỏ lòng thành kính lúc tết đến hay giỗ chạp.
+ thời gian hiện thực gắn liền với thế hệ trẻ hôm nay “ trong em và anh hôm nay vẹn tròn to lớn” Chất chính luận chặt chẽ,sâu sắc, triết lí về mối quan hệ máu thít giữa cá thể với cộng đồng, giữa cá thể và đất nước không thể tách rời Các từ ngữ tăng cấp một phần hài hòa ven toàn diễn tả một sự gắn kết bền chặt giữa cá thể và cộng đống đề tạo nên một đất nước mạnh mẽ lớn lao “ em oi em” là lới thủ thỉ tâm tình tiếng gọi tha thiết Đắng sau tiếng gọi đó “là máu xương của mình” lời khẳng định cho thấy đất nước là máu thịt, nên phải gắn bó hòa mình, phải san sẻ xây dựng đất nước, phải hóa thân sẵn sàng hi sinh vì đất nước Các động từ tăng cấp gắn bó san sẻ là lời giục giã mệnh lệnh khởi phát từ trái tim, mong muốn mọi người hãy gp1 mình xây dựng đất nước
Đất nước là máu thịt của mọi cá nhân, vận mệnh của đất nước là vận mệnh của cá nhân, trách nhiệmvới đất nước cũng là trách nhiệm với chính mình, bỏa vệ đất nước cũng là bảo vệ sự sống của chính mình, mọi cá nhân vô danh sẽ góp phần tạo nên một đất nước bất tử Đấy là tư tưởng chung của mọi thời đại khi mà vấn đề dân tộc nổi lên như một vấn đề cơ bản nhất,c1 tính quy định và chi phối các vấn đề khác
+ thời gian tương lai
“ Mai con ta mơ mộng” Con cháu chúng ta sẽ kế tục sự nghiệp cha anh để làm nên một đất nước giàu có cường mạnh Cảm xúc về thời gian quá khứ hiện tại tươnng lai nhập nhằng không phânđịnh để cho thấy cội nguồn đất nước là một quá trình gắn kết lâu dài Hiện tại ngày hôm nay là quá khứ của ngày mai, sự phân định không rõ ràng tạo nên một đất nước muôn màu muôn vẻ đa dạng phong phú
2 Tư tưởng Đất nước là của nhân dân
Để thể hiện tư tưởng này, tác giả tạp trung chứng minh: nhân dân những con người vô danh đã làm nên dáng hình xứ sở đã làm nên bốn ngàn năm lịch sử và chính nhân dân cũng sang tạo lưu truyền những giá trị vật chất tinh thần của Đất nước
a, nhân dânn là những người đã tạo nên dáng hình xứ sở
Tác giả điểm tên những địa danh
Vợ nhớ chồng như núi vọng phu thể hiện phẩm chất của vẻ đẹp về tấm long thủy chung son sắt Cặp vợ chồng thương nhau được ví với hòn trống mái thể hiện một gia đình hạnh phúc đầm ấm yêuthương
Gót ngựa thánh going thành trăm đầm ao dũng cảm hi sinh bảo vệ đất nước
Chin chin convoy thể hiện đó là đất Tổ Hùng vương cho thấy bề dày cội nguồn và tình cảm uống nước nhớ nguồn
Học trò nghèo – núi bút nn nghiên cho thấy sự hiếu học chăm lo đèn sách
Rồng nằm im… Dòng sông xanh thẳm thể hiện sự giàu có trù phú tốt tươi
Còn các con gà … hạ long thắng cảnh thể hiện vẻ đẹp của đất nước với những danh lam thắng cảnh
Người dân vô danh ( ông đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm) có công khai khẩn ra những vùng đất mới
Ngôn ngữ dày đặc những từ ngữ chỉ địa danh trải theo chiều dài từ Bắc vào Nam lấp đầy không gianĐất nước từ núi cao, rung du,đồng bằng, ven biển tất cả gợi lên quá trình khai đất mở đường biếm ruộng hoang rừng sâu nước thẳm, thành nơi sinh cơ lập nghiệp trù phú qua bao thế hệ Bút pháp huyền thoại hóa cho thấy dáng núi hình sông không chỉ là những địa danh thông thường, đơn thuần
vô hồn mà là những số phận,cảnh ngộ ,khát vọng những vẻ đẹp về nhân phẩm của nhân dân Những
Trang 19địa danh ấy không phải là sản phẩm của tạo hóa mà là sự hóa thân của những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân Từ những hình ảnh cụ thể được tác giả liệt kê đã đi đến một khái quát “ và ở đâu trên khắpruộng đồng gò bãi Chẳng mang một bóng hình, một ao ước, một lối sống ông cha” Câu thơ bao quát khắp mọi miền không gian với mọi miền địa danh, khắp mọi miền ruộng đống bờ cõi Từ “ một
” được lập lại nhấn mạnh bao nhiên tên núi tên sông ,tên làng ,tên bản của đất nước là bấy nhiêu những bóng hình, ao ước khát vọng, lối sống của cha ông bao thế hệ gửi vào Than từ “ôi” thốt lên như một sự phát hiện đầy ngỡ ngàng, sự xúc động biết ơn, thành kính thiêng liêng cả niểm tự hòa về
vẻ đẹp trong lối sống, những ước mơ cao đẹp mà cha ông đã cò, đã tạc hình vào hồn thiêng sông núi.Cách viết từ cụ thể đến khái quát tạo nên một ấn tượng sâu sắc về quá trìn gắn bó máu thịt một sự hóa thân của nhân dân cho đất nước
b, nhân dân làm nên bốn ngàn năm lịch sử
nhìn về lịch sử bốn ngàn năm tác giả không tổng kết bằng các thời đại Đinh, Trần như “ đại cáo bình ngô” không nhắc tới những tên tuổi lẫy lừng đã được khắc bia đá bảng vàng mà nhấn mạnh vai trò to lớn của nhân dân xây dựng tỏa sáng trên vũ đài chính trị xuất phát từ cảm quanlich5 sử mới
mẻ về vai trò
tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi
cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu
tôi sống với cuộc đời chiến đấu
của triệu người yêu dấu gian lao” ( Xuân Diệu)
Đất nước của những người con trai con gái
Đẹp như hoa hồng và cúng như sắt thép ( Hà Nam)
Nhân dân là những người con trai con gái khi chưa có giặc họ cần cù chăm chỉ, một nắng hai sương.Khi có giặc họ vút lên mạnh mẽ vươn vai như Thánh Gióng, Thạch Sanh như những người anh hung “ Họ đã sống … đất nước” Bút pháp tương phản đầy nghịch lí thành logic về những con người bình thường nhỏ bé vô danh nhưng lại có thể làm nên những công việc kì vĩ lớn lao cho thấy vai trò
to lớn của nhân dân trong tiến trình bốn ngàn năm lịch sử mà Nguyễn Trãi đã thấm thía : làm lật thuyền mới biết sức dân
Tác giả không sử dụng từ hô gọi không sử dụng từ ngữ chính luận mà sử dụng những từ ngữ đời thường, tâm tình thức tỉnh, lay động nhận thức của tuổi trẻ miền Nam nói riêng và cả nước nói
chung về vai trò xây dựng và trách nhiệm của mọi cá nhân đối với đất nước
c, Nhân dân là người sáng tạo lưu truyền, gìn giữ những giá trị vật chất, tinh thần cho muôn đời sau
Đại từ họ lặp lại nhiều lần và đứng đầu câu nhấn mạnh vai trò to lớn của nhân dân trước sảm phẩm vật chất, tinh thần của cha ông
Hệ thống các động từ: giữ , chuyền, đắp… cho thấy sự tiến hóa của lịch sử như một cuộc lao động lớn, một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi để sáng tạo, lưu truyền, gìn giữ những giá trị vật chất, văn hóa tinh thần cho muou6n đời sau
d, Khái quát tư tưởng “ đất nước của nhân dân”
theo tư duy lập luận của Nguyễn Khoa Điềm thì nhân dân là người đã tạo ra dáng nền xứ sở, bốn ngàn năm lịch sử, sáng tạo lưu truyền gìn giữ những giá trị văn hóa tinh thần chính vì có vai trò to lớn như vậy nên tác giả đã kết luận “ Đất nước này là đất nước của nhân dân Đất nước của nhân dânđát nước của ca dao thần thoại”
hai về làm cho định nghĩa về đất nước là kết tinh vẻ đẹp cao quý nhất của tâm hồn, trí tuệ mà vẻ đẹp
ấy không thể tìm ở đâu hơn văn học dân gian, ca dao , thần thoại trở về với đất nước là trở về cái nôi của văn học dân gian
Trang 20Định nghĩa về đất nước vừa giản gị gần gũi vừa thiêng liêng huyền ảo đất nước trở thành một mĩ từđược tác giả trân trọng viết hoa trong tác phẩm thể hiện thái độ tự hòa biết ơn dành cho đất nước cũng là dành cho nhân dân
Đất nước dạy cho người Việt Nam biết yêu thương nhau say đắm, biết quý trọng tình nghĩa, biết kiên trì dũng cảm trong chiến đấu ( biết yêu em từ thưở trong nôi, biết quý công… , biết trồnng tre… ) Ba câu thơ đều được lấy từ ý thơ ca dao quen thuộc ba bài ca dao nói về ba phương diện quan trọng của đời sống tinh thần của nhân dân
Bốn câu cuồi hiện lên hình ảnh con người lao động chuyên cần vừa lao động vừa hát Người lao động gian nan vất vả để gieo trồng sự sống nhuung trong cái vất vả gian nan ấy họ vẫn yêu đời vẫn cất tiếng hát lạc quan
Cảm nhận mới mẻ về vẻ đẹp của đất nước
ĐÀN GHI TA CỦA LOR CA
I tác giả
Là nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối cùng của kháng chiến chống mĩ
Ông mang cho phong trào thơ một tiếng nói riêng, tiếng nói trung thực của thế hệ cầm súng đầy tự giác trước lịch sử
“ chúng tôi đã đi qua chiến tranhNhững tuổi hai mươi làm sao không tiếcNhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươ thì còn chi đất nước”
Sau năm 75 Thanh Thảo hướng đến cách tân và đổ mới thơ Việt
Cảm nhận và thể hiện cuộc sống ở bề sâu khước từ lối diển đạt dễ dãi
Tìm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, xóa bỏ những ràng buộc khuôn sáo bằng nhịp điệu say mê phóng túng Hình ảnh thơ giàu biểu tượng, nhiều cách kết hợp lạ hóa
Tất cả những điều đó mang đến cho thơ một mĩ cảm mới mẻ hiện đại Thanh Thảo là một nhà thơ cónhiều trăn trở suy tư vể xã hội về hiện tại, ông luôn cố gắng tìm kiếm con người ở nhân cách cao đẹp, tâm hồn phóng khoáng tự do dù cuộc đời nhiều ngang trái
II bài thơ
Trang 21Sóng dưới sự cai trị cùa chế độ đọc tài phát xít ông đã quyết liệt chống bạo tàn, ca ngợi tự do ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân Ông đã bị phát xít bắt giam và bắn chết khi mới 37 tuổi, từ đótên tuổi Lorca trở thành biểu tượng chống phát xít và bảo vệ nền văn hóa văn minh dân tộc
2 Nhan để và lời đề từ
- Nhan đề có 2 hình tượng sóng đôi
Đàn ghi ta là biểu tượng cho nước Tây Ban Nha thể hiện tình yêu nước sâu sắc của Lorca Là nghệ thuật cách tân của Lorca co thấy người nghệ sĩ sáng tạo Là biểu tượng tâm hồn cao đẹp và khát vọng tự do của lorca và lí tưởng đấu tranh vì tự do vì hòa bình cả ông
Ông là người con u tú, một chiến sĩ quả càm của tây Ban Nha
- Lời đề từ: khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn
Câu thơ là di chúc viết sớm của Lora cho thấy ông luôn bị ám ảnh cái chết sẽ đến với mình sớm Thể hiện tâm nguyện luôn muốn được gắn bó với cây đàn với quê hương xứ xở, tình yêu của ông vớinghệ thuật Đồng thời chứa đựng thông điệp của lorca mong muốn thế hệ nghệ sĩ sau phải biết chôn nghệ thuật của ông để sáng tạo cái mới, phải biết vượt lên cái bóng của vĩ nhân để sáng tạo
Ông thấu hiểu sâu sắc quy luật của sự sáng tạo đồng thời cho thấy sự hin sinh cao thượng và khát vọng của ông mong muốn có ngưoi2 tài năng hơn mình, vượt mình để tiếp tục cuộc cách tân
3 Hình tượng Lorca
a, Bối cảnh lịch sử văn hóa Tây Ban Nha
Bài thơ được viết trong sự pha trộn nhiều yếu tố
Những thi liệu trong thế giới nghệ thuật của Lorca như đàn ghi ta, bài ca mộng du, con ngựa đen , vầng trăng đỏ,áo choàng đấu sĩ, cô gái di gan và những hình ảnh mang biểu tượng quen thuộc của Thanh Thảo như dòng sông ,cỏ hoang mọc
Có sự kết hợp giữa dòng tự sự và nhạc, giữa màu sắc thơ riêng của phương đông với chất bi tráng của nhạc giao hưởng phương tây, vừa mang sự kết hợp của một cấu trúc, vừa liên tục trong cốt tự sự,vừa gián đoạn trong suy tường
Hình tượng áo choàng đỏ gắt: mang đậm màu sắc văn hóa Tây Ban Nha cho ta hình dung tới nhữngtrận đấu bò tót Đấu trường chính trị căng thẳng quyết liệt giữa một bên là chế độ độc tài thân phát xít một bên là Lorca một công dân khát vọng tự do dân chủ Đó cũng là đấu trường nghệ thuật của nền nghệ thuật TBN già nua cũ kĩ sáo mòn với cách thân mới mẻ do Lorca khởi xướng
Âm điệu tiếng đàn “lilalila”: âm điều tiếng đàn là bản nhạc dạo đầu và kết thúc của một bài hát Mang đậm màu sắc văn hóa TBN, mang tên loài hoa đinh hương loài hoa tím buôn gợi lên vẻ đẹp của quê hương đất nước, mang vẻ đẹp tình cảm của người dân TBN người nghệ sĩ lãng mạn Tiếng đàn lập đi lập lại một cách đơn diệu cho thấy Lorca đang hát bài ca đấu tranh, bài ca nghệ thuật lạc điệu với chính quê hương đất nước và nhân dân mình
b Lorca một con người đòi tự do một chiến sĩ quả cảm, một nghệ sĩ lãng du đi tàm cái đẹp trong thế giới bạo tàn.
một chiến sĩ quả cảm, một nghệ sĩ lãng du đi tàm cái đẹp trong thế giới bạo tàn: Lorca xuất hiện trực tiếp qua hình ảnh “ tiếng đàn bọt nước” Hai hình ảnh quen thuộc trong thế giới thi liệu của ông,nhưng kết hợp thành xa lạ Được ánh chiếu những kênh cảm giác thị giác ,thính giác để mở ra một trường liên tưởng Tiếng đàn là con người l,số phận, tâm hồn, nghệ thuật của lorca Bọt nước trong trẻo là biểu tượng của một con người có tâm hồn trong sáng, lạc quan yêu đời
dễ vỡ: số phận ngắn ngủi oan nghiệt cùa Lorca
không dễ hủy diệt: dù Lorca chết nhưng tên tuổi và nghệ thuật của ông thì còn sống mãi
miền đơn độc: hành trình tranh đấu cho tự do và cho cách tân nghệ thuật, Lorca không có kẻ đồng hành
Vầng trăng: biểu tượng cho cái đẹp của nghệ thuật, của lý tưởng đấu tranh mà Lorca đã lựa chọn
Trang 22Yên ngựa mỏi mòn: con đường mà lorca lực chọn không hề đơn giản mà đầy vất vả nhọc nhằn chứachất bất trắc và có khi phải đổi bằng cả tính mạng
= Lorca con người yêu đời, yêu quê hương xứ sở Một chiến sĩ can trường dũng cảm đeo đuổi khát vọng 9ª6u1 tranh cho tự do dân chủ Người nghệ sĩ sáng tạo mang hoài bão cách tân nghệ thuật đồngthời là một nghệ sĩ cô đơn mang số phận đầy bất trắc
c Cái chết oan khuất cua Lorca
TBN hát kiêu ngạo: đất nước TBN hỗn nhiên thờ ơ lạc d9ie6u5 với khúc ca tranh đấu của Lorca
“ Bỗng kinh hoàng áo choàng bê bết đỏ” ; sự giật mình bàng hoàng thức tỉnh của cả đất nước TBN Đồng thời thể hiện cái chết đột ngột bất ngờ và tức tưởi của Lorca
Hình ảnh áo choàng bê bết máu: màu máu ở đây không còn là màu của xứ xở mà là màu của chết chóc đau thương
= từ một nghệ sĩ can trường dũng cảm trên đấu trường khốc liệt đã trở thành một đấu sĩ bị hành hình ngay rên đấu trường ấy Từ một người gieo sự sống giờ ông bị hủy diệt sự sống, từ một người yêu đời giờ phải gánh chịu một sự thật phũ phàng
= cái chết oan ức tức tưởi đau đớn, cái chết ấy không chỉ là một dư chấn mạnh đối với nhân dân TBN mà cho cả nhân loại tiến bộ, không chỉ cho lúc dó mà cho cả mãi sau này
Cấu trúc thơ đột ngột thay đổi gián đoạn “ chàng đi như người mộng du” cái chết không thể ngăn nổi bước chân của Lorca đi tàm cài đẹp tự do Chàng tiếp tục cuộc hành trình bằng vô thức bằng hoài niệm
Hàng loạt các ẩn dụ chuyển đổi cảm giác quá bất ngời: tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta xanh biết mấy Thể hiện nỗi đau quá bất ngờ quá oan khuất nên tiếng đàn không ở dạng nguyên thủy mà vỡ òa thành đươcng2 nét thành hình khối, tâm hồn tính cách thân phận của Lorca
Tiếng ghi ta lặp lại 4 lấn những lần nào cũng thay màu đổi gam
Tiếng ghi ta nâu màu của đồng đất quê hương, tình yêu quê hương xứ sở của Lorca Màu của nỗi buồn của sự giản dị như chính nghệ thuật của Lorca, màu của sự trầm tĩnh suy tư
Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy là màu của khát vọng tự do dân chủ, màu của cách tân nghệ thuật, củatha thiết hi vọng, của sự sống của tuổi trẻ Hai chữ biết mâty1 thốt lên như một sự tiếc nuối ngậm ngùi cho một vẻ đẹp bị phá hủy
Tiếng ghi ta tròn biểu tượng của tâm hồn cao đẹp,của nghệ thuật sáng tạo của lorca nhưng giờ đây
4 Tấm lòng thanh Thảo
“ không ai chôn cất tiếng đàn
Tiếng đàn như cỏ mọc hoang”
Không ai tiếp tục cuộc hành trình mà Lorca lựa chọn Chàng ra đi kkhi quá trẻ con đường đấu tranh
va những cách tân nghệ thuật của chàng giờ đây thiếu kẻ dẫn đường Thanh thảo xót thương cho mộtcuộc cách tân chưa hoàn tất
Trang 23Cỏ mọc hoang: câu thơ là niềm tin vào sức sống mãnh liệt, bất diệt lan tỏa của nghệ thật lorca Kẻ thù có thể chôn vùi thể xác của chàng như không chôn vùi được tên tuổi và nghệ thuạt của người
“Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại chỉ mình nó không thứa nhận cái chết” (sê đrin) “ giọt nước mắt vằng trăng” câu thơ với cách kết hợp từ lạ hóa Hình ảnh vầng trăng lúc đầu gắn vớiniềm say mê lý tưởng của người nghệ sĩ thì nay đi kèm với nước mắt, gợi bao đau đớn xót xa Đó là nỗi đau ,là nghệ thuật của Lorca trước sự thật là cái chết tức tưởi oan khuất Đó là giọt nước mắt của hậu thế khóc thương thông cảm trân trọng đối với con người ưu tú của đất nước TBN
“ long lanh trong đáy giêng1” vầng trăng soi tỏ một con người đã chết cho quê hương xứ sở Vầng trăng là biểu tượng của cài đẹp cái thiện đối lập với đáy giếng nơi cái xấu cái ác ngự trị
= Lorca ra đi đầu đau đớn nhưng tác giả tin tưởng vào sự thật là tên tuổi và nghệ thuật của lorca là bất tử với chiều rộng của không gian (cỏ mọc hoang) với chiều cao của bầu trời ( mặt trăng) với chiều sâu mặt đất ( đáy giêng1) Và ánh sáng tỏa ra từ nhân cách của chàng sẽ soi tỏ phơi bày tội ác của kẻ thù đã gây ra
Đoạn cuối Thanh Thảo bằng tất cả tình yêu và sự đồng cảm của mình đã dựng lên một huyền thoại
về cái chết của Lorca Đó là cái chết tự nguyện chủ động do chính chàng lựa chọn chứ không phải là cái chết tức tưởi đau đớn trước họng súng của kẻ thù
Hình ảnh đối lập: “ đường chỉ tay đã đứt” là sự hạn hữu ngắn ngủi của đời người với “ dòng sông rộng vô cùng” là cuộc đời đầy cam go ngang trái nên ông muốn dừng lại
Động từ “ném” xuất hiện 2 lần đó là hàng động quyết liệt chủ động của người chiến sĩ tự nguyện xả thân cho lí tưởng cao cả
“ Lorca lội sang ngang
Trên chiếc ghi ta màu bạc”
Thanh Thảo đã hoàn thành di nguyện của Lorca tiễn chàng sang thế giới bên kia cùng cây đàn ghi
ta Chàng sang thế giới bên kia một cách thanh thản và chiếc ghi ta màu bạc màu của sự sáng trong, tinh khiết chân thực không quỳ gối trước bất công tàn bạo Cái chết đã biến thành sự bất tử thành sự dập vùi thăng hoa
Khúc “ lila li la li la” âm điệu ngọt ngào của tiếng đàn ghi ta của khúc nhạc quê hương tiễn Lorcavào cõi trường sinh là những vòng hoa tư đinh hương mà hậu thế đã kết thành để tương3 niệm một con người đã sống chết cho quê hương Chuỗi âm thanh cuối bài cứ ngân mãi vang mãi như nén hương lòng của Thanh Thảo dâng lên lorca
Trang 24NGUYỄN TUÂN
I, cuộc đời
1, Tiểu sử
NT (1910 - 1087) quê ở Hà Nội, xuất thân trong một gia đình Hán học đã tàn
NT 2 lần đi tù và 1 lần bị đưổi học Cầm bút từ những năm 30 và nổi tiếng từ những năm 38 sau cách mạng hăng hái tham gia kháng chiến Từng giữ chức tổng thư kí hội văn nghệ Việt nam Được trao tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật 1996
2,Con người
Ông là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc với những nét riêng
Gắn bó đầy tự hào và chắt chiu gìn giữ những giá trị văn hóa nghệ thuật cổ truyền của dân tộc
Yêu những làn điệu dân quê những thú chơi tao nhã
Yêu tiếng mẹ đẻ, những áng văn chương cổ điển
Là người có ý thức cá nhân phát triền cao, viết văn để khẳng định cá tính của mình, sống tự do phóng túng ha du lịch
Là người rất mực tài hoa,uyên bác suốt đới tìm tòi học hỏi, học trong đời học trong sách vở Tác phẩm của ông rất giàu có về tri thức của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau Là người biết quý trọng nghề nghiệp của mình Cuộc đời sáng tác của ông là quá trính tìm tòi và diễn tả cái đẹp
II sự nghiệp văn học
1, trước cách mạng
Là một nhà văn lãng mạn, sáng tác xoay quanh 3 đề tài chính
Chủ nghĩa xê dịch: một chuyến đi,thiếu quê hương Viết về bước chân của cái tôi lãng tử qua những miền quê Chủ đề này phù hợp với tâm hồn phóng túng của NT đó cũng là một phản ứng đầy bất mãn với xã hội bấy giờ Tuy nhiên ở đề tài này ông lại có dịp để tỏ tấm lòng thiết tha của ông với quê hương đất nước
Vang bóng một thời: tập truyện ngắn gốm 11 truyện viết về những nét đẹp cổ xưa với những phong tục đẹp, những thú vui tao nhã Nhân vật chín là những ông nghè ông cử tài hoa bất đắc chí tuy thất thế nhưng vẫn không chịu làm lành với xã hội thục dân Qua đó Nt gián tiếp quay lưng với hiện thực
xã hội và bày tỏ sự tôn trọng với những giá trị văn hóa truyền thống
Đời sống trụy lạc: ghi lại quãng đời hoang mang bế tắc, tìm cách thoát lí trong những thú vui hạ đẳng rượu trà, đàn bà và thuốc phiện Qua đó thấy được tâm trạng bất mãn của lớp thanh niên đươngthời Tiêu biểu là tác phẩm ngọn đèn dầu lạc, chiếc lu đồng màu mắt cua
2, sau cách mạng
NT đã lột xác trở thành nhà văn cách mạng, đưa ngòi bút của mình phục vụ kháng chiến Tác phẩm của ông sau cách mạng phản ánh chân thực hai cuộc kháng chiến chống pháp , chống mĩ và công
Trang 25cuộc xây dựng đất nước Nhân vật chính là con người cần cù dũng cảm nhưng cũng rất rài hoa nghệ
sĩ Tiêu biểu là tùy bút sông đà, Hà Nội ta đánh mĩ giỏi
NT quan niệm cái đẹp là những cái ấn tượng đập mạnh vài giác quan của người nghệ sĩ Ông được xem là nhà văn của những tính cách phi thường, của những cảm giác mãnh liệt, của núi cao sông dài thác ghềnh dữ dội
Phong cách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân đã mang Nt đến với thể tùy bút như một tất yếu
b, sau cách mạng
có những chuyển biến quan trọng trong phong cách nghệ thuật Có những mặt kế thừa và phát huy nhưng thái độ ngông với giọng vănkhinh bạc không còn nữa,nếu còn thì giàng cho kẻ thù hoặc những hiện tượng tiêu cực trong xã hội còn giọng văn chủ đạo là tin yêu đôn hậu
Vẫn tiếp cận sự vật ở phương diện văn hóa và con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ nhưng không còn là số ít mà tìm thấy ở số đông nh6an dân lao động ở mọi lĩnh vực của đời sống
Trước đây quan niệm về cái đẹp chỉ có trong quá khứ thì nay còn có ở hiện tại và tương lai
Trước đây tòm cảm giác mạnh ở chủ nghĩa xê dịch, ở thế giới vang bóng trong quá khứ thí nay tím thấy cảm giác ấy trong phong cảnh đẹp của tự nhiên, thành tích của nhân dân trong lao động và chiến đấu
Văn xuôi Nt giàu hình ảnh từ ngữ phong phú có tài tổ chức câu văn giàu giá trị tạo hình có nhạc điệu Trước cách mạng tùy bút của Nt thiên về miêu tả nội tâm cái tôi cá nhân chủ quan Sau cách mạng tùy bút có pha chất kí sự, bút pháp hướng ngoại để phản ánh hiện thực cuộc sống
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
I, phân tích tác phẩm
1 hình tượng con sông đà
Ngôn ngữ tài hoa của NT đã lay con sông đà thức dậy, tưới linh hồn vào nó để khai sinh ra một dòng sông nghệ thuật của mình với 2 nét tính cách hung bạo và trữ tình
A, tính cách hung bạo của con sông đà
* Đá sông ĐÀ
Đá dựng vách thành, chẹn lòng sông như 1 cái yết hầu – lối so sánh liên tưởng bất ngờ, từ một cái lớn lao của thiên nhiên đến một cái gần gũi của con người Và để hình dung rõ hơn nét dữ dội này của con sông tác giả tả cảm giác “ đang mùa hè mà cũng thấy lạnh”
Đá bày thạch trận trên sông
Bằng thủ pháp so sánh nhân hóa tác giả đã miêu tả một cuộc bầy binh bố trận kĩ lưỡng của đá sông
đà “ mai phục hàng nghìn năm”, khi gặp thuyền “ nhổm cả dậy và vồ lấy nó”, chia làm 3 hàng phòng
Trang 26ngự với 3 trùng vi thạch trận: vòng đầu 5 cửa có 4 cửa tử,1 cửa sinh Vòng 2 tăng nhiều cửa tử để đánh lừa thuyền Vòng 3 ít cửa hơn nhưng đều là luồng chết cả
Với vốn kiến thức quân sự và biệp pháp nhân hóa độc đáo,NT đã thổi hồn vào đá sông đà Nt đã biến những hồn đá vô tri thành những sinh thể có tâm địa mưu mô, xảo quyệt với những thủ đoạn cự
kì gian ác để tìm mọi cách tiêu diệt con người
*thác nước sông Đà
Những thác nước dài hàng cây số ( Tà mường - Hát Lóng) nước xô đá,đá xô sóng, sóng xô gió cuồncuộn gùm gè như lúc nào cũng đòi nợ xuýt- cấu trúc trùng điệp cộng nghệ thuật so sánh tạo nên một không gian dữ dội với những âm thanh ghê rợn của thác nước sông Đà như một đội quân hung hãn gầm ghè đi đòi nợ một cách vô lí
Những cái hút nước ghê rợn Âm thanh nước ở đây thở và kêu như cống cái bị sặc nước kêu ặc ặc như vừa rót dầu sôi vào,lôi tuột rồi dím cho tan xác những cái bè gỗ
Dùng kiến thức điện ảnh để cho người đọc một cảm giác mạnh về những thước phim được quay từ đáy thác nước ngược lên
Âm thanh của thác nước mang những giai điệu bí ẩn ghê rợn; oán trách,van xin, khiêu khích,chế nhạo, rống lên nhưng như hành ngàn con trâu mộng giữa rừng vầu rửng tre nứa nổlửa – sự liên tưởng so sánh bất ngờ độc đáo tạo cho người đọc ấn tượng mạnh về cái dữ đôi của âm than thác nước
*đá thác cùng phối hợp
Đội quân đoàn kết , hiếu chiến và ngoan cố Đá nước sóng gió tham gia tích cực vào cuộc chiến, mỗi đối tượng đều đảm nhiệm một nhiệm vụ khác nhau nhưng hỗ trợ cho nhau để tung ra những đòn hiểm nhất tiêu diệt con người Ngay đến lúc thua cuộc nhất chúng vẫn còn ngoan cố
= bằng nghệ thuật nhân hóa dày đặc cùng những liên tưởng bất ngờ thú vị, tài hoa NT đã dựng lên thác nước sông đà như một loài thủy quái mưu mô luôn gầm rú gê rợn để uy hiếp tinh thần đối phương Người đọc có cảm giác như trang văn của NT như nóng lên đang quằn quại để đem đến cho người đọc những cảm giác ghê rợn nhưng cũng rất thú vị vì tài năng liên tưởng hấp dẫn
= tác giả miêu tả tính cách hung bao của con sông đà không phải như một khách tham quan, một nhà địa lí chung chung khách quan, mà như một nhà nghệ sĩ kì tài trong việc sử dụng ngôn ngữ,
để chạm khắc so sánh liên tưởng từ những cái lớn lao gần gũi, từ tĩnh đến động, từ vật vô tri đến vóc dáng con người có tâm địa, để buộc sự sự hung bạo của sông đà phải sống dậy, hiện hình gàothét trên trang văn NT
Để tạo nên con sông đà như thế cho thấy tác giả đã ông phu tìm hiểu con sông ấy trên những dáng vẻ khác nhau có khi ở chỗ rộng có khi ở chỗ hẹp, khi thì quan sát thạch trận thác đá đến cả
âm thanh để tạo nên sự đa dạng phong phú nhiều góc độ Đồng thời thấy được ông đã huy động kiến thức của rất nhiều bộ môn trong và ngoài nghệ thuật để tạo nên những bất ngờ thú vị
B, tính cách trữ tình, thơ mộng của sông đà
Sông Đà chỉ thực sự trữ tình khi chảy qua chợ Bờ để lại những hòn đá xa xôi trên thượng nguồn Tây bắc và từ đây cũng vắng bóng ông lái đò
Đoạn văn viết về vẻ trữ tình của sông Đà là kết quả của quá trình tím kiếm công phu và quan sát củanhà văn ở những thời điểm khác nhau
Khi viết về vẻ đẹp trữ tình này, NT thay đổi cách viết, không kể tả theo lối của người khác mà viết bằng cảm xúc tức thời của một du khách thưởng ngoạn trên sông đà
+Quan sát từ trên cao thì thấy đủ dáng dấp của con sông đà “ sông Đà tuôn dài như một áng tác trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc, bung nở hoa ban hoa gạo tháng 2 và cuồn cuộnkhói núi mèo đốt ngày xuân” Lối so sánh giàu chất thơ, sông đà giống như mái tóc của người thiếu