1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ số 18 bộ bộ đề THI THPT QUỐC GIA CHUẨN cấu TRÚC bộ GIÁO dục

62 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Số 18 Bộ Đề Thi THPT Quốc Gia Chuẩn Cấu Trúc Bộ Giáo Dục
Tác giả Luis Sepulveda
Trường học Nhà xuất bản Hội nhà văn
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Đề Thi
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 395 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ ĐỀ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA CHẨN CẤU TRÚC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO. BỘ ĐỀTHI GỐM 18 ĐỀ VỚI ĐẦY DỦ CẤU TRÚC BA PHẦN GIÚP HỌC SINH ÔNLUYỆN DỂ LÀM QUEN VỚI CẤU TRÚC DỀ THIĐọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Nước mắt lưng tròng, Lucky thuật lại tất cả mọi thứ mà Matthew đã nói với nó. Zorba liếm khô nước mắt của Lucky và bỗng nhiên nhận ra mình đang giảng giải cho con hải âu nhỏ, điều mà nó chưa từng làm trước đây:

Trang 1

ĐỀ SỐ 18 BỘ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA CHUẨN CẤU TRÚC BỘ GIÁO DỤC

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

↔↔↔↔↔

I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Nước mắt lưng tròng, Lucky thuật lại tất cả mọi thứ mà Matthew đã nói với nó Zorba liếm khô nước mắt của Lucky và bỗng nhiên nhận ra mình đang giảng giải cho con hải âu nhỏ, điều mà nó chưa từng làm trước đây:

“Con là một con hải âu Gã đười ươi đúng ở điểm đó, nhưng chỉ điểm đó thôi Tất

cả chúng ta đều yêu con, Lucky Và chúng ta yêu con bởi vì con là một con hải âu Một con hải âu xinh đẹp chúng ta chưa từng phủ nhận khi nghe con nói con là mèo,bởi điều đó an ủi chúng ta rằng con muốn giống chúng ta, nhưng con khác với chúng ta và chúng ta vui với sự khác biệt đó Chúng ta đã không cứu được mẹ con, nhưng chúng ta có thể giúp con Chúng ta đã bảo vệ con từ khoảnh khắc con mổ vỡ lớp vỏ trứng ra đời chúng ta đã dành cho con sự chăm sóc mà không hề nghĩ tới việc biến con thành một con mèo Chúng ta yêu con như yêu một con hải âu Chúng

ta cảm thấy con cũng yêu chúng ta như vậy, chúng ta là bạn con, là gia đình của con, và chúng ta muốn con biết rằng nhờ con, chúng ta đã học được một điều đáng

tự hào: chúng ta học được cách trân trọng,quý mến và yêu thương một kẻ không giống chúng ta Thật dễ dàng để chấp nhận và yêu thương một kẻ nào đó giống mình, nhưng để yêu thương ai đó khác mình thực sự rất khó khăn, và con đã giúp chúng ta làm được điều đó Con là chim hải âu, và con phải sống cuộc đời của một con hải âu Con phải bay Khi con đã học hành tử tế, Lucky, ta hứa với con rằng con

sẽ thấy hạnh phúc lắm, và sau đó tình cảm của chúng ta dành cho nhau thậm chí cònsâu sắc và đẹp đẽ hơn, bởi đó là tấm chân tình giữ hai loài vật hoàn toàn khác

nhau.”

“Con sợ bay lắm,” Lucky léc quéc, đứng dậy

“Khi con tập bay, ta sẽ ở đó với con,” Zorba thầm thì, liếm đầu Lucky “Ta đã hứa với mẹ con rồi.”

Con hải âu nhỏ và con mèo mun to đùng, mập ú cùng bước đi – con mèo dịu dàng liếm đầu con hải âu và con chim duỗi một cánh vắt ngang lưng con mèo

(Trích Chuyện con mèo dạy hải âu bay, Luis Sepulveda, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2009)

Câu 1 Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ chính nào?

Câu 2 Theo tác giả, điều mà con hải âu Lucky cần nhận thức và thực hiện được là điều gì?

Câu 3 Anh/ Chị hiểu như thế nào về câu nói của Zorba: Chúng ta đã dành cho con

sự chăm sóc mà không hề nghĩ tới việc biến con thành con mèo?

Câu 4 Trong đoạn trích trên, thông điệp nào có ý nghĩa nhất với anh/ chị? Vì sao?

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Trang 2

Từ những cảm nhận của mình về đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về lời nhắn nhủ của Zorba với Lucky: chúng ta đã học được một điều đáng tự hào: chúng ta học được cách trân trọng, quý mến và yêu thương một kẻ không giống chúng ta.

Câu 2 (5,0 điểm)

Cảm nhận của anh/ chị về chi tiết nồi cháo cám trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) và chi tiết bát cháo hànhcủa thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)

HƯỚNG DẪN GIẢI ĐỀ THI

I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Câu 1 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ Nghệ thuật

Câu 2 Đây là câu kiểm tra năng lực nắm bắt thông tin, do vậy HS có thể dựa vào đoạn trích trích dẫn thông tin câu hỏi yêu cầu Đây là câu trả lời tham khảo

Theo tác giả, điều mà con hải âu Lucky cần nhận thức và thực hiện là: Con là chim hải âu và con phải sống cuộc đời của một con hải âu Con phải bay

Câu 3 Ý nghĩa của câu nói: Chúng ta đã dành cho con sự chăm sóc mà không hề nghĩ tới việc biến con thành con mèo

Những con mèo trên bến cảng đã yêu thương hải âu với tất cả tấm chân tình nhưng không ích kỉ và mù quáng Chúng vẫn ý thức rõ chúng là những giống loài khác nhau và con hải âu phải được nuôi dưỡng để trở thành chính nó

Câu 4 HS dựa vào đoạn trích lựa chọn một thông điệp tác giả gửi gắm có ý nghĩa nhất với mình Và đồng thời, HS phải lí giải được vì sao thông điệp đó lại có ý nghĩa với bản thân Dưới đây là một vài gợi ý:

- Con là chim hải âu và con phải sống cuộc đời của một con hải âu Con phải bay Hãy sống cuộc đời của chính mình, hãy trở thành chính mình Phải biết vươn tới và đạt được những mơ ước Chính những điều này làm cho cuộc sống của chúng ta hạnh phúc và ý nghĩa

- Tình yêu thương là điều quý giá trong cuộc sống Yêu thương những người giống mình và hãy mở lòng yêu thương cả những người có quá nhiều khác biệt Bởi đó là cách ứng xử nhân văn của những người có văn hóa

II LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Dưới đây là đoạn văn tham khảo:

Quy ước viết tắt : [Đ]: Đặt vấn đề [G]: Giải quyết vấn đề

[M]: Mở rộng [B]: Bài học/ Thông điệp

[Đ] Câu chuyện trong đoạn trích ở phần đọc hiểu đem đến cho tôi một bài học sâu sắc về tình yêu thương: Yêu thương người giống mình là điều dễ dàng nhưng yêu thương những gì khác biệt với mình mới là điều khó khăn mà ta phải học trong cuộcsống [G] Chúng ta phải biết trân trọng và yêu thương những khác biệt bởi vì sự khác biệt là một sự thực hiển nhiên trong cuộc sống, con người cần hiểu điều ấy và chấp nhận Chấp nhận sự khác biệt là không kì thị, không phân biệt, không thành kiến với những khác biệt của người khác, biết trân trọng và yêu thương kẻ "không

Trang 3

giống chúng ta" Đây là cách ứng xử văn minh của những con người có hiểu biết,

có tình cảm Thái độ trân trọng và yêu thương ấy sẽ khiến cuộc sống trở nên đẹp đẽ trong sự đa dạng, phong phú, trong những ấm áp và sẻ chia [M] Mặt khác chúng ta cũng không ngộ nhận sự khác biệt với sự lập dị Không lấy đó làm lí do ngụy biện cho thái độ vô cảm, vô trách nhiệm với cuộc đời [B] Một xã hội văn minh là xã hội tôn trọng hệ giá trị của mỗi người Sự khác biệt hoàn toàn không xấu, hơn nữa còn

có có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống Vì vậy mỗi người cần bồi đắp cho mình nền tảng văn hóa để không xử sự "mông muội" khi đứng trước những kẻ "không giống" mình Yêu thương ai đó khác mình thực sự không dễ dàng nhưng nếu chúng

ta làm được thì thật đáng tự hào!

Câu 2 (5.0 điểm)

Yêu cầu của đề là thí sinh phải trình bày được cảm nhận của mình về các chi tiết nghệ thuật: nồi cháo cám của bà cụ Tứ (Vợ nhặt – Kim Lân) và bát cháo hành của thị Nở (Chí Phèo, Nam Cao) Từ đó, nêu được sự tương đồng và khác biệt giữa hai chi tiết nghệ thuật

Dưới đây là gợi ý tham khảo

1 Vài nét về tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận

– Nam Cao là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại Sáng tác của ông tập trung vào hai đề tài lớn là người nông dân nghèo và người trí thức tiểu tư sản Dù viết về đề tài nào, tác phẩm của Nam Cao cũng thể hiện những day dứt, đau đớn về tình trạng con người do khốn cùng mà không giữ được nhân phẩm Chí Phèo (1941)

là kiệt tác của ông ở đề tài người nông dân nghèo Nhà văn đã phản ánh chân thực tình cảnh khốn khổ của người nông dân thuộc địa, khẳng định phẩm chất tốt đẹp của họ

– Kim Lân là cây bút truyện ngắn tài hoa Thế giới nghệ thuật của ông là khung cảnh nông thôn và cuộc sống của người nông dân Ông am hiểu sâu sắc nỗi lòng và cảnh ngộ của những người dân quê nghèo khổ những gắn bó tha thiết với quê

hương và Cách mạng Vợ nhặt (1954) là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, viết về nạn đói 1945 để nói lên những khát vọng bình thường, chính đáng của con người.– Nêu vấn đề nghị luận: Cả 2 tác phẩm đều xây dựng được những chi tiết đắt giá: Trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) với nồi cháo cám của bà cụ Tứ và trong Chí Phèo của Nam Cao là bát cháo hành của thị Nở

2 Yêu cầu cơ bản: Cảm nhận về chi tiết nồi cháo cám và chi tiết bát cháo hànha) Chi tiết nồi cháo cám:

+ Thể hiện niềm khao khát hạnh phúc gia đình của người vợ nhặt Người đàn bà ấy

ý tứ đón nhận tình cảm của bà cụ Tứ, sẵn sàng đồng cam cộng khổ với gia đình Tràng

Trang 4

b) Chi tiết bát cháo hành:

– Về nội dung:

+ Thể hiện sự chăm sóc ân cần của thị Nở khi Chí Phèo ốm đau, cô quạnh

+ Là biểu hiện của tình người hiếm hoi mà Chí Phèo nhận, là hương vị của hạnh phúc muộn màng Chí được hưởng

+ Là liều thuốc giải cảm, là “thần dược” đánh thức tính người bấy lâu nay bị vùi lấp

ở Chí Phèo: Chí ngạc nhiên, xúc động, ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm của mình trong hiện tại và tương lai

+ Khơi dậy khát khao được làm hòa với mọi người, được chung sống với thị Nở và nhen lên trong Chí niềm hi vọng vào một cơ hội trở về với cuộc sống lương thiện

thể vùi dập chứ không thể hủy diệt phẩm chất người ở người lao động

Trang 5

ĐỀ SỐ 13 BỘ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA CHUẨN CẤU TRÚC BỘ GIÁO DỤC

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

↔↔↔↔↔

I ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

“(1) Cuộc sống vốn đã đủ phức tạp rồi, không cần phải trầm trọng hóa mọi thứ thêm nữa Nếu bạn có thể làm điều gì đó để đơn giản nó, hãy làm Nếu không, hãy để mọi thứ được tự nhiên! Nếu bạn thèm hamburger, hãy ăn hamburger Nếu bạn thấy mình quá béo, hãy giảm béo Nếu bạn yêu ai đó, nói với họ Nếu bạn chưa tìm thấy đam mê thực sự, hãy thử nhiều công việc khác nhau cho đến khi tìm thấy nó Nếu bạn thích làm nhiều việc, hãy làm tất cả, lần lượt từng việc một Bạn thấy chứ? Mọi thứ không nghiêm trọng như chúng ta nghĩ Chỉ cónhững ý nghĩ phức tạp mới khiến ta lo lắng Hãy suy nghĩ đơn giản, làm những gì mình muốn(miễn là hợp pháp và không phương hại ai) và tận hưởng cuộc sống!

(2) Niềm vui khi nhận được điểm 9 sẽ sớm phai đi, nhưng lòng đố kị với kẻ được điểm 10 sẽ còn vương lại mãi trong tâm trí Đó là chuyện muôn thuở Ta thường thèm muốn nhiều hơn nhưng hiếm khi dừng lại để nhận ra những gì chúng ta thực sự có Chúng ta so sánh mình với người khác chỉ để thấy rằng hiện tại của ta không đủ tốt Và bằng cách đó, ta gây áp lực không cần thiết lên chính mình Và đó là khởi nguồn của mọi bi kịch

Khao khát chinh phục những điều tốt hơn là việc đáng hoan nghênh, bởi lẽ nó là nguồn động lực để ta hoàn thiện bản thân Tuy nhiên, cũng cần phải trân trọng cái nền tảng nơi ta đang đứng, những gì ta đang có trong tay Đôi khi ta dồn sức chiến đấu vì những điều to tát, mà bỏ qua những niềm vui hàng ngày: tiếng cười của con trẻ, sự quan tâm chăm sóc của người thân,một cuốn sách hay, hay một mái nhà che chở ta khỏi sương gió nắng mưa Đừng bao giờ quênnhững điều nhỏ bé mà quý giá vô cùng đó!”

(Bình an nội tâm - Cân bằng cuộc sống, dẫn theo wallstreetenglish.edu.vn)

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 2 Nêu nội dung chính và thông điệp tác giả muốn gửi gắm ở đoạn (1) của văn bản?Câu 3 Theo anh/chị, vì sao mọi người lại “thường thèm muốn nhiều hơn nhưng hiếm khi dừng lại để nhận ra những gì chúng ta thực sự có”?

Câu 4 Việc khao khát những điều tốt đẹp hơn và trân trọng những gì ta đang có trong tay có mâu thuẫn nhau hay không? Hãy bàn luận trong 5 - 7 dòng

II LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

Bằng đoạn văn khoảng 200 chữ, hãy bàn luận về ý kiến được gợi ra từ văn bản trên: So sánh mình với người khác là ta đang gây áp lực cho chính mình và đó là khởi nguồn cho mọi bi kịch

Câu 2 (5 điểm)

Phân tích vẻ đẹp của bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người,

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Trang 6

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

I ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là phương thức nghị luận

Câu 2 Trong đoạn (1), tác giả nêu ra những điều bạn có thể muốn làm và khuyên ta nên làm điều đó ngay khi có thể như ăn hămburger, giảm béo, tìm kiếm đam mê,

Từ đó, gửi gắm thông điệp: hãy suy nghĩ đơn giản, làm những gì mình muốn (miễn là hợp pháp và không phương hại ai) và tận hưởng cuộc sống

Câu 3 Mọi người“thường thèm muốn nhiều hơn nhưng hiếm khi dừng lại để nhận ra những gìchúng ta thực sự có”, bởi vì:

- Con người luôn muốn điều tốt hơn nữa, không biết đủ, không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn với hiện tại

- Con người có bản chất so sánh, đứng núi này trông núi nọ

Câu 4 - Về hình thức: 5-7 dòng, diễn dạt mạch lạc

- Về nội dung:

+ Nêu quan điểm cá nhân

+ Bàn luận làm sáng rõ quan điểm

Sau đây là một gợi ý:

Việc khao khát những điều tốt đẹp hơn và trân trọng những gì ta đang có trong tay không hề mâu thuẫn nhau, mà bổ sung cho nhau, giúp con người trở nên hạnh phúc, thành đạt Khao khát vươn lên là động lực hoàn thiện bản thân mình ở tương lai, còn trân trọng những thứ mình đang có là biết giá trị của những nỗ lực trong quá khứ và thành quả ở hiện tại Một người biết cân bằng giữa việc thỏa mãn với cái đang có ở hiện tại và không ngừng tiếp tục phấn đấu trong tương lai mới là người khôn ngoan, giúp họ cân bằng được cuộc sống dù ở hoàn cảnh nào đi nữa

II LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

Yêu cầu chung về hình thức và kết cấu đoạn văn:ϖ

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

- Nêu được quan điểm cá nhân và bàn luận một cách thuyết phục, hợp lí

- Đảm bảo bố cục: mở - thân - kết, độ dài 200 chữ

- Lời văn mạch lạc, lôi cuốn, đảm bảo chính tả và quy tắc ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giải thích, đánh giá: So sánh mình với người khác một cách tiêu cực, dù là so sánh hơn hay kém, bản chất chính là sự đố kị Sự đố kị có thể khiến con người xa cách nhau, trở nên vị kỉ, nhỏ nhen và gây ra bi kịch không chỉ cho mình mà còn cho người khác

- Chứng minh: HS lấy ví dụ vế tính đố kị trong tác phẩm văn chương, lịch sử, cuộc sống:

Trang 7

+ Chu Du trong Tam quốc chí là điển hình của sự so sánh mình với người khác, thấy bản thânthua kém, uất ức mà chết.

+ Đức Phật dạy: “Khổ tấm lớn nhất của đời người là ganh ghét, đố kị Sai lầm lớn nhất của đời người là tự đánh mất mình”

+ “Đừng để cho con rắn ghen tị luồn vào trong tim Đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối

óc và làm đồi bại trái tim” (Ét-môn-đô A-mi-xi)

- Bàn luận:

+ Mỗi người là một cá thể độc lập, so sánh mình với bất kì ai đều là khập khiễng

+ Nguyên nhân của sự so bì có thể là: thói quen so sánh; sự mặc cảm, tự ti về bản thân; hay thất bại trong cuộc sống và nhìn thấy nhiều người may mắn hơn mình…

+ So sánh mình với người khác có nhiều tác hại:

Người hay đố kị, so sánh thường căng thẳng tinh thần, tổn hại sức khỏe, khó thành công do tâm trí chỉ để ý đến so bì (áp lực cho bản thân).♣

Tập thể có những người hay so sánh không đoàn kết, dễ nảy sinh mâu thuẫn nên không thể vững mạnh, thậm chí mạt sát, hãm hại nhau (gây nhiều bi kịch).♣

+ Tuy vậy, so sánh mình với người khác một cách tích cực lại có nhiều mặt tốt: Giúp chúng tabiết thi đua, phấn đấu, cạnh tranh lành mạnh

+ Biện pháp: Để từ đó bỏ được thói đố kị, so bì, có thể rèn luyện câu:

Tìm hiểu lí do người khác hơn/kém mình, từ đó, có cái nhìn khách quan hơn.♣

Bình tĩnh trước ưu điểm, thành công của người khác; học hỏi những thế mạnh của họ.♣

Tự nhìn nhận những ưu điểm/ nhược điểm của bản thân để hoàn thiện mình.♣

- Liên hệ: Rút ra bài học cho bản thân

ĐỀ SỐ 10 BỘ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA CHUẨN CẤU TRÚC BỘ GIÁO DỤC

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

↔↔↔↔↔

I ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

“Có câu chuyện kể ràng, một đôi vợ chồng trẻ vừa dọn đến ở trong một khu phố mới Sáng hôm sau, vào lúc hai vợ chồng ăn điểm tâm, người vợ thấy bà hàng xóm giăng tấm vải trên giàn phơi

“Tấm vải bẩn thật” - Cô vợ thốt lên “Bà ấy không biết giặt, có lẽ bà ấy cần một loại xà phòngmới thì giặt sẽ sạch hơn” Người chồng nhìn cảnh ấy nhưng vẫn lặng im Thế là, vẫn cứ lời bình phẩm ấy thốt ra từ miệng cô vợ mỗi ngày, sau khi nhìn thấy bà hàng xóm phơi đồ trong sân

Một tháng sau, vào một buổi sáng, người vợ ngạc nhiên vì thấy tấm vải của bà hàng xóm rất sạch, nên có nói với chồng: “Anh nhìn kia! Bây giờ bà ấy đã biết cách giặt tấm vải rồi Ai đã dạy bà ấy thế nhỉ?”

Người chồng đáp: “Không Sáng nay anh dậy sớm và đã lau kính cửa sổ nhà mình đấy”.Thực ra mỗi người trong chúng ta, ai cũng đều giống như cô vợ trong câu chuyện kia Chúng

ta đang nhìn đời, nhìn người qua lăng kính loang lổ những vệt màu của cảm xúc, bám dày lớpbụi bặm của thành kiến và những kinh nghiệm thương đau Chúng ta trở nên phán xét, bực

Trang 8

dọc và bất an trước những gì mà tự mình cho là “lỗi lầm của người khác”.

Một điều dễ nhận diện là khi tâm trạng vui vẻ, chúng ta nhìn ai cũng thấy dễ chịu, gặp chuyện

gì cùng dễ thứ tha Chúng ta có thể mỉm cười trước những trò nghịch ngợm của lũ trẻ, đủ khoan thứ để nhẫn nại một lời nói khó nghe, những chuyện tưởng chừng khó chấp nhận, thì chúng ta cũng dễ dàng thỏa hiệp Những lúc ấy, dường như cả thế giới đều trở nên hòa ái, mọichuyện trôi qua một cách nhẹ nhàng

Vậy mà, chỉ cần một chút lo lắng dâng lên trong lòng, những muộn phiền về quá khứ, nỗi sợ hãi về tương lai sẽ lập tức khiến cho cái thế giới vốn đang đẹp đẽ nhường kia liền biến thành một chốn đầy những chuyện xấu xa, phiền phức Khi ấy những tiếng hò hét cười đùa của lũ trẻ sẽ trở thành những âm thanh khó chịu, một lời nói không vừa ý dễ dàng khiến cho ta sân giận hoặc tổn thương, những chuyện nhỏ mà lúc bình thường không đáng bận tâm, bỗng trở thành một nỗi phiền não quá sức chịu đựng.” [ ]

(Dẫn theo Thảo Yukimoon, Luôn nhìn thấy lỗi ở người khác: Nỗi bất hạnh lớn lao của những cái đầu chứa đầy thành kiến, http://kenh14.vn)

Câu 1 Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?

Câu 2 Vì sao người vợ lại bình phẩm về việc giặt vải của người hàng xóm, khi thực tế điều

đó không liên quan đến cô ta?

Câu 3 Anh/Chị hiểu thế nào là thành kiến? Thành kiến là tích cực hay tiêu cực? Nêu một ví

dụ thực tế về thành kiến trong xã hội ngày nay

Câu 4 Anh/Chị có đồng ý với quan niệm “Một điều dễ nhận diện là khi tâm trạng vui vẻ, chúng ta nhìn ai cũng thấy dễ chịu, gặp chuyện gì cũng dễ thứ tha” không? (trình bày trong 5 -7 câu)

II LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

Câu 2 Người vợ bình phẩm về tấm vải của người hàng xóm bởi lẽ:

- Đó là sự việc xảy ra trước mắt của cả hai vợ chồng cô và với tư cách của một người phụ nữ,

cô ta nghĩ rằng người hàng xóm đó nên làm tốt hơn

- Đánh giá, bình phẩm người khác trở thành một thói quen của nhiều người trong xã hội, trong đó có người vợ

Câu 3 Thành kiến là những quan điểm cá nhân được định sẵn là đúng đắn trong suy nghĩ của mỗi người

Thành kiến có mặt tích cực (tạo những chuẩn mực xã hội), ví dụ như: con cái cần trân trọng, hiếu thảo với cha mẹ; có mặt tiêu cực (tạo thành những quan niệm cứng nhắc, khó đổi mới, sáng tạo), ví dụ như: là phụ nữ là phải biết nữ công gia chánh, biết nấu ăn,

Trang 9

Câu 4 - Về hình thức: 5-7 dòng, diễn đạt mạch lạc.

- Về nội dung:

+ Nêu quan điểm: đồng tình hoặc phản đối

+ Bàn luận làm sáng rõ quan điểm

II LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1.(2 điểm)

Yêu cầu chung về hình thức và kết cấu đoạn văn:ϖ

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

- Nếu được quan điểm cá nhân và bàn luận một cách thuyết phục, hợp lí

- Đảm bảo bố cục: mở - thân - kết, độ dài 200 chữ

- Lời văn mạch lạc, lôi cuốn, đảm bảo chính tả và quy tắc ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giải thích, đánh giá:

“Quan điểm riêng của bản thân” là suy nghĩ, hành động thể hiện cái tôi, được định hình trên lập trường của cá nhân Vì vậy, nó có thể đúng hoặc sai, có thể toàn diện hoặc phiến diện Nếu cứ khăng khăng theo quan điểm riêng, con người dễ đi vào hướng tiêu cực, tự đánh lừa,

tự giới hạn bản thân

hướng tới lối tư duy mở, sự tích cực học hỏi, tiếp thu chọn lọc từ mọi người

- Chứng minh:

+ Có người chỉ vì quan điểm cá nhân mà thành công: Jack Ma vì tin tưởng internet sẽ bùng

nổ mà quyết tâm theo đuổi công nghệ, cuối cùng đã thành công với lựa chọn của mình

+ Ngược lại, có người chỉ vì khư khư giữ quan điểm riêng mà thất bại: No-ki-a vì không chịu đổi mới mà bị thất bại trước các đối thủ vốn yếu thế hơn

+ Biện pháp: Cần điều chỉnh việc xây dựng quan điểm cá nhân và tôn trọng, học hỏi từ quan điểm của người khác

- Liên hệ: Rút ra bài học cho bản thân

Câu 2 (5 điểm)

Yêu cầu chung:ϖ

- Đảm bảo cấu trúc đề nghị luận: Mở bài - thân bài - kết bài

- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

- Triển khai vấn đề thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

- Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và hình tượng nhân vật Mị - nhân vật trung tâm của tác phẩm

Trang 10

- Phân tích diễn biến tâm lý và hành dộng của nhân vật Mị trong đêm mùa đông

- Nêu được tư tưởng, cũng như tài năng tác giả trong việc đi sâu, miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật

Tiến trình làm bài

Kiến thức Hệ thống ý chính Phân tích chi tiết

Kiến thức chung Khái quát vài nét về tác giả - Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ra

và lớn lên tại Hà Nội Bước vào tuổi thanh niên, Tô Hoài đã trải nhiều nghề, nhưng chỉ khi đến với nghiệp cầm bút mới đạt thành công rực rỡ

- Tô Hoài là nhà văn lớn, trong quá trình cầm bút, không ít những tác phẩm đã mang lại cho nhà văn những thành tựu lớn Tô Hoài là nhà văn giỏi về phân tích diễn biến tâm lý nhân vật,

về miêu tả thiên nhiên, các phong tục tập quán, sáng tác của Tô Hoài thiên về diễn tả nhữngtình cảnh của đời thường Tác phẩm của Tô Hoài luôn hấp dẫn người đọc bởi lối kể chuyện hóm hỉnh, sinh động, bởi vốn từ vựng giàu có

Cơ bản Vài nét về tác phẩm - Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyệnngắn viết về đề tài Tây Bắc của ông Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể

Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc (1954) Tập truyện được tặng giải Nhất - giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954- 1955

- Tác phẩm ra đời là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn cùng với bộ đội giải phóng Tây Bắc năm 1952 Tác phẩm thể hiện chân thực, xúc động về cuộc sống cơ cực, tủi nhục củađồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến cùng quá trình giác ngộ cách mạng, tự vùng lên giải phóng cuộc đời

Kiến thức trọng tâm Sức sống tiềm tàng đã được thể hiện qua những lần Mị tự nhận thức được nỗi đau khổ - Trong thân phận người con dâu trừ nợ, Mị phải làm việc không kể ngày đêm, làm việc quần quật từ sáng đến tối Lấy Mị về, A Sử đã biến Mị thành công cụ lao động biết nói Dù là tư cách người vợ, nhưng Mị bị hành hạ dã man, không khác gì con vật nuôi trong nhà Thống lý

- Thời gian ban đầu về làm dâu nhà Thống lý, đã có lúc Mị tìm đến cái chết để giải thoát, bởi người con gái ấy cảm nhận được cái đau khổ, cái tuyệt vọng Chết như một cách chống lại thực tại dồn ép, đè nén, để giải thoát khỏi những đau khổ, dù có là tiêu cực Đêm mùa xuân, khi Mị lắng nghe tiếng sáo gọi bạn: tiếng sáo ấy như gõ vào trong ký ức của Mị, làm ký ức sống lại Làm trỗi dậy niềm khát khao lâu nay nguội lạnh Mị muốn đi chơi A Sử trở về và trói Mị, Mị không biết mình bị trói, cô gái ấy đang chìm trong quá khứ tươi đẹp A Sử có thể trói được thân thể ấy, nhưng không thể trói được tâm hồn, trói được khao khát tự do đang bùng lên

Sức sống tiềm tàng bùng lên mãnh liệt, biến thành đấu tranh trong đêm mùa đông khi Mị chứng kiến A Phủ bị trói - Mị và A Phủ “gặp nhau” tại nhà Thống lí Người thì là con dâu gạt

nợ Người vì tội đánh con quan mà trở thành người “vay nợ, ở nợ” Cả hai đều là con trâu, con ngựa của nhà thống lí Chính cảnh ngộ, tình thương và lòng căm thù đã thức tỉnh ý thức

Trang 11

trói đứng Mị như thế Mị khẽ thốt lên lời than: “Trời ơi! ” Mị nguyền rủa cha con Thống lí:

“chúng nó thật độc ác” Bao cảnh thương tâm đồng hiện trong tâm hồn Mị: bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói chết người đàn bà ngày trước cũng

ở cái nhà này” Giọt nước mắt A Phủ làm thức tỉnh Mị, thức tỉnh cái khổ đau mà lâu nay tưởng chai lì

- Mị tự thương cảnh ngộ mình; thương A Phủ trên bờ vực thẳm, khi tử thần đã gõ cửa: “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết" Mị nghĩ về thân phận mình, tưởng như là cam chịu: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi ”

- Mị ý thức được A Phủ không thể chết, “việc gì mà phải chết thể” Con đường thức tỉnh của con người thức tỉnh là con đường vòng, có lúc ngập ngừng do dự, có lúc quyết liệt Mị cũng thế, Mị tưởng tượng A Phủ trốn thoát, Mị sẽ bị trói trên cái cọc oan nghiệt ấy! Đám than vạc hẳn lửa

Hình như bóng tối cho Mị sức mạnh, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ

- Thương người cùng khổ, cùng cảnh ngộ Mị đã đi đến hành động rất nhanh: cắt dây trói cứu

A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốn Hành động ấy là hành động đồng thời phản ánh quá trình thức tỉnh và đấu tranh của Mị Đấu tranh vì Mị đã dám chống lại cả cường quyền và thần quyền Đấu tranh để tìm tự do, thoát khỏi địa ngục đọa đày

Bàn luận, mở rộng - Thành công của nhà văn khi miêu tả sự hồi sinh của nhân vật đó chính lànhờ vào nghệ thuật trần thuật hấp dẫn Cách dựng cảnh sinh động, cách đi sâu, lột tả nội tâm nhân vật nhiều bất ngờ, tài tình, thú vị Ngôn ngữ mộc mạc giản dị Tất cả đã tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm, góp phần mang đến cho người đọc sự xúc động mãnh liệt trước số phận của đồng bào miền núi Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn chủ nô và lũ Tây đồn

- Vợ chồng A Phủ đã để lại trong lòng người đọc vẻ đẹp của lòng nhân đạo, tình yêu thương đồng cảm sâu sắc với những kiếp người bé nhỏ, bị đàn áp, bị đè nén Qua nhân vật Mị nhà văn đã làm hiện lên vẻ đẹp của một sức sống tiềm tàng mãnh liệt của người phụ nữ miền núi nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung Sức sống tiềm tàng ấy giúp nhà văn khẳng định được sức mạnh của tâm hồn con người Việt Nam và chân lí muôn đời: Ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh

ĐỀ SỐ 9 BỘ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA CHUẨN CẤU TRÚC BỘ GIÁO DỤC

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

↔↔↔↔↔

I ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi:

“(1) Xin các vị đừng quá nuông chiều đến mức thỏa mãn mọi đòi hỏi của con cái Hãy nhớ rằng con cái chúng ta luôn luôn “được voi, đòi tiên”, bởi vậy chúng ta cần cân nhắc trước yêusách của con cái Trẻ em càng được nhận nhiều thì sự biết ơn càng giảm sút, mà đó là điều tối kỵ Trước hết, chúng phải biết ơn cha mẹ mình, biết rằng trong điều kiện kinh tế khó khăn cha mẹ đã vất vả như thế nào để nuôi con ăn học Sự biết ơn đó chính là một động lực để thúcđẩy các con ra sức học hành Đối với con cái, nếu “yêu cho roi cho vọt” là quan điểm sai lầm thì “yêu cho ngọt cho bùi” cũng sai lầm không kém

Trang 12

(2) Hãy dạy con cái chúng ta có tấm lòng nhân ái, biết làm việc từ thiện dù rất nhỏ và có thái

độ thân thiện đối với mọi người Lòng thương người, tính đôn hậu là tính tốt cơ bản nhất mà mỗi con người nên có Hãy để cho trẻ con chúng ta biết đến, nghĩ đến biết bao nhiêu hoàn cành khó khăn, biết bao số phận cay đắng, biết bao hoàn cảnh ngặt nghèo của rất nhiều người trong xã hội

Đối với những người như vậy một sự chia sẻ về vật chất và tinh thần, một lời động viên, một

cử chỉ đồng cảm chính là thể hiện lòng nhân ái đối với họ Lòng nhân ái trong mỗi người sẽxóa tan sự đố kị, sự vô cảm, sự thù hận và làm cho trẻ con của chúng ta tốt đẹp và cao thượng hẳn lên

(3) Hãy dạy con cái mình sống nhiều hơn với các thế giới có thật xung quanh mình, đang diễn

ra hàng ngày , để chúng đừng đắm mình và chạy theo thế giới ảo trên các trang mạng Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm sự nhiều hơn với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày đuổi theo những ảo ảnh trên mạng

Trong tình hình hiện nay các mạng xã hội trên Internet mang lại nhiều nguy hiểm cho con trẻ chúng ta Xin các vị hãy quan tâm điều này nhiều hơn, đã có rất nhiều trẻ em trở thành hư đốn, thậm chí phạm pháp vì quá mê say với thế giới ảo [ ]”

(Văn Như Cương, Thư gửi các bậc cha mẹ học sinh trường THPT Lương Thế Vinh, dẫn theo http://tuoitre.vn)

Câu 1 Chỉ ra phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản?

Câu 2 Trong phần (1) và (2), theo tác giả, các bậc cha mẹ cần dạy cho con cái mình những đức tính nào? Vì sao những đức tính đó lại cần thiết với đứa trẻ?

Câu 3 Theo anh/chị, quan điểm: “Trẻ em càng được nhận nhiều thì sự biết ơn càng giảm sút”

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:

“Ngày tết, Mị cũng uống rượu Mị lén lấy hủ rượu cứ uống ừng ựng từng bát Rồi say, Mị lịmmặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng ” (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)

“Phải uống thêm chai nữa Và hắn uống Nhưng tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra Tỉnh ra chao ôi buồn! Hơi rượu không sặc sụa, hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành Hắn ôm mặt khóc rưng rức ” (Chí Phèo - Nam Cao)

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

I ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Câu 1 Phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là phong cách sinh hoạt

Câu 2 Theo tác giả, cha mẹ cần dạy cho con cái mình hai đức tính quan trọng: lòng biết ơn vàlòng nhân ái (lòng thương người, tính đôn hậu)

Bởi lẽ, lòng biết ơn cha mẹ là động lực cho đứa trẻ học hành, rèn luyện Còn lòng nhân ái

Trang 13

giúp đứa trẻ biết sẻ chia, trở nên tốt đẹp và cao thượng hơn.

Hai đức tính này giúp đứa trẻ tích cực trau dổi cả tri thức và mài giũa nhân cách

Câu 3 - Quan điểm của tác giả: “Trẻ em càng được nhận nhiều thì sự biết ơn càng giảm sút”

có phần chính xác Bởi lẽ, khi đứa trẻ muốn điều gì đều được đáp ứng ngay chúng sẽ coi đấy

là điều tất yếu, xứng đáng được hưởng, không cần cố gắng và không cần biết ơn

- Tuy vậy, cũng có trường hợp những đứa trẻ nhận được bất kì thứ gì từ cha mẹ dù nhiều dù

ít, vẫn luôn thấu hiểu tình yêu thương và sự cố gắng mà cha mẹ dành cho chúng

Vậy nên, trẻ có lòng biết ơn hay không, chủ yếu phụ thuộc vào cách giáo dục của cha mẹ khiđáp ứng những yêu cầu của con cái

Câu 4 - Về hình thức: 5-7 dòng, diễn đạt mạch lạc

- Về nội dung: HS chủ động nêu quan điểm cá nhân Sau đây là một gợi ý:

+ Nêu quan điểm: Giáo dục gia đình vô cùng quan trọng đối với mỗi người

+ Bàn luận làm sáng rõ quan điểm: Gia đình là môi trường quan trọng hình thành nhân cách của một đứa trẻ, là nơi chúng gắn bó hơn cả Một đứa trẻ không thể hoàn thiện bản thân nếu chúng không được học những điều tốt từ cha mẹ, ông bà, cho dù chúng được giáo dục trong một ngôi trường chất lượng (có thể lấy dẫn chứng cụ thể)

II LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

Yêu cầu chung về hình thức và kết cấu đoạn văn:ϖ

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

- Nêu được quan điểm cá nhân và bàn luận một cách thuyết phục, hợp lí

- Đảm bảo bố cục: mở - thân - kết, độ dài 200 chữ

- Lời văn mạch lạc, lôi cuốn, đảm bảo chính tả và quy tắc ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giải thích, đánh giá: Mạng xã hội ở đây được hiểu là những trang thông tin giải trí sử dụng mạng in-tơ-net để kết nối mọi người

Mạng xã hội ngày một phát triển, tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của tất cả mọi người, đặcbiệt là giới trẻ

- Lí giải: Vì sao giới trẻ lại chịu ảnh hưởng lớn từ mạng xã hội?

+ Giới trẻ chủ yếu thuộc lứa tuổi thanh thiếu niên nên rất nhạy bén với công nghệ

+ Lứa tuổi trẻ rất thích giao lưu, kết bạn, mở mang các mối quan hệ cộng đồng

- Chứng minh: HS tự lấy dẫn chứng để làm rõ tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đến giới trẻ

+ Nhiều bạn trẻ nổi lên như một hiện tượng nhờ vào những phát ngôn trên mạng xã hội, tạo

cơ hội giao lưu, làm quen, mở mang kiến thức và thậm chí là có thu nhập tốt

+ Lại có nhiều bạn học sinh vì mạng xã hội mà dẫn đến những suy nghĩ, hành động tiêu cực như: bỏ học, tự vẫn,

Trang 14

+ Biện pháp: quản trị mạng cần chặt chẽ hơn; gia đình vừa quản lí, vừa định hướng cho con

em cách sử dụng mạng xã hội hợp lí; tự bản thân học sinh cần có những nguyên tắc cho mình khi sử dụng mạng xã hội

- Liên hệ: Rút ra bài học cho bản thân

Câu 2 (5 điểm)

Yêu cầu chung:ϖ

- Đảm bảo cấu trúc để nghị luận: mở bài - thân bài - kết bài

- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

- Triển khai vấn đề thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẻ và dẫn chứng

- Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giới thiệu về hai tác giả, tác phẩm, vị trí trích đoạn

- Cảm nhận hai trích đoạn trong cái nhìn đối sánh

- Lý giải sự khác biệt

Tiến trình làm bài

Kiến thức Hệ thống ý chính Phân tích chi tiết

Cơ bản Vài nét về tác giả - Nam Cao là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của trào lưu hiện thực phê phán thời kỳ 1940-1945, là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi ViệtNam thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 Sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tập trung vào hai đề tài lớn; Người tiểu tư sản nghèo và người nông dân, khai thác trực tiếp từcuộc sống bản thân tác giả và bà con nông dân làng quê Miêu tả chân thực cuộc sống nghèokhổ, tủi nhục của người tiểu tư sản, Nam Cao đặc biệt đi sâu vào những đau đớn trong tâm hồn của họ và đặt ra những vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc

- Tô Hoài là nhà văn lớn, trong quá trình cầm bút, không ít những tác phẩm đã mang lại cho nhà văn những thành tựu lớn Tô Hoài là nhà văn có sức viết khỏe, để đời nhiều tác phẩm mà

có lẽ đến nay, hiếm có nhà văn nào đạt được cả về số lượng sáng tác lẫn thành tựu sáng tác như vậy Là nhà văn giỏi về phân tích diễn biến tâm lý nhân vật, về miêu tả thiên nhiên, các phong tục tập quán,

Vài nét về hai tác phẩm và vị trí đoạn trích - Về truyện ngắn Chí Phèo, nguyên có tên là Cái

lò gạch cũ; khi in thành sách lần đầu năm 1941, Nhà xuất bản Đời mới – Hà Nội tự ý đổi tên

là Đôi lứa xứng đôi Đến khi in lại trong tập Luống cày (do Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản,

Hà Nội, 1946), Nam Cao đặt lại tên là Chí Phèo Chí Phèo không những là tác phẩm xuất sắc nhất trong văn nghiệp của nhà văn Nam Cao, nó còn xứng đáng là một kiệt tác của văn học giai đoạn đương thời Một tác phẩm lớn về nhiều mặt dù chỉ chứa đựng trong dung lượng củamột truyện ngắn

- Về vị trí trích đoạn: Sau khi ra tù và trước khi gặp Thị Nở, Chí lúc nào cũng trong tình trangsay khướt Thế nhưng từ khi gặp Thị và có tình yêu vỏn vẹn trong 5 ngày, Chí Phèo đã giữ cho mình luôn tỉnh táo Rồi sau 5 ngày bị Thị cự tuyệt Chí Phèo trở về với rượu, men rượu là thứ để Chí Phèo giải khuây trong lòng Trong lúc uống rượu hắn đau khổ khi nhận ra bi kịch của bản thân Đoạn trích đã lột tả được trạng thái đau khổ của một kẻ bị cự tuyệt tình yêu, cự tuyệt quyền làm người

- Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là kết quả chuyến đi thực tế tám tháng tại vùng Tây Bắc cùng

Trang 15

bộ đội giải phóng Đây chính là khoảng thời gian ông cùng sống, cùng ở với đồng bào Tây Bắc Vợ chồng A Phủ là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Tô Hoài, cả câu chuyện giống như một cuốn phim sắc nét ghi lại quá trình nhân vật từ nơi đau thương bước chân đến miền đất hứa.

- Về vị trí trích đoạn: Mị là người con gái H’Mông đẹp người, đẹp nết và căng tràn sức sống nhưng số phận của Mị trở nên tăm tối khi Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà Pá Tra Trong một đêm tình xuân khi mà muôn vật đang ở thì tươi đẹp, rộn ràng khắp nơi, Mị uống rượu và thả hổn theo giai điệu của tiếng sáo mèo, Mị nhớ lại thời kỳ xuân xanh của mình; mùa xuân đến được đi chơi, được đắm chìm trong giai điệu của tiếng sáo Mèo, được đi theo tiếng gọi của trái tim và tình yêu mãnh liệt Đoạn trích là một trong những phân đoạn hay nhất thể hiện bút lực đi sâu miêu tả, khắc họa tâm lý của nhà văn Tô Hoài

Kiến thức trọng tâm của bài Đối sánh Cảm nhận hai trích đoạn trong cái nhìn đối sánh:

- Điểm chung:

+ Đây đều là hai đoạn văn giàu bút lực, minh chứng cho tài năng khắc họa, đi sâu, chạm khắcnổi tâm lý, trạng thái nhân vật tài tình của nhà văn Có thể gọi hai đoạn này là tiêu biểu nhà văn tạo nên khoảng lặng đấy ý nghĩa để khơi sâu dòng suy nghĩ, phần bên trong của nhân vật.+ Hai nhân vật chính đều tìm đến rượu như một chất xúc tác của tâm hồn Men rượu khiến người ta mụ mị, chìm vào miên man, giúp xóa nhòa thực tại, gạt đi nỗi đau đang dày vò Thế nhưng, trong lúc này, rượu như bất lực trước một tâm hồn bị thương tổn, đang quá tỉnh táo.+ Mị và Chí đều là những bi kịch lớn, những bi kịch mang tính chất điển hình trong xã hội

Mà đã là bi kịch, ắt hẳn tâm hồn phải hứng chịu những đau đớn, tổn thương Cả hai nhân vật đang trải qua những tổn thương nhất, đớn đau nhất do hoàn cảnh tác động, gây ra

+ Cuối cùng, trong cả hai đoạn trích, nhà văn đã chủ dộng đưa vào những chi tiết nghệ thuật hết sức độc đáo, giàu tính biểu tượng và ý nghĩa Với Chí Phèo, đó là hơi cháo hành Với Vợ chồng A Phủ đó là tiếng sáo gọi bạn

- Điểm khác biệt:

1 Cách tìm đến rượu của hai nhân vật

+ Với Chí Phèo: Chí Phèo tìm đến rượu trong một sự phẫn nộ, một sự căm giận muốn điên lên được khi hắn bị chối từ Khi hắn bị cự tuyệt, hắn, tìm đến rượu để quên đi

+ Với Mị: Mị tìm đến rượu để nhớ về, như một thói quen khi mùa xuân đến Rượu không khiến Mị quên, mà nó giúp khơi lại những ký ức tưởng đã héo khô, đã chết đi về Mị ngày xưatừng được đi chơi, được sống như một con người

2 Ý nghĩa của những chi tiết nghệ thuật xuất hiện

+ Với Chí Phèo: Hơi cháo hành là dư âm của bát cháo hành Là tình yêu, là hơi ấm tình người

mà cả đời hắn, mới một lần được cho Bát cháo hành của một người đàn bà dở hơi, nhưng biết đâu, đã làm thức tỉnh con người trong con quỷ dữ, đã gột tẩy bao ố bẩn, giúp hắn hồi sinh Ấy vậy mà, giờ đây, hắn không thể thêm một lần nào nữa nếm hương vị cháo ấy Có nghĩa là, mãi mãi, hắn không được trở lại làm người, mãi mãi không còn được nếm hương vị

đã giúp hắn tỉnh, giúp hắn yêu và biết khao khát Hơi cháo hành thoang thoảng lúc này hiện lên, chỉ tô đậm thêm đau đớn và bi kịch xót xa cho một kẻ mới chấp chới hi vọng đã bị dập tắt ngay, và giờ, cùng đường tuyệt vọng

+ Với Mị: Tiếng sáo trong đêm tình mùa xuân ngà ngà say ấy giống như là một âm thanh đánh thức tâm hồn vốn đã ngủ vùi từ lâu của Mị Nó làm Mị nhớ về quá khứ tươi đẹp một

Trang 16

thời, ngăy ấy Mị xinh đẹp, trẻ trung, trăn đầy sức sống, Mị cũng biết thổi sâo vă thổi rất hay,

đê lăm đắm say biết bao trai lăng Tiếng sâo lăm Mị thức tỉnh vă đê lăm sức sống lại dạt dăotrong lòng Mị

Ý thức hai nhđn vật:

+ Với Chí Phỉo: Ý thức được bi kịch một câch sđu sắc, ý thức được sự cô độc vă bị chối từ

Vă từ đó ý thức được cuộc sống giờ đđy của hắn đê không còn ý nghĩa, đê bị đẩy văo bước đường cùng, không còn lối thoât

+ Với Mị: Mị ý thức được nỗi khổ của mình, Mị nhận ra mình không còn vô tri, Mị nhận ra được trong mình có niềm khao khât, có một sức sống tiềm tăng vẫn chảy lặng lẽ trong huyết quản, đó cũng lă điểm khởi đầu cho quâ trình đấu tranh của nhđn vật

Lý giải - Góc nhìn vă câch xđy dựng nhđn vật của nhă văn:

+ Cùng miíu tả những bi kịch điển hình, nhưng với Nam Cao, ông hướng tới những người nông dđn bị bần cùng hóa, dẫn đến lưu manh hóa, tha hóa đến mức không thể còn trở lại lăm người Có nghĩa lă với Chí Phỉo, Nam Cao đặt góc nhìn nhđn vật bị trượt dăi trín những bi kịch, bi kịch nối tiếp bi kịch, để lăm bật lín được giâ trị tố câo của tâc phẩm

+ Với Vợ chồng A Phủ: Tô Hoăi xđy dựng nhđn vật ngược lại, đó lă quâ trình đi lín của nhđn vật Xuất phât điểm lă đau thương, lă bi kịch, nhưng từ bi kịch mă nhận thức vă đấu tranh, từ tăm tối mă rũ bùn đứng dậy sâng lòa

- Sự chi phối của giai đoạn lịch sử:

+ Với Nam Cao vă những nhă văn cùng thời, giai đoạn 1930-1945: Những nhđn vật chứa đầy

bi kịch được gọi chung lă: Không lối thoât Điều đó cũng đơn giản khi lý giải vì sao nhă văn lại dùng góc nhìn vă xđy dựng nhđn vật Chí Phỉo như vậy

+ Với Tô Hoăi, ông viết truyện Tđy Bắc khi ông theo bộ đội văo giải phóng Tđy Bắc, nghĩa lẵng đê nhìn thấy phần tươi sâng của hiện tại, mă ngược dòng trở về quâ khứ đau thương của

Mỗi một người Trung Quốc đều đang theo đuổi cuộc sống thể diện hơn, đường hoăng hơn, nhưng chúng ta ăn mặc sạch sẽ gọn găng, lại tiện tay vứt râc, vứt đầu thuốc lâ ở mọi nơi Chúng ta nói với bố mẹ rằng: Con có tiền rồi, muốn được dẫn bố mẹ ra quân dùng một bữa ănngon, nhưng ở trong nhă ăn lại lớn tiếng quât mắng người phục vụ; nói với con mình rằng, bố

đê đổi chiếc xe mới rồi, để bố dẫn con ra ngoăi hóng mât cho vui, nhưng lại giănh đường với người đi bộ ở ngê tư đường

Trang 17

Lẽ nào đây là thể diện mà chúng ta mong muốn sao? Lẽ nào đây là thể diện mà chúng ta muốn thể hiện trước mặt con cái sao?

Có một lần, tôi đến Nhật Bản, ở một địa danh không quá nổi tiếng, tôi đi vào một phòng vệ sinh, thấy rất là sạch sẽ, dưới sàn ngay cả một giọt nước cũng không có

[ ] Về sau, hướng dẫn viên du lịch nói với tôi, các em nhỏ Nhật Bản từ nhỏ đã được dạy rằngtuyệt đối không được vẩy nước ra ngoài bồn rửa mặt Một là, các em cần phải giữ vệ sinh môitrường công cộng sạch sẽ; hai là, người khác nếu chẳng may dẫm phải vũng nước trơn trượt,

có thể sẽ bị té ngã Họ chính là có thể ở ngay một nơi không thể diện nhất - nhà vệ sinh, mà dạy cho chúng ta biết thế nào là thể diện

Tôi cảm thấy thể diện tuyệt không phải là cái vỏ xa hoa lộng lẫy bên ngoài, mà là trong tâm chúng ta vì người khác, vì môi trường, tự mình câu thúc hành vi của bản thân mình

[ ] Chúng ta đều mong đợi có thể được một "kỳ nghỉ thể diện" thật sự Chúng ta không dám chiếm dụng làn đường khẩn cấp, cũng sẽ tự giác nhường đường cho xe cứu thương

Một quốc gia, không kể là kinh tế, quân sự lớn mạnh thế nào, nếu như người dân trong nước không làm được những việc thể diện, thì chúng ta sẽ không có được sự tôn trọng đáng nên được có Pháp luật kiện toàn, thì cần phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, ai ai cũng đều

tự giác ước thúc bản thân mình, chúng ta có được “thể”, thì đất nước mới có “diện” được.(Theo NTDTV, Thiện Sinh biên dịch, dẫn theo daikynguyenvn.com)

Câu 1 Văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2 Từ “thể diện” trong văn bản trên có thể được hiểu là gì? Nên hiểu thế nào về câu:

“chúng ta có được “thể”, thì đất nước mới có “diện” được”?

Câu 3 Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua văn bản trên là gì? Vì sao tác giả cần gửi thông điệp dó?

Câu 4 Theo anh/chị, để một quốc gia phát triển ý thức xã hội thì giáo dục đạo đức và kiện toàn pháp luật, điều gì quan trọng hơn? (trình bày trong 5 - 7 câu)

II LÀM VĂN (7 điểm)

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Trang 18

Câu 2 - Thể diện hiểu theo tác giả bài viết là khi con người tự giác làm tròn bổn phận của bảnthân, có ý thức, đạo đức xã hội thì sẽ được người khác tôn trọng Quan niệm này chủ đích phản đổi lại cách hiểu của phần đông người dân Trung Quốc: khi có tiền của, phong cách hào nhoáng, đó là có thể diện “Thể diện tuyệt không phải là cái vỏ xa hoa lộng lẫy bên ngoài, mà

là trong tâm chúng ta vì người khác vì môi trường, tự mình câu thúc hành vi của bản thân mình.”

- Theo tác giả, “chúng ta có được “thể”, thì đất nước mới có “diện” được” nghĩa là khi mỗi người dân có được ý thức tự giác ước thúc bản thân mình thì đất nước đó mới được quốc tế tôn trọng

Câu 3 Tác giả bài viết muốn gửi tới người đọc thông điệp rằng: tiền bạc và sự giàu có không mang lại thể diện đúng nghĩa, không khiến người khác tôn trọng cá nhân hay cộng đồng đó

Từ đó, thức tỉnh mọi người về ý thức xã hội, mong muốn mỗi người đều biết tự giác tuân thủ pháp luật, chuẩn chỉ theo đạo đức xã hội

Tác giả chọn vấn đề này bởi lẽ cô nhận thấy sự tha hóa nghiêm trọng của đạo đức xã hội, sự trượt dốc của ý thức tự giác và sự tàn phá những lễ nghi truyền thống của người dân Trung Quốc đương thời, nhận thấy cần có sự cảnh tỉnh mọi người

Câu 4 - Về hình thức: 5-7 dòng, diễn đạt mạch lạc

- Về nội dung:

+ Nêu quan điểm cá nhân

+ Bàn luận làm sáng rõ quan điểm

Sau đây là một gợi ý:

Một quốc gia muốn phát triển ý thức xã hội thì cần quan tâm song song giữa việc giáo dục đạo đức và kiện toàn pháp luật Bởi lẽ, hai vấn đề này sẽ bổ sung hữu hiệu cho nhau trong quá trình xây dựng một chuẩn mực về ý thức xã hội Pháp luật nghiêm minh sẽ là tiền đề cơ bản để mỗi người dân biết coi trọng nguyên tắc cộng đồng, hình thành thói quen tốt Ngược lại, giáo dục đạo đức khiến mỗi người tự giác tuân theo pháp luật và chuẩn mực xã hội Khi

đó, xã hội sẽ hành pháp một cách nhẹ nhàng, êm đẹp, ý thức xã hội sẽ từ đó mà phát triển lên rất cao

II LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

Yêu cầu chung về hình thức và kết cấu đoạn văn:ϖ

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

- Nêu được quan điểm cá nhân và bàn luận một cách thuyết phục, hợp lí

- Đảm bảo bố cục: mở - thân - kết, độ dài 200 chữ

- Lời văn mạch lạc, lôi cuốn, đảm bảo chính tả và quy tắc ngữ pháp

Yêu cầu nội dung: Vai trò của ý thức tự giác trong cuộc sốngϖ

- Giải thích, đánh giá: Ý thức tự giác là khi chúng ta tự mình suy nghĩ hoặc thực hiện một hành động nào đó từ động lực trong chính bản thân mình chứ không vì một sự thúc ép bên ngoài

Ý thức tự giác có vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi người, đồng thời, ảnh hưởng lớn tới một cộng đồng

- Biểu hiện: HS chủ động lấy dẫn chứng, làm rõ vai trò của ý thức tự giác trong xã hội

Trang 19

+ Bác Hồ lúc còn là chàng thanh niên ra đi tìm đường cứu nước, khi ở Pháp, mỗi ngày, Người

tự đặt ra quy định phải thuộc thêm 5 từ mới tiếng Pháp Bởi vậy, mà sau một thời gian ngắn, Người đã có thể nói tiếng Pháp một cách trôi chảy

Ý thức tự giác giúp con người thực hiện được kế hoạch của cá nhân, tự nâng cao giá trị bản thân, dễ đạt dược thành công

+ Người Nhật khiến thế giới tôn trọng bởi ý thức tự giác cao Họ chăm chỉ làm việc và có trách nhiệm với công việc ngay cả khi không bị giám sát

Ý thức tự giác giúp một cá nhân, tập thể được xã hội tôn trọng, đề cao; giúp xã hội tiến bộ và văn minh hơn

Chủ động đề ra những chuẩn mực đạo đức và pháp luật.♣

Giữ thái độ tôn trọng tập thể, “mình vì mọi người”.♣

Lập thời gian biểu, quản lí thời gian, lên kế hoạch cho mỗi công việc.♣

- Liên hệ: Rút ra bài học cho bản thân

Câu 2 (5 điểm)

Yêu cầu chung:ϖ

- Đảm bảo cấu trúc đề nghị luận: mở bài - thân bài - kết bài

- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

- Triển khai vấn đề thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

- Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giới thiệu về tác giả và hoàn cảnh sáng tác thi phẩm Đây thôn Vĩ Dạ

- Phân tích được nét đẹp, nét đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế, của miền Vĩ Dạ, cũng như thấy được tình yêu thiên nhiên, con người của thi nhân

- Từ cảnh mà hé lộ được tâm trạng thi nhân, qua đó làm rõ niềm khao khát, cũng như nỗi đau đớn khôn nguôi của thi nhân, mặc cảm chia lìa của Hàn Mặc Tử

Tiến trình làm bài

Kiến thức Hệ thống ý chính Phân tích chi tiết

Kiến thức chung Vài nét về tác giả - Vài nét cuộc đời: Hàn Mặc Tử (1912-1940) tên khai sinh

là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới Cuộc đời nhà thơ là cuộc đời đầy những thăng trầm, lại vô cùng đau đớn, bi thương Vốn đa tình nhưng cuối đời lại lẻ loi, cô độc Bản thân lại mang trọng bệnh, vốn xưa người đời xa lánh, chính vì vậy, nỗi đau thể xác, nỗi đau tinh thần hành hạ, vần thơ của Tử chính vì thế cũng thấm đẫm những nỗi đau

- Vị trí: Hàn Mặc Tử là một cây bút tiêu biểu, đỉnh cao của phong trào Thơ mới Như nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”

Trang 20

- Phong cách: Hàn Mặc Tử là một hiện tượng thơ kì lạ vào bậc nhất của phong trào Thơ mới Đọc thơ Hàn thi sĩ ta bắt gặp một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, một khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng.

Cơ bản Vài nét về tác phẩm - Hàn Mặc Tử lúc từng thầm yêu trộm nhớ một nữ sinh trường Đồng Khánh là Hoàng Thị Kim Cúc - mà ông gọi bằng cái tên nên thơ hơn là Hoàng Cúc - con gái ông chủ Sở Ít lâu sau, Hoàng Cúc theo gia đình chuyển vào Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử ở lạiQuy nhơn, vẫn mang trong lòng mối tình đơn phương vô vọng của mình

- Khoảng 1938, Hoàng Tùng Ngâm - người em thúc bá của Hoàng Cúc - có gửi cho Hoàng Cúc một bức thư báo tin Hàn Mặc Tử bị bệnh nặng, đang đau khổ, tuyệt vọng nhưng vẫn nhớ thương Hoàng Cúc và đề nghị Hoàng Cúc viết vài dòng hỏi thăm Hàn Mặc Tử Được thư, Hoàng Cúc sang hiệu ảnh bên đường mua một tấm bưu thiếp (postcard), có chụp cảnh dòng sông Hương, khóm trúc, với con thuyền cắm sào đợi bến, trong ánh nắng ửng hồng không rõ hoàng hôn hay rạng đông và để đằng sau mấy chữ “Túc hạ! Gửi lời hỏi thăm sức khỏe túc hạ.Mong túc hạ sớm bình phục”, phía dưới không kí tên, và gửi cho Hàn Mặc Tử Ít lâu sau Hoàng Cúc nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ do Hàn Mặc Tử gửi vào

Kiến thức trọng tâm Khổ 1: Vĩ Dạ tỏa rạng trong ánh bình minh - Bức tranh thiên nhiên: Bức tranh thiên nhiên xứ Vĩ được hiện lên qua ánh nắng, qua hàng cau và khu vườn xanh mướt, qua hình ảnh con người chan hòa trong cảnh:

+ Một buổi sáng mai, khi ánh bình minh chan hòa khắp khu vườn xứ Vĩ: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên” Đặc trưng của xứ sở miền Trung đó là nắng, nắng chói chang, nắng gay gắt, cũng chính vì vậy mà mới sớm mai thôi, điệp từ “nắng” đã cho thấy ánh sáng soi rọi khắpnơi nơi, nhưng đó không phải là những tia chói chang của buổi trưa, mà dịu nhẹ, tô đẹp hơn khung cảnh Hình ảnh hàng cau là đặc trưng thứ hai và rất riêng biệt của xứ Vĩ Là bởi cây cau – loại cây tô điểm và không thể thiếu trong cấu trúc vườn nhà Vĩ Dạ xưa – gợi nên truyềnthống cau trầu, nét văn hóa gìn giữ của mảnh đất cố đô Hơn thế nữa, cau lại là cây cao nhất trong vườn, vì vậy, mỗi ban mai, khi những tia nắng đầu tiên lấp ló, cau chính là cây nhận được nguồn ánh sáng đầu tiên

+ Từ nguồn sáng của mặt trời mà cả khu vườn được tắm gội, tỏa sáng Khu vườn Vĩ Dạ được chăm bẵm bởi những bàn tay khéo léo, kỳ công, vì vậy mà xanh và mướt Có thể ví như hòn ngọc rạng rỡ khi kếp hợp với ánh mặt trời

+ Hình ảnh “mặt chữ điền” là một nét vẽ đủ đầy để tô thêm ấn tượng về khung cảnh Mặt chữđiền là gương mặt phúc hậu, có lẽ không nên đi tìm hiểu quá sâu đó là gương mặt của ai, chỉ cần biết, trong cảm nhận, xứ Huế đã hiện lên êm đềm, thanh khiết, con người dịu dàng Cảnh

và người hòa hợp trong nhau

- Bức tranh tâm trạng:

+ Ngay từ câu thơ mở đầu, bằng câu hỏi tu từ gợi nhiều ẩn ý, ta đã thấy một cái tình thật nồngnàn của Hàn Mặc Tử: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Nó giống như là lời mời gọi, nhưngcũng là trách móc, hoặc một lời tự vấn của chính tác giả Dù thế nào, vẫn thấy được mong muốn cháy bỏng được trở lại xứ mộng mơ của thi sĩ

+ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” đó chẳng phải là tiếng reo lên thích thú sao? Ở trại phong với bao đau khổ, được trở về thăm Vĩ Dạ, chốn thanh khiết vô ngần, Hàn Mặc Tử ắt hẳn dâng trào bao xúc cảm

Khổ 2: Vĩ Dạ lung linh trong đêm trăng - Bức tranh thiên nhiên:

Trang 21

+ Cảnh sông nước: Xuất hiện thật thi vị, có gió, mây, dòng nước lặng lẽ, hai bên bờ là hoa bắp Gió nhè nhẹ thổi, mây lững lờ bay trong một đêm thanh vắng, tưởng chừng như cả gió

và mây đều cố khẽ khàng để không phá tan bầu yên tĩnh Góp chung không khí đó là dòng sông Hương lững lờ, tưởng chừng như không hể trôi Và hoa bắp khẽ lay động, tất cả vẽ nên khung cảnh tĩnh tờ dọc bên bờ trù phú

+ Cảnh đêm trăng: Cả bờ sông ngập tràn ánh trăng, trăng làm cảnh vật thêm lung linh, thêm đẹp Ta thấy xuất hiện thuyền trăng (có thể hiểu con thuyền chở đầy trăng, hoặc bay bổng hơn, trăng như một chiếc thuyền đang trôi trên dòng sông ánh sáng), sông trăng (con sông ngập tràn ánh trăng, hoặc cũng có thể hiểu ánh trăng chảy chiếu như một dòng sông) và bến trăng

+ Trăng cũng là người bạn tâm tình của thi sĩ, đặc biệt hơn với Hàn Mặc Tử trăng là tri âm, làmột ám ảnh, một hình tượng độc đáo trở đi trở lại trong rất nhiều sáng tác của anh

- Bức tranh tâm trạng:

+ “Gió theo lối gió, mây đường mây”: Ý thơ đã làm rõ sự chia ly, chia lìa Mây và gió vốn là hai thực thể song hành, gắn bó Gió thổi mây bay, nhưng giờ đây gió khép kín theo đường củagió, mây rẽ lối theo lối của mây Đó là một ẩn dụ cho sự chia lìa cách biệt Có lẽ với một người mắc bệnh nan y, trong tâm tưởng luôn khó tránh những mặc cảm chia lìa đó

+ “Có chở trăng về kịp tối nay”: Từ “kịp” nghe sao thật xót xa, thật trăn trở, hối thúc, hồi hộp rất nhiều những cung bậc cảm xúc Ở câu đầu thi sĩ viết “thuyền ai dậu bến sông trăng đó” nghĩa là trăng đã lên, đã xuất hiện Nhưng đến câu này, trăng đang ở thì tương lai, nghĩa

là chưa có trăng Vì sao lại có sự phi lý như vậy, trong cùng một ý thơ? Nên hiểu rằng đây là cuộc hành trình của tưởng tượng Vầng trăng trên bến sông trăng đó chỉ là mảnh trăng ký ức,

và Hàn như chờn vờn giữa ký ức, thực tại Nhắc đến trăng ký ức, đột nhiên thấy đớn đau mà nghĩ cho thực tại, nơi trại phong Liệu có “kịp” thêm được một lần ngắm trăng trên xứ Vĩ?Đánh giá cảm nhận - Bằng tài năng thơ, chỉ qua tấm bưu thiếp mà cả miền Vĩ Dạ đã được Hàn Mặc Tử tái dựng đẹp tươi đến vậy, đó ắt hẳn phải là một tâm hồn đã quá yêu xứ Huế, quá yêu cảnh sắc Vĩ Dạ của đất nước

- Đây thôn Vĩ Dạ là cuộc hành trình tưởng tượng, tìm trong ký ức về những ấn tượng khó phai mờ nơi mảnh đất đầy thơ mộng, thanh bình Hơn thế nữa, mảnh đất ấy còn là mảnh đất thơ, địa đàng thơ của Tử, chốn thanh khiết, sạch mướt đến vô ngần

- Đây thôn Vĩ Dạ là một cuộc hành trình tưởng tượng của nhà thơ về với miền đất nơi có người con gái mà nhà thơ thầm yêu Do vậy, cảnh tuy đẹp, tươi sáng trong khổ 1, lung linh trong khổ hai, nhưng ta thấy ẩn trong đó vẫn trĩu nặng bao tâm sự

Đây thôn Vĩ Dạ có kết cấu nhảy cóc, đứt đoạn, rời rạc, thậm chí giữa các khổ khá xô loạn, khó bắt tìm mạch nếu như tuân theo logic thông thường, chỉ có thể tìm thấy mạch nếu đặt nó trong dòng tâm tưởng, của miền ký ức, giấc mơ

Ề SỐ 7 BỘ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA CHUẨN CẤU TRÚC BỘ GIÁO DỤC

Trang 22

“Một ngày nọ, trên đường đi làm, Nhan Uyên thấy đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải Anh bước đến hỏi, mới biết người mua và người bán đang tranh chấp Người mua hét lớn: “3 nhân

8 là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”

Nhan Uyên bèn đến trước mặt người mua, và nói: “Vị đại ca này, 3 nhân 8 là 24, sao có thể là

23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”

Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói: “Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng Phu Tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt Ta hãy tìm ông ấy để phân xử”

“Được Nếu Khổng Phu Tử nói anh sai, vậy xử lý sao?”, Nhan Uyên đáp Người mua nói:

“Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta Nhà ngươi sai thì sao?” Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan” Hai người đánh cuộc với nhau như thế và cùng đến gặp Khổng Tử

Sau khi nghe xong câu chuyện, Khổng Tử nói: “3 nhân 8 là 23 đó Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi”

Nhan Uyên trước giờ cũng chưa từng cãi lại sư phụ, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua vải Nhưng hẳn nhiên, trong bụng anh ta không phục và cho rằng Khổng Tử đã già rối đâm ra hồ đồ nên không muốn học ông ta nữa

Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý [ ]

Khi Nhan Uyên trở lại, Khổng Tử nói: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật

ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học nữa Con nghĩ xem, ta nói 3 nhân 8 bằng

23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia Nếu ta nói 3 nhân 8 bằng 24 mới đúng, người mua kia thua, đây là một mạng người đó Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?”

Nhan Uyên bỗng nhiên tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa: “Sư phụ trọng đại nghĩa, coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần”

Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ

(Khổng Tử và câu chuyện 3 nhân 8 bằng 23, dẫn theo news.zing.vn)

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 2 Trong văn bản, vì sao Khổng Tử lại nói rằng 3 nhân 8 bằng 23? Vì sao Khổng Tử không giải thích ngay cho học trò mà để hôm sau mới nói rõ?

Câu 3 Trước cách giải quyết của Khổng Tử, dù không thấy thuyết phục, vì sao Nhan Uyên vẫn tháo mũ quan đưa cho người mua vải? Hành động đó thể hiện phẩm chất gì của người học trò này?

Câu 4 Có người cho rằng không nên chỉ vì lời hứa của người mua kia mà nói sai chân lí khách quan Theo anh/chị, cách giải quyết như trên của Khổng Tử có hợp lí không? (trình bàytrong 5 – 7 câu)

II LÀM VĂN (7 điểm)

Trang 23

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

ĐỀ SỐ 6

I ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu 2 Khổng Tử nói ba nhân tám bằng 23 là có dụng ý Ông muốn bảo vệ người mua hàng kia, tránh cho anh ta phải trả giá bằng tính mạng mình “Ta nói 3 nhân 8 bằng 23 là đúng, conthua, bất quá là thua cái mũ quan kia Nếu ta nói 3 nhân 8 bằng 24 mới đúng, người mua kia thua, đây là một mạng người đó”

Khổng Tử không giải thích ngay dụng ý của mình với Nhan Uyên bởi nhiều lí do:

+ Ông thấu hiểu nỗi lòng bực bội của Nhan Uyên, giải thích khi đó chỉ là biện minh, khó thuyết phục

+ Ông muốn Nhan Uyên thời gian, vừa là tập kiềm chế cảm xúc giận dữ của bản thân, vừa suy ngẫm về dụng ý của thầy

Câu 3 Tuy không phục cách giải quyết của thầy, Nhan Uyên vẫn cúi mình tháo mũ đưa cho người mua vải bởi trước nay Nhan Uyên chưa từng cãi lời thầy Đó là thể hiện lòng tôn kính thầy, truyền thống tôn sư trọng đạo của người học trò trong xã hội trọng Lễ ngày trước (quan điểm cốt yếu của Nho giáo) Đồng thời cũng là biểu hiện của phẩm chất nhẫn nhịn, điềm tĩnh của người quân tử

Câu 4 - Về hình thức: 5-7 dòng, diễn đạt mạch lạc

- Về nội dung:

+ Nêu quan điểm cá nhân

+ Bàn luận làm sáng rõ quan điểm (Ví dụ: Đồng tình cách giải quyết của Khổng Tử vì mạng người là quan trọng, cần biết nhẫn nhịn, coi trọng đại nghĩa, đề cao phẩm chất người quân tử; phản đối cách giải quyết đó vì dù thế nào, là người cầm cân này mực, Khổng Tử cần tôn trọng chân lí, cũng là để người mua hàng tự chịu trách nhiệm về lời nói của mình,…)

II LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1 (2 điểm)

Yêu cầu chung về hình thức và kết cấu đoạn văn:ϖ

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

- Nêu được quan điểm cá nhân và bàn luận một cách thuyết phục, hợp lí

- Đảm bảo bố cục: mở - thân - kết, độ dài 200 chữ

- Lời văn mạch lạc, lôi cuốn, đảm bảo chính tả và quy tắc ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giải thích, đánh giá: Nhường nhịn là chấp nhận để người khác hơn mình, thậm chí là chấp nhận thiệt thòi, với một thái độ hòa nhã, không tranh giành hơn thua

Nhường nhịn là một phẩm chất đáng quý.◊

- Lí giải: Vì sao nhường nhịn lại đáng quý?

+ Người nhường nhịn thường là người biết kiềm chế, lâu dần giúp hình thành phong thái ung dung, điềm tĩnh

+ Nhường nhịn giúp ta bỏ qua thiệt thòi nhỏ, dễ thành công trong những việc lớn

+ Nhường nhịn giúp ta giữ được hòa khí trong gia đình, tập thể, giúp gia đình yên vui, tập thểvững mạnh

Trang 24

- Chứng minh:

+ Nhà Trần trong lịch sử giữ hòa khí với nhà Nguyên để có thời gian xây dựng chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng chiến đấu khi bị xâm lược

+ Phật dạy: Nhịn điều vinh nhục, tấm thân yên

Nhịn sự hơn thua, tránh lụy phiền

Yêu cầu chung:ϖ

- Đảm bảo cấu trúc để nghị luận: Mở bài - thân bài - kết bài

- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

- Triển khai vấn đề thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

- Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Khái quát chung về tác giả, tác phẩm

- Phân tích tính độc đáo của tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa, một tình huống giàu tính phát hiện và khám phá

- Ý nghĩa của tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa

Tiến trình bài làm

Kiến thức Hệ thống

ý chính Phân tích chi tiết

Cơ bản Khái quát vài nét về tác giả - Nguyễn Minh Châu (1930- 1989), quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Ông “thuộc trong số nhữngnhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay”

- Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì Đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách

Trang 25

cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987)

Kiến thức trọng tâm của bài Tình huống truyện trong “Chiếc thuyền ngoài xa” Chiếc thuyền ngoài xa là những tình huống đan lồng trong nhau mà được khởi nguồn từ câu chuyện của anh thợ ảnh đi săn tìm cái đẹp Phùng là người có quan điểm riêng, rất rõ ràng về cái đẹp, nhưng từ những phát hiện đến vỡ lẽ, biết bao nhận thức mới mẻ, cái nhìn đa chiều hơn đã đếnvới nhân vật xưng tôi Từ những tình huống đó, người đọc nhận thấy ý nghĩa ẩn sau câu chuyện đó là những nghịch lý, những vỡ lẽ luôn tồn tại như một lẽ hiển nhiên trong cuộc sống Chúng ta cần nhìn nhận cuộc sống một các đa chiều và sâu sắc hơn

Sự độc đáo trong nội dung tình huống truyện Tình huống 1:

- Để có tấm lịch nghệ thuật về thuyền và biển theo yêu cầu của trưởng phòng, Phùng đến mộtvùng biển từng là chiến trường cũ của anh Tại đây anh đã chụp được một bức ảnh thiên nhiên đẹp như mơ Anh phát hiện ra vẻ đẹp “trời cho” trên mặt biển mờ sương, vẻ đẹp mà cả đời cầm máy anh chỉ có diễm phúc bắt gặp một lần

- Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của

khám phá và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu Anh

cảm nhận trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa trời biển

mờ sương vẻ đẹp của cái chân - thiện - mỹ Phùng thấy tâm mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa, lãng mạn của cuộc đời

- Một phát hiện trớ trêu, như một nghịch lý đầy bất ngờ và nhức nhối: Bức tranh đẹp như mơ nhưng khi lại gần lại là cảnh đời ngang trái, và tàn nhẫn Vén bức màn của màn sương là những con người thô kệch, xấu xí, lam lũ và bất hạnh Là cảnh tượng cái ác, cái xấu đang hiện hữu trên chính cái nền mà trước đó Phùng tưởng là chân - thiện - mỹ Một người đàn ông dữ dằn độc ác, đánh vợ một cách vũ phu, tàn nhẫn; một đứa bé vì thương mẹ đã xông vàođánh cha với lòng căm hận

Phùng cay đắng nhận ra: Đằng sau vẻ đẹp toàn bích của thiên nhiên còn tồn tại biết bao nghịch lí, ngang trái, xấu xa - nghịch lí xuất hiện ở những nơi khó ngờ nhất

Tình huống 2:

- Người đàn bà hiện lên: Với ngoại hình thô kệch, xấu xí, cái mệt mỏi in hằn trên gương mặt, dáng hình của chị, đó là hiện lên trong cái cam chịu, nhẫn nhục, cắn răng nén nhịn những bựcbội của chồng, không một lời ca thán Chị hiện lên là người vợ đáng thương của nạn bạo hànhgia đình Tại tòa án huyện, hình ảnh của chị lại càng tội nghiệp, đó là sự sợ sệt, lúng túng, khúm núm tại nơi mà chị phải thấy an tâm, tại nơi đang bênh vực, bảo vệ quyền lợi cho chị

- Thế nhưng nghịch lý là: Khi Chánh án Đẩu khuyên chị li hôn chị lại từ chối Người đàn bà hiểu được thiện ý của Đẩu và Phùng, nhưng Đẩu và Phùng chỉ nhận ra được cái bên ngoài, chỉ nhìn được ở cái phần nông nổi, mới nhìn cuộc sống ở hiện tượng mà chưa khám phá đượcbản chất đã nhanh chóng kết luận

- Và vỡ lẽ: Hình ảnh một người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh nhưng lại là người hiểu

lẽ đời và ngời sáng vẻ đẹp của tình mẫu tử, lòng vị tha, đức bao dung, sự can đảm – Đó là hạtngọc ẩn giấu sâu trong cái lấm láp đời thường mà Nguyễn Minh Châu đã phát hiện ra bằng cái nhìn đa diện, nhiều chiều Qua đó ta thấy được tình yêu thương, sự trân trọng của ông đối với con người

Độc đáo trong nghệ thuật xây dựng tình huống Đó là tình huống đan càn tình huống, tình huống nối tiếp tình huống khiến người đọc liên tục phát hiện ra những ý nghĩa mới mẻ, sâu

Trang 26

sắc trong lớp lớp các câu chuyện mà tác giả kể lại Từ câu chuyện về chiếc thuyền đến câu chuyện về cuộc đời người đàn bà hàng chài rồi quay trở lại câu chuyện của người nghệ sĩ Từ bài học về triết lí xa gần đến bài học về cái bề ngoài và cái bên trong, nội dung và hình thức,

… tận sâu là quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh… mà Nguyễn Minh Châu khéo léo dẫn người đọc nhận ra sau tình huống truyện độc đáo

Ý nghĩa của tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật Tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống

- Qua tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa, người đọc nhận thấy quan điểm của tácgiả về cách nhìn cuộc sống và nhìn con người – một cái nhìn đầy nhân đạo và nhân văn

- Từ tình huống trong đời sống, nhà văn trở lại với câu chuyện nghệ thuật và đem đến quan điểm nghệ thuật sâu sắc

Quan điểm đó gợi lên từ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa: Khi con thuyền là đối tượng của nghệ thuật thì có thể được chiếm lĩnh từ xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời cần phải được chiếm lĩnh ở cự li gần Đừng

vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và

vì cuộc đời Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét, vui buồn trước cuộc đời, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người Với ý nghĩa ấy, phần nào gợi ra những liên tưởng tương đồng với truyện Trăng sáng của nhà văn Nam Cao

- Thành công của Nguyễn Minh Châu trong việc xây dựng tình huống truyện độc đáo có tính phát hiện và khám phá về cuộc sống con người đã giúp nhà văn trở thành người mở đường tinh anh và tài hoa của nền văn học nước nhà

ĐỀ SỐ 6 BỘ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA CHUẨN CẤU TRÚC BỘ GIÁO DỤC

Môn: Ngữ văn

Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề

↔↔↔↔↔

I ĐỌC HIỂU (3 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Cách đây nhiều năm, khi xe hơi ở Việt Nam vẫn còn là thứ vô cùng xa xỉ, người bạn của tôi sau một thời gian quyết tâm dành dụm và vay mượn đã mua được một chiếc Chỉ là một chiếc

xe cũ thôi Nhưng vấn đề nằm ở chỗ anh chỉ là một nhà báo với thu nhập vừa phải và vẫn đang ở nhà thuê Gia đình phản đối nói anh phung phí Đồng nghiệp xì xầm rằng anh đua đòi.Bạn bè nghi ngại cho là anh học làm sang Và anh tâm sự với tôi rằng: từ hồi còn nhỏ xíu, anh

đã luôn mơ mình được ngồi sau vô lăng, được tự lái xe lên rừng xuống biển Ước mơ đó theo anh mỗi ngày Vì vậy anh đã gom góp suốt thời gian qua, cho đến khi có thể mua được một chiếc xe cho riêng mình Chỉ thế thôi Rồi anh nhìn tôi và hỏi: Tại sao tôi phải trì hoãn ước

mơ chỉ vì sợ người khác đánh giá sai về mình? Sao tôi phải sống theo tiêu chuẩn của người khác?

Tôi không thể tìm ra một câu trả lời đủ thuyết phục cho câu nói đó Bởi thế, tôi luôn mang theo câu hỏi của anh bên mình Nó nhắc tồi rằng, rất nhiều khi chúng ta vì quá lo lắng về

Trang 27

những điều người khác đã nói, sẽ nói và có thể nói mà không dám sống với con người và ước

mơ đích thực của mình [ ]

(Phạm Lữ Ân, Lắng nghe lời thì thầm của trái tim, dẫn theo petalia.org/song-dep)

Câu 1 Nêu phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? Tác giả đã sử dụng thao tác lập luận chính nào?

Câu 2 Nêu tên và tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong phần văn bản sau: “Gia đình phản đối nói anh phung phí Đồng nghiệp xì xầm rằng anh đua đòi Bạn bè nghi ngại cho

là anh học làm sang.”?

Câu 3 Hãy giúp anh bạn trong văn bản trả lời câu hỏi: Tại sao tôi phải trì hoãn ước mơ chỉ vì

sợ người khác đánh giá sai về mình? Sao tôi phải sống theo tiêu chuẩn của người khác?

Câu 4 Mới đây, khi nhận giải thưởng VMA 2017, nữ ca sĩ Pink đã có bài phát biểu đặc biệt

Cô kể câu chuyện về con gái mình khi cô bé tự nhận mình là “đứa con gái xấu xí nhất mà contừng biết”, nữ ca sĩ đã nói với con:

- Khi người khác cười nhạo mẹ, họ nói rằng nhìn mẹ rất giống con trai đấy vì họ thấy mẹ thể hiện quan điểm quá nhiều hay nhìn cơ thể mẹ quá vạm vỡ Nhưng con thấy mẹ nuôi tóc dài không?

(Dẫn theo http://cafef.vn)

Anh/Chị suy nghĩ gì về thông điệp của Pink? (trình bày trong 5 -7 dòng)

II LÀM VĂN (7 điểm)

Phải nhiều thế kỷ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ

mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam - bắc qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển sang hướng tây - bắc vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều,

Trang 28

Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông - bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và

từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam của thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chú được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch,

và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu “bốn

bề núi phủ mây phong - mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên” Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của

nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng bát ngát tiếng gà

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

+ Tạo nhịp điệu, giúp liên kết các câu văn

+ Sự lặp lại cấu trúc giúp nhấn mạnh sự phản đối, chê bai, nghi ngại của tất cả mọi người thân quen trước việc mua xe của anh bạn đó

Câu 3 Có thể có nhiều lí do Lí do chính khiến ta e ngại, trì hoãn ước mơ và sống theo tiêu chuẩn của người khác chính là do sức mạnh của định kiến và dư luận:

- Định kiến là những tiêu chuẩn có sẵn theo tư duy mặc định của xã hội, ví dụ ở đây là cần mua nhà trước khi mua xe

- Dư luận là sự bàn tán, xì xào (khen hoặc chê) của cộng đồng, xã hội trước một lời nói, hành động, quan điểm của người khác

Câu 4 - Về hình thức: 5-7 dòng, diễn đạt mạch lạc

- Về nội dung:

+ Nêu quan điểm: đồng tình hoặc phản đối

+ Bàn luận làm sáng rõ quan điểm (Ví dụ: đồng tình vì mỗi người có quyền thể hiện cá tính bản thân, không cần chịu sự chi phối của người khác, ; phản đối vì mỗi cá nhân sống trong

xã hội cần hài hòa với tập thể, )

II LÀM VĂN

Câu 1 (2 điểm)

Yêu cầu chung về hình thức và kết cấu đoạn văn:ϖ

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

Trang 29

- Nêu được quan điểm cá nhân và bàn luận một cách thuyết phục, hợp lí.

- Đảm bảo bố cục: mở - thân - kết, độ dài 200 chữ

- Lời văn mạch lạc, lôi cuốn, đảm bảo chính tả và quy tắc ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giải thích: Đám đông: chỉ những thói quen trong suy nghĩ, lời nói, hành xử của cộng đồng,

xã hội “Quyết định khác thường và đi ngược lại đám đông” chỉ những suy nghĩ, hành động khác biệt, không theo nếp tư duy thông thường

- Đánh giá, lí giải: nghĩ khác, làm khác bình thường thực sự khó và có tính hai mặt

+ Khó bởi người làm khác phải đối diện với thái độ dư luận, sự phản đối của những người thân, nỗi sợ hãi bản ngã sẽ thất bại

+ Hai mặt bởi nó sẽ tích cực nếu đó là một quyết định đúng đắn, không ảnh hưởng xấu tới xã hội; ngược lại, quyết định đó sẽ là tiêu cực

để khẳng định bản thân và giúp thúc đẩy xã hội

+ Biện pháp: Rèn luyện sự sáng tạo và tư duy phản biện từ những việc nhỏ trong cuộc sống

- Liên hệ: Rút ra bài học cho bản thân

Câu 2 (5 điểm)

Yêu cầu chung:ϖ

- Đảm bảo cấu trúc để nghị luận: mở bài - thân bài - kết bài

- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

- Triển khai vấn đề thành các luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng

- Diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

Yêu cầu nội dung:ϖ

- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vị trí trích đoạn

- Giải thích ý kiến: Sông Hương với vẻ đẹp nữ tính và rất mực đa tình

- Phân tích nội dung, nghệ thuật của đoạn trích để làm sáng tỏ

- Đánh giá, bàn luận, mở rộng

Tiến trình bài làm

Kiến thức Hệ thống

ý chính Phân tích chi tiết

Cơ bản Vài nét về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường - Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937) - sinh ra tại thành phố Huế Ông là một trí thức yêu nước gắn bó sâu sắc với quê hương Là nhà văn có

Trang 30

sở trường về bút kí, tuỳ bút Tác phẩm của ông luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình; giữa nghị luận sắc bén với trình bày giàu chất thơ và sự vận dụng tổng hợp tri thức triết học, địa lí, lịch sử, văn hoá

- Lối hành văn trong bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường thường hướng nội, súc tích, mê đắm

và rất mực tài hoa Như nhà thơ Ngô Minh từng nhận xét: “Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số rất ít nhà văn viết bút ký nổi tiếng ở nước ta vài chục năm nay Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường hấp dẫn người đọc ở tấm lòng nhân văn sâu sắc, trí tuệ uyên bác và chất Huế thơ huyền hoặc, quyến rũ”

Vài nét về tác phẩm và vị trí trích đoạn - Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết năm 1981 bằng tình yêu, sự gắn bó hơn nửa cuộc đời với mảnh đất, cảnh vật, con người xứ Huế Tác phẩm được in trong tập bút kí cùng tên năm 1986 Ban đầu, tác giả đặt tên là: Hương ơi, e phải mày chăng?

- Vị trí trích đoạn thuộc phần đầu của thiên tùy bút, khi nhà văn nhìn sông Hương trong vẻ đẹp tự nhiên, trong thủy trình của dòng sông từ nguồn ra biển Đoạn trích là dòng chảy dòng sông khi ở ngoại vi thành phố

Kiến thức trọng tâm của bài Giải thích

ý kiến - Sông Hương - người con gái hết mực nữ tính: Trong cảm quan của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương hiện lên đậm thiên tính nữ Ngay từ phần mở đầu, nhà văn đã nhân hóa sông Hương với hình ảnh cô gái Di-gan đầy phóng khoáng và man dại, là hình ảnh người congái của rừng già với sức mạnh bản năng, một tầm hồn tự do trong sáng Và đến đoạn trích này, sông Hương tiếp tục được nhìn nhận như một người gái đẹp say ngủ giữa cánh đồng Châu Hóa Như vậy, có thể nói, sông Hương đã hiện lên qua áng văn Hoàng Phủ là người congái hết sức vẹn toàn

- Sông Hương - người con gái đa tình: Có thể hiểu ở đây đa tình nghĩa là giàu tình cảm Hànhtrình sông Hương từ thượng nguồn ra biển là hành trình của một người con gái vượt qua bao gian nan để đến với người tình xứ Huế, do vậy, mà qua thiên tùy bút, sông Hương cũng hiện lên hết mực đa tình

Sông Hương – người con gái hết mực nữ tính - Vẻ đẹp của dòng sông Hương trong đoạn trích, ngay từ câu mở đầu đoạn, đã hiện lên đậm thiên tính nữ: “Phải nhiều thế kỷ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” Hình ảnh nhân hóa sông Hương như một người gái đẹp say ngủ đã nói sự dịu dàng, vẻ kín đáo, sự quyến rũ của nó Hình ảnh người gái đẹp với giấc ngủ mơ màng qua hàng trăm năm ấy khiến ta liên tưởng tới hình ảnh nàng công chúa cùng giấc ngủ trăm năm trong câu chuyện cổ tích

- Khi người tình xứ Huế đến đánh thức, sông Hương đã choàng tỉnh và bắt đầu cuộc hành trình của mình Trong cuộc hành trình đó, sông Hương đã bộc lộ và tự trau dồi thêm cho vẻ đẹp, cho phẩm chất của mình, khiến cho vẻ đẹp của nó ngày càng toàn vẹn hơn:

+ Vẻ đẹp của sông Hương là vẻ đẹp được tô điểm qua thử thách Khi chảy qua lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, giống như là một bể lọc lớn, để nước sông Hương trở nên xanh thẳm, phải chăng giống như người con gái, sông Hương đang tự làm mới mình

+ Khi trôi qua những dãy đồi sừng sững, sông Hương phải uốn dòng chảy, và qua hướng chảylắt léo đó, sông Hương đã phô ra được những đường cong quyến rũ của nó Tại nơi đây, sông Hương mềm đi như một dải lụa

Trang 31

+ Đặc biệt hơn, khi uốn mình qua hai dãy đồi sừng sững như thành quách, những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố: “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, hay nói cách khác, những ngọn đồi ấy đã tạo nên chiếc áo màu sắc để khoác lên mình người con gái Hương giang Khiến cô gái ấy thêm phần lộng lẫy và xinh đẹp.

+ Nhưng Hương giang không chỉ có vẻ đẹp của nhan sắc, người con gái còn hiện lên trong vẻđẹp của trí tuệ, của văn hóa và sự hiểu biết Khi dòng sông chảy qua những đồi thông u tịch, nơi phong kín giấc ngủ ngàn năm của những vị vua chúa, dòng sông ấy mang vẻ đẹp trầm mặc như triết lý, như cổ thi Sự nghiêm trang, lặng lẽ và khẽ khàng của Hương giang giống như người con gái ý tứ, lịch thiệp, không muốn làm kinh động đến giấc ngủ ngàn năm của các vị vua chúa

Sông Hương – người con gái đa tình - Sông Hương ngoài vẻ đẹp nữ tính, còn hiện lên như một người con gái đa tình Sự đa tình của Hương giang đã hiện lên qua cuộc hành trình của

nó tìm đến với người tình xứ Huế Ngay từ mở đầu của tùy bút, tác giả đã viết về sự đặc biệt của Hương giang khi nó chỉ thuộc về một thành phố duy nhất Là người con gái yêu Huế, trọnđời chỉ có người tình Huế

- Cuộc hành trình của Hương giang từ nguồn đến với kinh thành Huế như sau: “Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam – bắc qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển sang hướng tây – bắc vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông – bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế” Có thể nói đó là cuộc hành trình dài, đầy những gian truân Cuộc hành trình của sông Hương khiến

ta liên tưởng tới câu ca dao: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo/Ngũ lục sống cũng lội, thất bát đèo cũng qua”

- Hành trình sông Hương từ khi bắt đầu đã được nhà văn miêu tả: “Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng những khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó” Như vậy, hướng chảy dòng sông, sự chuyển dòng của dòng sông, qua cảm quan nhà văn đó là một cuộc tìm rất rõ ràng, có ý thức và có mục đích Hướng chảy ấy giống như bước chân của người con gái lần đầu, bỡ ngỡ, đến với tình yêu Bàn luận, mở rộng - Miêu tả sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường bộc lộ một vốn hiểu biết phong phú, một trí tưởng tượng bay bổng Bằng giọng văn say đắm lòng người, nhà văn đã thổi hồn vào dòng chảy, thổi phẩm chất vào Hương giang bản tính của người con gái xứ Huế

e lệ, dịu dàng, kín đáo nhưng cũng thật mãnh liệt

- Với hơn nửa đời gắn bó cùng cố đô, nhà văn đã có một tình cảm sâu đậm với xứ sở này, và cũng như dòng sông, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với Huế cũng thật đậm đà, sâu nặng

ĐỀ SỐ 5 BỘ ĐỀ THI THPT QUỐC GIA CHUẨN CẤU TRÚC BỘ GIÁO DỤC

Ngày đăng: 28/08/2021, 20:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w