HAI ĐỨA TRẺ Thạch Lam I. Tìm hiểu chung về tác giả tác phẩm Tác giả Thạch Lam (19101942), là thành viên của nhóm tự lực văn đoàn, là anh ruột của hai nhà văn Nhất linh và Hoàng Đạt, sinh ở Hà Nội có nhiều năm sống ở Hải Dương. Ông sáng tác cả truyện ngắn tiểu thuyết bút kí nhưng dặc sắc nhất vẫn là truyện ngắn. Dù là nhà văn của TLVĐ nhưng sáng tác của ông có khuynh hướng đi gần với hiện thực cuộc sống.Nghiêng về số phận những người bất hạnh trong xã hội Thế giới nhân vật trong tác phẩm của Thạch Lam là nông dân phụ nữ trẻ em có đời sống vật chất cơ hàn và bị bọc vây trong một môi trường sống ngưng đọng mờ xá. Ông luôn quan tâm đến đời sống tâm hồn của con người, trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý của họ. nhân vật của ông dù trong hoàn cảnh nào cũng mang vẻ đẹp thanh tao thuần hậu. Nhân vật của Thạch Lam biết suy tư dằn vặt, sở trường của ông là những cảm xúc, cảm giác mơ hồ xung quanh cuộc sống hàng ngày của con người. Ông có quan niện văn chương tiến bộ và lành mạnh
Trang 1HAI ĐỨA TRẺ
Thạch Lam
I Tìm hiểu chung về tác giả tác phẩm
Tác giả Thạch Lam (1910-1942), là thành viên của nhóm tự lực văn đoàn, là anh ruột của hai nhà văn Nhất linh và Hoàng Đạt, sinh ở Hà Nội có nhiều năm sống ở Hải Dương Ông sáng tác cả truyện ngắntiểu thuyết bút kí nhưng dặc sắc nhất vẫn là truyện ngắn Dù là nhà văn của TLVĐ nhưng sáng tác của ông có khuynh hướng đi gần với hiện thực cuộc sống.Nghiêng về số phận những người bất hạnh trong xã hội
Thế giới nhân vật trong tác phẩm của Thạch Lam là nông dân phụ nữ trẻ em có đời sống vật chất cơ hàn
và bị bọc vây trong một môi trường sống ngưng đọng mờ xá Ông luôn quan tâm đến đời sống tâm hồn của con người, trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý của họ nhân vật của ông dù trong hoàn cảnh nào cũng mang vẻ đẹp thanh tao thuần hậu Nhân vật của Thạch Lam biết suy tư dằn vặt, sở trường của ông là những cảm xúc, cảm giác mơ hồ xung quanh cuộc sống hàng ngày của con người
Ông có quan niện văn chương tiến bộ và lành mạnh :văn chương không phải là cách đem đến cho người đọc sự thoát li sự quên lãng, mà trái lại văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng
ta có để vừa tố cáo và thay đồi một cái thế giới giả dối, tàn ác vừa làm cho lòng người thêm trong sạch, phong phú hơn Công việc của nhà văn là phải phát hiện ra cái mới ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật để cho người đọc một bài học
Đặc điểm truyện ngắn của Thạch Lam Truyện không có cốt truyện, chủ yếu là khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc, cảm giác mơ hồ mong manh trong cuộc sống Hàng ngày Giọng văn điền đạm chứa đựng những tình cảm yêu mến chân thành và sự nhạy cảm của nhà văn trước những biến thái của sự vật , cảnh vật và lòng người Hai đứa trẻ là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam in trong tập “nắng trong vườn”
II Phân tích văn bản
1 Nhan đề
Nhan đề thâu tóm đề tài và chủ đề của tác phẩm vì nhân vật chính là hai đứa trẻ
Tác phẩm có điểm nhìn là cái nhìn dưới con mắt của hai đứa trẻ, nên mọi sự vật hiện tượng chỉ là những cảm nhận, cảm xúc mơ hồ thiếu sự đánh giá, lí giải Đặt “ hai đứa trẻ” những mần non của cuộc sống vào
vũ trụ giàu nghèo, xơ xác Qua đó bày tỏ lòng thương cảm sâu sắc của mình đối với những người nghèo khó Đồng thời lên tiếng kêu cứu, hãy cứu lấy những mần non của cuộc đời
Đặt tên tác phẩm là hai đứa trẻ: tác giả để cho Liên là chị cho thấy gánh nặng mưu sinh đã làm cho đứa trẻ trở nên già nua, không có tuổi thơ
2 Bức tranh phố huyện qua 3 thời điểm chiểu về, đêm đến và khuya
Thời gian: bắt đầu bằng một ngày tàn “ tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ từng tiếng vang xa để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sáp tàn” Kết thúc là buổi khuya Phố hết náo động chỉ còn lại đêm khuya, gió đã thoảng lại Đối với những người giáu có như cụ Thừa cụ Lục ( số ít) thì nghỉ ngơi vui chơi Đối với những người nghèo khón(số đông) vẫn tiếp tục công việc mưu sinh
Không gian : Là một phố huyện nghèo có tre làng, nửa nông thôn nửa thành thị đang chuyển dịch từ nông thôn lên thành thị
Âm thanh: tiếng trống, muỗi, éch nhái, tiếng người, âm thanh đoàn tàu rầm rộ nhưng qua nhanh Nơi đây yên tĩnh ,xơ xác, ít ỏi, rời rạc, tiêu điền
Cảnh vật: chỉ còn rác rưởi,quán nhỏ,đàn cò… gợi lên sự tiêu điều
Trong không gian đó đầy ắp bóng tối, nó và ánh sáng đang tranh chấp nhau
Ánh sáng: Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than khắp tàn Ánh sáng của đom đóm, ngọn đèn, bếp lửa nhưng leo lét Ánh sáng chỉ là những chấm, những hột, những khe sáng soi sáng cho những vùng đất nhỏ Ánh sáng của bầu trời đầy sao nhưng quá xa
Bóng tối: dãy tre làng trước mặt đen kịt lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời Đường phố và các ngõ con ngập đầy bóng tối, tối hết cả Đêm tĩnh mịch và đầy bóng tối
Sự tranh chấp giữa ánh sáng và bóng tối rất gay gắt nhưng cũng không làm cho phố huyện sáng hơn, mà trái lại càng làm cho bóng tối dày đặc hơn bao trùm và nuất chửng phố huyện Bóng tối ấy không chỉ là dòng chảy của tự nhiên mà còn là hiện thực xã hội đang bủa vây con người Ánh sáng là những kiếp người nhỏ bé leo lét, chìm khuất vô danh trong xã hội
Trang 2Không gian có mùi vị âm ấm bóc lên đó là mùi vị của nghèo khó nhưng đó cũng là mùi vị riêng của đồng ruộng nông thôn , mùi vị của tình quê gần gũi Tuy nhiên bức tranh phố huyện còn được vẽ bằng những đường nét thơ mộng và lãng nạm Nó được thể hiện ở bức tranh quê hương yên ả và thanh bình vớibản nhạc đồng quê của tiếng trống thu không, tiếng muỗi tiếng ếch nhái Được miêu tả bàng những đường nét, màu sắc, hình thù mùi vị của hàng ngàn ngôi sao láp lánh, những con đom đóm, những cánh hoa bàng rụng xuống vai Liên
Tất cả tạo nên bức tranh phố huyện vừa hiện thực vừa lãng mạn nhưng cái nền vẫn là hiện thực xã hội Việt Nam những năm 1930 – 1945 đang trong giai đoạn chuyển giao từ nông thôn lên thành thị
3 Bức tranh cuộc sống con người
Người khá giả khá ít ỏi: cụ thừa, ông cửu họ nghỉ ngơi và đánh tổ tôm
Người nghèo khổ khá nhiều: Mấy đứa trẻ con nhà nghèo kiếm sống bằng cách nhặt những thanh nứa, thanh tre Mẹ con chị Tý có cuộc đời cơ cực, ngày mò cua bắt ốc, tối về dọn hàng nước nhưng chẳng an thua gì cả Chị em Liên sống bằng cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu ế ẩm.Bác Siêu gánh phổ nhưng đối với phố huyện này nó là một món hàng xa xỉ.Cụ Thi điên với tiếng cười khanh khách lẫn vào bóng đêm Đó là những kiếp người lay lắt với cuộc sống mưu sinh chật vật ,mệt mỏi Nhịp điệu sống đơn điệu, tẻ nhạt với những hành động lập đi lập lại “ ngày nào cũng vậy, dọn hàng nhưng không biết bán cho ai” Còn thể hiện ở những lời đối thoại rời rạc, ngắn ngủn cùng những tiếng than vãn thở dài, chép miệng cho thấy mộtcuộc sống vô vọng bế tắc không tương lai Ngay cả niềm hi vọng của họ cũng nhỏ bé.“ Chừng ấy người trong bóng tối hi vọng một cái gì đó tươi sáng hơn cho cuôc sống nghèo khổ của họ” Cuộc sống và số phận của trẻ thơ mang nặng ghánh nặng mưu sinh
Tâm trạng của Liên
-Khi chiều buông
Liên cảm nhận sâu sắc bức tranh hoàng hôn lặng lẽ nên thơ, có âm thanh màu sắc, hương vị, cảm thấy nỗi buồn man mác Cảm nhận được mùi riêng của vùng đất quê hương Liên là cô bé nhạy cảm nghĩa tìnhvới quê hương với thiên nhiên Thấy trẻ con nhà nghèo kiếm ăn cô động lòng, cho thấy cô còn là cô bé nhân hậu giầu tình thương
-Khi đêm về
Vẫn là nỗi buồn dai dẳng triền miên Khi cùng em dọn hang, Liên ý thức sâu sắc vai trò làm chị của mình, khi nhìn những đứa trẻ nô đùa Liên ước được hòa vào thế giới tuổi thơ nhưng gánh nặng mưu sinh khiến em già trước tuổi Khi ngắm sao trời đêm tâm hồn Liên tư tưởng mơ ước Cô sống hoài niệm về một tuổi thơ hạnh phúc đã qua
Hình ảnh bầu trời đêm đối lập với phối huyện tù đọng như dội vào lòng Liên những khát khao hạnh phúc Khi đêm về đối với Liên phố huyện càng buồn, càng nghèo, càng tối, càng sơ xác đơn điệu, cô buồn xót xa mơ mộng luyến tiếc
Khi về khuya
Hai chị em buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn thức để chờ tàu vì không chịu thỏa hiệp với cuộc sống tẻ nhạt hiện tại, vì nhu cầu được sống trong một thế giới ồn ào đông đúc đầy ánh sàng Đợi tàu như một trò chơi hồi nhỏ để giải tỏa nỗi buồn, để được sống lại với tuổi thơ tươi đẹp Hình ảnh đoàn tàu biểu tượng cho một thế giới khác, thế giới của niềm vui,ánh sáng của sự đông đúc và giàu có Biểu tượng cho ước
mơ khát vọng của những gì chưa có, chưa biết biểu tượng cho quá khứ tươi đẹp Hai chị em trông ngóng,lắng nghe tín hiệu tàu từ xa, từ ngọn lửa xanh biếc đến bành xe rít mạnh đã làm tô đậm hơn tình cảnh tội nghiệp của những đứa trẻ nghèo nhấn mạnh khát khao thay đổi cháy bỏng
Khi tàu đến
Hai chị em chăm chú nhìn những toa đèn sáng trưng và những tiếng ồn ào náo động Thạch Lam muốn lay tỉnh những con người đang sống quẩn quanh, buồn chán vươn ra ánh sáng không chấp nhận ao đới tù đọng để sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn dù chỉ trong chốc lát
Khi tàu đi qua
Trang 3Hai chị em chăm chú nhìn theo đầy lưu luyến, tiếc nuối, thế giới ồn ào náu nhiệt kia chỉ vụt qua trong giây lát, phố huyện lại trở về buồn hơn yên ắng hơn, tối hơn.
5 Nghệ thuật
Tác phẩm như một bài thơ trữ tình đầy xót thương về một phố huyện nghèo Chất thơ toát lên bức tranhphố huyện yên tĩnh thanh thản, toát lên tình quê sâu lắng Tác phẩm không có cốt truyện, câu truyện là một mẩu sinh hoạt kéo dài Nghệ thuật miêu tả nội tâm sâu sắc với những chuyển biến mơ hồ mong manh Nghệ thuật đối lập giữa bóng tối và ánh sáng, gữa bức tranh phố huyện nghèo và đoàn tàu, giữa bầu trời bao la và phố huyện tù đọng Kết hợp giữa yếu tố hiện thực và trữ tình lãng mạn Ngôn ngữ giầu hìnhtượng giàu ý nghĩa tượng trưng, giọng điệu thủ thỉ tâm tình đầy chất thơ trữ tình sâu lắng Đằng sau các chi tiết hình ảnh thấp thoáng cái tôi tác giả, cái đôn hậu, tinh tế nhạy cảm giàu tình yêu thương đối vớinhững kiếp người nhỏ bé
I Vài nét về tập truyện “ vang bóng một thời”
Chữ người tử tù nằm trong tập vang bóng một thời gốm 11 truyện viết về một thời đại đã qua nay chỉ còn vang bóng Nhân vật chính là lớp nho sĩ cuối mùa tài hoa khí phách nhưng bất lực chỉ biết gắng gỏi giữ gìn thiên lương, gìn giữ cách sống cách làm, cách nghĩ kể cả cách chơi mang đậm nét văn hóa, xem như đó là cách thể hiện sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và
sự quay lưng chối bỏ xã hội thực dân lúc bấy giờ
II Đọc hiểu tác phẩm
Chữ người tử tù tập trung khắc họa một kiểu chơi đặc biệt “ chơi chữ đẹp” Đây là một nghệ thuật thư pháp nổi tiếng ở các nước phương đông, đặc biệt là ở Trung Quốc Nét chũ và cách viết thể hiện tài hoa và tâm cách của người viết Chữ người tử tù không chỉ viết ra để thuyết minh cho nghệ thuật thư pháp mà tầm vóc lớn hơn nhiều Đó là người viết chữ đẹp và người chơi chữ đẹp là tử tù và cai ngục Nhưng trong sâu thẳm của sự đối lập ấy là sự tri âm là tiếng nói chung trước cái đẹp Tác phẩm được sáng tác dựa trên những câu chuyện mà tác giả nghê được từ người cha của mình về ngườianh hùng Cao Bá Quát,là nhà nho nổi danh về tài thư pháp
NHÂN VẬT HUẤN CAO
Huấn Cao không chỉ là bậc tái hoa, tài tử mà còn là đấng anh hùng tái thế, trong thất bại vẫn ngẩng cao đầu Được Nguyễn Tuân xây dựng theo lối lý tưởng hóa của bút pháp lãng mạn
1.
Huấn Cao là bậc tài hoa nghệ sĩ.
Nguyễn Tuân giới thiệu nhân vật bằng một lời đồn về tài viết chữ đẹp của Huấn Cao Cái đẹp rất
là thiêng liêng ấy được nhiều người biết đến, tồn tại lan rộng trong không gian và bất tử trong lòng người Tài viết chữ đẹp ấy của Huấn Cao còn được thể hiện trong quan niện và mong ước của quản ngục “ Có được chữ của ông Huấn mà treo là một vật báu trên đời”, được thể hiện trong lời trầm trồ khen ngời của viên quản ngục và thầy thơ lại “ chữ ông đẹp lắm, vuông lắm”, được thể hiện trong lời của Huấn Cao “ Chữ thì quý thật” Tác giả ca ngợi tài hoa của Huấn Cao, Nguyễn Tuân muốn thể hiện quan điểm thái độ của mình đó là ngưỡng mộ kính trọng những bậc tài hoa và trân trọng nghệ thuật thư pháp của cha ông
Trang 4sự ngưỡng mộ của mình với bậc anh hùng cái thế, một nhà thơ tiết tháo “ uy vũ bất năng khuất” HuấnCao vừa là một nghệ sĩ vừa là bậc anh hung.
3.
Huấn Cao một nhân cách trong sáng một thiên lương cao cả
Trước khi hiểu nỗi lòng quản ngục, Huấn Cao xem thường bởi nghĩ quản ngục chỉ là lũ tiểu nhân cặn
bã, sau khi hiểu ra người ngạc nhiên băn khoăn và thốt lên “ thiếu một chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” Điều đó hé mở cách sống của Huấn Cao “ sống phải xứng đáng với những tấm lòng” Có tài, không dễ dàng phung phí tài,cái tài ấy không dùng để phục vụ quyền uy, tiền bạc mà chỉ dùng để đền đáp những tấm lòng Không chỉ cho chữ quản ngục mà còn đưa ra những lời khuyên bổ ích Nhân vật Huấn Cao trên trang văn của Nguyễn Tuân trở nên toàn thiện toàn mĩ, đó là một conn người nghệ sĩ tài hoa, đấng anh hùng khí phách vừa là con người có nhân cách trong sáng, qua đó bộc lộ quan niện của Nguyễn tuân, cái tài phải đi đôi với cái tâm cái đẹp cái thiện không thể tách rời nhau
QUẢN NGỤC
Là một tân hồn nghệ sĩ đẹp bị lạc vào chốn bùn nhơ Nếu Huấn Cao là người bị cầm tù về thân thể nhưng hưởng tự do về nhân cách, thì quản ngục là người bị cầm tù về nhân cách và tự do về thân thể Khi Huấn Cao chưa xuất hiện mới chỉ nghe lời đồn, quản ngục đã suy nghĩ về nghề của mình và thấy mình đã chọn nhầm nghề mất rồi Những người luôn hướng đến cái đẹp ,cái thiện, yêu quý cái đẹp cái thiện thì sẽ được cái thiện cái đẹp cảm hóa Nguyễn Tuân trực tiếp giới thiệu vẻ đẹp tâm hồn nhân vật quản ngục là
âm thanh trong trẻo lạc vào chốn bùn nhơ Quản ngục có sở thích cao quý, thích chơi chũ đẹp Hé mở cho
ta thấy một tâm hồn nghệ sỹ ở viên quản ngục Ông có một sở thích cao quý, còn có tấm lòng biệt nhỡn thiên tài- kính trọng tài hoa nhân cách và khí phách anh hùng của Huấn Cao “ cái cúi đầu của viên quản ngục trước Huấn Cao là cái cúi đầu bái lĩnh đáng trân trọng, lớn lao hơn” Hành trình đến với cái đẹp của viên quản ngục thể hiện qua từng bước và qua mỗi bước như thế càng thể hiện rõ nhân cách
Trước khi gặp Huấn Cao: Hâm mộ tài năng của Huân Cao, có ý định biệt đãi Huấn Cao và ước mong được xin chữ Khi gặp Huấn Cao: Nhìn sáu tên tử tù với cặp mắt hiền lành, biệt đãi Huấn Cao và những người bạn của ông Lần cuối cùng khi Huấn Cao cho chữ: Khúm núm cảm động vái người tù nghẹn ngào,
“kẻ mê muội này xin lĩnh bái” Con người dám bất chấp pháp luật đảo lộn trật tự kỉ cương nhà tù để tôn thờ biệt đãi tù nhân Đó có thể xem là một hành động dũng cảm bất chấp hiểm nguy Chính những phẩm chất tốt đẹp đó của quản ngục khiến Huấn Cao gọi quản ngục là tri kỉ, gọi đó là một tấm lòng trong thiên
hạ và đồng ý cho chữ
CẢNH CHO CHŨ
Cảnh tượng sưa nay chưa từng có Chơi chũ là một nghệ thuật thư pháp cao cấp dành cho nhưng tao nhân mặc khách có văn hóa và năng khiếu thẩm mĩ Là công việc sang trọng với lụa trắng mực thơm nét chữ tươi tắn Nhưng ở đây lại diễn ra trong thời gian đặc biệt: đêm khuya lính trại giam canh tù đã về nghỉ Không gian đặc biệt đó là nhà ngục tử tù với căn buồng đầy mạng nhện, phân chuột, phân gián hôi thối tối tăm Con người cũng đặc biệt: tử từ - người sắp chết và quản ngục, người suốt ngày tiếp xúc với cái ác cái xấu Người cho chữ cổ đeo gông chân vướng xiềng đang tô đậm nét chữ
Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa chậu mực thơm vuông vải trắng và sự ẩm mốc hôi thối của phân chuột phân gián, giữa người tử tù uy nghi đĩnh đạc với viên cai ngục khúm núm tiếp nhận thưởng thức cái đẹp do người tử tù sáng tọa nên Với cảnh cho chữ này nhà ngục thực dân đã sụp đổ, đó không phải là nơi cái ác cái xấu ngự trị mà là nơi cái đẹp cái cao cả, cái thiêng liêng đang làm chủ, không còn tử
tù hay quản ngục mà chỉ có người nghệ sĩ đang sáng tạo cái đẹp dưới con mắt sùng kính của kẻ liên tài Cũng cảnh cho chữ này sẽ đi vào bất tử, đó là sự chiến thắng của cái thiện trước cái xấu xa tàn bạo Lời khuyên của Huấn Cao: thay đổi chỗ ở, thay nghề, chơi chữ.Lời khuyên có ý nghĩa cái đẹp có thể sinh ra
từ đất chết nơi cái ác cái xấu ngự trị nhưng không thể sống chung Không chấp nhận người yêu cái đẹp trọng cái tài lại là người ác Những con người chỉ xứng đáng được thưởng thức cái đẹp khi giữ được thiêng lương của mình Với cảnh cho chữ và lời khuyên của Huấn Cao ta thấy được triết lí nhân sinh sâu sắc của Nguyễn tuân rằng “ những con người dù xa cách nhau dù khác biệt nhau nhưng cùng yêu cái đẹp cùng hướng đến cái đẹp thì có thể trở thành tri âm tri kỉ Đặt trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, Nguyễn Tuân đang sùng kính Huấn Cao kẻ tử tù của xã hội cũ Đó là sự giãi bày kín đào tấm lòng yêu nước, khát khao theo đuổi một lí tưởng cao cả
NGHỆ THUẬT
Bút pháp điêu luyện của cây bút văn xuôi bậc thầy trong viêc dựng người dựng cảnh, tạo tình huống độc đáo trong việc dựng lên cành ngộ éo le giữa Huấn Cao và quản ngục Đối lập tương phản cao độ Xâydựng nhân vật Huấn Cao bằng bút pháp lãng mạn Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh giàu tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại Nguyễn Tuân đã phục hồi cái cổ xưa bằng phương pháp hiện đại Văn học trungđại kể ít tả, Nguyễn Tuân tả rất nhiều Văn học trung đại ít miêu tả nội tâm, Nguyễn Tâm lại thiên về tả
Trang 5nội tâm nhân vật Chữ người tử tù thể hiện tư tưởng và phong cách của Nguyễn Tuân, thể hiện sự trân tron , yêu mến,trân trọng truyền thống của cha ông qua nghệ thuật thư pháp Say mê cái đẹp cái tài hoa vànhân cách con người Khẳng định sự bất diệt và chiến thắng của cái đẹp trong hoàn cảnh ngặt nghèo đen tối.
10 năm nhưng đã để lại một số lượng đồ sộ, đặc biệt là phóng sự và tùy bút Ông được mệnh danh là “ ông vua phóng sự đất bắc” Tác phẩm của ông thể hiện sự căm phẫn sâu sắc,mãnh liệt đối với xã hội thối nát đương thời Số đỏ là một bức kí họa đặc sắc vạch trần bộ mặt thật của xã hội tư sản thành thị đồi bại nhố nhăng vô đạo đức Tác phẩm được viết bằng nghệ thuật trào phúng sâu sắc, chua cay ( yêu cầu người viết phải biết lựa chọn một mâu thuẫn ,một sự việc khôi hài, kì dị khác thường rồi phóng đại trược mặt người đọc để gây ra tiếng cười)
II Phân tích tác phẩm
1 Tình huống trào phúng
Theo đạo lí thông thường ở đời khi người thân mất ai cũng đau buồn xót thương, bạn bè hàng xóm đến chia buồn một cách tự nguyện Gia đình cụ cố hồng có tang cụ tổ là người lớn tuổi đáng kính sắp chết nhưng cả gia đình ai cũng vui vẻ
a Tang gia có thật không
“ Ba hôm sau cụ già chết thật”- có người chết
“ Đám cứ đi” – Có đưa đám
Có hạ huyệt chôn quan tài
Chỉ cần 3 chi tiết tác giả đã khắc họa tròn trịa một đám ma
Đám ma theo lối ta, tây, tàu một kiểu hỗn độn văn hóa ,Kiệu bát cống,lợn quay đi lọng,kèn bú dích, vài trăm câu đối vòng hoa, ba trăm người đưa đám Có đầy đủ các trang phục mới nhất ơ tiệm may Âu Hóa
Đó là một đám ma to tát long trọng nhưng nhố nhăng kệch cỡm như một đám rước lòe loẹt om sòm để phô trương với bà con thiên hạ Cho thấy 1 xã hội thích lừa mình, lừa người bằng trò lòe loẹt om sòm Đám ma đủ cả nhưng thiếu một thứ quan trọng đó là những giọt nước mắt cuả tình thương người, của nghĩa tử là nghĩa tận
b Hạnh phúc có thật không
Hạnh phúc là sung sướng thỏa mọi nguyên ước Trong đại gia đình: Niềm vui chung,cả gia đình đượcchia gia tài, mọi người chờ đợi cái chết của cụ như đợi chờ một niền hạnh phúc Ngoài niềm vui chung họcòn có những niềm vui riêng của từng thành viên trong gia đình
2 Chân dung trào phúng trong gia đình
Cụ cố Hồng: mơ màng được diễn trò già yếu trước mắt mọi người, để được độc chếm quyền lực trongnhà, “ Biết rồi khổ lắm nói mãi’ lập lại đến 1872 lần
Cháu trai Văn Minh: Vui sướng vì chúc thư đã vào thời thực hành và tìm mọi cách tống khứ cô em gái hư hỏng ra khỏi nhà
Vợ Văn Minh: Vui vì được mặc được lăng xê các bột đồ trang phục mốt
Cô Tuyết: Được mặc bộ quần áo ngây thơ để mọi người nghĩ mình còn trong trắng
Cậu Tân: Gọi là cậu tú nhưng chưa bao giờ đỗ tú tài.Sướng như điên vì được chụp ảnh và chỉ huy đàn tài tử chụp hình lia lịa Chính thằng cháu trai này là đạo diễn màn hài kịch, khi bắt mọi người cúi đầu lau nước mắt thế này thế kia để ảnh khỏi giống nhau
Phán Mọc sừng ( thằng cháu rể): là kẻ có niềm hạnh phúc bất ngờ ví cái sừng vô hình trên đấu bỗngdưng có giá trị Là kẻ khốn nạn đáng khinh bỉ nhất trên đời hẳn đã lấy cái nhục lấy cái bị xã hội khinh bỉ
để biểu dương và kiếm tiền
Cháu rể tương lai ( Xuân tóc đỏ): Nhờ đám tang hắn càng thêm danh giá, nhờ hắn mà cụ tổ chết nên cả nhà đội ơn hắn, nhờ hắn mà đám tang trở nên danh giá
Trang 6Cả gia đình đại tang bất hiếu ấy đang say sưa trong niềm vui sướng quái đảng, qua niềm vui ấy bộc
lộ tính cách vô luân của từng người Niềm vui ấy còn lây lan sang xã hội quý tộc, hà thành
3 Chân dung trào phúng ngoài gia đình
Hai viên cảnh sát Min Đơ và min Toa sướng run người lên như điên vì được thuê giữ trật tự nên làm việc rất chu đáo Ông TYPN có dịp lăng xê quảng cáo các một mới nhất ở tiệm Âu Hóa Sư cụ Tăng phú sung sướng vô cùng vì nhờ đám ma cụ đã có dịp cho mọi người thấy mình đã đánh đổ được hội phật giáo Đám ban cụ cô Hồng có dịp để khoe các kiểu ria mép và các loại huân chương, được chiêng
ngưỡng làn da trắng của cô Tuyết dưới làn áo von mỏng Đám phụ nữ diện sắc phục như trảy hội, có dịp trò truyện về nhà cửa quần áo Đám trai thanh gái lịch có dịp chim nhau , cười tình với nhau, tán tỉnh bìnhphẩm chê bai nhau Hàng phố vui vì có dịp xem đám ma to
Từ cái chết của cụ tổ nhiều người trong và ngoài gia đình đại tang đang vui sướng hả hê vì những niềm hạnh phúc của mình Chính những niềm vui kì dị đó đã giết chết phần người tốt đẹp, giết chết nhữngđạo lí cơ bản của người việt nam
Bằng ngòi bút táo bạo Vũ trọng Phụng đã phơi bày tất cả những mặt quái thai của xã hội thành thị buổi âu hóa đương thời
4 Các cảnh tượng trào phúng
Sử dụng kĩ thuật điện ảnh để dựng lên cảnh tượng trào phúng Toàn cảnh được miêu tả bằng điệp khúc “đám cứ đi, đám cứ đi…” đi đến đâu làm huyên náo đến đó Cảnh đám người như đám bạn cụ cố Hống hay đám trai thanh gái lịch với những nét đặc sắc riêng được tác giả quan sát tỷ mỷ từng chi tiết, từng câu nói để làm rõ sự nhố nhăng của từng hạng người trong xã hội
nn Cảnh tượng trào phúng của từng nhân vật: Cậu Tú Tân chụp ảnh lúc hạ huyệt Cảnh ông Phán mọc sừng khóc lặng người đi
Chi tiết trào phúng: Đám bạn cụ cô Hồng xúc động vì làn da trắng của cô Tuyết Cậu Tú Tân chụp ảnh Tiếng khóc của ông Phán mọc sừng
Giọng điệu trào phúng
Thể hiện ở những câu văn, những từ ngữ miêu tả sự trái ngược giữa hình thức và bản chất của sự việc, giữa thật và giả Câu độc thoại của đôi trai thanh gái tú
Nhan đề trào phúng
Đây là một nhan đề kì lạ gây hứng thú tò mò cho người đọc một nhan đề vô lí bất thường nhưng lại phản ánh đúng sự thật của gia đình con cháu cụ tổ Đó là niềm hạnh phúc sung sướng của họ khi cụ tổ chết Đó là niềm hạnh phúc của gia đình vô phúc Đó là niếm vui của lũ con cháu đại bất hiếu Họ lo lắng bận rộn để tổ chức cho linh đình sang trọng như ngày hội, ngày vui dưới hình thức một đám tang Qua đó bật lên tiếng cười sâu cay của tác giả đối với xã hội giả dối, rởm đời háo danh
I.Tổng kết
Đoạn trích cho thấy nghệ thuật trào phúng nghệ thuật bậc thày của Vũ Trọng Phụng qua một đám tang của gia đình trưởng giả hám danh, qua đó đả kích thói lố lăng rởm đời đồi bại của xã hội thực dân tư bản đang làm băng hoại đạo đức của con người
Trang 7Đó là một cuộc đời tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản cùng thời xuất thân từ nông dân, ít nhiều được ăn học, vào đời nuôi những hoài bão nhưng bị xã hội tàn nhẫn chặn đứng mọi ước mơ, đẩy họ vào tình trạng sống mòn và họ đã đến với cách mạng như một việc tất yếu
a,Con người
Bề ngoài trầm lắng lạnh lùng nhút nhát, nhưng bên trong là tâm hồn nồng hậu, chao chứa tính yêu thương đối với con người và sự phản kháng đối với những bất công của xã hội Đấy là lí do cắt nghĩa chấthiện thực đầy sức phát hiện và chất trữ tình sâu lắng trong văn xuôi Nam Cao Ông là người giàu ân tình với những con người nghèo khổ bị khinh miệt trong xã hội Ông luôn suy tư về bản thân, nghiêm khắc vớichính bản thân mình ham sống, hăng hái sống luôn cố gắng thoát ra khỏi lối sống tầm thường để vươn tới
lẽ sống cao đẹp và thích đề ra những khát quát triết lí sâu sa
II Sự nghiệp
1 Quan điểm nghệ thuật
Phê phán thứ văn chương thi vị hóa cuộc sống chủ trương văn học phải phản ánh hiện thực “ nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật là tiếng kêu đâu khổ thoát ra từ nhưng kiệp người lầm than Nghề văn là một hình thái lao động nghiêm túc, cao quý đòi hỉ nhà văn có lương tâm, có trách nhiệm kho dối trá, không cẩu thả “ sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” Một tác phẩm văn chương chân chính phải có khả năng nhân đạo hóa con người “ Ca tụng lòng thương ,tình bác ái, sự côngbình làm cho người gần người hơn” Nghề văn là một hành động sáng tạo nó chỉ dung nạp những người biết đào sâu biết tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi biết sáng tạo ra những gì chưa có
Sau CMT8: Ông vẫn tiếp nối quan điểm sáng tác trước cách mạng nhưng phát triển cao hơn, phù hợpvới thời đại, đáp ứng yêu cầu của lịch sử “ sống đã rồi hãy viết”
Nhà văn phải hòa mình vào công cuộc kháng chiến, đem ngòi bút của mình phục vụ lạikháng chiến, phải
có đôi mắt đúng đắn để nhìn cuộc kháng chiến Nếu trước cách mạng đôi mắt của tác giả nhìn con người bằng ánh mắt của tình thương thì sau cách mạng ngoài tình thương còn có sự cảm phục những con người lao động bất khuất giàu nhiệt tình cách mạng Đó là quan điểm nghệ thuật tiến bộ hướng đến người lao động, đề cao lương tâm trách nhiệm của những người cầm bút Nhấn mạnh tính đông đảo, sáng tạo và chức năng cao quý của văn học làm cho người gần người hơn, phục vụ cách mạng
2 Đề tài chính của Nam Cao
Nam Cao viết 60 truyện ngắn, 1 truyện vừa và một tiểu thuyết
a, Những người nông dân
Lão Hạc, Chí phèo, dì Hảo, một bữa no, một đám cưới
Người nông dân được Nam Cao miêu tả ở tột cùng của sự đói nghèo đến mức nhân tính bị tha hóa bị đẩy đến đường cùng, bị đẩy đến chỗ xa cách với đồng loại sống trong nỗi cô đơn Ngòi bút của Nam Cao luôn khẳng định và phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của người nông dâ trong những hoàn cảnh giã thú nhất
b, Người trí thức
Trăng sáng, đời thừa, sống mòn nước mắt…
Là những người có ý thức sâu sắc về phẩm chất, có hoài bão lớn lao về sự nghiệp nhưng thường rơi vào tình thế túng quẫn cơm áo ghì sát đất Ngòi bút Nam Cao đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật để phê phán bệnh mơ mộng của những kẻ trí thức nghèo muốn vươn tới cuộc sống thượng lưu Đống thời miêu
tả những giằn vặt, giằng xé trong nội tâm để hướng đến một lẽ sống tốt đẹp Mỗi tác phẩm của ông trong
đề tài này đều là những tấn bi kịch tinh thần “ sống mòn” Bi kịch ấy thầm lặng đau đớn dai dẳng Qua đóNam Cao tố cáo xã hội vô nhân đạo bóp nghẹt sự sống của con người
Qua hai đề tài trên Nam Cao bày tỏ nỗi lo lắng, day dứt trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị hủy diệt về nhân tính lẫn nhân hình do nghèo đói
Sau CMT8: Với những tác phẩm Đôi mắt, nhật kí ở rừng, chuyện biên giới Nam Cao là nhà văn chiến
sĩ, những tác phẩm của ông đặt nền móng cho văn xuôi cách mạng buổi đầu
3, Nghệ thuật
Nam Cao có biệt tài phân tích và diễn đạt tâm lí nhân vật, đi sâu vào những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn nhân vật để dựng lên những nhân vật điển hình Mạch tự sự của nam Cao thường đảo lộn trật tự không gian và thời gian một cách phóng túng linh hoạt mà chặt chẽ phá vỡ được kết cấu truyền thống Nam Cao rất thành công ở những truyện không có cốt truyện, nhưng bằng bản lĩnh và tài năng củamình ông đã tạo tính chân thực cho câu chuyện, phá vỡ sự ngăn cách giữa văn chương và đời sống
Văn Nam Cao thường thay đổi giọng điệu có khi là giọng tự sự lạnh lùng sắc lạnh tỉnh táo Ngôn ngữ văn xuôi góc cạnh tinh tế điêu luyện đậm chất bắc bộ gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động
Trang 8II, Phân tích
1, Làng Vũ Đại ngày ấy một hình ảnh thu nhỏ của nông thôn Việt nam trước CMT8
Một làng quê xa tỉnh, xa huyện tù đọng, một mảnh đất quần ngư tranh thực luôn gầm ghè làm hại nhau Bọn cường hào với nhiều phe cánh luôn vừa gầm ghè làm hại nhau, vừa kết hợp với nhau để bóc lộtnhân dân Xã hội tồn tại nhiều mâu thuẫn, nhiều thành phần, nhiều tầng lớp kẻ có vai vế tìm cách cho nhau ăn bùn Nạn nhân đau khổ bị chèn ép, tha hóa trở thành tay sai cho bọn cường hào Số đông dân làng làm để nuôi bọn cường hào và mang tính cố hữu luôn nghĩ đến sự yên ổn của chính mình trước những sự việc bất công, trước cái chết họ thờ ơ vô cảm Một làng quê như thế sẽ sinh ra những số phận đau khổ, những tính cách bất nhân, không còn môi trường lành mạnh, tình nghĩa mà ta vẫn thường hay gặp trong văn học dân gian, dựng lên một làng quê điển hình cho nông thôn Việt Nam trước cách mạng, Nam Cao muốn lên tiếng cải tạo môi trường làm cho nó giàu tình thương
2, Nhân vật Bá Kiến điển hình cho cường hào ác bá ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng.
Tác giả nhấn mạnh Bá kiến ở tiếng quát rất sang và tiếng cười Tào Tháo- một kẻ gian hùng lọc lõi đa nghi
Khi thấy Chí Phèo đến ăn vạ nhà mình Chỉ mới nhìn qua cụ đã hiểu ra cơ sự cho thấy cụ là kẻ từng trảilọc lõi trong việc đối phó với những kẻ như Chí Phèo Quát mấy bà vợ để ra oai với người nhà và mọi người, giải tán đám đông để cô lập Chí Phèo Cụ đi guốc trong bụng Chí, đánh vào tâm lí ưa phỉnh nịnh
và hám lợi của Chí Phương châm trị người, trị không được thì dùng, dùng thằng đầu bò trị thằng đầu bò, đối với dân lành mềm nắn rắn buông Ngấm ngầm đẩy anh ta xuống sông rồi lại vớt anh ta lên để đền ơn
Cụ Bá ghen tuông vô lí,cuối cùng cụ chết do không hiểu được tiếng người nơi Chí Phèo, hắn nghĩ cụ cũng như hắn, vì gieo gió ắt gặp bão
Ông là nhân vật điển hình vừa mang bản chất chung của bọn cường hào, vừa mang nét riêng của kẻ gian hùng lọc lõi
3, Chí Phèo-hình tượng trung tâm của tác phẩm, đỉnh điểm của nỗi đau khổ phải bán linh hồn cho quỷ dữ.
Nhận định của Nguyễn Đăng Mạnh
“ Khi Chí Phèo ngất ngưởng bò ra từ những trang sách của Nam Cao thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ tủi nhục nhất của người dân cầy ở một nước thuộc địa bị cào xé, bị hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa nhưng chị vẫn được gọi là con người Còn Chí Phèo bán cả diện mạo lẫn linh hồn của mình để trở thành con quỷ dữ
a, Sự xuất hiện đọc đáo và ấn tượng bằng tiếng chửi
Hướng người đọc vào không khí âm ỷ, quyết liệt của sự trả thù Tiếng chửi của hắn rất bài bản từ cao đến thấp, từ rộng đến hẹp, từ chung chung đến cụ thể Chửi trời đối lập với thế giới loài người, chửi đời đối lập với cuôc đời, chửi cả làng Vũ Đại đối lập với cả xã hội, chửi đứa nào không chửi nhau với hắn đốilập với những người xung quanh, chửi đứa chết mẹ nào chửi nhau với hắn đối lập với nguồn gốc Nhưng đáp lại chỉ là khoảng không im lặng may chăng chỉ là vài tiếng chó sủa Hắn chửi vì phản ứng đầy bất mãn với xã hội, khẳng định sự tồn tại của chính mình, thể hiện niềm khao khát được hòa nhập với thế giớiloài người Tiếng chửi ấy được lập lại nhiều lần nhằm khẳng định hai tầng chân dung Chí Bên ngoài Chí Phèo lưu manh, hay say sưa thích chửi Bên trong Chí Phèo cô độc đau đớn bị xã hội khai trừ
b Quá trình tha hóa từ một nông dân thành con quỷ dữ, từ người nông dân lương thiện đến lưu manh hóa Nguồn gốc lai lịch
Tuổi thơ bất hạnh , không cha mẹ, không người thân, không một tấc đất cắm dùi
Trang 9Phẩm chất tốt đẹp của Chí: hiền lành khỏa mạnh chăm chỉ lao động, có khát khao hạnh phúc bình dị, mơ
có một gia đình nho nhỏ chồng cày thuê cuốc mướn vợ dệt vải Có lòng tự trọng khi bị bà ba bắt bóp chânthấy nhục hơn là thích
Bá Kiến ghen vô cớ đã đẩy Chí Phèo vào tù, nhà tù thực dân nhận vào là một con người nhưng thả ra lại là một tên lưu manh : Hắn thay đổi nhân hình “ trông như thằng xăng đá, cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, mặt đen, con mắt gườm gườm trông gớm chết” Hắn thay đổi nhân tính: uống rượu , chửi, rạch mặt ăn vạ
Sau khi ở tù về hắn đến nhà Bá Kiến, lần một để trả thù nhưng chỉ vài lời đường mật và một hào uống rượu nhưng Chí đã thất bại Lần hai đến để đòi cho đi ở tù (đòi cơm áo) bị Bá Kiến biến thành tay sai,từ
đó hắn trượt dài trên con đường tha hóa thành quỷ dữ, hắn thay đổi hoàn toàn cả nhân hình lẫn nhân tính Khuôn mặt hắn đầy những vết vằn ngang vần dọc, khó đoán tuổi ( giống con vật) Hắn sống triền miên trong cơn say, đập phá bao cảnh yên vui, làm đổ bao nhiêu máu và nước mắt của dân làng Hình tượng Chí Phèo mang tính quy luật của xã hội nông thôn, một xã hội phong kiến thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc mạnh mẽ của Nam Cao trong việc lên án xã hội đẩy con người đến khốn cùng không cho con người sống lương thiện
c Quá trình hồi sinh của Chí phèo
Chặng 1 Sau khi gặp thị Nở
Hắn tỉnh rượu, khoảnh khắc hiếm hoi trong cuộc đời toàn những cơn say dài bất tận của Chí Phèo Nhận ra bản nhạc rộn ràng của cuộc sống ( tiếng chim hót, tiếng anh chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng người đi chợ nói chuyện với nhau) Sống lại những cảm xúc, những cảm giác ( miệng đắng, lòng mơ hồ buồn, chân tay bủn rủn, ruột gan nôn nao) Hắn tỉnh ngộ để nhận thức về bản thân Nhớ về quá khứ đầy luyến tiếc một quá khứ đẹp, nghĩ về hiện tại rắng mình đã già mà vẫn còn cô độc buồn thay cho đời, đã qua cái dốc bên kia của đời người thì sức khỏe của mình đã hư hỏng nhiều không còn như trước nữa rồi hắn hình dung ra một tương lai buồn( đói rét, đau ốm, cô độc cái này còn đáng sợ hơn đói rét, ốm đau) Chí phèo đã hồi sinh về lí trí lẫn tâm hồn, đã nhận thức ra thế giới xung quanh, nhận thức đươc bản thân
và sống những cảm xúc của con người
Chặng 2: sau khi ăn bát cháo hành của thị Nở
Làm Chí ngạc nhiên và xúc động mắt ươn ướt vì lần đầu tiên hắn được người khác cho, lần đầu tiên hắn được chăm sóc bởi tay đàn bà Cho ta hiểu thêm về một cuộc đời bi kịch đau đớn buồn thảm của Chí Phèo Trân trọng khát khao được hoàn lương của Chí: Hắn ăn năn hối hận về nhiều hành động mà mình gây ra, khát khao được hoàn lương Trở nên rất hiền lành qua nụ cười, qua cử chỉ làm nũng của hắn với thị Nở Hi vọng mọi người sẽ nhận hắn vào xã hội bằng phẳng lương thiện và Thị sẽ là cầu nối đưa hắn trở lại với xã hội Khát khao hạnh phúc bộc lộ ở niềm vui sướng được sống mãi với thị Nở “ giá cứ thế này thì thích nhỉ Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” đó là lời cầu hôn ngọt ngào cùng thị
Nở xây dựng hạnh phúc gia đình Chí Phèo đã sống lại làm người với đầy đủ những niềm vui nỗi buồn, đau đớn hạnh phúc, ăn năn, hi vọng Qua đó thể hiện sâu sắc niềm tin của tác giả vào phần người, vào bảnchất lương thiện của người nông dân mà không một thế lực độc ác nào có thể hủy diệt được, nhưng phần lương thiện tốt đẹp ấy của họ vì một lí do nào đó mà bị khuất lấp đi nhưng có điều kiện thuận lợi nó sẽ tỏa sáng Qua đó Nam Cao còn gửi tới một thông điệp hãy cải tạo môi trường sống, hãy quan tâm yêu thương con người nhiều hơn, đặc biệt là những con người sa ngã để tạo điều kiện giúp họ hoàn lương
d Bi kịch bị cự tuyệt làm người của Chí Phèo
Chặng 1: Sau khi thị Nở về găp bà cô quay lại vứt vào Chí Phèo những lời nói của bà cô ấy Tâm trạngChí đau đớn và thất vọng Đau đớn khi nhận ra sự thật không được mọi người chấp nhận vào xã hội lươngthiện Tuy đau đớn nhưng hắn vẫn nuôi hi vọng vẫn cố níu kéo – đuổi theo và nắm lấy tay thị và hít thấy hơi cháo hành Nhưng cuối cùng đành thất vọng Trong tâm trạng Chí có sự mâu thuẫn giữa phần con và phần người, giữa phần lương thiện và hơi rươu, hơi cháo hành
Chặng 2: Sau khi hoàn toàn bị cự tuyệt tâm trạng Chí Phèo phẫn uất và thất vọng
Phẫn uất với ý định trả thù,hắn nghĩ là đến nhà thị Nởi, để đâm chết cái con khọm già nhà nó Những hành động lại là cầm dao đến nhà Bá kiến Hành động tỉnh táo cho thấy Chí đã hoàn toàn thức tỉnh để nhận ra kẻ thù đích thực của đời mình Những lời đối thoại của Chí Phèo và Bá kiến là một màn kịch ngồn ngộn những hình ảnh và câu hỏi
Tao muốn làm người lương thiện – khát khao hoàn lương đến cháy bỏng của Chí “Ai cho tao lương thiện Làm thế nào cho hết những mảnh trai trên mặt này”
Đó chính là lời nói tuyệt vọng của một conn người khi nhận ra cuộc đời mình đã đi vào ngõ cụt Muốn làm người thì bị xã hội chặn đứng quay về làm quỷ thí phần lương tâm con người đã thức tỉnh chặn đứng lại Tiếng nói đứt quãng của Chí Phéo là lời hấp hối cuối cùng tận cùng của sự phẫn uất và tuyệt vọng
Trang 10* ý nghĩa của hành động đâm chết Bá Kiến và đâm chết mình
Thể hiện sự thức tỉnh vùng dậy quyết liệt của người nông dân khi nhận ra kẻ thù của mình Phản ánh hiện tượng tức nước vỡ bờ, có áp bức sẽ có đâu tranh của những người nông dân Sự sung đột khốc liệt giữa hai giai cấp nông dân và địa chủ đã lên đỉnh điểm Là sự lựa chọn tỉnh táo và duy nhất đúng cho thấy
sự khao khát lương thiện còn cao hơn tính mạng của chính mình Cho thấy lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao khi cho nhân vật của mình sống cuộc đời tăm tối của con vật đến nhưng cái chết đau đớn của con người, chết trên ngưỡng cửa trở lại làm người Chí Phèo cầm dao giết chết một Chí Phèo lưu manh đểlại một Chí Phèo lương thiện Nam Cao đã lên tiếng tồ cáo xã hội vô nhân tính và cho thấy cái giá làm người lương thiện quá đắt bởi phải đổi bằng cả mạng sống của mình
4 Nghệ thuật
Lối kết cấu độc đáo, linh hoạt, hiện đại kết cấu vòng tròn mở đầu kết thúc bằng cái lò gạch cũ Kết cấu đảo lộn thời gian tuyến tính Xây dựng nhân vật tiêu biểu điển hình sắc nét, vừa tiêu biểu cho một lớpngười vừa mang những nét cá tính riêng độc đáo Cốt truyện li kì hấp dẫn với những tình tiết riêng độc đáo, ngôn ngữ truyện điêu luyện, sâu sắc, góc cạnh đậm chất bắc bộ Cách trần thuật linh hoạt, có khi dùng ngôn ngữ tác giả có khi dùng ngôn ngữ nhân vật Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật sâu sắc Chí Phèo là một kiệt tác của văn học hiện đại vừa mang giá trị hiện thực mới mẻ trong việc phản ánh giá trị hiện thực những tội ác của giai cấp thống trị và số phận bi kịch của người nông dân Đống thời thể hiện giá trị nhân đạo độc đáo sâu sắc trong việc trân trọng phát hiện những bản chất người lương thiện không thể mất đi trong xã hội
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI
( trích Vũ Như Tô)
Nguyễn Huy Tưởng
I Giới thiệu chung
Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) là người cùng thời với Nam Cao, Tô Hoài có thiên hướng khai tháccác đề tài lịch sử, thành công ở hai thể loại kịch và tiểu thuyết
Kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm kịch bản văn học diễn viên âm thanh, đạo diễn, ánh sáng Trong đó ba yếu tố quan trọng nhất đó là kịch bản văn học, đạo diễn, diễn viên Có ba loại kịch hài kịch, chính kịch và bi kịch Bi kịch phản ánh những xung đột, mâu thuẫn gay gắt không thể giải quyết được vớimọi cách khắc phục đều dẫn đến cái chết, đến sự diệt vong những giá trị quan trọng, nhân vật bi kịch thường có những hoài bão phi thường khát vọng lớn lao say mê nhưng thường mắc phải những sai lầm trong suy nghĩ và hành động lí tưởng của họ đi trước thời đại,chưa phù hợp với thời đại Kết thúc bi kịch thường là kết thúc bi thảm với nhân vật chính và có ý nghĩa thức tỉnh khơi gợi thức tỉnh tình cảm nhân văn của con người
Vở kịch dựa trên một sự việc có thật ở kinh thành Thăng Long vào những năm 1916, 1917 vào thời vua
Lê Tương Dực Nhưng tác giả không có ý định làm sống lại một sự kiện lịch sử mà qua đó đặt ra những vấn đề sâu sa hơn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, nghệ sỹ và nhân dân, đam mê và tội lỗi
* Mâu thuẫn giữa nghệ thuật cao siêu với lợi ích thiết thực của nhân dân lao động
Do người nghệ sĩ không có điều kiện thi thố nên đã mượn tiền bạc cường quyền của bọn quan lại để thực hiện lí tưởng và khát vọng mà mình theo đuổi Nhưng khát vọng mà ông theo đuổi là một công trình nghệ thuật cao siêu, tuyệt tác có thể tranh công với tạo hóa,có ý nghĩa với muôn thưở muôn đời nhưng chưa gắn với lợi ích thục tế của nhân dân Cửu Trùng Đài đối với Vũ Như Tô là khát vọng là lí tưởng cao đẹp của người nghệ sĩ “ đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài” Đối với Đan Thiềm là tình yêu niềm kiêu hãnh của nước nhà Đối với vua đó là nơi ăn chơi sa hoa, thỏa mãn mọi thứ vui Đối với nhân nhân
Trang 11là mồ hôi xương máu vất vả đau thương Bởi vậy Vũ Như Tô bị đẩy vào bi kịch thành đối nghịch thành
kẻ thù của nhân dân lao động cuối cùng ông bị giết, Cửu Trùng đài bị đốt nhưng không chấm dứt nỗi thống khổ của nhân dân Mâu thuẫn đó được giải quyết khi đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đượcnâng lên, nhưu cầu của cái đẹp được đề cao
2 Tính cách và diễn biến tâm trạng của nhân vật Vũ Như Tô
Là một nghệ sĩ thiên tài ngàn năm chưa thể có một người có thể sai khiến gạch ngói như vị tướng cầm quân Qua đó tác giả bày tỏ sự trân trọng ngưỡng một đối với người tài, đối với tài của người nghệ sĩ Là người nghệ sĩ chân chính có nhân cách có tấm lòng với nhân dân Lúc đầu dù bị vua dọa giết cũng không muốn xây đài vì không muốn đem cái tài phục vụ cho cái ác, cái xấu Là người không ham lời mang hết vàng bạc vua ban thưởng cho thợ Sở dĩ ông đồng ý xây Đài vì nó phù hợp với lí tưởng, khát vọng mà ông theo đuổi Lí tưởng chân chính đẹp đẽ nhưng cao siêu thâm thúy và thoát ly hoàn cảnh lịch sử lúc bấygiờ Vì quá say mê thực hiện lí tưởng nên ông đã không phát hiện ra một thực tế rằng Cửu Trùng đài đượcxây bằng xương máu của nhân dân
Khi biến loạn xảy ra Vũ Như Tô không trốn đi như lời khuyên của Đan Thiềm vì tin vào việc làm của mình là đúng với những hi vọng có thể thuyết phục được chủ tướng An Hòa Hầu Khi mâu thuẫn càng căng thẳng biến loạn, càng dồn dập buộc ông phải suy nghĩ xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai, có công hay có tội thì ông vẫn không có câu trả lời thỏa đáng, cần nghĩ mình có công chỉ vì dân chưa hiểu ông, thợ chưa hiểu ông nhiều người đời sau sẽ hiểu ông Vì ông không đứng trên lập trường của nhân dân mà chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ, của cái đẹp mà không đứng trên lập trường của cái thiện Khi Cửu Trùng Đài bị đốt theo lệnh An hòa hầu ông bừng tỉnh phần nào và kêu lên bi thiết “ Ôi mộng lớn, ôi Đan Thiền, ôi Cửu Trùng Đài” ba nỗi đau đặt cạnh nhau, nỗi đau mộng tan tành, nỗi đau phụ lòng tri kỉ, nỗi đau khi thấy công trình nghệ thuật tâm huyết của mình bị hủy diệt ba nỗi đau cộng lại thành một nỗi đau thống thiết cùng cực và phẫn uất Qua nhân vật Như Tô người đọc cảm phục và thương tiếc cho một người tài năng đồng thời nhận ra thông điệp của tác giả “ hãy xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn để khôngg còn những người nghệ sĩ bị sa vào bi kịch, để cái tài được cống hiến cái dẹp được tỏa sang
3 Nhân vật Đan Thiềm
Là người mê đắm cái đẹp bệnh của Đan Thiềm là bệnh biệt nhỡn người tài, có thể quên mình để bảo
vệ khích lệ cái đẹp Là người tỉnh táo sang suốt trong mọi trường hợp vì nàng hiểu đời,hiểu người,hiểu thời thế, thức thời để thích ứng với hoàn cảnh Hai lời khuyên của nàng với Vũ Như Tô đều đúng đắn Lần một: mượn tiền bạc và quyền uy của tên bạo chúa để xây thành Lời khuyên này hướng về bảo vệ cái đẹp, cái tài muốn cái đẹp cái tài ấy tỏa sang tô điểm cho non sông Nàng là người tri kỉ đồng hành bảo hộ
Vũ Như Tô trên con đường sang tạo Lần hai khuyên Vũ Như Tô trốn đi khi đã nhận ra sự thất bại, tâm trínàng không hướng vào sự thành bại của Cửu trùng Đài mà hướng về sự sống của người nghệ sĩ Năm lần bảy lượt khuyên Vũ Như Tô trốn đi, điệp khúc trốn đi, lánh đi, chạy đi, hốt hoảng, đau đớn đứt đoạn cho thấy bà rất quan trọng cái tài Ngay cả khi bị bắt bị sỉ nhục bất công, oan nghiệt Đan Thiềm vẫn cầu xin “ tướng quân nghe tôi bao nhiêu tội tôi xin chịu hết xin tha cho ông cả, ông ấy là một người tài Khi tình thếkhông thể cứu vãn Đan Thiềm buông lời vĩnh biệt “ ông cả, đài lớn tan tành ! ông cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt” đó là lời vĩnh biệt Cửu Trùng Đài vĩnh biệt giấc mộng lớn, vĩnh biệt tài năng trong máu và nước mắt Hai nhân vật tuy khác nhau về hoàn cảnh nhưng bổ sung cho nhau để làm tăng bi kịch của hai nhân vật làm sâu sắc thêm chủ đề của tác phẩm “ nghệ sĩ sang tạo và những kẻ tri âm lien tài họ đều có thể chết vì đài cao, vì tài lớn vì kẻ tri âm
4 Thái độ của tác giả với Như Tô
Thể hiện qua lời đề tựa tác phẩm: Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải, Cửu Trùng Đài bị đốt nên mừng hay nên tiếc Tác giả không trả lời dứt khoát vì tác giả nhận ra lẽ phải không thuộc về ai cả.Như Tô là thiên tài nhưng chưa hẳn là hiền tài, cái đẹp ông sang tạo ra là tuyệt mỹ nhưng hẳn là tuyệt thiện Thái độ của nhà văn là trân trọng cái tài, khâm phục hoài bão của Như Tô và cảm thong với bi kịch của họ
Trang 12ĐỜI THỪA
( Nam Cao)
I, Hoàn cảnh sang tác và nhan đề
Sáng tác năm 1943 sau Chí Phèo hai năm, sau “ trăng sáng” và “ lão Hạc” một năm Lúc này ngòi búthiện thực và nhân đạo cũng như suy nghĩ về văn chương của ông đã quá vững vàng Đời thừa là tác phẩmkhông có cốt truyện, không có tình tiết gay cấn mà chủ yếu tập trung vào diễn biến tâm lí nhân vật Tác phẩm không chỉ tập trung vào phản ánh hiện thức đời sống của tầng lớp tri thức nghèo mà còn gửi gắm nhiều tuyên ngôn nghệ thuật về văn chương
Nhan đề: đời thừa là sống vô nghĩa vô ích, không có ý nghĩa gì cho cuộc sống, với tư cách là một nhà văn cùng với tư cách của một con người, Hộ cảm thấy mình chẳng làm gì có ích Việc tự ý thức được tìnhtrạng sống thừa của những người trong các tri thức nghèo trong các sang tác của Nam Cao khiến họ rơi vào bi kịch tinh thần vô cùng đau đớn, nhưng đồng thời qua bi kịch tinh thần ấy thể hiện khao khát sống
có ích có nghĩa cho đời
II, Phân tích
1, Tần bi kịch tinh thần của Hộ
a.bi kịch với tư cách là một nhà văn
Hộ là một nhà văn có hoài bão lớn lao, xem văn chương là lẽ sống đẹp nhất của đời mình và sẵn sang
hi sinh vì lẽ sống ấy “ hắn luôn muốn khẳng định mình bằng những tác phẩm văn chương lớn lao có thể đạt giải Nô ben”
Trong cuộc sống ấy mình hắn luôn thực hiện hoài bão ấy: luôn ý thức nghề văn là một nghề đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm và trách nhiệm, luôn suy nghĩ tìm tòi và sang tạo Khát vọng ấy vấp phải thực tế cuộc sống nên hắn không thể thực hiện được từ khi có gia đình hắn phải kiếm tiền nuôi vợ con nên hắn buộc phải viết nhanh , viết nhiều viết ẩu với những ý nghĩ rất nông, tình cảm rất nhẹ Với tư cách là một nhà văn chân chính có lương tâm, Hộ đau khổ dằn vắt sấu hổ khi thấy tên tuổi mình ngày một mờ nhạt, thấy mình là kẻ bất lương đê tiện, thấy đời mình đã hỏng sống thừa vô ích Hắn giận mình, chán mình, khinh mình tìm đến rượu để giải khuây, trong cơn say càng thấm thía nỗi đau rồi trút nỗi giận ấy lên người vợ rất ngoan rất tận tâm rất phục tùng cùng đàn con nhỏ Hộ hiều rõ nguồn gốc bi kịch là vì miếngcơm manh áo nhưng bất lực Thông qua bi kịch thứ nhất, Nam Cao bầy tỏ sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau của người nghệ sỹ nghèo có hoài bão, ông trân trọng khát vọng chính đáng của người tri thức Lên tiếng tố cáo xã hội phi nhân tính đã dập tắt ước mơ hoài bão của người nghệ sĩ
b, Bi kịch với tư cách là một con người
Hộ không tán thành với lối sống lúc bấy giờ là “ phải ác phải tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ” như thế mới là kẻ mạnh Hộ xem tình thương là nguyên tắc sống của mình “kẻ mạnh không phải là kẻ dẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỉ, kẻ mạnh chính là kẻ biết giúp đỡ người khác trên đôi vai của mình” Trong suy nghĩ của Hộ tiêu chuẩn để phân biệt con người với con vật là tình thương Trong cuộc sống đời thường Hộ vận dụng triệt để nguyên tắc sống này Cúi xuống nỗi đau của Từ để cưới Từ làm vợ,nhận làm cha đứa con từ, lo ma chay cho bố mẹ Từ Là một người chồng tốt, những lúc ốm đau Hộ lo xanh mặt Là một người cha tốt hững lúc đi xa về Hộ ôm con hôn hít Đứng trước sự lựa chọn của mình
và cuộc sống của vợ con, Hộ đã đặt cuộc sống lên trên nghệ thuật , đặt tình thương lên ước mơ của mình nhưng Hộ vẫn không tránh khỏi những đớn đau giằn vặt cay đắng khi nhận ra cuộc đời mình ngày càng
vô nghĩa, nhất là khi gặp bạn bè Khát vọng sự nghiệp cháy bỏng lại trào lên, có cả một chút ghen tỵ với tên tuổi của những bạn văn khác Những lúc ấy Hộ quên mất trách nhiệm và những dự định tốt đẹp của mình Trong cơn say hắn trút tất cả những giận giữ lên gia đình, đánh vợ đánh con, đuổi vợ ra khỏi nhà Như vậy bi kịch thứ hai đã đến với Hộ, một con người xem tình thương là nguyên tắc sống lại vi phạm nguyên tắc ấy bằng hình thức thô bạo với vợ con Bi kịch thứ nhất tuy đau đớn nhưng có lí do để biện hộ
đó là vì tình thương với gia đình, thì bi kịch thứ hai là do chính bản thân mình ,nên Hộ chua xót vô cùng
vì thế hắn khóc, nước mắt chảy xuống như quả chanh bóp mạnh Hộ khóc vì: ân hận trước những việc mình đã làm ( đánh vợ, dánh con), thương vợ ( thấy Từ khổ nhưng Hộ vẫn không làm được gì), muốn giữmối quan hệ tốt đẹp giữa người với người, sám hối muốn giữ lấy nhân cách tốt đẹp của mình, khóc cho
Trang 13hoài bão khôg thành Đằng sau tiếng khóc của Hộ là tiếng khóc của Nam Cao, khóc cho tầng lớp trí thức nghèo trong xã hội, trong đó có chính mình Hộ là một nhân vật điển hình trong tầng lớp trí thức nghèo Qua Hộ ta thấy được những đau khổ ngột ngạt mà họ phải gánh chịu Đồng thời qua những giằn vặt của nhân vật Hộ để giữ lấy lẽ sống nhân đạo của một nhà văn chân chính ta càng trân trọng tấm lòng và nhân cách của nhà văn Nam Cao gửi gắm qua thông điệp đầy niềm tin của mình: xã hội phi nhân tính đẩy con người đến đau khổ nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào người tri thức vẫn luôn nghiêm khắc với chính bản thân mình và yêu thương độ lượng với mọi ngườ
2.Nhân vật Từ
Từ là người vợ có phẩm chất tốt đẹp Là người phụ nữ có số phận bất hạnh nên khi được Hộ cưu mang,
Từ rất biết ơn, luôn nhẫn nhục ý tứ thể hiện tình yêu và sự trân trọng đối với chồng Khi bị chồng hắt hủi tàn nhẫn Từ vẫn nhẫn nhục chịu đựng, khi chồng khóc cùng khóc với chồng, khi chồng vui cùng cười khích lệ Từ tỏa sáng nét đẹp giản dị thấm thía chất nhân ái truyền thống của người phụ nữ Việt Nam là điểm tựa tinh thần vững chắc của Hộ
3“ Đời thừa” tuyên ngôn ghệ thuật tiến bộ của Nam Cao
Quan niệm về nhà văn “ sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” đề cao lương tâm trách nhiệm của người cầm bút Quan niệm về nghề văn “ văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi những nguồn chưa khơi…… chưa có” , nghề văn là một nghề sang tạo Quan niệm về tác phẩm văn chương “ một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn , phải là một tác phẩm chung cho loài người Nó phải chứa đựng tinh thần bác ái, sự công bình… người hơn” một tác phẩm chânchính phải có chức năng nhân đạo hóa con người
Quan niệm về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống: phải đặt cuộc sống lên trên nghệ thuật muốn viết cho nhân đạo trước hết phải sống cho nhân đạo
4, Nghệ thuật
Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật sắ sảo, có khi nhà văn trực tiếp miêu tả có khi nhà văn để nhân vật
tư độc thoại
Kết cấu hiện đại theo vòng xoay : say - tỉnh – ân hận lập đi lập lại
Truyện mang nhiều triết lí về cuộc sống và nghệ thuật nhưng không trừu tượng mà được rút ra từ những giằng xé suy tư từ máu và nước mắt của nhân vậ
Giọng văn lạnh lung suy tư
XUÂN DIỆU
I những nét cần nhớ về cuộc đời Xuân Diệu.
Quê cha ở Can Lộc – Hà Tĩnh quê mẹ ở Quy Nhơn – Bình Định, sinh ra ở quê mẹ, học ở Quy Nhơn,
Hà Nội, Huế, dạy học , làm viên chức, làm cách mạng nhưng chủ yếu vẫn hoạt động viết văn Ông để lại khoảng 50 tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi,lí luận phê bình và có khoảng 50 cuộc nói chuyện thơ Ông được tặng giải thưởng HCM về văn học- nghệ thuật, được bầu làm viện sĩ thông tấn việnhàn lân nghệ thuật Đức
II, Con người
Xuân Diệu học ở cha đức tính cần cù, kiên nhẫn trong học tập, trong lao động sản xuất Sinh ra ở quê
mẹ với những cơn gió nồm thổi lên tươi mát, những con sóng biển dạt dào đã tác động không nhỏ đến hồn thơ nồng nàn sôi nổi của ông Là con vợ lẽ sớm phải sống xa mẹ từ nhỏ, thường bị hắt hủi hoàn cảnh
ấy khiến ông khao khát tình yêu và sự cảm thông Là môt trí thức tây học được đào tạo hoàn chỉnh tiếp thu những tư tưởng và văn hóa Pháp một cách có hệ thống Mặt khác Xuân Diệu là con một tú tài kép nênlại ảnh hưởng của nên văn hóa truyền thống Vì thế con người ông là sự kết hợp giữa hai yếu tố cổ điển
và hiện đại, nhưng nghiêng nhiểu về hiện đại Ông là người đi nhiều, hiều nhiều có vốn sống phong phú,
là một trái tim lớn đầy yêu đời y,êu người, yêu cuộc sống một cách mãnh liệt, thông minh nhạy cảm tinh
tế Đó là tính cách tự có của người nghệ sĩ,sống trong thời đại có nhiều biến cố điề đó đã tác động không nhỏ đến hốn thơ của ông
Trang 14Hai tâp thơ cùng một mạch cảm xúc, cùng một điệu tâm hồn, nhưng tập đầu có cái rạo rực nồng cháy của cái duyên đầu Đến gửi hương cho gió dù vẫn da diết nồng nàn nhưng đã nhuốm vị cay đắng, thấm đẫm nỗi cô đơn.Tư tưởng chi phối toàn bộ sáng tác của Xuân Diệu là niềm khát khao giao cảm hêt mình với cuộc đời, với con người Ông muốn khẳng định cái tôi cá nhân của mình, muốn tồn tại một cách có ý nghĩa Ông tìm cảm hứng niềm vui hạnh phúc ở cuộc đời trần thế, chứ không trốn tránh cuộc đời như một
số nhà thơ khác Nhà thơ Thế Lữ đã nhận xét “ Xuân Diệu là người của một đời, một người ở giữa loài người: lầu thơ của ông được xây dựng trên đất của một tấm lòng ở trần gian Ông đã không trốn tránh mà còn lưu luyến” chính ông cũng đã từng nói
Không đi đâu mãi mải ở vườn trầnChân hóa rễ để hút màu đưới dất Xuân Diệu khát sống, ham sống được bộc lộ một cách tha thiết cuồng nhiệt không nguôi, không đủ, phải
ôm, phải thêm, thêm nữa vào vòng tay của mình tất cả đất trời, tất cả sự sống Thơ Xuân Diệu thoát ra khỏi hệ thống thi pháp trung đại một cách trọn vẹn Ông nhìn cuộc đời, vũ trụ bằng cặp mắt cuả chính mình đầy xanh non, biếc rờn ngơ ngác và đầy vui sướng Xem con người tuổi trẻ tình yêu là chuẩn mực của cái đẹp
Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, ví tình yêu là niềm khao khát mãnh liệt, sâu sắc toàn vẹn nhất Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là một khu vườn đủ hương sắc, là một bản nhạc đủ mọi âm thanh từ e ấp dịu dàng đến si mê cháy bỏng
Nhưng khi vấp phải thực tế cuộc sống thơ Xuân Diệu nói nhiều đến cái chán nản, hoài nghi nhân vật trữ tình hiện lên rất cô đơn Xuân Diệu luôn cảm thấy nỗi ám ảnh về thời gian không đứng đợi về tuổi tác chẳng hai lần thắm lại Thơ Xuân Diệu tây, rất tây từ cách diễn đạt và cảm nhận cuộc sống, thơ ông chịu ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp mà tiêu biểu là Bô-đơ-le, véc tin, Ranh bô từ cách cảm nhận cuộc sống đến ngôn ngữ hiện đại, dung mọi giác quan để chiếm lĩnh, để diễn đạt thế giới một cách tinh vi, pháthuy tính nhạc của thơ, cách tân mới mẻ ngôn ngữ thơ
VỘI VÀNG
Xuân Diệu
I Giới thiệu chung
Thơ thơ là tập thơ đầu tay của Xuân Diệu ( 1938) vội vàng là bài thơ đặc sắc nhất tron tập thơ thơ Tậpthơ thể hiện một tiếng lòng của một tâm hồn thương yêu khao khát sống lúc nào cũng say đắm với cuộc đời đồng thời tập thơ còn thể hiện những cảm nhận tinh vi về bước đi của thời gian Tập thơ có những hình thức cách tân về ngôn ngữ và cảm nhận tinh tế mới mẻ Trong thơ Xuân Diệu nói chung và bài thơ vội vàng nói riêng, thời gian của vũ trụ thì vô biên, thời gian của đời người thì hữu hạn vì thế thời gian trôi để lại bao nỗi xót xa, nuối tiếc vì thế thời gian trôi gắn liền với sự tàn phai héo úa, gắn liền với sự bất
an, bất trắc Bởi vậy ngày mai trở thành lực lượng thù địch của Xuân Diệu Xuân Diệu là nhà thơ mới nhưng ông lại khác với các nhà thơ mới ở chỗ Họ thoát li trốn tránh hiện tại thì Xuân Diệu lại là nhà thơ của cuộc đời trần thế Trong thơ Xuân Diệu nói chung và vội vàng nói riêng ta thấy một mạch ngầm lí luận chặt chẽ do ảnh hưởng của tư duy duy lí phương tây Nhưng lại tuôn trào cảm xúc mãnh liệt của một hồn thơ thèm yêu khát, sống đến cuồng nhiệt
II Nhan đề
Trang 15Vội vàng bộc lộ một quan niệm sống, một triết lí nhân sinh tích cực đúng đắn của Xuân Diệu đó là sống hết mình với cuộc đời tăng cường cường độ sống mãnh liệt nhất,dồn nén nhiều cảm xúc nhất trong một thời gian ngắn nhất Vội vàng hay còn là phương tiện khắc phục quỹ thời gian ngắn ngủi hạn hữu củađời mình Đó còn là cách đẻ tận hưởng và tận hiến những gì tốt đẹpp nhất của cuộc đời, của cuộc sống , cho cuộc sống Thế giới thơ Xuân diệu dày đặc nhừng từ như vội vàng giục giã, mau gấp bởi nhà thơ luôn sợ sự muộn màng lỡ làng
Những câu thơ tiếp theo Xuân diệu phát hiện một thiên đường trên mặt đất với vẻ đẹp cuả mùa xuân Mùa xuân hiện ra với vẻ đẹp cuả tháng giêng tràn trề sức sống xuân thì, tình tứ giao hòa quấn quýt với nhau Các hình ảnh ong, bướm hoa cỏ, chim muông ,âm thanh ánh sang được nhân hóa để diễn tả sự tươi non mơn mởn dồi dào quấn quýt của mọi vật
Điệp từ “này đây” lập đi lập lại nhiều lần cho thấy tác giả đang liệt kê xác nhận sự phong phú bất tận của
tự nhiên đã ban tặng cho con người, xác nhận không gian gần ngay trước mắt một vẻ đẹp trong tầm tay của con người, đó còn là lời mời gọi chào đón nồng nhiệt của tác giả, sự ngỡ ngàng vì trần gian là một thiên đường
Từ “ này đây” đảo lộn vị trí cho thấy quà tặng của tạo hóa không giống nhau mà nó luôn mới mẻ hấp dẫn Xuân Diệu nhìn thiên nhiên không phải bằng cái nhìn thưởng thức mà bằng cái nhìn luyến ái chứa chan khát khao chiếm hữu Trong con mắt ông tháng ngày lá tháng mật, âm thanh là khúc tình si, ánh bình minh là ánh sang từ đôi mắt đẹp Hình ảnh đẹp nhất hoàn mĩ nhất, đắt nhất trong bữa tiệc trần gian
là “ tháng giêng ngon như một cặp môi gần” hình ảnh so sánh táo bạo thể hiện quan điểm thẩm mĩ của Xuân Diệu đó là : con người là chuẩn mực của cái đẹp Dùng từ “ngon” tác giả đã cụ thể hóa vật chất hóa thời gian, cụ thể hóa vẻ đẹp của thiên nhiên khát khao của con người Câu thơ không cảm nhận bẳng thị giác xúc giác hay bất cứ giác quan nào mà bằng tâm hồn đắm đuối trước vẻ đẹp của tháng giêng Câu thơ mang tới một hình ảnh thơ khỏe khoắn, tràn trề sức sống rất gần gữi nhưng cũng rất xa vời, bộc lộ cái nhìn đê mê say đắm, tình tứ trước vẻ đẹp của cuộc đời Bằng cặp mắt xanh non mới mẻ Xuân Diệu đã phát hiện ra một thiên đường trên mặt đất, ngay trong tầm tay của mỗi người bình thường chúng ta, bao hoa thơm trái ngọt chốn nhân gian luôn mời gọi dâng hiến cho con người Đoạn thơ với cách diễn đạt táo bạo cách dung từ mới lạ
2 Quan niệm của Xuân Diệu về thời gian
Trong văn hoc trung đại thời gian thường ngắn ngủi của kiếp người nhưng họ vẫn ung dung nhàn hạ
vì họ quan niệm thời gian tuần hoàn xuân hạ thu đông Còn Xuân Diệu quan niệm thời gian tuyến tính một đi không trở lại
“Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửaTôi không chờ nắng hạ với hồi xuân”
Hai câu thơ như một bản lề như đóng lại cái sự đắm đuối mê say trước vẻ đẹp của đất trời, mở ra một linh cảm về sự bất an, một sự hốt hoảng giật mình trước sự hữu hạn của kiếp người Cảm xúc thăng hoa ởđoạn một lắng xuống chuyển sang suy tư để tạo ra một triết lí “ tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”, không chờ những gì tốt đẹp qua đi mới tiếc nuối
Quan điểm của Xuân Diệu về thời gian là lời tự bạch của một con người ý thức sâu sắc về sự ngắn ngủi của thời gian so với khát vọng lớn lao của con người
Các động từ đối nhau qua từng cặp xuân tới, non - già, hết - mất, rộng - chật, xuân tuần hoàn mà tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại cho thấy tác giả đã thấy sự đối kháng thời gian với cuộc đời con người đặc biệt là tuổi trẻ Thời gian trôi rất nhanh rất ngắn ngủi vì thế phải biết quý trọng từng giây
Cách cảm nhận thời gian của Xuân Diệu tinh tế ở chỗ trong hiện tại đã có quá khứ Thời gian trôi nó cuốn đi tuổi trẻ mang đến sự chia lìa vĩnh biệt “ mùi tháng năm có vị chia phôi” mang lại sự tàn phai héo
úa “ con gió xinh thì thào trong lá biếc… chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi” cuộc sống trong vười trầngian đều mang bi kịch thời gian, lời thơ ở đây như tiếng thở than nuối tiếc mỗi thời khắc trôi qua là sự mất mát tràn ngập tâm hồn ta
Trang 16Đoạn thơ thể hiện quan niệm biện chứng của Xuân Diện về thời gian, lấy quỹ thời gian hữu hạn của đời người, đặc biệt là quãng đời của tuổi trẻ để đo, đếm thời gian trong vũ trụ Quan niệm ấy xuất phát từ
ý thức sâu sắc về giá trị sự sống của mỗi con người, nó khiến con người phải biết quý trọng từng giây từng phút của cuộc đới mình, phải biết làm cho đời mình thêm ý nghĩa
3 sống vội vàng
Nếu khép lại đoạn hai là sự thở than nuối tiếc thì bắt đầu đoạn ba là sự bừng tỉnh
“ mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”
Câu thơ mở đầu bằng mệnh lệnh thúc giục, vẫn còn kịp, vẫn còn trẻ, vẫn chưa già phải nhanh phải vội vàng tận hưởng Cái tôi ở đoạn đầu còn nhỏ bé với khát khao còn mơ hồ chật hẹp được thay bằng cái ta đầy kiêu hãnh tự tin, đầy khẳng định để sống vội vàng, sống cao độ từng phút giây của tuổi trẻ Mô hình câu với đại từ ta được lập lại nhiều lần tạo nên nhịp thơ nhanh , hối hả gấp gáp cuốn hút cao độ với vẻ đẹp của cuộc sống Hệ thống các động từ mạnh tăng cấp ôm, riết thay , say , thâu mỗi lúc một mạnh mẽ như thác đổ, như hơi thở mạnh như nhịp tim gấp cho thấy sự tăng cường độ sống ở mức độ cao nhất của tác giả Cách sử dụng các hình ảnh thơ bằng các ngôn từ “ sự sống mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm tình yêu” chỉ vẻ đẹp thanh tân ý tứ của vạn vật Động từ “cho” lập lại với nghệ thuật vắt dòng thơ
và ba từ và lập lại làm nổi bật cảm xúc say mê vồi vập và động thái thưởng thức vẻ đẹp một cách thỏa thê, mĩ mãn nhất
Bài thơ khép lại bằng hình ảnh thơ hết sức khỏe khoắn tràn đầy sinh lực
“” hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”
Đó không phải chỉ là xuân của vạn vật , xuân của đất trời mà còn là xuân của đời người, xuân của tuổi trẻ Vội vàng chất chứa một tình yêu cuộc sống tha thiết của tác giả và thể hiện một quan niệm nhân sinh tích cực mới mẻ chua từng thấy trong thơ ca truyền thống Cái vội vàng cuống quýt trong cách cảm nhận cuộc sống mà Xuân Diệu thể hiện trong bài thơ không phải là lối sống hưởng thụ cá nhân mà là sống hết mình, tăng cường lối sống mạnh mẽ để tận hiến những gì tốt đẹp nhất cho đời và tận hưởng những gì quý giá nhất của đời
Mạch cảm xúc của bài thơ hối hả tuôn trào như dòng thác đổ kết hợp với mạch lí luận chặt chẽ cùng những hình ảnh sang tạo tươi mới độc đáo làm nên cái riêng của hồn thơ Xuân Diệu
TRÀNG GIANG
Huy Cận
“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
I Giới thiệu chung
Huy Cận (1919 - 2005) Trước cách mạng tháng 8 Huy Cận là nhà thơ hang đầu của phong trào thơ mới, đó là hồn thơ buồn cô đơn đến rợn ngợp
“ một chiêc linh hồn nhỏMênh mang thiên cổ sầu”
Là nhà thơ củ nỗi sầu vạn kiếp
“ hỡi thượng đế tôi cùi đầu trả lạiLinh hồn tôi một kiếp đã đi quaSầu đã chín xin người thôi hãy háiNhận tôi đi dù địa ngục thiên đường”
Là nhà thơ mới, thơ Huy Cận mang vẻ đẹp cổ kính về hình ảnh màu sắc và âm điệu Thơ Huy Cận giầu cảm xúc về vũ trụ, ông lắng nghe những chuyển biến tinh tế của tạo vật và sự hòa điệu của hồn người với vạn vật trong vũ trụ
Tràng giang là một bài thơ tiêu biểu trong phong cách thơ Huy Cận, in trong tập “lửa thiêng”1940
Sau cách mạng tháng 8, Huy Cận mất một khoảng thời gian để đổi mới tiếng thơ, 1958 hồn thơ ông trở lại tuôn chảy dào dạt đầy niềm vui niềm tin vào cuộc sống mới
II Đọc hiểu tác phẩm
Trang 171 Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ được Huy cận sang tác khi là sinh viên trường cao đẳng canh nông, bài thơ được sông Hồng gợi tứ, nhưng khi trở thành hình tượng nghệ thuật thì nó khước từ mọi địa danh để trở thành một hình tượng thiên nhiên mang tầm phổ quát
2 Nhan đề bài thơ
Tràng giag là một từ hán việt mang sắc thái cổ kính gây cho người đọc cảm giác con sông ấy chảy từ ngàn xưa đến ngày nay Cách điệp vần “ang” làm vang trong tâm tưởng người đọc con sông không chỉ dài mà còn rộng, gợi lên một không gian mênh mông vô hạn vô cùng
Lời đề từ thâu tóm toàn bộ cảm xúc chủ đạo của bài thơ, nhan đề của bài thơ bài tỏ cảm xúc của con người trước vũ trụ bao la
Nhan đề và đề tài của bài thơ như một gạch nối nối dòng chảy vô hạn vô hồi của vũ trụ với cá nhân con người nhỏ bé hữu hạn
a Khổ 1
“ Sóng gợn tràng giang buồn diệp điệp”
Chất đường thi đã in đậm trong hình tượng sóng gợn (lấy ý trong “lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm- đỗPhủ) Từ láy “ tràng giang” xuất hiện ngay trong câu đầu gợi sự lan tỏa nới rộng không gian Nhưng đó cũng là sự chất chồng nỗi buồn của những con sóng lòng Ngay từ đầu tác giả đã tưới nỗi buồn của mình lên con sông
“ con thuyền xuôi mái nước song song”
Con thuyền xuôi là hình ảnh ẩn dụ cho kiếp người lênh đênh phiêu bạt
“ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả’ hai động từ trái ngược nhau gợi lên cuộc chia li mang nỗi sầu trăm ngả, nỗi buồn tăng cấp thành nỗi sầu chồng chất
“Củi một cành khô lạc mất dòng” là hình ảnh thật làm mờ tính ước lệ để hình ảnh thơ trở nên gần gũi vớiđời sống thường ngày, do đó nó trở nên sâu sắc hơn chân thực hơn
Nghệ thuật đối lập cành củi nhỏ bé với mấy dòng sông rộng, phép ẩn du cành củi khô là kiếp người,dòng sông là dòng đời trôi nổi động từ “lạc” cho thấy sự lạc lõng bơ vơ mất phương hướng của chủ thể trữ tình Đó cũng là tâm trạng chung của một thế hệ tri thức trước cách mạng, họ là những con người yêu nước nhưng bất lực luôn cảm thấy mình đầu thai nhầm thế kỉ Số từ “một” nằm giữa số từ trăm, mấy tạo nên sự bế tắc ngưng đọng không lối thoát của chủ thể trữ tình
Khổ một tràn ngập nỗi buồn sầu được tạo nên từ sông nước mêng mông, từ sự biệt ly của thuyền và nước, sự bơ vơ lạc lõng của kiếp người, từ sự đối lập của vũ trụ bao la vời kiếp người nhỏ bé cô đơn bế tắc
b, Khổ 2
Hai câu đầu
“ lơ thơ cồn nhỏ gió dìu hiuĐâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”
Đó là cảnh hai bên bờ sông, cảnh có thêm đất, thêm người mà lại càng buồn hơn Vì điểm nhìn cùa tác giả hướng vào những cảnh vật nhỏ bé cùng với nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh sự lưa thưa ít ỏi của sự sống càng tô đậm hơn nỗi sầu thiên cổ ngọn gió đìu hiu làm nỗi buồn hiu hắt mang âm hưởng thơ xưa
“Non kỳ quạnh quẽ trăng treo Bến phì gió thổi đìu hiu mấy gò” ( chinh phụ ngâm) Đâu tiếng làng xa vãn chợi chiều Đâu có hay đâu đó tiếng chợ chiều vãn , dường như nơi đây không có
âm thanh của sự sống với nghệ thuật lấy động để tả tĩnh, lấy cái thực để tả cái mơ hồ tác giả đã làm cho không gian càng trở nên vắng lặng hơn
Hai câu sau “ nắng xuống trời lên sâu chọt vót Sông dài trời rộng bến cô liêu” Không gian được miêu tả
ở tầng cao của dòng sông Hai động từ ngược hướng nắng xuống trời lên gợi sự thăm thẳm hun hút vừa cao vừa sâu vừa thăm thẳm, vừa buồn, vừa đẹp Cách sử dụng từ ngữ có vẻ vô lý “sâu chót vót’ nhưng lại đặc tả được tài tình độ sâu của bầu trời in hình dưới đáy dòng sông, tạo vẻ đẹp long lanh đáy nước in trời,vừa dặc tả được vẻ mênh mông khôn cùng của vũ trụ, vừa thấy được sự trống trải của lòng người “Sông dài trời rộng bến cô lieu” câu thơ tổng kết sự quan sát về vũ trụ của tác giả Nếu hai câu đầu tác giả hướng đến những sự vật nhỏ bé, thì hai câu sau lại hướng đến một miền không gian cao sâu rộng, sự đối lập ấy cho thấy Huy Cận là nhà thơ của cảm hứng vũ trụ, ông mơ hồ vể những biểu hiện của sự sống nhưng lại rất đỗi tinh tế khi cảm nhận cái vô cùng của vũ trụ
c, Khổ 3
Mạch cảm xúc vẫn tiếp tục về cái bao la vô cùng của vũ trụ với sự nhỏ bé hờ hững lạc loài không liên kết của các vật tầm quan sát của tác giả lại hướng lên mặt sông