Phải làmsao để mỗi người giáo viên không những là nhà sư phạm mà còn là nhà môphạm, say mê, bền bỉ, cần cù, nghiêm túc và sáng tạo trong lao động sư phạmthành công kiêu căng, thất bại kh
Trang 1PHẦNI:LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I Lý luận về mặt lý luận
Đề hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình, mỗi người giáo viên khôngngừng đổi mới,hoàn thiện bản thân để đáp ứng yêu cầu mới, phải có ý thức quantâm đi vào khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học giáo dục,làm tốt công tác " dạychữ, dạy nghề,dạy người" Tập thể của giáo viên, cá nhân giáo viên không ngừng
đề cao đạo đức,tác phong mẫu mực mỗi ngừời giáo xã hội chủ nghĩa Phải làmsao để mỗi người giáo viên không những là nhà sư phạm mà còn là nhà môphạm, say mê, bền bỉ, cần cù, nghiêm túc và sáng tạo trong lao động sư phạmthành công kiêu căng, thất bại không nản, chỉ thương yêu, gần gũi học sinh,đoàn kết với đồng nghiệp, gắn bó với nhân dân, thực sự là những "tâm gươngsáng cho học sinh noi theo"
Giữa nền văn hóa nhân loại, văn hoa dân tộc với việc tạo nên văn hoá đótrong thế hệ trẻ có ý nghĩa hết sức quan trọng , vấn đề đạo đức, tư cách ngườinhà giáo đã được nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhiều nhà giáo dục quan tân
và tìm hiểu.Đặc biệt nhân cách của giáo viên trong thời đại mới lại càng quantrọng hơn trong việc hình thành nên nhân cách cho thế hệ trẻ tương lai của "ĐấtNước"
II Lý do về mặt thực tiễn
"Nhân cách" là gì ? tại sao con người lại coi trọng nhân cách nếu thiếunhân cách con người sẽ ra sao? Vì sao con người sống trên đời thường chú trọngvào vấn đề nhân cách? Con người luôn luôn suy nghĩ về tất cả những gì mìnhnhìn nhận thấy liên hệ đời sống của mình Bằng cách đặt ra cho mình vô số câuhỏi và nhận được câu trả lời đơn giản: : " Nhân cách là cách đối xử của conngười đối với gia đình,cũng như ngoài xã hội, nhân cách là một hình thức xử thếcao đẹp hoàn toàn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng con người mình là một conngười có giáo dục, biết trải nghiệm được những điều phải trái trên đồng thời nó
Trang 2cũng là một hình thức xã giao tốt đẹp và nhiều lịch sự nhất của con người khigiao tiếp với nhau
Tuy nhiên vấn đề đánh giá, nhìn nhận nhân cách,đạo đức người nhà giáo ởnhà trường nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ chưa thực sự quantâm,cũng như còn gặp nhiều tình huống bất cập, sợ đụng chạm và trốn tránh sựthật vì vậy nhiều tình trạng , hình ảnh người giáo viên không tốt trong mắt họctrò thân yêu của mìn, gây ra những bất lợi, trở ngại,khó khăn trong việc trồngngười
Dù chỉ liên quan đến nghành giáo dục.không phải là môt giáo viên tươnglai,sẽ không có kinh nghiệm giảng dạy cũng như công tác chủ nhiệm Nhưng vì
đã có những tháng năm theo công tác Đội,Đòan tại THPT, đã tham gia chứngkiến nhiều việc liên quan tới " Nhân cách người giáo viên trong giai đoạn hiệnnay" Tôi cảm thấy đây là đề tài rất thiết thực một phần tất yếu trong cuộc sống
và công việc của tôi sau này
Trang 3PHẦN II: TÌM HIỂU CHUNG VỀ NHÂN CÁCH, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHƯƠNG I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ NHÂN CÁCH 1.1 Quan niệm nhân cách ở việt Nam
-Nhân cách được hiểu là con người có đạo đức và tài hay tính cách vànăng lực hoặc là con người có các phẩm chất"Đức,trí,thể,mỹ,lao động"
-Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người.-Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới,làm chủ,yêunước,tinh thần quốc tế vô sản,tinh thần lao động
-Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới; làm chủ, yêunước, tinh thần quốc tế vô sản, tình thần lao động
Nhân cách được hiểu như mặt đạo dức giá trị làm người của con người.Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân,biểuhiện bản sắc và giá trị xã hội con người Nhân cách là sự tổng hòa không phải làcác đặc điểm cá thể cua con người mà chỉ là những đặc điểm quy định conngười như một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý- xã hội, giá trị và cốtcách làm người của mỗi cá nhân
1.2 Những quan điểm cơ bản của các trường phái tâm lý học về nhân cách
1.2.1 quan điểm sinh vật hóa bản chất nhân cách
Nhân cách được coi là bản năng tình dục (Sh.Phơrơt)là đặc điểm hình thể(Krestchmer), siêu đẳng,bù trừ (Atle), vô thức tập thể (k.Jung) la các kiểuhoạtđộng thần kinh cấp cao( những người quá tôn sùng học thuyết Paplôp).Thức chất các quan điểm trên dù hình thức biểu hiện ở mỗi người có khác nhau,nhưng đều sinh vật hóa bản chất nhân cách, đều mang quan điểm duy tâm siêuhình
Trang 41.2.2 Bẩn chất nhân cách
Là nhân tính con người được trường phái nhân văn nhấn mạnh.Đại diệncủa các trường phái nay là C.Rôgiơ, A.Matxlâu, G.oonpooc Những người ởtrường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người,đếnnhững đặc tính riêng của mỗi người,kinh nghiệm riêng của con người A.Matxlaucho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người Những nhu cầu tiếpxúc,tình yêu,lòng kính trọng đều cón năng tính chất bản năng,đặc trưng chogiống người Nhân cách là động cơ tự điều hành ( G.OOnpooc) là nhu cầu(A.Murây), là tương tắc xã hội(G.H.Mít)là lo lắng (K.Hoocnây) Những quanđiểm này đều đề cao tính chất tự nhiên sinh vật của con người,phủ nhận bản chất
xã hội nhân cách
1.2.3 Nhân cách là được hiểu toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân
Các mối quan hệ của xã hội cá nhân như trong quan hệ gia đình, Nhà trường, Cơquan công tác,Nghề nghiệp,Bạn bè là chuẩn để đánh giá nhân cách và thựcchất quan điểm này đã xã hội hóa nhân cách một cách đơn giản
1.2.4 Nhân cách theo Patônôp
Là con người có ý thức, có lý trí ngôn ngữ,là con người lao động
1.2.5 Nhân cách được hiểu như cá nhân của con người với tư cách chủ thể của mối quan hệ và hoạt động ý thức
Hiện nay quan điểm nay được đa số các nhà tâm lý xã hỗi chấp nhận, coinhân cách là cá nhân là cá thể so với tập thể xã hội
P.Buêva cho rằng nhân cách là con người toàn bộ những phẩm chất xãhội của nó Nhân cách là toàn bộ những đặc tính và quy luật cánhân( H.Hipsô,M.Phorvec) là tổng số đặc điểm cá nhân của con người mà khôngngười nào giống người nào (E.P.Hoolenđơ) Nhân cách là tâm thế(Uzơnatze)làthái độ (V.N.Miaxisev)là phương thức tồn tại của con người trong xã hội,trongđiều kiện lịch sử cụ thể (L.I.Anxưphêrôva) Những quan điểm này chú ý đến cái
Trang 5đơn nhất trong nhân cách, chưa thể hiện tính toàn diện trong định nghĩa về nhâncách.
1.2.6 Nhân cách được hiểu như các thuộc tính nào đó tạo nên bản chất nhân cách
Là các thuộc tính ổn định các thuộc tính sinh vật hay các thuộc tính xã hội
1.2.7 Nhân cách được hiểu như cấu trúc hệ thống tâm lý cá nhân
Trong hàng chục năm lại đây,nhiều nhà tâm lý học đều có xu hướng kiểunhân cách là cấu trúc,là hệ thống tâm lý( A.N.Lêônchiep, K.Obuchowxki).Nhâncách là cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong mối quan hệ thống của mỗi cánhân do kết quả hoạt động cải tạo của con người đó(A.N.Lêônchiep) Với quanniệm bản chất nhân chất nhân cách là một hê thống tổ chức (K.OObuchôpxki)
đã định nghĩa như sau." Nhân cách là tổ chức những thuộc tính tâm lý của conngười có tính chất, điều kiện lịch sử xã hội.Ý nghĩa của nó cho phép và giảithích và dự đoán hành động cơ bản cua con người" Từ bảy quan niệm trên,chúng ta thấy rằng chưa trường phái nào giải quyết một cách thỏa đáng, mộtcách thỏa đáng, một cách toàn diện về vấn đề bản chất nhân cách Vấn đề nhâncách vẫn là vấn đề quan trọng hết sức nóng bỏng trong cách khoa học về conngười nói chung và các tâm lý nói chung
Trang 6CHƯƠNG2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN CÁCH NHÀ GIÁO
1 Sự cần thiết trau dồi nhân cách đối với người thầy giáo
1.1 Sản phẩm lao động của người thầy giáo là nhân cách học sinh do những yêu cầu khách quan của xã hội quy định
Sản phẩm là nhân cách học sinh là kết quả tổng thể của cả thầy lẫn trònhằm biến những tinh hoa của nền văn minh xã hội thành tài sản riêng – sự pháttriển tâm lí của trò.Sự phù hợp giữa yêu cầu khách quan của nghề dạy học vớinhững phẩm chất tương ứng trong nhân cách người thầy sẽ tạo nên chất lượngcao của sản phẩm giáo dục.Rõ ràng sự trau dồi nhân cách đối với người thầygiáo là một yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp đào tạo
1.2 Thầy giáo, người quyết định trực tiếp chất lượng đào tạo
Trong trường học, người trực tiếp thực hiện quan điểm giá dục củaĐảng,người quyết định' Phương hướng của việc giảng dạy", " lực lương cốt cántrong sự nghiệp giáo dục,văn hóa" là người giáo viên
Trình độ tư tưởng, phẩm chất đạo đức, trình độ học vẫn và sự phát triển
tư duy độc lập, sáng tạo cảu học sinh không chỉ phụ thuộc vào chương trình củasách giáo khoa, cũng không chỉ phụ thuộc vào nhân cách học sinh mà còn phụthuộc vào người thầy, vào phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và khả năngtay nghề của 'nhân vật chủ đạo" trong nhà trường
2 Thầy giáo là cái “dấu nối” giữa nền văn hóa nhân loại và dân tộc với việc tái tạo nền văn hóa đó chính trong thế hệ trẻ.
-Nền văn hóa của nhân loại, của dân tộc chỉ được bảo tồn và phát triểnthông qua sự lĩnh hội nền văn hóa của thế hệ trẻ Tuổi trẻ không làm được việc
đó mà phải huấn luyện theo phương thức đặc biệt là nhà trường thông qua vaitrò của người thầy
Trang 7-Tri thức khoa học là phương tiện hoạt động dạy của người thầy, đồngthời là mục đích hoạt động học của trò Trò hoạt động theo sự tổ chức và điềukhiển của thầy để tái tạo sản xuất nền văn hóa của nhân loại, của dân tộc, tạo ra
sự phát triển tâm lí của chính mình, tạo ra những năng lực mới mang tính conngười
-Thầy đã biến quá trình giáo dục của mình thành quá trình tự giáo dục củatrò Vì thế giáo dục và tự giáo dục thống nhất với nhau trong việc làm nên sảnphẩm giáo dục nhân cách
-Sự mạng của người thầy rất vẻ vang,nhưng công việc không hề đơn giản,không mạng tính lặp lại, nó phải dựa trên cơ sở nắm vững con đường mà loàingười đã đi qua khi phát hiện ra những tri thức khoa học, phải dựa trên cơ sởnhững thành tựu tâm lí học, đồng thời phải am hiểu đầy đủ đặc điểm và trình độphát triển về mọi mặt của trẻ, nhất là trí tuệ và đạo đức
-Công việc đó đòi hỏi một quá trình học tập lí luận nghiêm túc, trau dồichuyên môn, rèn luyện tay nghề…, nói chung là trau dồi nhân cách người thầy Như vậy sự cần thiết trau dồi nhân caschh đối với người giáo viên là tất yếu.Đây là một quá trình lâu dài,phức tạp,đòi hỏi một sự học tập và rèn luyện kiêntrì và sáng tạo về mọi nặt chính trị,chuyên môn nghiệp vụ để từng bước hìnhthành lý tưởng nghề nghiệp cao cả và tài năng sự phạm hoàn hảo
2.1 Đặc điểm lao động của người thầy
2.1.1 Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người.
Ta đã biết nghề cao nào cũng có đối tượng quan hệ trực tiếp của mình Cónhà khoa học đã dựa vào tiêu chuẩn này để chia thành những loại sau đây:
-Nghề quan hệ với kỹ thuật: như thợ lắp máy, sửa chữa,gia công bằngmáy
-Nghề quan hệ với tín hiệu: như thợ lắp máy, sửa chữa máy,gia công bằngmáy
Trang 8-Nghề quan hệ với động vật và thiên nhiên: như nghề chăn nuôi, thú y, địachất,khí tượng
-Nghề quan hệ trực tiếp với con người: như người cán bộ quản lý, cán bộtuyên huấn, chị bán hàng,cô hướng dẫn viên du lịch,thầy thuốc và cả thầy giáonữa
Vì đối tượng quan hệ trực tiếp là con người, đòi hỏi người thầy phải có sựtôn trọng, lòng tin, tình thương, sự đối xử công bằng, thái độ ân cần, lịch sự, tếnhị,…Đối tượng của người thầy là con người đang trong thời kì chuẩn bị, đang
ở tuổi bình minh của cuộc đời Xã hội tương lai mạnh hay yếu, phát triển hay trìtrệ tùy thuộc vào nội dung và chất lượng của thời kì chuẩn bị này
2.1.2 Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình.
Nghề nào cũng bằng công cụ để gia công vào vật liệu tạo ra sản phẩm.Công cụ càng tốt,càng hiện đại thì kết quả gia công càng cao công cụ đó có thể ởtrong hay ở ngoài lao động
-Trong dạy học và giáo dục, thầy dùng nhân cách của chính mình để tácđộng vào học sinh Đó là phẩm chất chính trị, là sự giác ngộ về lý tưởng đào tạothế hệ trẻ, là lòng yêu nghề mến trẻ, là trình độ học vấn, là sự thành thạo về nghềnghiệp, là lối sống, cách ứng xử và kỹ năng giao tiếp…
-Nghề đào tạo con người lại là nghề lao động nghiêm túc, không đượcphép tạo ra thứ phẩm hay phế phẩm như một số nghề khác
-Để trở thành một người thầy tốt, trước hết cần phải sống một cuộc sốngchân chính, vẹn toàn nhưng đồng thời phải có ý thức và kỹ năng tự hoàn thiệnmình Tâm hồn của nhà giáo phải được bồi đắp để có khả năng truyền lại gấpbội cho thế hệ trẻ
2.1.3 Nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội.
Trang 9-Sức lao động chính là toàn bộ sức mạnh vật chất hay tinh thần ở trongcon người, nhân cách sinh động của cá nhân cần thiết để sản xuất ra sản phẩmvật chất hay tinh thần có ích cho xã hội.
-Chức năng của giáo dục, mà thầy giáo là lực lượng chủ yếu, chính là bồidưỡng và phát huy sức mạnh đó ở trong con người
Giáo dục sự tạo ra sức mạnh đó không phải ở dạng giản đơn,cũng khôngphải " một vốn bốn lãi" mà có lúc tạo ra những hiểu quả không lường.Có lẽ đây
là lý do mà người ta cho rằng đầu tư cho giáo dục là loại đầu tư có lãi nhất
2.1.4 Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao.
-Ai có ở trong nghề nhà giáo, ai có làm việc với đầy đủ tinh thần tráchnhiệm, với lương tâm nghề nghiệp cao thượng thì mới cảm thấy lao động sưphạm là một loại lao động căng thẳng, tinh tế, không rập khuôn, không đóngkhung trong một giờ giảng, trong khuôn khổ nhà trường
-Dạy học đòi hỏi người thầy phải dựa trên nền tảng khoa học xác định,khoa học bộ môn cũng như khoa học giáo dục và có những kĩ năng sử dụngchúng vào từng tình huống sư phạm cụ thể, thích ứng với từng cá nhân sinhđộng
-Tính khoa học, tính sáng tạo cao đến mức khi thể hiện nó, người giáoviên như thể là một người thợ cả lành nghề, một nghệ sĩ của quá trình sư phạm
2.1.5 Nghề lao động trí óc chuyên nghiệp
Lao động trí óc có hai đặc điểm nổi bật:
-Phải có thời kỳ chuyển động, nghĩa là thời kì để cho lao động đi vào nềnếp, tạo ra hiệu quả
-Có quán tính của trí tuệ Sự lao động của người thầy vượt ra khỏi khônggian (lớp, trường), thời gian (8h làm việc mỗi ngày), đó là sự sáng tạo, là chấtlượng và khối lượng công việc
Trang 10Những đặc điểm lao động của giáo viên,chúng ta thấy đặt ra nhiều đòi hỏitrong phẩm chất và năng lực của người giáo viên,càng minh chứng tính kháchquan trọng yêu cầu đối với nhân cách với giáo dục.
3 Cấu trúc nhân cách của người thầy giáo.
Nói đến nhân cách là nói đến tổng thể những phẩm chất và năng lực tạonên bản sắc – nét đặc trưng và giá trị tinh thần – giá trị làm người của mỗingười Nhân cách của người thầy bao gồm:
-Các phẩm chất (đức): thế giới quan khoa học, lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ,lòng yêu nghề, mến trẻ, những phẩm chất đạo đức phù hợp với hoạt động củangười thầy giáo
-Các năng lực sư phạm (tài): năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạyhọc và giáo dục, tri thức và tầm hiểu biết, năng lực chế biến tài liệu học tập,năng lực dạy học, năng lực ngôn ngữ, năng lực vạch dự án phát triển nhân cáchhọc sinh, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hóa học sinh, năng lực đối
xử khéo léo sư phạm, năng lực tổ chức hoạt động sư phạm…
3.1 Phẩm chất người thầy
3.1.1 Thế giới quan khoa học
-Thế giới quan: Hệ thống quan điểm của con người trước những quy luật
tự nhiên, về xã hội, nó vừa là sự hiểu biết, quan điểm, vừa là sự thể nghiệm, làtình cảm sâu sắc
- Thế giới quan duy vật biện chứng của người thầy giáo Việt Nam đượchình thành do ảnh hưởng của trình độ học vấn, của quá trình nghiên cứu nộidung giảng dạy, nghiên cứu triết học và nói chung là toàn bộ thực tế đất nước(kinh tế, khoa học, văn hóa, nghệ thuật,…)
- Thế giới quan người thầy chi phối mọi mặt hoạt động cũng như thái độđối với các hoạt động như việc lựa chọn phương pháp giảng dạy và giáo dục,việc kết hợp giữa giáo dục và nhiệm vụ chính trị xã hội, gắn nội dung giảng dạy
Trang 11với thực tiễn cuộc sống, phương pháp đánh giá và xử lý mọi biểu hiện tâm lýcủa học sinh.
-Các phẩm chất: thế gới quan khoa học, lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ,lòngyêu trẻ,lòng yêu nghề,nhuexng phẩm chất ddaojj đức phù hợp với hoạt động củangười giao viên
-Các năng lực sư phạm : Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học
và giáo dục,tri thức và tầm hiểu biết, năng lực chế biến tài liệu học tập,năng lựcdạy học,năng lực ngôn ngữ, năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh,năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực " cảm hóa" học sinh, năng lực đối xử kheoléo sư phạm, năng lực tổ chức hoạt động sư phạm v.v
3.1.2 Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ
-Lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ là ngôi sao dẫn đường giúp cho người thầyluôn đi lên phía trước, thấy hết giá trị lao động của mình đối với thế hệ trẻ, đồngthời cũng ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách học sinh
-Biểu hiện của lý tưởng đó là niềm say mê nghề nghiệp, lòng yêu trẻ,lương tâm nghề nghiệp, tận tụy hy sinh vì công việc, tác phong làm việc cần cù,trách nhiệm cao, lối sống giản dị và thân tình… Những điều đó giúp người thầythêm sức mạnh vượt qua mọi khó khăn về vật chất và tinh thần, hoàn thánhnhiệm vụ Hơn nữa nó sẽ để lại những ấn tượng đậm nét trong tâm trí học sinh,
nó có tác dụng hướng dẫn, điều khiển quá trình hình thành và phát triển tâm lícủa trẻ
Vì tác dụng to lớn của lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ trong nhân cách ngườithầy giáo, cho nên mọi việc làm trong trường sư phạm phải nhằm xây dựng lýtưởng nghề nghiệp cho giáo sinh Nếu trường sư phạm không giáo dục lý tưởngnghề nghiệp cho giáo sinh thì cũng như A.X.Macarencô đánh giá là" không giáodục gì hết"
3.1.3 Lòng yêu trẻ
Trang 12Lòng yêu người,trước hết là yêu trẻ là một trong những phẩm chất đạođức cao quý của con người,là một phẩm chất đặc trưng trong nhân cách ngườinha giáo, vì lòng thương người đó là đạolý của cuộc sống.
-“Đối với nhà giáo dục, điều chủ yếu là tình người, đó là một nhu cầu sâusắc trong con người Những mầm mống của hứng thú sư phạm là ở chỗ hoạtđộng sáng tạo đầy tình người để tạo ra hạnh phúc cho con người Vì khi tạo raniềm vui cho người khác, cho trẻ thơ thì ở chỗ họ sẽ có một tài sản vô giá: đó làtình người, mà tập trung là sự nhiệt tâm, thái độ ân cần và chu đáo, lòng vị tha”(Xukhomlinski)
-Lòng yêu trẻ được thể hiện:
+ Cảm thấy sung sướng và niềm vui khi được tiếp xúc với trẻ, khi đi sâuvào thế giới độc đáo của trẻ Nếu tình cảm này được nảy nở sớm được baonhiêu, càng được thỏa mãn sớm chừng nào qua hoạt động phù hợp thì ở người
đó càng sớm chiếm được nhiều tình yêu và nguyện vọng hoạt động sư phạm bấynhiêu
+ Thái độ quan tâm đầy thiện ý, ân cần đối với trẻ, kể cả những em họckém và vô kỷ luật
+ Luôn thể hiện tinh thần giúp trẻ bằng ý kiến hoặc bằng hành động thực
tế của mình một cách chân thành và giản dị, không có sự phân biệt đối xử vớimọi đối tượng học sinh
+ Tuy nhiên lòng yêu trẻ của người thầy không thể pha trộn với những nét
ủy mị, mềm yếu và thiếu đề ra yêu cầu cao và nghiêm khắc đối với trẻ
3.1.4 Lòng yêu nghề (yêu lao động sư phạm)
Lòng yêu trẻ và yêu nghề gắn bó chặt chẽ với nhau,lồng vào nhau.Càngyêu người bao nhiêu,càng yêu nghề bấy nhiêu,có yêu người mới có cơ sở để yêunghề Không có lòng thương người, yêu trẻ thì khó mà tạo ra cho mình nhữngđộng lực mạnh mẽ để suốt đời phấn đấu vì lý tưởng cách mạng,vì lý tưởng nghềnghiệp
Trang 13-Có lòng yêu người, yêu trẻ mới có lòng yêu nghề Người thầy phải luônnghĩ đến việc cống hiến cho sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ Trong công tác họ luônlàm việc với tinh thần trách nhiệm cao, luôn cải tiến nội dung và phương pháp,không tự thỏa mãn với trình độ hiểu biết và tay nghề của mình Họ thường cóniềm vui khi giao tiếp với học sinh, sự giao tiếp này sẽ làm phong phú cuộc đờingười thầy, càng làm cho người thầy có nhiều cảm xúc tốt đẹp và say mê hơn.
-“Để đạt được thành tích trong công tác, người thầy giáo phải có mộtphẩm chất – đó là tính yêu Người thầy giáo có tình yêu trong công việc là đủcho họ trở thành người giáo viên tốt” (L.N Tonxtoi)
3.1.5 Một số phẩm chất đạo đức và ý chí của người thầy và ý chí của người thầy
Khác với các hoạt động khác,hoạt động của người thầy giáo nhằm làmthay đổi con người( học sinh) Do vậy,mối quan hệ thầy trò nổi lên như một vấn
đề quan trọng nhất
- Gồm: Tinh thần nghĩa vụ, tinh thần vì mọi người, nhân đạo, lòng tôntrọng, thái độ công bằng, chính trực, tính tình ngay thẳng, giản dị và khiêm tốn,tính mục đích, tính nguyên tắc, tính kiên nhẫn, tính kiềm chế, tự chiến thắngnhững thói hư tật xấu, kỹ năng điều khiển tình cảm tâm trạng cho thích hợp vớitình huống sư phạm…
- Những phẩm chất đạo đức là nhân tố tạo ra sự cân bằng theo quanđiểmm sư phạm trong các mối quan hệ cụ thể giữa thầy và trò
- Những phẩm chất ý chí là sức mạnh để làm cho phẩm chất và năng lựccủa người thầy thành hiện thực và tác động sâu sắc đến học sinh
3.2 Năng lực của người thầy giáo
Hoạt động của người giáo viên biểu hiện ở tất cả các hình thức khác nhaucủa công tác sư phạm nhưng tựu lại ở hai dạng đặc trưng: công tác dạy học vàcông tác giáo dục
Trang 14A Nhóm năng lực dạy học
1 Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục
Như ta đã biết dạy học là một quá trình thuận nghịch,thống nhất của hailoại hoạt động dạy và học do hai thực thể ( giáo viên và trò) đảm nhiệm.-Đó là năng lực thâm nhập vào thế giới bên trong của trẻ, sự hiểu biết tường tận
về nhân cách của chúng, cũng như năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm
lí của học sinh
- Chuẩn bị bài giảng phải biết đến trình độ của học sinh, hình dung đượctừng em, cái gì chúng biết, biết đến đâu, cái gì có thể quên hoặc khó hiểu khisoạn bài, phải biết đặt mình vào vị trí người học Đặc biệt suy nghĩ về đặc điểmcủa nội dung, xác định khối lượng, mức độ khó khăn và hình thức trình bày saocho thuận lợi nhất đối với học sinh
- Người thầy hiểu học sinh trong vấn đề giảng dạy của mình, căn cứ vàomột loạt dấu hiệu do quan sát có thể xây dựng những biểu tượng chính xác vềnhững lời giải của mình đã được các học sinh khác nhau lĩnh hội như thế nào
Người thầy có năng lực hiểu học sinh còn biểu hiện ở chỗ dự đoán đượcthuận lợi và khó khăn, xác định đúng đắn mức độ căng thẳng cần thiết khi thựchiện các nhiệm vụ nhận thức
- Năng lực này là kết quả của một quá trình lao động đầy trách nhiệm,thương yêu và sâu sát học sinh, nắm vững môn mình dạy, am hiểu đầy đủ về tâm
lí trẻ, tâm lí học sư phạm, óc tưởng tượng, khả năng phân tích, tổng hợp…
2.Tri thức và tầm hiểu biết của người thầy
Đây là năng lực cơ bản của năng lực sư phạm, một trong những năng lựctrụ cột của nghề dạy học:
-Thầy có nhiệm vụ phát triển nhân cách học sinh nhờ phương tiện đặc biệt
là tri thức, quan điểm…
Trang 15-Công việc của thầy giáo vừa dạy học, vừa giáo dục, vừa dạy một mônhọc, vừa bồi dưỡng cho thế hệ trẻ một nhãn quan rộng, có hứng thú và thiênhướng thích hợp.
-Khoa học công nghệ phát triển nhanh, hơn nữa yêu cầu của xã hội đốivới giáo dục ngày càng cao, hứng thú và nguyện vọng của giới trẻ ngày càngphát triển
-Tri thức và tầm hiểu biết có tác dụng mạnh mẽ, tạo ra uy tín của người thầy
- Người thầy có tri thức và tầm hiểu biết rộng thể hiện:
-Nắm vững và hiểu biết rộng môn mình giảng dạy
-Thường xuyên theo dõi, nắm bắt những xu hướng, những phát minhtrong khoa học thuộc môn mình phụ trách
-Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri thức củamình
-Điều kiện để có năng lực này là hai yếu tố cơ bản trong chính người thầy:nhu cầu về sự mở rộng tri thức và tầm hiểu biết, là nguồn gốc của tính tích cực
và động lực của việc tự học cũng những kỹ năng, phương pháp để làm thảo mãnnhu cầu đó
3.Năng lực chế biến tài liệu học tập
Đó là năng lực gia công về mặt sư phạm của người thầy giáo đối với tàiliệu nhằm làm cho nó phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân học sinh,trình độ kinh nghiệm của các em và đảm bảo logic sư phạm
-Thầy phải biết đánh giá đúng đắn tài liệu, xác lập được mối quan hệ giữayêu cầu kiến thức của chương trình với trình độ học sinh
- Phải chế biến, gia công tài liệu, làm cho nó vừa đảm bảo logic khoa học,vừa phù hợp logic sư phạm, thích hợp với trình độ nhận thức của trẻ
- Điều kiện để có năng lực trên là:
Trang 16+Người thầy có khả năng phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức,…suy nghĩ cách trình bày, dẫn dắt quá trình tiếp thu của trẻ
+Phải có óc sáng tạo, truyền đạt kiến thức cho người khác hiểu
+Người thầy phải trình bày tài liệu theo suy nghĩ và lập luận của mình,cung cấp cho học sinh những kiến thức chính xác, liên hệ giữa kiến thức cũ vàmới, giữa bộ môn này với bộ môn khác, vận dụng vào thực tiễn
+ Tìm ra phương pháp mới, hiệu nghiệm để làm cho bài giảng đầy sức lôicuốn và giàu cảm xúc tích cực
+ Nhạy cảm với cái mới và giàu cảm hứng sáng tạo
4.Nắm vững kỹ thuật dạy học
Kết quả lĩnh hội tri thức,chiếm lĩnh đối tượng học tập phụ thuộc vào bayếu tố:một là trình độ nhận thức của học sinh(do đó thầy giáo phải hiểu họcsinh),hai là nội dung bài giảng( do đó thầy phải biết cách chế biến tài liệu) ba làcách dạy của thầy
-Là nắm vững cách tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của trò quabài giảng, thể hiện ở chỗ:
+Nắm vững kỹ thuật dạy học mới, tạo cho học sinh ở vị trí người phátminh trong quá trình dạy học
+Truyền đạt tài liệu chính xác, rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừasức với học sinh
+Gây hứng thú và kích thích học sinh suy nghĩ tích cực và độc lập
+Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập như động viên, khêu gợi sựchú ý, chuyển hóa trạng thái làm việc sang trạng thái nghỉ, giảm căng thẳng giâylát
-Đây là kết quả của một quá trình học tập nghiêm túc, cả lý luận cơ bản và
lý luận nghiệp vụ và rèn luyện tay nghề công phu
Trang 175.Năng lực ngôn ngữ
Có thể nói không có năng lực dạy học,cũng không có năng lực ngônngữ.Trong dạy học, cũng như giáo dục,ngôn ngữ của giáo viên thường hướngvào giải quyết một nhiệm vụ nhất định nào đó, như: truyền thụ kiến thức mớikiểm tra kiến thức cũ,thuyết phục học sinh tin vào một chân lý một lý phải nàođó,hoặc có khi qua lời nói biểu thị một sự đồng tình hay phản đối điều gì
- Là năng lực biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ, tình cảm của mình bằng lờinói cũng như nét mặt, điệu bộ Nó cũng là công cụ để người thầy thực hiện chứcnăng vì ngôn ngữ thúc đẩy sự chú ý và suy nghĩ của học sinh vào bài giảng,truyền đạt thông tin, điều khiển và điều chỉnh hoạt động và nhận thức của họcsinh
-Biểu hiện của năng lực ngôn ngữ:
*Về nội dung:
+Ngôn ngữ phải chứa đựng mật độ thong tin lớn, diễn tả, trình bày cảmxúc, cô đọng, đó là kết quả của sự uyên thâm về hiểu biết, của sự suy nghĩ sâusắc
+Lời nói phải phản ánh sự kế tục và tính luận chứng để đảm bảo thông tinliên tục, logic
+Nội dung và hình thức ngôn ngữ phải thích hợp với các nhiệm vụ nhậnthức khác nhau: thông báo tài liệu mới, bình luận câu trả lời câu hỏi của họcsinh, biểu lộ sự đồng tình hoặc không đồng tình…
+Nhận thức của người thầy là hậu thuẫn vững chắc và duy nhất cho lờinói của mình Sức mạnh, sự lôi cuốn, lực hấp dẫn, tính điều chỉnh lời nói củathầy giáo tùy thuộc vào nhân cách, uy tín của chính họ
*Về hình thức:
Trang 18+Hình thức ngôn ngữ của người thầy có năng lực thường cô đọng, giản dị,sinh động, biểu cảm, cách phát âm mạch lạc, không có sai phạm về mặt tu từ,ngữ pháp, ngữ âm.
+Phải thúc đẩy tối đa sự chú ý và suy nghĩ của học sinh vào bài giảng, cầntránh những câu dài, cấu trúc phức tạp, những thuật ngữ, cách trình bày khóhiểu Sự khôi hài đúng chỗ, pha trò nhẹ nhàng, dí dỏm, có thiện ý sẽ giúp họcsinh tích cực suy nghĩ, học tập sôi nổi và tiếp thu tốt
+Nhịp điệu ngôn ngữ cũng rất quan trọng: nếu đều đều, đơn điệu sẽ gây
sự mệt mỏi, nhàm chán, uể oải; nhịp điệu quá gấp cũng sẽ gặp khó khăn choviệc lĩnh hội, chóng gây mệt mỏi, ức chế; ngôn ngữ quá to, quá mạnh, quá yếu,quá thé cũng gây ảnh hưởng tương tự Vì thế nhịp độ trung bình là tối ưu
B.Nhóm năng lực giáo dục
1.Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh
Hình thành nhân cách là mục đích của giáo dục.Nó là tổ hợp của nhữngphẩm chất và năng lực theo một cấu trúc nhất định
- Là năng lực biết dựa vào mục đích giáo dục, yêu cầu đào tạo, hình dungtrước cần phải giáo dục cho học sinh những phẩm chất nhân cách nào và hướnghoạt động của mình để đạt tới hình mẫu trọn vẹn của con người mới
- Biểu hiện của năng lực này là:
+Vừa có kỹ năng tiên đoán sự phát triển của những thuộc tính ở từng họcsinh, vừa nắm được nguyên nhân sinh ra cũng như mức độ phát triển của nhữngthuộc tính đó
+Có sự sáng rõ về những biểu tượng nhân cách của học sinh sẽ thu đượctrong tương lai dưới sự ảnh hưởng của những dự án phát triển nhân cách domình xây dựng
Trang 19+Hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục nhằm hình thànhnhân cách theo dự án.
-Năng lực này được tạo ra bởi các yếu tố tâm lí: óc tưởng tượng sư phạm,tính lạc quan sư phạm, niềm tin vào sức mạnh giáo dục, niềm tin vào con người
và óc quan sát sư phạm
2.Năng lực giao tiếp sư phạm:
Giao tiếp là một thành phần cơ bản của hoạt động sư phạm Những hìnhthức chủ yếu của công tác giáo dục và học tập
-Là năng lực nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và bêntrong của học sinh và của chính bản thân người thầy Đồng thời biết sử dụng hợp
lí phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách điều khiển và điều chỉnh quátrình giao tiếp nhằm đạt mục đich giáo dục
- Biểu hiện của năng lực giao tiếp:
+Kỹ năng định hướng giao tiếp: dựa vào sự biểu lộ bên ngoài như sắc tháibiểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ, tác động, thời điểm vàkhông gian giao tiếp mà phán đoán chính xác về nhân cách cũng như mối quan
hệ giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp
+Năng lực định vị: là sự đồng cảm giữa chủ thể và đối tượng, là khả năngbiết xác định vị trí trong giao tiếp, đặt mình vào vị trí của đối tượng, tạo điềukiện để đối tượng chủ động, thoải mái giao tiếp với mình
+Kỹ năng điều khiển: biết thu hút đối tượng, tìm ra đề tài giao tiếp, xácđịnh được hứng thú, nguyện vọng của đối tượng giao tiếp
3.Năng lực "cảm hóa" của học sinh:
Muốn hiểu được đối tượng giáo dục của mình,muốn cho các tác động sưphạm của mình,muốn cho các tác động sư phạm của mình có ý nghĩa đến sự
Trang 20hình thành nhân cách của trẻ,trong hệ thống các năng lực sư phạm không thểvắng mặt năng lực "cảm hóa" học sinh
- Là năng lực gây ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh về mặt ý chí và tìnhcảm Nói cách khác đó là khả năng làm cho học sinh nghe, tin và làm theo mìnhbằng tình cảm, niểm tin
-Năng lực trên tùy thuộc vào một tổ hợp các phẩm chất nhân cách ngườithầy như tình thần trách nhiệm, niềm tin chính nghĩa, truyền đạt niềm tin đó, tôntrọng học sinh, sự khéo léo, chu đáo, lòng vị tha và các phẩm chất của ý chí.Học sinh sẽ không tán thành sự nhu nhược, sự khoan dung vô nguyên tắc, sự cảtin một cách ngây thơ, sự uể oải, thiếu kiên quyết của người thầy
- Năng lực này đòi hỏi người thầy phải phấn đấu tu dưỡng để có một nếpsống văn hóa cao, một phong cách mẫu mực, tạo được uy tín cho học sinh
- Phải xây dựng quan hệ thầy trò tốt đẹp vừa nghiêm túc vừa thân mật, cóthái độ yêu thương và tin tưởng học sinh,biết đối xử công bằng và dân chủ
- Có tư thế tác phong mô phạm, gương mẫu: ăn nói nhã nhặn, lịch sự, cửchỉ đẹp, giọng điệu đàng hoàng
4.Năng lực khéo léo đối xử sư phạm
-Là kỹ năng mà trong bất kỳ tình huống nào cũng tìm ra tác động sư phạmđúng đắn nhất như là một nghệ thuật
Trang 21+Phải quan tâm chu đáo đến trẻ
- Cơ sở hình thành năng lực này là lương tâm nghề nghiệp, niềm tin yêu
và tôn trọng trẻ, tinh thông nghề nghiệp
C.Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm:
+Biết vận động, tổ chức nhân dân và phụ huynh học sinh và các tổ chức
xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục theo mục tiêu xác định
- Để có kỹ năng trên, người thầy phải:
+Biết vạch kế hoạch: đảm bảo tính nguyên tắc và tính linh hoạt, kiểm tra
kế hoạch để đánh giá hiệu quả và biết bổ sung kế hoạch
+Biết sử dụng đúng đắn các hình thức và phương pháp dạy học và giáodục khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức tốt việc học tập và có tác dụng sâu sắc đến
tư tưởng và tình cảm của học sinh
+Biết định ra mức độ và giới hạn của từng biện pháp.+Có nghị lực và dũng cảm tin vào sự đúng đắn của kế hoạch và biện pháp giáodục
3.2.1 Sự hình thành uy tín của người thầy giáo
-Người thầy giáo có uy tín thường có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến tưtưởng, tình cảm của các em, được các em yêu mến và kính trọng Sức mạnh tinhthần và khả năng cảm hóa của người thầy có uy tín thường được nâng lên gấpbội
Trang 22-Thực chất của uy tín, cô đọng lại đó là tấm lòng và tài năng của ngườithầy Vì có tấm lòng người thầy mới yêu thương học sinh, tận tụy với công việc
và đạo đức trong sáng Bằng tài năng người thầy đạt được kết quả cao trong dạyhọc và giáo dục Do đó đối với nhiều học sinh, người thầy có uy tín đã trở thànhmột hình tượng lý tưởng để noi theo
-Uy tín thực, uy tín chân chính được toát lên từ toàn bộ cuộc sống ngườithầy, nó là kết quả của sự hoàn thiện nhân cách, là hiệu quả lao động đầy kiên rì
và sáng tạo, là do sự kiến tạo quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò
-Điều kiện để hình thành uy tín thầy giáo:
+ Thương yêu học sinh và tận tụy với nghề
+ Công bằng trong đối xử, không thiên vị, không thành kiến, không cảmtính
+ Phải có chí tiến thủ: có nguyện vọng tự phát triển, có nhu cầu về sự mởrộng tri thức, hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp
+ Có phương pháp và kỹ năng tác động trong dạy học và giáo dục hợp lý,hiệu quả và sáng tạo
+ Mô phạm, gương mẫu về mọi mặt, mọi lúc, mọi nơi
Tóm lại, nhân cách là bộ mặt chính trị, đạo đức của người thầy giáo, làcông cụ chủ yếu để tạo ra sản phẩm giáo dục Sự hình thành và phát triển nhâncách là cả một quá trình tu dưỡng, bồi dưỡng văn hóa và rèn luyện tay nghềtrong chính thực tiễn sư phạm
Trang 23CHƯƠNG 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ NHÂN CÁCH NHÀ GIÁO
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
về nền phát triển và quy mô giáo dục có xu hướng tăng nhanh, quan trọng nhất
là ở các bậc đại học và đào tạo nghề bước đầu đang chỉ đáp ứng nhu cầu của xãhội; Công bằng xã hội trong giáo dục về cơ bản được đảm bảo; Các điều kiệnđảm bảo phát triển giáo dục được cải thiện; Công tác xã hội hoá giáo dục đãđem lại kết quả bước đầu Cũng trong giai đoạn hiện nay, nhân cách, phẩm chấtngười nhà giáo ngày càng được xã hội quan tâm và mỗi nhà giáo đã làm được vàchưa được những gì đóng góp vào trong các thành tựu đó? bên cạnh những ưuđiểm thì còn xảy ra những khuyết điểm đáng báo động
1.1 Những ưu điểm
a Về năng lực.
-Hiện nay "Nhà giáo Việt Nam" được đào tạo bài bản, sâu rộng, hầu nhưđều được đào tạo một cách bài bản, chính quy, có hệ thống Số lượng giáo viênmới ra trường không ngừng tăng lên mỗi năm, chất lượng đào tạo chuyên mônkhá tốt.thực tế, trong 133 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục trên cả nước, có 14 trường đại học sư phạm và 39 trường cao đẳng sưphạm Ở các trường đại học sư phạm hiện có 4.490 giảng viên; trong đó: 5,2%
có chức danh giáo sư, phó giáo sư; 13,7% có trình độ tiến sĩ, tiến sĩ khoa học và48,7% có trình độ thạc sĩ Ở các trường cao đẳng sư phạm hiện có 3.543 giảngviên; trong đó: 0,07% có chức danh giáo sư, phó giáo sư; 0,93% có trình độ tiến
sĩ và 36,89% có trình độ thạc sĩ Các trường đại học có truyền thống trong công
Trang 24tác đào tạo ngành sư phạm là Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Vinh, Đại học
sư phạm Huế, Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh,
-Đội ngũ các giáo viên đã liên tục lập nhiều thành tích, khẳng định vị trí,diện mạo của giáo dục trong sự nghiệp phát triển Nhiều giáo viên đã tham giatốt công tác bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh tham dự các giải học sinh giỏi trong
và ngoài nước.Giáo viên thông thạo các kỹ năng, phương pháp giảng dạy ứngdụng khoa học – công nghệ, nhất là những bài giảng ứng dụng công nghệ thôngtin, khai thác kiến thức từ mạng internet và các phương tiện truyền thông khác
-Không ngừng học tập, tìm tòi, nghiên cứu sâu, nâng cao trình độ học vẫncủa bản thân Giáo viên đam mê tìm hiểu tri thức khoa học, tìm tòi sáng tạonhững phương pháp giảng dạy mới hiệu quả, thiết kế những dụng cụ, mô hìnhphục vụ công tác giảng dạy và học tập
-Luôn kịp thời thích ứng với xu thế phát triển của xã hội, biết được xã hộicần gì từ mình, từ học rò, để từ đó hướng bản thân và học sinh hoàn thiện bảnthân để đáp ứng được nhu cầu đó một cách tốt nhất
-Phương pháp dạy học đang chuyển từ kiểu dạy tập trung, từ cách dạythông báo đồng loạt, học tập thụ động sang kiểu dạy hoạt động, phân hoá, họctập tích cực Giáo viên hiện nay không còn đóng vai trò là người truyền đạt kiếnthức mà là người gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn cho các hoạt động tìm tòi,tranh luận của học sinh
-Hầu hết các giáo viên đều có khả năng sử dụng ngôn ngữ phong phú, súctích, cô đọng, truyền đạt đầy đủ tri thức cho học sinh, đồng thời cũng thể hiệnkhả năng giao tiếp, ứng xử trong và ngoài nhà trường mô phạm, khéo léo, tạođược hình tượng người nhà giáo mẫu mực
-Giáo viên, đặc biệt là những người có thâm niên trong nghề, có kinhnghiệm công tác lâu năm có khả năng phân tích tâm lý học sinh tốt, năm bắt rõ