1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhân cách của người thầy giáo

40 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • phần I: MỞ ĐẦU (0)
    • I. Lí do chọn đề tài (0)
    • II. Mục đích nghiên cứu (3)
    • III. Khách thể, đối tượng nghiên cứu (3)
  • Phần II: NỘI DUNG (0)
    • I. Một số khái niệm chung (4)
      • 1. Khái niệm về giáo viên, nhà giáo (4)
      • 2. Nhân cách (4)
        • 2.1 Khái niệm (4)
        • 2.2 Đặc điểm cơ bản của nhân cách (6)
        • 2.3 Cấu trúc cơ bản của nhân cách (0)
        • 2.4 Con đường hình thành nhân cách (10)
    • II. Đặc điểm lao động của người thầy giáo (13)
      • 1. Nghề mà đối tượng trực tiếp là con người (0)
      • 2. Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của mình (14)
      • 3. Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội (15)
      • 4. Nghề đòi hỏi khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao (0)
      • 5. Nghề lao động sáng tạo chuyên nghiệp (0)
    • III. Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo (17)
      • 1. Phẩm chất của người thầy giáo (18)
        • 1.1 Thế giới quan khoa học (18)
        • 1.2 Lí tưởng đào tạo thế hệ trẻ (20)
        • 1.3 Lòng yêu nghề và lòng yêu trẻ (0)
        • 1.4 Một số phẩm chất đạo đức(nét tính cách) và phẩm chất ý chí của người thầy giáo (24)
    • A. Nhóm năng lực dạy học (26)
      • 2.1 Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục (26)
      • 2.2 Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo (28)
      • 2.3 Nắm vững kĩ thuật dạy học (29)
    • B. Nhóm năng lực giáo dục (30)
      • 2.4 Năng lực vạch ra dự án phát triên nhân cách học sinh (0)
      • 2.5 Năng lực giao tiếp sư phạm (31)
      • 2.6 Năng lực "cảm hoá" học sinh (0)
      • 2.7 Năng lực khéo léo đối xử sư phạm (0)
    • C. Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm (36)
  • Phần III. KẾT LUẬN (0)
  • Tài liệu tham khảo (38)

Nội dung

NỘI DUNG

Một số khái niệm chung

1 Khái niệm về giáo viên, nhà giáo:

Nhà giáo là người đảm nhiệm vai trò giảng dạy và giáo dục tại trường học hoặc các cơ sở giáo dục khác, theo quy định trong Luật Giáo dục 2005.

Giáo viên là người làm công tác dạy học giáo dục, người trực tiếp biến các chủ trương, cải cách đổi mới giáo dục thành hiện thực.

Trong từ điển tiếng Anh từ ‘‘personnality” có nghĩa là:

1 Nhân cách, nhân phẩm, cá tính

2 Người, nhân vật, cá nhân Trong từ điển Nga – Việt, từ ‘‘litrnost” có nghĩa là:

1.Nhân cách, nhân phẩm, cá tính, con người, nhân vật

2 Cá nhân Thực tế cho thấy, vấn đề nhân cách rất được nhiều người quan tâm và nghiên cứu Chính vì vấn đề nhân cách trên cả mặt lý luận, thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải hiểu đúng khái niệm nhân cách Trong Chủ nghĩa Mác-Lênin, vấn đề nhân cách đã được Cacmac-P.Enghen-V.Lênin đề cập đến ở nhiều tác phẩm Khi phê phán Phơbach, Cacmac viết: ‘‘Phơbach quy bản chất tôn giáo vè bản chất con người, song bản chất con người không phải cái trừu tượng vốn có của mỗi một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”

Bản chất con người được hiểu là sự tổng hợp của các mối quan hệ xã hội, nhưng điều này không có nghĩa là Cacmac đã đồng nhất cá nhân với xã hội Thay vào đó, cá nhân không bị hòa tan trong xã hội mà trải qua quá trình biến đổi tự nhiên, xã hội và cả sự thay đổi của chính bản thân mình.

V.Lenin đã kế thừa và phát triển sáng tạo học thuyết Câcmc về con người vào hoàn cảnh cụ thể, vào các quan hệ xã hội và hoạt động của con người trong các mối quan hệ đó Về vấn đề bản chất xã hội của nhân cách, V.Lenin cho rằng muốn hiểu nhân cách phải nghiên cứu ý thức Chính ý thức xã hội quy định các kiểu hành vi của nhân cách, đó là kiểu địa chủ, kiểu tư sản, kiểu tri thức, kiểu công chức, kiểu nhà cách mạng, Và V.Lenin đã khẳng định đời sống xã hội quy định nhân cách Sự phát triển nhân cách phụ thuộc vào cá nhân tham gia đời sống xã hội phong phú và đa dạng thông qua cá nhân thể hiện quan điểm của mình, rèn luyện nên bản thân mình chính là biểu hiện của nhân cách Theo V Lênin tính tích cực của nhân cách được thể hiện trong nhu cầu và động cơ hành vi cùng với phương thức hoạt động đặc trưng của người đó cũng như hành động cải tạo thực tiễn của họ Tính thực tiễn còn thể hiện ở việc mỗi con người mong muốn chiếm lĩnh một vị thế trong xã hội. Tính tích cực bắt nguồn trong quá trình con người tác động vào thế giới xung quanh và tác động nó, phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề nhân cách được người đề cập đến trên những khía cạnh sau:

Đạo đức cách mạng là nền tảng của nhân cách, và nếu thiếu đạo đức, tài năng sẽ trở nên vô dụng Hồ Chí Minh đã so sánh rằng, giống như sông cần có nguồn nước để chảy, cây cần có gốc để sống, con người cũng cần có đạo đức; nếu không có đạo đức, dù tài giỏi đến đâu cũng không thể lãnh đạo nhân dân.

Thứ hai, nhân cách là tư cách làm người, mỗi người đều có tư cách của mình,

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rõ ràng tư cách của Đảng viên và Đoàn viên qua sáu điều Bác dạy Công An nhân dân và năm điều Bác dạy học sinh, điều này thể hiện rõ nét những giá trị cốt lõi mà người cán bộ, đoàn viên cần phải tuân thủ.

Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh những phẩm chất quan trọng của nhân cách, bao gồm nhân, nghĩa, trí, dũng và liêm Nhân thể hiện lòng thương yêu và giúp đỡ mọi người, nghĩa là sự ngay thẳng và công bằng trong đối xử Trí là sự sáng suốt trong tư duy và hành động vì lợi ích của tập thể Dũng không chỉ là can đảm trong công việc và chiến đấu, mà còn là khả năng tự phê bình và khắc phục sai lầm để tiến bộ Ông là sự kết hợp của nhiều phẩm chất, từ anh hùng, nhà văn hóa, nhà quân sự đến nghệ sĩ Một thi nhân Trung Quốc đã mô tả Hồ Chí Minh là người có trí tuệ, nhân cách và dũng khí vĩ đại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách là cơ sở để xây dựng khái niệm nhân cách mang bản sắc dân tộc Việt Nam.

Trong từ điển Tiếng việt, nhân cách được hiểu là tư cách phẩm chất con người.

Trong quan niệm của người Việt Nam, nhân cách bao gồm nhiều mặt.

Nhân cách được hiểu là người có đức có tài, hội tụ tất cả những phẩm chất của con người mới XHCN: đức, trí, thể, mĩ, lao động.

Nhân cách được hiểu là đạo đức, giá trị làm người, điều mà con người vươn tới để hoàn thiện bản thân mình.

Nhân cách chính là phẩm chất của con người: yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, nâng cao tinh thần quốc tế vô sản.

Nhân cách là khái niệm gắn liền với con người, phản ánh giá trị và chuẩn mực đạo đức, yêu cầu mỗi cá nhân phải rèn luyện để phát triển Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong tác phẩm "Tâm lý học nhân cách - Một số vấn đề lý luận", nhân cách được định nghĩa là hệ thống phẩm chất xã hội của cá nhân, bao gồm mối quan hệ của cá nhân với người khác, tập thể, xã hội, và thế giới xung quanh, cũng như với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

2.2 Đặc điểm cơ bản của nhân cách

Nhân cách được hiểu là một cấu trúc tâm lý ổn định và thống nhất, thể hiện tính tích cực và khả năng giao lưu trong vai trò chức năng xã hội Nó phản ánh giá trị xã hội và cốt cách của mỗi cá nhân Do đó, có bốn đặc điểm nhân cách cơ bản thường được nhắc đến.

2.2.1 Tính thống nhất của nhân cách

Nhân cách là sự kết hợp hài hòa giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài của con người, bao gồm ba cấp độ: cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân và cấp độ siêu cá nhân Ở cấp độ siêu cá nhân, nhân cách được đánh giá qua giá trị xã hội và ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong xã hội Các nhà tâm lý học Xô viết nhấn mạnh rằng nhân cách chỉ có thể tồn tại khi có sự thống nhất của cả ba bình diện này, thể hiện lý tưởng của cá nhân trong mối quan hệ với người khác và trong chính bản thân như một đại diện của toàn thể xã hội.

2.2.2 Tính ổn định của nhân cách

Nhân cách là tập hợp các thuộc tính tâm lý ổn định, phát triển suốt đời trong từng cá nhân, thể hiện qua các hoạt động và mối quan hệ xã hội Những đặc điểm và phẩm chất của nhân cách khó hình thành và cũng khó mất đi Mặc dù từng nét nhân cách có thể thay đổi do ảnh hưởng của cuộc sống, nhưng tổng thể chúng vẫn tạo thành một cấu trúc ổn định.

2.2.3 Tính tích cực của nhân cách

Nhân cách là sản phẩm của xã hội, thể hiện qua hoạt động và giao tiếp tích cực của cá nhân Một cá nhân được công nhận là nhân cách khi họ chủ động tham gia vào các hình thức hoạt động đa dạng, nhờ vào khả năng nhận thức và cải tạo thế giới xung quanh Giá trị của nhân cách được thể hiện qua tính tích cực, nơi mà hệ thống nhu cầu của cộng đồng đóng vai trò là nguồn gốc và động lực Tính tích cực này không chỉ nằm ở việc thỏa mãn nhu cầu mà còn ở khả năng sáng tạo và biến đổi các đối tượng để phù hợp với nhu cầu cá nhân Con người chủ động tìm kiếm những phương thức thỏa mãn nhu cầu, tạo nên một quá trình tích cực có mục đích, trong đó họ làm chủ các hình thức hoạt động do sự phát triển xã hội quy định.

2.2.4 Tính giao lưu của nhân cách

Nhân cách chỉ có thể phát triển và thể hiện thông qua hoạt động và mối quan hệ giao lưu với những nhân cách khác Nhu cầu giao lưu là bẩm sinh, giúp con người kết nối với xã hội và hình thành các quan hệ xã hội Qua giao lưu, con người tiếp thu chuẩn mực đạo đức và giá trị xã hội, đồng thời được đánh giá qua các mối quan hệ này Giao lưu cũng cho phép mỗi cá nhân đóng góp phẩm chất nhân cách của mình cho xã hội Nguyên tắc giáo dục cơ bản là giáo dục trong tập thể, vì nhân cách được hình thành qua các hoạt động chung và tương tác xã hội.

2.3 Cấu trúc của nhân cách

Nhân cách có cấu trúc phức tạp, nhiều nội dung, linh hoạt Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc nhân cách :

- A G Côvaliôv cho rằng cấu trúc nhân cách bao gồm : các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân.

Nhân cách được cấu thành từ ba lĩnh vực cơ bản: nhận thức, bao gồm tri thức và năng lực trí tuệ; tình cảm, thể hiện qua rung cảm và thái độ; và ý chí, phản ánh phẩm chất, kỹ năng, thói quen và quyết tâm của mỗi cá nhân.

- K.K.Platônôv nêu lên bốn kiểu cấu trúc của nhân cách như sau:

+ Tiểu cấu trúc có nguồn gốc sinh học ( bao gồm khí chất, giới tính, lứa tuổi và đôi khi cả những thuộc tính bệnh lí).

+ Tiểu cấu trúc về đặc điểm của các quá trình tâm lý ( cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy…).

Vốn kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và năng lực là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển bản thân và sự nghiệp Bên cạnh đó, xu hướng nhân cách cũng đóng vai trò không kém, bao gồm nhu cầu, hứng thú, lí tưởng, thế giới quan và niềm tin của mỗi cá nhân Những yếu tố này tương tác lẫn nhau, tạo nên một bức tranh toàn diện về con người và ảnh hưởng đến quyết định cũng như hành vi trong cuộc sống.

- Có quan điểm cho rằng nhân cách bao gồm các tầng khác nhau :

+ Tầng nổi : gồm các hiện tương tâm lý được ý thức và tự ý thức

+ Tầng sâu : gồm các hiên tượng tâm lý vô thức, tiềm thức.

- Có quan điểm cho rằng nhân cách gồm bốn khối :

Đặc điểm lao động của người thầy giáo

Nghề dạy học xuất hiện khi nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định, nhằm truyền đạt kinh nghiệm lao động và sản xuất cho thế hệ sau Ban đầu, việc truyền đạt diễn ra trực tiếp giữa những người lao động, nhưng khi kinh nghiệm ngày càng phong phú, cần có người trung gian để chuyển giao kiến thức, đó chính là vai trò của thầy giáo Nghề dạy học không chỉ gắn liền với lao động sản xuất mà còn góp phần hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động trong xã hội.

Con người là lực lượng sản xuất chủ yếu, và nghề dạy học của giáo viên có vai trò quan trọng trong việc xây dựng lực lượng lao động và nâng cao năng suất lao động xã hội Xã hội hiện tại không chỉ thừa hưởng kinh nghiệm sản xuất vật chất từ quá khứ, mà còn tiếp nhận các giá trị tinh thần và văn hóa, ảnh hưởng đến hệ tư tưởng của xã hội Do đó, giáo viên không thể tránh khỏi việc tham gia vào vận mệnh tương lai của dân tộc, và hành động đúng hay sai của họ sẽ có tác động lớn đến sự phát triển của xã hội.

Lao động ccủa người giáo viên là sản phẩm loại hình đặc biệt có những đặc điểm cơ bản sau :

1 Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người Đối tượng lao động của người giáo viên là con người, là thế hệ trẻ đanglớn lên với nhân cách của nó Đối tượng này không phải là vật vô tri vô giác như tấm vải của người thợ may, viên gạch của người thợ hồ hay khúc gỗ của người thợ mộc…Mà là những con người đang trong thời kỳ chuẩn bị, đang ở tuổi bình minh của cuộc đời đó là học sinh với tất cả những phức tạp của lứa tuổi, của những con người đang lớn,đang trưởng thành, đó là những đối tượng hết sức sinh động và rất nhạy cảm với những hoạt động của môi trường bên ngoài theo hướng tích cực và cả hướng ngược lại Xã hội tương lai mạnh hay yếu, phát triển hay trì trệ tuỳ thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kỳ chuẩn bị này Thực chất nội dung và chất lượng của thời kỳ chuẩn bị này là hình thành những phẩm chất và năng lực của con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đang phát triển Hoạt động chính của thầy giáo là tổ chức và điều khiển trẻ lĩnh hội, thông trải những kinh nghiệm, tinh hoa mà loài người tích luỹ được và biến chúng thành những nét nhân cách của chính mình Hiệu quả, chất lượng của quá trình này phụ thuộc vào nhân cách đội ngũ nhà giáo, không một ai trong xã hội, không một loại máy móc hiện đại nào trong kỹ thuật có thể thay thế được chức năng của thầy giáo Chính vì thế, có nhiều ý kiến đã cho rằng nghề thầy giáo là nghề có ý nghĩa chính trị, kinh tế to lớn

2 Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình:

Để xây dựng nhân cách cho học sinh, giáo viên cần phải thuyết phục bằng chính nhân cách của mình, như nhận xét của ông Nguyễn Tùng Liêm, hiệu trưởng trường Đinh Tiên Hoàng Trong quá trình giáo dục, người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn tác động đến phẩm chất chính trị, lý tưởng và tình yêu nghề của học sinh Để làm được điều này, giáo viên cần hiểu rõ hoàn cảnh, cá tính của từng học sinh để điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp UNESCO nhấn mạnh rằng giáo viên phải giúp học sinh nhận thức rõ mục đích học tập để trở thành người có ích Nhân cách của giáo viên là công cụ chủ yếu trong lao động sư phạm; nếu thiếu nhân cách, giáo viên không thể giáo dục học sinh Do đó, nghề giáo đòi hỏi phẩm chất và năng lực cao, và việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên là yêu cầu tất yếu của xã hội.

3 Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội Để tồn tại và phát triển, xã hội loài người phải sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất và của cải tinh thần Để tạo ra mọi cảu cải thì đều cần đến sức lao động. Sức lao động chính là toàn bộ sức mạnh vật chất hay tinh thần ở trong con người, trong nhân cách sinh động của cá nhân cần phải có để sản xuất ra sản phẩm có ích cho xã hội Chính vì vậy, chức năng của giáo dục chính là xây dựng, bồi dưỡng, phát huy sức mạnh đó ở trong con người và thầy giáo là lực lượng chủ yếu tạo ra sức mạnh đó.

Những sức mạnh tinh thần như truyền thống yêu nước, bất khuất và kiên cường, cùng với tình thương đồng bào và đức tính cần cù, sáng tạo, là nền tảng quan trọng trong việc phát triển con người Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc khơi dậy và bồi dưỡng những giá trị này, giúp con người làm chủ thiên nhiên và xã hội Người thầy giáo không chỉ truyền đạt tri thức mà còn mang đến tình yêu và đam mê, dẫn dắt thế hệ trẻ khám phá thế giới khoa học và công nghệ.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, vai trò của người lao động đã thay đổi đáng kể Trước đây, họ chủ yếu sử dụng sức lao động cơ bắp để sản xuất, nhưng hiện nay, máy móc đã dần thay thế vị trí này Người lao động giờ đây trở thành những người chỉ huy, tập trung vào việc sử dụng "năng lượng thần kinh" để lập trình và điều khiển máy móc sản xuất Họ lao động chủ yếu bằng sức mạnh tinh thần và trí tuệ Nhà trường và giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sức mạnh này, góp phần vào quá trình sản xuất mở rộng.

4 Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật, và tính sáng tạo cao:

Nhà sư phạm người Đức Deiterweg từng nói: "Người thầy giáo tồi là người mang chân lý đến sẵn, người thầy giáo giỏi là người biết đưa học sinh đi tìm chân lý." Để thực hiện được điều này, giáo viên cần có năng lực cao và nền tảng vững chắc trong khoa học giáo dục Nghề giáo dục không chỉ là việc truyền đạt tri thức khoa học mà còn là hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Do đó, giáo viên cần có kỹ năng áp dụng kiến thức vào từng tình huống cụ thể, phù hợp với cá nhân học sinh.

Giáo dục hiện đại không chỉ nhằm hình thành con người với đầy đủ đức, trí, thể, mỹ, lao động mà còn yêu cầu người thầy giáo phải là nghệ sỹ trên bục giảng, "truyền lửa" cho học sinh Tính nghệ thuật trong dạy học thể hiện qua khả năng truyền đạt của giáo viên, giúp khơi dậy tiềm năng tiếp thu và sáng tạo của học sinh Những giáo viên nắm vững khoa học và nghệ thuật trong giảng dạy sẽ giúp học sinh phát triển nhận thức và kỹ năng cao Để thu hút học sinh, người thầy cần hấp dẫn chính mình và như một nghệ sĩ, cần nhiệt huyết trong việc hướng dẫn học sinh tìm kiếm tri thức Quá trình này đòi hỏi giáo viên phải sáng tạo và làm mới bản thân, mang đến cho học sinh những kho báu tri thức đầy màu sắc từ khoa học và tình yêu nghề.

5 Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp:

Nghề dạy học không chỉ là lao động trí óc mà còn bao gồm cả lao động thể xác, yêu cầu giáo viên phải chuẩn bị bài giảng, soạn giáo án, chấm bài và nghiên cứu đề tài Để thực hiện tốt công việc, giáo viên cần dành thời gian và huy động kiến thức, văn hóa cũng như nghiệp vụ của mình Tùy thuộc vào cấp học, giáo viên phải sử dụng vốn sống và trí tuệ để truyền đạt kiến thức và kỹ năng cho học sinh Ở bậc tiểu học và trung học, học sinh tiếp thu kiến thức và phát triển nhân cách thông qua sự hướng dẫn chu đáo và sáng tạo của giáo viên Các hoạt động trên lớp và ngoài lớp đều mang tính chất lao động trí óc chuyên biệt, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực sư phạm cao.

Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo

Cấu trúc nhân cách bao gồm những phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc và giá trị tinh thần của mỗi cá nhân Nó được hình thành từ hai bộ phận chính: phẩm chất (đức) và năng lực (tài), tạo thành một hệ thống tổng thể phản ánh nét đặc trưng của con người.

Bác Hồ đã dạy người cán bộ cách mạng vừa phải có đạo đức vừa phải có tài,"

Có đức mà không có tài thì khó hoàn thành công việc, trong khi có tài mà thiếu đức sẽ trở thành người vô dụng Do đó, người cán bộ cần phải "vừa hồng, vừa chuyên", trong đó "hồng" thể hiện phẩm chất chính trị và đạo đức, còn "chuyên" là chuyên môn và năng lực.

Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo bao gồm các phẩm chất, thế giới quan khoa học, lý tưởng giáo dục thế hệ trẻ, lòng yêu trẻ và nghề nghiệp, cùng với những phẩm chất đạo đức phù hợp Ngoài ra, người thầy cần có năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học, tri thức và tầm hiểu biết sâu rộng, khả năng chế biến tài liệu học tập, năng lực ngôn ngữ, khả năng vạch dự án phát triển nhân cách học sinh và năng lực giao tiếp sư phạm hiệu quả.

"Cảm hóa" học sinh là một kỹ năng quan trọng trong giáo dục, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực đối xử khéo léo và tinh tế Ngoài ra, khả năng tổ chức hoạt động sư phạm hiệu quả cũng là yếu tố then chốt giúp nâng cao chất lượng dạy học Đặc biệt, năng lực giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình giảng dạy sẽ góp phần tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả cho học sinh.

1 Phẩm chất của người thầy giáo

1.1 Thế giới quan khoa học:

Người giáo viên không chỉ là người dạy học mà còn là nhà tổ chức và hoạt động xã hội, có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền tư tưởng cộng sản khoa học và các chỉ thị của Đảng đến thế hệ trẻ, phụ huynh và các tổ chức xã hội Để thực hiện nhiệm vụ này hiệu quả, giáo viên cần có một thế giới quan đúng đắn.

Thế giới quan của người thầy giáo cần đạt đến niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa cộng sản, lòng trung thành với Tổ quốc và Đảng, ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn Chỉ khi có niềm tin mạnh mẽ như vậy, giáo viên mới có thể đào tạo thế hệ trẻ trong sáng, kiên cường, sáng tạo và tài năng, tiếp nối sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Người thầy giáo không chỉ là chiến sỹ vô danh trong lĩnh vực văn hóa mà còn là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng và chính trị Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, nhà giáo cần thấm nhuần các tư tưởng chính trị của Đảng và Nhà nước.

Vào năm 1920, VI Lê Nin đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ giáo viên mới, gắn bó chặt chẽ với Đảng và tư tưởng cộng sản, điều này đã trở thành bài học quý giá cho đội ngũ giáo viên Việt Nam Thế giới quan duy vật biện chứng là nền tảng cho nhân cách của người giáo viên, giúp họ đánh giá hành vi con người và giải quyết các vấn đề phức tạp trong giáo dục Một giáo viên có thế giới quan đúng đắn sẽ không nhìn nhận sự việc một cách hời hợt; thay vào đó, họ sẽ tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc học kém hay đến lớp muộn của học sinh, cũng như xem xét các quan niệm và hứng thú của học sinh khi xử lý các vi phạm kỷ luật.

Niềm tin của giáo viên đối với chủ nghĩa cộng sản và sự lãnh đạo của Đảng thể hiện qua lòng yêu nước sâu sắc và sự kiên cường trong điều kiện khó khăn Trong những năm chiến tranh, nhiều giáo viên đã vừa dạy học vừa tham gia kháng chiến, góp phần bảo vệ Tổ quốc Họ không chỉ là những người thầy mà còn là những chiến sĩ dũng cảm, lập nhiều chiến công rực rỡ Những giáo viên như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần hy sinh Họ âm thầm dạy dỗ thế hệ trẻ ở những vùng núi rừng hẻo lánh, khẳng định vị thế và uy tín của người thầy trong xã hội.

Giáo viên ngày nay đóng vai trò quan trọng trong việc ươm mầm cho sự phát triển của đất nước, hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục và đổi mới Họ truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, phục vụ Đảng và Nhà nước, nhằm đưa đất nước vươn tầm với các cường quốc thế giới Để thực hiện sứ mệnh này, giáo viên cần có thế giới quan đúng đắn, tư tưởng vững chắc và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Để đạt được điều đó, họ phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất, tư tưởng chính trị và đạo đức cách mạng thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng, nhằm có cái nhìn mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

1.2 Lí tưởng đào tạo thế hệ trẻ:

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:

"Vì lợi ích mười năm trồng cây

Vì lợi ích trăm năm trồng người"

Sự nghiệp giáo dục là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội, với ngành giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho đất nước Người giáo viên không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người định hướng cho sự phát triển nhân cách của thế hệ tương lai Nhân cách của học sinh chịu ảnh hưởng sâu sắc từ phẩm chất và lý tưởng của người thầy, vì vậy, giáo viên cần coi việc đào tạo thế hệ trẻ là nhiệm vụ thiêng liêng và đầy trách nhiệm.

Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của người thầy giáo Nó như một "ngôi sao dẫn đường," giúp thầy giáo không ngừng tiến về phía trước và nhận thức được giá trị to lớn của mình đối với thế hệ trẻ.

Trong bối cảnh xã hội phát triển, giáo viên cần trang bị đầy đủ đức, trí, thể, mỹ và lao động để phục vụ đất nước Họ phải liên tục làm mới bản thân, cập nhật kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để theo kịp sự tiến bộ của xã hội Công việc của giáo viên không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là đóng góp cho xã hội và tương lai của đất nước Họ có lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ thông minh, tài năng và có đạo đức, nhằm cung cấp nguồn nhân lực và trí tuệ cho sự phát triển bền vững của xã hội.

Lý tưởng dạy học của người thầy giáo thể hiện qua niềm đam mê nghề nghiệp, tình yêu trẻ, và lương tâm nghề nghiệp Sự tận tụy, trách nhiệm, và tác phong làm việc cần cù sẽ giúp thầy vượt qua khó khăn, đồng thời hình thành nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam.

Người giáo viên không bao giờ được quên lời dạy của bác: "Non sông Việt

Sự tươi đẹp của đất nước và khả năng sánh vai cùng các cường quốc thế giới phụ thuộc vào nỗ lực học tập của thế hệ trẻ Người giáo viên cần không ngừng rèn luyện và phấn đấu, luôn được truyền cảm hứng từ lời dạy của Bác Họ đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ, góp phần vào sự phồn thịnh của dân tộc và tương lai của đất nước.

1.3 Lòng yêu nghề va lòng yêu trẻ:

Nhóm năng lực dạy học

2.1 Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục

Dạy học là quá trình tương tác giữa thầy và trò, trong đó học sinh chiếm lĩnh nền văn hóa xã hội Hiệu quả của dạy học phụ thuộc vào sự điều khiển quá trình này, đặc biệt là tần suất trao đổi thông tin giữa giáo viên và học sinh Việc hiểu biết về học sinh là chỉ số quan trọng của năng lực sư phạm, bao gồm khả năng thâm nhập vào thế giới nội tâm của trẻ và quan sát các biểu hiện tâm lý của chúng Để hiểu học sinh, giáo viên cần nắm vững sự phát triển sinh học và xã hội ở từng lứa tuổi, cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách trẻ Mặc dù kiến thức này đã được trang bị tại trường sư phạm, nhưng do tâm lý trẻ rất đa dạng và phức tạp, giáo viên cần liên tục nâng cao năng lực hiểu biết của mình trong quá trình giảng dạy.

Năng lực hiểu học sinh của giáo viên thể hiện qua việc xác định vốn kiến thức và mức độ tiếp thu của trẻ Từ đó, giáo viên có thể quyết định khối lượng, phạm vi kiến thức và phương pháp giảng dạy phù hợp, nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh.

Người thầy giáo có khả năng hiểu học sinh cần chú ý quan sát và phát hiện các đặc điểm tâm lý của từng học sinh trong lớp Những quan sát này giúp thầy giáo trả lời các câu hỏi như: Học sinh đang nghĩ gì? Họ có hiểu bài không? Mức độ hiểu biết của họ ra sao? Những khó khăn, trở ngại hay thuận lợi mà họ gặp phải là gì? Dựa trên những thông tin này, thầy giáo có thể có những điều chỉnh và xử lý kịp thời để phù hợp với nhu cầu của học sinh.

Người giáo viên tinh tế và nhạy cảm có khả năng nhận biết khả năng của học sinh không chỉ qua câu trả lời mà còn qua những thắc mắc, cùng với các dấu hiệu nhỏ như sự ngập ngừng trong câu trả lời, ánh mắt, nụ cười, hay tiếng xì xào trong lớp.

Năng lực hiểu học sinh được hình thành từ quá trình lao động trách nhiệm và yêu thương, bao gồm việc nắm vững kiến thức môn học và am hiểu tâm lý trẻ em cùng tâm lý học sư phạm Để phát triển năng lực này, giáo viên cần có những phẩm chất tâm lý như sự tinh ý trong quan sát, khả năng tưởng tượng, và kỹ năng phân tích, tổng hợp.

2.2 Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo Đây là năng lực cơ bản của năng lực sư phạm, là một trong những trụ cột của năng lực dạy học.

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách học sinh thông qua tri thức, quan điểm, kỹ năng và thái độ mà nhân loại đã khám phá, đặc biệt là tri thức khoa học liên quan đến lĩnh vực giảng dạy của họ Để thực hiện điều này, giáo viên cần nắm vững nội dung và bản chất của kiến thức, cũng như con đường mà nhân loại đã trải qua Chỉ khi đó, giáo viên mới có thể hướng dẫn học sinh tái tạo và tiếp thu những yếu tố cần thiết cho sự phát triển tâm lý và nhân cách, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho việc hình thành phẩm chất và năng lực của con người mới.

Nhiệm vụ chính của giáo viên là giảng dạy hiệu quả bộ môn được phân công, đòi hỏi họ phải thông thạo kiến thức chuyên môn Việc nắm vững bộ môn không chỉ bao gồm tài liệu giáo khoa mà còn cần mở rộng qua sách báo và quan sát thực tế Giáo viên có năng lực không chỉ nghiên cứu nội dung mà còn đọc thêm tài liệu chuyên ngành và tích cực quan sát để làm phong phú bài giảng Điều này không chỉ tăng hứng thú học tập mà còn khơi dậy tinh thần say mê học hỏi của học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học.

Người giáo viên không chỉ cần nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn phải có trình độ học vấn rộng rãi Để đào tạo thế hệ mới với đầy đủ đức tính, thể chất, mỹ thuật và lao động, vai trò của người giáo viên trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Họ cần có hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực trong xã hội như nghệ thuật, thể thao và văn hóa Sự am hiểu này giúp xây dựng hình tượng người giáo viên toàn diện và uy tín, đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại.

2.3 Nắm vững kĩ thuật dạy học:

Nắm vững kỹ thuật dạy học không chỉ là tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh mà còn là nâng cao năng lực giảng dạy Một giáo viên dù có kiến thức chuyên môn vững vàng nhưng thiếu nghệ thuật giảng dạy sẽ khó mang lại hiệu quả cho bài giảng Do đó, bên cạnh việc có trình độ học vấn cao, giáo viên cần áp dụng phương pháp giảng dạy hiệu quả Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nhấn mạnh rằng việc bồi dưỡng và đào tạo giáo viên cần tập trung vào việc nâng cao đạo đức, tri thức, phương pháp giảng dạy, cũng như ý thức nghề nghiệp và lương tâm đối với trẻ em.

Để giảng dạy hiệu quả, giáo viên cần lựa chọn và chỉnh sửa tài liệu để biến những nội dung khó hiểu thành dễ tiếp thu và khô khan thành sinh động Họ cũng phải sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hợp lý, giúp phát triển tư duy độc lập và sáng tạo của học sinh, đồng thời hỗ trợ các em áp dụng kiến thức vào thực tiễn Nghệ thuật giảng dạy nằm ở khả năng truyền đạt kiến thức một cách hấp dẫn, nhấn mạnh các điểm quan trọng và sử dụng ngôn ngữ hình tượng kết hợp với ví dụ thực tế để minh họa lý thuyết.

Nghệ thuật giảng dạy của giáo viên thể hiện qua việc vận dụng khéo léo các nguyên tắc sư phạm vào thực tiễn và sử dụng đúng đắn các phương pháp để tác động sâu sắc đến học sinh Giáo viên cần tạo ra hình thức giáo dục mới và rèn luyện kỹ năng giao tiếp hiệu quả Khi lựa chọn phương pháp giảng dạy, giáo viên phải chú ý đến đặc điểm lứa tuổi và cá tính của học sinh, đồng thời tưởng tượng cách mà học sinh sẽ tiếp thu kiến thức Mỗi lớp và cấp học khác nhau yêu cầu giáo viên áp dụng các phương pháp tác động hợp lý và đa dạng.

Người giáo viên cần linh hoạt và tinh tế trong việc sử dụng ngôn ngữ để đạt hiệu quả dạy học cao Ngôn ngữ phải trong sáng, giản dị và phù hợp với trình độ hiểu biết của học sinh Giọng nói cần thay đổi về tốc độ và cường độ tùy theo bài giảng và hoàn cảnh, tránh nói quá lớn hoặc quá nhỏ, vì điều này có thể khiến học sinh mệt mỏi Giáo viên cũng cần kết hợp lời nói với điệu bộ để tạo không khí sinh động Trong khi giảng bài, giáo viên nên giữ tư thế tự nhiên, hướng mặt về phía học sinh và tránh những thói quen không tốt như tỏ ra vội vã hay có hành động buồn cười Những nhược điểm này có thể làm giảm hiệu quả bài giảng do học sinh bị phân tâm Để cải thiện, giáo viên cần liên tục học hỏi và trau dồi kỹ năng trong suốt quá trình công tác và cuộc sống.

Nhóm năng lực giáo dục

2.4 Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh:

Hình thành nhân cách là mục tiêu chính của giáo dục, bao gồm sự kết hợp của các phẩm chất và năng lực trong một cấu trúc nhất định Do đó, mọi hoạt động sư phạm cần tập trung vào việc phát triển những "chất liệu" này để xây dựng nhân cách cho học sinh.

Để phát triển nhân cách cho trẻ, giáo viên cần hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi, vì mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt với những đặc điểm khác nhau Việc phân loại nhóm trẻ và xây dựng dự án phát triển nhân cách dựa trên sự thấu hiểu này là rất quan trọng Giáo viên cũng cần chú ý đến trẻ chậm phát triển, tạo điều kiện cho các em tham gia hoạt động tập thể nhằm giúp các em hòa nhập và phát triển tốt hơn Kế hoạch "giáo dục cá biệt" sẽ giúp đảm bảo sự đồng đều trong sự phát triển nhân cách của học sinh Trong quá trình thực hiện, giáo viên cần theo dõi hiệu quả của các tác động giáo dục để hình thành nhân cách cho trẻ, từ đó công việc trở nên có kế hoạch, chủ động và sáng tạo hơn.

2.5 Năng lực giao tiếp sư phạm:

Phẩm chất nhân cách của con người được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp với người khác Do đó, khả năng ứng xử sư phạm của giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em.

Giao tiếp là yếu tố thiết yếu trong hoạt động sư phạm, ảnh hưởng đến các hình thức giáo dục như giảng bài, phụ đạo, và hoạt động vui chơi Thiếu giao tiếp, cả giáo viên và học sinh không thể thực hiện hiệu quả công việc của mình Do đó, giáo viên cần phát triển năng lực giao tiếp sư phạm, bao gồm khả năng nhận diện nhanh chóng các biểu hiện tâm lý của học sinh và bản thân, sử dụng hiệu quả ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, cũng như tổ chức và điều chỉnh quá trình giao tiếp để đạt được mục tiêu giáo dục.

Năng lực giao tiếp sư phạm của giáo viên thể hiện qua khả năng tạo điều kiện gần gũi giữa thầy và trò, giúp họ hiểu nhau và đồng cảm hơn Giáo viên cần đặt mình vào vị trí của học sinh để "thương người như thể thương thân", đồng thời xây dựng không khí hòa đồng, thân thiết, không gây cảm giác e ngại hay sợ hãi Điều này giúp học sinh trở nên chủ động, tự tin và thoải mái trong giao tiếp với thầy.

Kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên không chỉ bao gồm khả năng truyền đạt kiến thức mà còn liên quan đến việc làm chủ cảm xúc cá nhân Giáo viên cần kiềm chế những cảm xúc mạnh mẽ và khắc phục tâm trạng tiêu cực, đồng thời biết cách thể hiện tình cảm một cách phù hợp với tình huống giao tiếp A.X Macarencô nhấn mạnh rằng một số giáo viên và phụ huynh không biết kiểm soát cảm xúc của mình, để giọng nói phản ánh tâm trạng, điều này là không thể chấp nhận Trước khi giao tiếp với học sinh, giáo viên nên tự điều chỉnh cảm xúc để tạo ra môi trường học tập tích cực.

Lời nói của người thầy giáo có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến học sinh, vì ngữ điệu của lời nói tác động sâu sắc đến cảm xúc con người Mỗi từ ngữ mà giáo viên sử dụng cần phải được lựa chọn cẩn thận, đảm bảo nội dung trong sáng và lành mạnh, phản ánh văn hóa và nhân cách của một người có đạo đức và tri thức Trong nhiều tình huống, giáo viên cần thể hiện lời nói một cách dịu dàng, nghiêm khắc hoặc phẫn nộ, nhưng những lời nói đó phải luôn phù hợp với ngữ cảnh.

Trong giao tiếp sư phạm, ngoài việc sử dụng ngôn ngữ, giáo viên còn có thể kết hợp các phương tiện khác như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười và ánh mắt Những yếu tố này giúp làm phong phú thêm cách thể hiện thái độ của giáo viên trong mối quan hệ với học sinh.

Năng lực giao tiếp sư phạm không chỉ quan trọng trong mối quan hệ giữa thầy và trò mà còn trong các tương tác với phụ huynh và tổ chức xã hội Khả năng giao tiếp và ứng xử khéo léo của giáo viên không chỉ nâng cao uy tín mà còn kết nối giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội Điều này tạo ra sự hòa nhịp giữa giáo dục cuộc sống và giáo dục nhà trường, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc đào tạo thế hệ trẻ.

Trong thực tế giáo dục hiện nay, một số giáo viên đã lợi dụng quyền lực của mình, dẫn đến những hành vi vi phạm đạo đức nhà giáo, gây tổn thương cho học sinh Những lời chỉ trích hay thiếu tôn trọng từ giáo viên có thể khiến học sinh mất tự tin và không dám đến trường Điều này, dù hi hữu, nhưng vẫn không thể chấp nhận và cần được phê bình Do đó, mỗi giáo viên cần rèn luyện năng lực giao tiếp, kết hợp với việc phát triển phẩm chất nhân cách Những giáo viên có tâm huyết, tôn trọng học sinh và lắng nghe ý kiến sẽ dễ dàng thiết lập mối quan hệ tốt với học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả trong hoạt động sư phạm.

2.6 Năng lực" cảm hóa" học sinh:

Để hiểu rõ đối tượng giáo dục và tạo ra những tác động sư phạm có ý nghĩa trong việc hình thành nhân cách trẻ, năng lực "cảm hóa" học sinh là điều không thể thiếu trong cẩm nang năng lực sư phạm của giáo viên Năng lực này thể hiện khả năng tác động trực tiếp đến học sinh về mặt tình cảm và ý chí, giúp giáo viên khiến học sinh lắng nghe, tin tưởng và hành động theo mình bằng tình cảm và niềm tin.

Năng lực "cảm hóa" học sinh của giáo viên phụ thuộc vào nhiều phẩm chất nhân cách, bao gồm tinh thần trách nhiệm với công việc, niềm tin vào sự nghiệp giáo dục, và kỹ năng truyền đạt niềm tin đó Bên cạnh đó, lòng tôn trọng học sinh, sự chu đáo và khéo léo trong cách ứng xử, cùng với lòng bao dung và vị tha cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ tích cực giữa thầy và trò.

Người thầy giáo có ảnh hưởng lớn đến học sinh là những người đáp ứng được yêu cầu cao và có hoạt động tích cực, khoa học Họ tôn trọng sở thích, cá tính và nhân cách của học sinh, đồng thời là những người tâm lý, gần gũi và có năng lực chuyên môn vững vàng.

Năng lực "cảm hóa" học sinh là yếu tố quan trọng trong việc giáo dục trẻ khó dạy, những em thường có hành vi bất thường và chống đối Để cảm hóa được các em, giáo viên cần nắm vững kiến thức về tâm lý và nguyên nhân hành vi của học sinh Các năng lực sư phạm như giao tiếp, ứng xử và khả năng hiểu học sinh sẽ phát huy hiệu quả trong quá trình giáo dục Giáo viên không chỉ là người dạy mà còn phải đóng vai trò như người thân, giúp trẻ phát triển thành những người tốt và hòa đồng Để hoàn thiện năng lực "cảm hóa", giáo viên cần phấn đấu nâng cao nếp sống văn hóa và phong cách mẫu mực, tạo dựng uy tín chân chính từ hành động và lời nói Đồng thời, xây dựng mối quan hệ thầy trò thân mật, nghiêm túc và đầy yêu thương, khuyến khích sự sáng tạo và tích cực của học sinh Sức hút của sự cảm hóa đến từ chính đạo đức và tài năng sư phạm của giáo viên.

Cuối cùng, trong năng lực này người thầy giáo luôn phải ghi nhớ một điều rằng: " Cái gì xuất phát từ trái tim sẽ đi đến trái tim".

2.7 Khả năng khéo léo đối xử sư phạm:

Một trong những xu hướng quan trọng của giáo viên là ứng xử khéo léo trong sư phạm Để đối phó với nhiều tình huống khác nhau, giáo viên cần nắm vững đặc điểm tâm lý của trẻ và hiểu những gì đang diễn ra trong tâm hồn các em Đồng thời, người thầy cũng phải biết cách giải quyết linh hoạt và sáng tạo các tình huống sư phạm, cả ở cấp độ cá nhân lẫn tập thể học sinh.

Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm

Thầy giáo đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lao động cho học sinh, tạo nên sự gắn kết trong tập thể và phối hợp các yếu tố giáo dục Do đó, năng lực tổ chức hoạt động sư phạm là yếu tố thiết yếu trong khả năng của người thầy.

Năng lực tổ chức hoạt động sư phạm của giáo viên được thể hiện qua khả năng tổ chức, cổ vũ và vận động học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập trong và ngoài lớp học Một giáo viên có năng lực tổ chức biết cách đoàn kết học sinh thành một tập thể thống nhất, lành mạnh và có kỷ luật, giúp các hoạt động lớp diễn ra thuận lợi và nâng cao hiệu quả giáo dục nhân cách Hơn nữa, giáo viên còn phải biết vận động phụ huynh, cộng đồng và các tổ chức xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục với mục tiêu rõ ràng.

Chúng ta đã phân tích các đặc điểm lao động, cấu trúc và yêu cầu xã hội đối với nhân cách của người thầy giáo trong thời đại hiện nay Điều này giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn và đầy đủ hơn về vai trò của giáo viên Để có một giáo viên đáp ứng đầy đủ yêu cầu xã hội, không chỉ cần nỗ lực và tự bồi dưỡng từ bản thân mà còn cần sự chăm sóc, quan tâm và hỗ trợ từ cộng đồng.

Nhân cách là tài sản quý giá của con người, đặc biệt là của người thầy giáo, và là phương tiện quan trọng trong giáo dục trẻ Nghề giáo dục yêu cầu sự nghiêm túc, không chấp nhận bất kỳ sản phẩm kém chất lượng nào Nhân cách và tâm hồn con người không thể so sánh với vàng bạc hay kim cương Để giáo dục nhân cách cho trẻ, người thầy cần có đầy đủ phẩm chất và năng lực sư phạm Sự biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay đã ảnh hưởng đến đời sống đạo đức, đặc biệt là đạo đức của người thầy Xã hội đòi hỏi xây dựng đạo đức mới, bao gồm đạo đức nghề nghiệp của người thầy, nhằm tạo ra một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra yêu cầu cấp thiết về đạo đức xã hội và việc bảo tồn các giá trị truyền thống của nhà giáo Nhiệm vụ này không chỉ thuộc về toàn xã hội mà còn đặc biệt quan trọng đối với vai trò của người thầy giáo trong việc phát triển thế hệ trẻ Việt Nam cường tráng về thể chất và phong phú về tinh thần.

1 Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan - Nguyễn Văn Thàng (2001), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.

2 Diễn đàn giáo dục trên website của bộ giáo dục và đào tạo www.edu.net.vn

3 Hồ Chí Minh- Bàn về công tác giáo dục - Nhà xuất bản sự thật - Hà Nội - 1972

4 Trần Văn Giàu- “ Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam”- Nhà xuất bản Khoa học xã hội- 1980

5 Luật giáo dục 2005 - Nhà xuất bản giáo dục

6 Tâm lí học đại cương

MUC LỤC phần I: MỞ ĐẦU 1

I Lí do chọn đề tài 1

II Mục đích nghiên cứu 2

III Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

I Một số khái niệm chung 4

1 Khái niệm về giáo viên, nhà giáo 4

2.2 Đặc điểm cơ bản của nhân cách 6

2.3 Cấu trúc cơ bản của nhân cách 8

2.4 Con đường hình thành nhân cách 10

II Đặc điểm lao động của người thầy giáo 13

1 Nghề mà đối tượng trực tiếp là con người 13

2 Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của mình 14

3 Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội 15

4 Nghề đòi hỏi khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao 16

5 Nghề lao động sáng tạo chuyên nghiệp 16

III Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo 17

1 Phẩm chất của người thầy giáo 17

1.1 Thế giới quan khoa học 17

Ngày đăng: 27/08/2021, 01:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w