1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ địa phương trong thơ ca dân gian quảng bình

64 1,4K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ địa phương trong thơ ca dân gian Quảng Bình
Tác giả Hoàng Thị Song Hương
Người hướng dẫn TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 314,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó chúng tôi tiến hành thử nghiệm nghiên cứu đề tài này và hy vọng cung cấp một số t liệu từ vựng làm đầy hơn về tiếng nói vùng này vàcách sử dụng từ địa phơng trong văn học dân gian

Trang 1

Trờng đại học vinh

khoa ngữ văn

***************

từ địa phơng trong thơ ca dân

gian quảng bình

khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: Ngôn ngữ GV hớng dẫn: TS.Hoàng Trọng Canh SV thực hiện : Hoàng Thị Song Hơng Lớp : 42E4- Ngữ văn Vinh –5/2006 Mục lục Mở đầu

Trang 1 Lý do chọn đề tài 1

2 ý nghĩa và mục đích của đề tài 2

2.1 ý nghĩa của đề tài 2

2.2 Mục đích của đề tài 2

3 Lịch sử nghiên cứu 3

Trang 2

4 Đối tợng nghiên cứu 5

5 Phơng pháp nghiên cứu 5

5.1 Phơng pháp thống kê, phân loại 6

5.2 Phơng pháp mô tả, so sánh 6

6 Cấu trúc của khóa luận 6

Chơng 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài 1 Phơng ngữ là một trong những biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ 7

2 Khái niệm phơng ngữ, từ địa phơng 7

2.1 Phơng ngữ 7

2.2 Phơng ngữ Bắc Trung Bộ và tiếng địa phơng Quảng Bình 11

2.2.1 Một số vấn đề về phân vùng phơng ngữ 11

2.2.2 Phơng ngữ Bắc Trung Bộ 13

2.2.3 Phơng ngữ Bình Trị Thiên và tiếng địa phơng Quảng Bình 14

2.3 Từ địa phơng 15

ơng Quảng Bình 18 3.1 Cơ sở văn hoá xã hội và thơ ca dân gian Quảng Bình 18

3.2 Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình 20

Chơng 2 đặc điểm từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng bình 1 Độ phong phú của từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình 22

2 Sự phân bố của từ địa phơng trong các tác phẩm thơ ca dân gian Quảng Bình

23 2.1 Sự phân bố của từ địa phơng xét về cấu tạo 24

2.2 Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình xét về từ loại 28

3 Các lớp từ vựng địa phơng xét trong quan hệ với từ toàn dân 35

4 Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình xét theo trờng nghĩa 42

Chơng 3 Vai trò của từ địa phơng trong thơ ca dân gian quảng bình 1 Vài nét về hình thức nội dung thơ ca dân gian Quảng Bình 45

2 Vai trò của từ địa phơng trong các sáng tác thơ ca dân gian Quảng Bình 49

Trang 3

2.1 Vai trò của từ địa phơng trong nghệ thuật thơ ca dân gian Quảng

Bình 49

2.2 Vai trò thể hiện nội dung của từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng

Bình 54

2 2.1 Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình với vai trò phản ánh

hiện thực 54

2.2.2 Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình với vai trò biểu hiện

nội dung ngữ nghĩa tinh tế phù hợp với đối tợng hoàn

Trang 4

C¸i nÎn (1): c¸i nia VQB: 241

C¸i trÐc (1): C¸i nåi CD: 426

Trang 5

Ca kh¾p(1): Cha ®Çy, cha kÝn.CD: 410

ha mi(1):H« ng÷ cña vî gäi chång.VQB: 2733,2745,2753

Trang 6

ChuyÕn m« chø chuyÕn ni (1): LÇn nµo chø lÇn nµy CD: 449.

§µy bõa (1): Dµy vß, hµnh h¹ CD: 398

Trang 7

Giáp (1): Sâu lúa CD: 430

Giằn (1): Giữ lại VQB: 245

Giàu mọc (1): Mới giàu phất lên CD: 430

Giả đò (6): Giả vờ CD: 398,371; HQB: 455,469,476,480

Trang 8

Lang tho¹ (1): Lang ch¹ CD: 422.

Lanh (1): Nhanh, giái giang CD: 401

Trang 9

MËu (1): MÉu, Hecta VQB: 251.

Nãi ch»ng ch¼ng(1):Nãi sang s¶ng.VQB: 230

Nãi tÇm tæ tÇm tiªn(1):Nãi linh tinh.VQB: 273

Trang 10

Ngãng (1): Tránh CD: 357.

Ngó (14): Nhìn CD: 430, 409, 389, 377, 372, 376, 368, 350, 404(4), 380(2).Ngó (8): Nhìn HQB: 4562; VQB: 221, 236, 2392, 241, 257

Quén gội (1): Vun gốc CD: 382

Quyển (1): sáo, tiêu CD: 412

O (14): Cô CD: 454, 4513, 4414, 432, 431; HQB: 461, 4822

Răng (17): Sao, gì vậy CD: 385, 383, 374, 371, 301; HQB: 4583, 463, 473, 467,468, 4762, 478; VQB: 244, 250

Răng đành (1): Sao đành CD: 368

Răng chừ (8): Bao giờ CD: 384, 3803, 372; HQB: 459, 476; VQB: 222.Răng rứa (1): Sao vậy HQB: 476

Rây (5): Rơi CD: 410; VQB: 218, 224, 2492

Rày (8): Này CD: 396, 392, 367, 364; HQB: 417; VQB: 231, 233, 274.Rày thế này (1): Nay thế này HQB: 470

Trang 11

Rục rụ (2): Mệt mỏi VQB: 217, 220.

Sọi sàng (1): Nổi trội, đẹp mắt VQB: 273

Sầu đất (1): Quả xoan VQB: 238

Tan hao (1): Tan hoang VQB: 240

Tau (14): Tao, tôi VQB: 2268, 2273, 240, 249, 250

Trang 12

Thay lay (2): CD: 432; VQB: 248.

Thêi (1): Th× CD: 385

ThiÖt (11) ThËt CD: 431, 426, 407, 375, 369, 368; HQB; 4823; VQB: 216, 249

ThiÖt lanh (2): ThËt nhanh CD: 450, 447

Trang 13

ở đâu trong Nam hay ngoài Bắc Còn ở mặt biểu hiện, ngôn ngữ rất đa dạng, khithì nó là ngôn ngữ văn học trau chuốt và tề nhị, khi thì nó là tiếng địa phơng

đạm đà màu sắc quê hơng của từng vùng Khi giao tiếp ai cũng nhận ra tiếngcủa vùng nào đó, tiếng Bắc nhẹ nhàng, tình tứ; tiếng Huế da diết êm đềm; còntiếng Nam nồng thắm thiết tha Tiếng Việt có từ xa xa, là ngôn ngữ đa dạng nh-

ng đa dạng trong sự thống nhất, tính thống nhất ấy còn đợc duy trì chặt chẽ hơntrong ngôn ngữ văn học mà các nhà văn tôn trọng một cách có ý thức dù họ làngời địa phơng nào, nói phơng ngữ nào Và chúng ta cũng thấy đợc rằng: tiếng

địa phơng không hề cản trở sự giao tiếp Dù nói tiếng địa phơng nào, giọng Huế,giọng Nghệ hay giọng Quảng đi đến đâu cũng có thể giao tiếp bằng phơng ngữcủa mình

Nh vậy phơng ngữ là một trong những biểu hiện của tính đa dạng trongngôn ngữ Khi nghiên cứu tiếng Việt có thể nghiên cứu tính đa dạng về mặt biểuhiện trên phơng ngữ

Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Châu5  Phơng ngữ Bắc Trung

Bộ đợc chia làm ba phơng ngữ nhỏ: Phơng ngữ Thanh Hoá, phơng ngữ NghệTĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên Đây là vùng phơng ngữ còn bảo lu nhiều yếu

tố cổ của tiếng Việt Đặc biệt phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị

Trang 14

Thiên đợc xem là vùng cổ nhất Phơng ngữ Bình Trị Thiên có thể chia làm batiểu vùng: Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và Quảng Bình Trong đó tiếng địa ph-

ơng Quảng Bình theo phân loại của Võ Xuân Trang24  thì đó là một tiểu vùng

điển hình nhất cho phơng ngữ Bình Trị Thiên Từ trớc đến nay phơng ngữ nghệTĩnh đã đợc nghiên cứu nhiều, với những công trình lớn và có giá trị, còn phơngngữ Bình Trị Thiên so với phơng ngữ Nghệ tĩnh thì cha đợc nghiên cứu nhiều

Tìm hiểu Từ địa ph“Từ địa ph ơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình’’ là vấn đề

mà từ trớc đến nay cha có ai tiến hành Nghiên cứu từ địa phơng trong thơ cadân gian Quảng Bình chính là tìm hiểu, nghiên cứu cách sử dụng từ địa phơngcủa ngời dân Hay nói cách khác là tìm hiểu sự hành chức của từ địa phơngtrong lĩnh vực nghệ thuật – văn học dân gian Đây là một đề tài còn khá mới vàchắc chắn sẽ đem lại những kết quả lí thú Mặt khác nghiên cứu phơng ngữ làmột trong những cách nghiên cứu tiếng Việt nhằm thu thập vốn từ cho tiếngViệt Bởi vì từ địa phơng là nơi lu giữ những dấu ấn văn hoá địa phơng biểu hiện

ở ngời nói, ở sự giao tiếp Nếu chúng ta muốn góp phần vào việc làm rõ bản sắcvăn hoá địa phơng thì việc thu thập vốn từ địa phơng và nghiên cú nó ngày càngcấp bách và có ý nghĩa hơn bao giờ hết Thực hiện đề tài này chúng tôi cũngkhông nằm ngoài lí do đó

Ngoài ra tìm hiểu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình phầnnào giúp chúng ta hiểu thêm nét độc đáo của những con ngời ở một miền quêTrung Bộ Qua tìm hiểu từ địa phơng trong sử dụng để thấy đợc vai trò của từ

địa phơng trong sử dụng của từng vùng Đặc biệt trong thơ ca dân gian, từ địaphơng đã làm cho bộ phận thơ ca dân gian mang một sắc thái riêng, diện mạoriêng khi đọc lên một câu ca dao hay nghe một câu hò cất lên ai cũng có thểnhận ra tiếng một miền quê riêng Quảng Bình- mộc mạc, chân chất mà sâu đậm

tình ngời Đó là lý do mà chúng tôi chọn đề tài “Từ địa phTừ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình”

2 ý nghĩa và mục đích của đề tài

Đề tài này đợc thực hiện sẽ đem lại nhiều ý nghĩa thiết thực cũng nh đạt

đợc một số mục đích nhất định

2.1 ý nghĩa của đề tài.

Phơng ngữ Quảng Bình thuộc vùng phơng ngữ Bình Trị Thiên nên khinghiên cứu phơng ngữ Quảng Bình thì sẽ góp phần làm cho phơng ngữ Bình TrịThiên hiện lên rõ nét và bao quát hơn Nh vậy tìm hiểu từ địa phơng trong thơ cadân gian Quảng Bình có ý nghĩa nhất định về lí luận vào công tác thu thập t liệu

có thể góp thêm tiếng nói vào công việc nghiên cứu từ địa phơng Bình Trị Thiênnói riêng và phơng ngữ nói chung

Qua tìm hiểu, nghiên cứu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bìnhchúng ta sẽ thấy đợc sự phong phú, đa dạng về mặt từ vựng của từ địa phơngQuảng Bình nói riêng và phơng ngữ nói chung, thấy đợc vai trò, tác dụng của từ

địa phơng trong hành chức Tạo điều kiện để hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn

hoá, thơ ca dân gian của con ngời Quảng Bình Nh vậy tìm hiểu “Từ địa ph Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình” còn có ý nghĩa về mặt tìm hiểu sự hành

chức của từ trong sáng tác dân gian và có ý nghĩa về mặt văn hoá

2.2 Mục đích của đề tài

Trang 15

Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm mục đích: Góp phần thu thập vốn từ

địa phơng Quảng Bình Chúng ta biết rằng: Từ địa phơng là biểu hiện nét vănhoá riêng của mỗi vùng mà với xu thế chung hiện nay của công cuộc hiện đạihoá đất nớc, việc giao lu tiếp xúc giữa các vùng miền và giữa các tầng lớp xã hộingày càng đợc mở rộng thờng xuyên Do việc sử dụng từ địa phơng bị thu hẹp

và khả năng quên lãng là điều không thể tránh khỏi Chúng tôi thực hiện đề tàinày với mục đích thu thập, giữ gìn vốn từ địa phơng Quảng Bình, cũng nh gópphần vào việc cung cấp nguồn t liệu cho những ai quan tâm đến từ địa phơngQuảng Bình

Qua đề tài chúng tôi nhằm nghiên cứu tìm hiểu từ địa phơng trong sửdụng, một dạng sử dụng đặc biệt là trong sáng tác thơ ca dân gian

Trên cơ sở vốn từ thu thập đợc trong thơ ca dân gian Quảng Bình, bớc đầutìm hiểu đặc điểm từ địa phơng Quảng Bình, từ đó để thấy đợc sự khác nhautrong ngôn ngữ của mỗi địa phơng đặc biệt là trong cách sử dụng

3 Lịch sử nghiên cứu.

Từ lâu, giới nghiên cứu văn hoá dân gian đã bỏ công su tầm, nghiên cứuvăn học dân gian theo từng vùng nhằm bảo tồn nét văn hoá của mỗi địa phơng.Nhng họ chỉ su tầm, tìm hiểu, bảo tồn những tác phẩm, văn bản văn học dângian mà cha có ai đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ đợc sử dụng trong văn học dângian đó ở đây chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu về phơngngữ Tiếng việt, một số công trình nghiên cứu về tiếng địa phơng Quảng Bìnhnói chung nghiên cứu từ địa phơng trong sáng tác thơ ca dân gian nói riêng

Năm 1961, Nguyễn Tri Mê và Nguyễn Phan Cảnh đã tiến hành điều trakhảo sát tình hình phát âm phân biệt D/Gi ở Quảng Bình, Vĩnh Linh và nam HàTĩnh

Từ năm 1979-1983, Trờng Cao đẳng S phạm Huế chủ trì đề tài cấp Bộ

“Từ địa phTiếng địa phơng Bình Trị Thiên” do phó giáo s Võ Xuân Trang làm chủ

nhiệm đề tài Với đề tài này, lần đầu tiên các thổ ngữ ở vùng Bình Trị Thiên đợc

điều tra khảo sát một cách tỉ mỉ theo phơng pháp ngôn ngữ học điền dã và ngônngữ học địa lý

Hoàng Thị Châu trong cuốn sách “Từ địa phTiếng việt trên mọi miền đất nớc ,”cũng đã dành nhiều trang công bố những t liệu về các thổ ngữ ở vùng Bình TrịThiên. 5

Bên cạnh những công trình điều tra nghiên cứu ngữ âm đã dẫn ở trên, một

số vấn đề văn hoá ngôn ngữ ở vùng Quảng Bình, Quảng trị, Thừa Thiên Huếcũng đợc nhiểu ngời quan tâm chú ý Chẳng hạn nh vấn đề Bình Trị Thiên vớigiọng nói trên sân khấu, trên đài phát thanh, truyền hình địa phơng Vấn đềtiếng địa phơng Bình Trị Thiên với việc su tầm, nghiên cứu văn học dân gian địaphơng Cuốn sách “Từ địa phPhơng ngữ Bình Trị Thiên” của Võ Xuân Trang. 18 cũngmô tả khá rõ ràng về ngữ âm phơng ngữ Bình Trị Thiên nói chung, hay cuốn

“Từ địa phPhơng ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Thị Châu Cũng nói khá rõ về vấn đề

phơng ngữ tiếng Việt

Văn học dân gian là văn học của nhân dân, đó là loại hình văn học gầngũi với ngời bình dân, phản ánh đợc phần nào cuộc sống, tâm t, tình cảm củamỗi ngời Nó là một loại hình văn học dân gian mang tính tổng hợp, vừa có ý

Trang 16

nghĩa vùng miền, ý nghĩa địa phơng rất rõ rệt Từ những su tầm về dân ca các

vùng miền, “Từ địa phTuyển tập văn học dân gian” (Tập 4, quyển 2) do Đặng Văn Lung

và Sông Thao biên soạn đã giới thiệu khá đầy đủ về các loại hình của văn họcdân gian Một số nhà nghiên cứu văn học dân gian đã có những chuyên luận vềdân ca từng vùng miền nh:

Lê Hàm –“Từ địa phÂm nhạc dân ca xứ Nghệ ” ; Ninh Viết Giao – “Từ địa phHát phờng vải Nghệ Tĩnh”  7; Trần Việt Ngữ - “Từ địa phDân ca nam Trung Bộ , ” “Từ địa phHò sông Mã”. 8; Trần Hoàng Tiên, Tôn Thất Bình – “Từ địa phDân ca Bình Trị Thiên”  3; Trần Hoàng với những bài viết về “Từ địa phdân ca một vùng quê Trung Bộ , ” hay “Từ địa phTìm

về văn hoá - Văn học dân gian một miền quê Trung Bộ” . 12

Gần đây một số luận văn các thạc sỹ khoá luận cũng ít nhiều đề cập đếnnhững vấn đề liên quan đến văn học dân gian Quảng Bình, phơng ngữ Quảng

Bình nh luận văn thạc sỹ của Đinh Thị Lan “Từ địa phKhảo sát ngữ nghĩa lời thoại trong hò khoan Lệ Thuỷ” (Luận văn thạc sỹ Ngữ văn Vinh 2001); luận văn thạc sỹ của Đặng Xuân Lộc “Từ địa phThổ âm Quảng Trạch” (Luận văn thạc sỹ khoa

học ngữ văn Vinh 2004); và gần đây nhất là khoá luận tốt nghiệp của Phan Thị

Tố Huyền Đặc điểm từ địa ph“Từ địa ph ơng Quảng Bình” (Khoá luận tốt nghiệp khoa

học ngữ văn Vinh 2005)

Nh vậy, điểm qua những công trình có liên quan đến từ địa phơng QuảngBình, thơ ca dân gian Quảng Bình ta thấy vấn đề này cha đợc nhiều nhà nghiêncứu quan tâm, xem nó nh một đối tợng nghiên cứu độc lập Tuy nhiên nhữngcông trình trên rất cần thiết để chúng tôi tham khảo, phục vụ cho đề tài này

Tìm hiểu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình còn là vấn đềmới mẻ cha đợc nhiều ngời quan tâm Từ trớc tới nay cũng đã có một số côngtrình nghiên cứu tiếng địa phơng, tiếng nói Quảng Bình hay nghiên cứu về vănhọc dân gian Nhng các công trình nghiên cứu ấy chỉ nghiên cứu chung về ph-

ơng ngữ Bình Trị Thiên hay văn học dân gian Bình Trị Thiên Còn nghiên cứu,tìm hiểu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình thì cha có

Tìm hiểu Từ địa ph“Từ địa ph ơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình” là một đề

tài khá thú vị nhng còn rất ít công trình đề cập đến nó nh đã thấy Chúng ta thấycác tác giả chỉ mới nghiên cứu chung về phơng ngữ Bình Trị Thiên hoặc mộtbình diện cụ thể nh: ngữ âm, thu thập vốn từ Từ địa phơng trong sử dung cha đ-

ợc nghiên cứu Do đó chúng tôi tiến hành thử nghiệm nghiên cứu đề tài này và

hy vọng cung cấp một số t liệu từ vựng làm đầy hơn về tiếng nói vùng này vàcách sử dụng từ địa phơng trong văn học dân gian Quảng Bình Bằng cách khảosát từ địa phơng trong các tác phẩm văn học dân gian Quảng Bình, trên cơ sở đểthấy đợc vai trò từ địa phơng trong văn học

4 Đối tợng nghiên cứu

Tiếng địa phơng Quảng Bình là một bộ phận hữu cơ của phơng ngữ BìnhTrị Thiên Cũng nh văn học dân gian Quảng Bình là một bộ phận của văn họcdân gian dân tộc Phơng ngữ Bình Trị Thiên thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung

Bộ cùng với phơng ngữ Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh Nghiên cứu tiếng địa phơngtrong thơ ca dân gian Quảng Bình nghĩa là nghiên cứu tiếng địa phơng trong sửdụng, chúng ta có thể mô tả nó trên tất cả các phơng diện Nhng nh ý mục đích

và ý nghĩa đề tài đã nêu trên, chúng tôi chủ yếu thu thập vốn từ, khảo sát một số

đặc điểm về ngữ âm, ngữ nghĩa của tiếng địa phơng trong thơ ca dân gian

Quảng Bình so với toàn dân Để đi vào tìm hiểu Từ địa ph“Từ địa ph ơng trong thơ ca

Trang 17

dân gian Quảng Bình” chúng tôi khảo sát những từ ngữ thoả mãn hai điều

kiện:

+ Là những từ có sự khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân

+ Đợc ngời địa phơng Quảng Bình quen dùng- dùng một cách tự nhiên.Những từ thoả mãn hai điều kiện nh vậy là từ địa phơng Quảng Bình đồngthời cũng có thể đó là từ địa phơng Bình Trị Thiên Đó là những từ trong sángtác dân gian:

sự khác biệt với ngôn ngữ toàn dân về ngữ âm, ngữ nghĩa hoặc tất cả

5 Phơng pháp nghiên cứu.

Để tiếp cận và triển khai đề tài, quá trình nghiên cứu, tìm hiểu từ địa

ph-ơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình, chúng tôi vận dụng một số phph-ơng phápsau:

5.1 Phơng pháp thống kê, phân loại

Để có vốn từ làm t liệu, trớc tiên chúng tôi tiến hành phơng pháp khảo sát

thống kê Chúng tôi chủ yếu dựa vào văn bản “Từ địa phVăn học dân gian Quảng Bình ,” do NXB Văn hoá, Sở KHCN& MT Quảng Bình ấn hành để khảo sát,thống kê Từ chỗ lập ra một bảng từ, qua khảo sát, đối chiếu, thu thập đợc các từthuộc vốn từ địa phơng Quảng Bình thoả mãn các điều kiện theo khái niệm từ

địa phơng đã xác định Trên cơ sở đó tập hợp toàn bộ các từ ngữ địa phơng đợc

sử dụng trong văn học dân gian Quảng Bình Tiếp theo chúng tôi tiến hành phânloại từ:

Nh chúng ta đã biết, nghiên cứu một phơng ngữ qua vốn từ không phảinghiên cứu các từ rời rạc mà bao giờ chúng cũng đợc đặt trong mối quan hệ nhất

định Do đó, nghiên cứu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình cũngvậy Toàn bộ vốn từ địa phơng trong thơ ca dân gian sau khi thu thập sẽ đợcphân loại theo âm, nghiã, nghiên cứu theo những hệ thống, những giá trị nhất

định Đó là những lớp từ thuộc từ loại gì, thuộc trờng nghĩa từ vựng nào và đợc

sử dụng nh thế nào

5.2 Phơng pháp mô tả, so sánh

Mục đích của đề tài này là thu thập toàn bộ vốn từ địa phơng trong thơ cadân gian Quảng Bình Trên cơ sở đó mô tả, so sánh và đối chiều với ngôn ngữtoàn dân để thấy đợc sự phong phú đa dạng cũng nh vai trò của từ địa phơngQuảng Bình trong việc biểu đạt nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác dângian

Trang 18

6 Cấu trúc của khóa luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa khoá luận đợc trình bày trong 3 chơng:

Chơng I : Một số giới thuyết liên quan đến đề tài.

Chơng II : Đặc điểm từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình.

Chơng III : Vai trò của từ địa phơng trong thơ ca dân gian

Chơng 1

Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

1 Phơng ngữ là một trong những biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ.

Tiếng việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất trong sự đa dạng, là ngôn ngữchung cho 54 dân tộc anh em sống trên mọi miền của Tổ quốc Là ngôn ngữthống nhất cho toàn xã hội nhng về mặt biểu hiện ngôn ngữ dân tộc lại rất đadạng

Tính đa dạng của ngôn ngữ thể hiện trên nhiều mặt, trong đó phơng ngữ

là một trong những biểu hiện của sự đa dạng đó

Xét theo bình diện khu vực dân c, tiếng Việt có nhiều phơng ngữ khácnhau, quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc và phơng ngữ là sự phản ảnh quyluật phân tán và thống nhất của ngôn ngữ Quy luật chung đó của ngôn ngữ gắnliền lịch sử phát triển của xã hội mà phơng ngữ là một hiện tợng không thể táchrời của quá trình hình thành và thống nhất của ngôn ngữ dân tộc.Phơng ngữ ra

đời gắn liền với điều kiện lịch sử của từng quốc gia Trong từng thời kỳ lịch sử,tuỳ theo chế độ xã hội của từng quốc gia trong lòng ngôn ngữ dân tộc thốngnhất xảy ra hiện tợng các phơng ngữ đợc hình thành và củng cố dần do tìnhtrạng phân tán cách biệt của các khu vực địa lý dân c ở các quốc gia phong kiến

Phơng ngữ của mỗi vùng đợc hình thành khi đã có ngôn ngữ quốc gia và

bị cách biệt về điều kiện địa lý giao tiếp giữa các vùng Điều này có vẻ nh đi

ng-ợc lại với quy luật thống nhất ngôn ngữ dân tộc, nhng hiện tợng hình thành

ph-ơng ngữ cũng chỉ xuất hiện một thời gian sau đó các phph-ơng ngữ lại mất đi nétriêng biệt để đi đến sự thống nhất khi hàng rào địa lý và giao tiếp xã hội bị xoá

bỏ Tiếng Việt cũng không nằm ngoài quy luật đó Mặc dù mỗi phơng ngữmang một đặc điểm riêng của mỗi vùng miền nhng lại không khác nhau về cáchcấu tạo từ, vị trí của các đơn vị cấu tạo từ, các kiểu láy âm, hay nói cách khác đó

là không khác nhau về cốt lõi của hệ thống từ vựng Sự khác nhau ở các phơngngữ chỉ thu gọn lại ở các từ, ở những biểu hiện bên ngoài của từ vựng học.Chính vì vậy phơng ngữ là biểu hiện của sự đa dạng trong ngôn ngữ không phá

vỡ sự thống nhất của tiếng Việt

Trang 19

2 Khái niệm phơng ngữ, từ địa phơng.

2.1 Phơng ngữ

Theo Hoàng Thị Châu: Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ

sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khácbiệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phơng ngữ khác 5, tr24

Nh vậy, khi nghiên cứu một ngôn ngữ ta phải có một phơng pháp nghiêncứu riêng, không giống nh nghiên cứu một ngôn ngữ Chúng ta có thể thấy điểm

đối lập đầu tiên của phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân Khi nghiên cứu ngôn ngữtoàn dân nh một tồn tại khách quan, cụ thể là nh một vật mà không cần đối lậpvới đối tợng khác Trái lại khi nghiên cứu một phơng ngữ thì ta phải đặt nó trong

sự đối lập với một ngôn ngữ khác, phải xem nó là một biến thể của ngôn ngữtoàn dân trên cơ sở đó để tiến hành nghiên cứu một phơng ngữ Sở dĩ nh vậy vìtrên một đất nớc thì có nhiều phơng ngữ và ngôn ngữ toàn dân

Ngôn ngữ là một hiện tợng mang tính xã hội và cũng nh mọi hiện tợng xãhội khác nó đều không ngừng biến đổi, bên cạnh những mặt bất biến có cảnhững mặt khả biến

Mặt bất biến của ngôn ngữ chính là cái chung cho mọi ngời trong một xãhội, không ai có thể vi phạm nó đợc, khi nó bị vi phạm thì mọi sự giải thích sẽkhông đợc tiến hành một cách thuận lợi hoặc bị chặn lại và ngời nghe sẽ khônghiểu nhau

Mặt khả biến của ngôn ngữ tức là trong phạm vi của cái bất biến đó vẫn

có sự xê dịch khá lớn cho từng yếu tố, từng cấu trúc, cho nên mới có thể nảysinh tình trạng tiếng Việt nói khác nhau ở từng vùng, từng nhóm ngời tuỳ theohọc vấn, phong tục, tập quán, giáo dục và ngay cả ở từng ngời

Sự biến đổi của ngôn ngữ có nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân bêntrong và nguyên nhân bên ngoài

Sự biến đổi bên trong của một ngôn ngữ đợc thể hiện trên từng phơngngữ, về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Sự biến đổi của ngôn ngữ không đồng

đều trên từng bình diện ngôn ngữ cũng nh trên khắp các vùng dân c Vì thế màtạo ra đặc điểm riêng của từng phơng ngữ làm nên tính đa dạng của ngôn ngữtrong thể hiện Trong một đất nớc các c dân cùng nói một thứ ngôn ngữ nhng

địa bàn sinh sống lại trải rộng trên khắp lãnh thổ Giữa các vùng dân c có sựcách biệt về mặt địa lý, điều kiện giao thông và thông tin liên lạc khó khăn nên

sự giao lu giữa các vùng không đợc thờng xuyên Sự giao tiếp ngôn ngữ bị khépkín, thờng thì mỗi vùng có cách nói, dùng từ khác nhau dần dần tạo nên nhữngnét riêng biệt khi có sự thay đổi nào đó về ngôn ngữ thì cũng chỉ lan truyềntrong một vùng dân c thuộc một vùng địa lý nhất định Sự thay đổi đó lúc đầuchỉ mới là những yếu tố rời rạc về mặt từ vựng, nghĩa là có sự mất đi của các từ

cũ và xuất hiện các từ mới Có thể số từ vựng thay đổi nhiều nhng không ảnh

Trang 20

h-ởng đáng kể vì chỉ là thay đổi yếu tố rời rạc Theo thời gian, dần dần có nhữngthay đổi lớn hơn, sự thay đổi đó diễn ra ở bộ phận ngữ pháp, các h từ, các âm vị,nghĩa là trong cách dùng từ, nói năng đã mang nét riêng của một vùng nào đó

thì lúc đó sắc thái địa phơng xuất hiện Ví dụ: Những phơng ngữ từ Nghệ Tĩnh

đến phơng ngữ Bình Trị Thiên dùng từ “Từ địa phmần” thay cho từ làm ,“Từ địa ph ” dùng các từ

chỉ trỏ: mô, tê, răng, rứa thay cho các từ: đâu, kia, sao, thế Phụ âm quặt lỡi

tr, r, s mất đi trong cách phát âm của c dân Bắc Bộ Đó là những dấu hiệu khác

nhau về ngôn ngữ giữa các vùng dân c, lúc này đã có dấu hiệu phơng ngữ trongtiếng Việt Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy đợc rằng, dù cho ngôn ngữ thay

đổi nhiều đến đâu đi chăng nữa thì giữa những nhóm ngời trong một vùng dân

c cũng không nảy sinh đợc những phơng ngữ mà chỉ có một ngôn ngữ duy nhất

mà thôi Điều này là do trong qúa trình sống họ qua lại giao tiếp với nhau và dotính thống nhất của cộng đồng

Bên cạnh những yếu tố bên trong, ở đây lại xuất hiện những yếu tố bênngoài hết sức quan trọng tạo nên sự ra đời của các phơng ngữ đó là yếu tố địa lý,kinh tế, lịch sử, xã hội

Yếu tố địa lý: Đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng tạo nên

sự hình thành phơng ngữ Ngôn ngữ là thống nhất chung cho cả cộng đồng Ban

đầu tất cả mọi ngời chỉ có một ngôn ngữ duy nhất, dần dần dân số phát triển bắtbuộc phải mở rộng lãnh thổ để sinh sống, dân c đợc phân bổ rộng khắp, địa bàn

c trú cách xa nhau, nhiều khi không còn tiếp xúc với nhau nữa Do sự khác xanhau về địa lý nên ngôn ngữ có sự thay đổi là không thể tránh khỏi Những ngờisống trong một vùng thờng xuyên giao tiếp với nhau nên họ có chung một ngônngữ Giữa các vùng dân c do giao thông đi lại khó khăn, sự giao tiếp ngôn ngữkhép kín đã dần tạo nên những nét riêng của từng vùng Mặt khác ngày xa lãnhthổ đợc chia thành từng vùng để cai trị về sau không có điều kiện để thống nhấtlại nh ban đầu Kết quả của sự phân bố dân c theo địa lý và những sự tác độnglẫn nhau trong tiếng nói của từng vùng đợc củng cố qua nhiều thế hệ và hìnhthành nên những phơng ngữ khác nhau

Yếu tố lịch sử: Tính lịch sử mới là bản chất bên trong của ngôn ngữ, còn

tính địa lý chỉ là hiện tợng bên ngoài Lịch sử phát triển của ngôn ngữ ánh xạ lên sự phân bố địa lý Phơng ngữ là một hiện tợng lịch sử nghĩa là nó sinh ra do quy luật phát triển của lịch sử dân tộc do đó cũng sẽ mất đi trong điều kiện lịch

sử mới

Bên cạnh những nhân tố bên ngoài nh địa lý, lịch sử dân tộc ấy thì sự hìnhthành một phơng ngữ còn chịu ảnh hởng của nhân tố khác nữa, đó là tác độngcủa những nhân tố xã hội nh: chính trị, kinh tế trong đó có các yếu tố nh trờnghọc, tôn giáo, văn học, khoa học đóng một vai trò không nhỏ

Nh vậy sự ra đời của một phơng ngữ trong lòng ngôn ngữ toàn dân là kếtquả của hai tác động Tác động từ cấu trúc của ngôn ngữ (tác động bên trong),

và tác động của những yếu tố bên ngoài nh địa lý, lịch sử và không ở đâu nhàngôn ngữ phải tiếp cận cùng một lúc với nhiều hiện tợng nh phơng ngữ học Cácnhà phơng ngữ học phải có cách tiếp cận liên nghành bên cạnh cách nhìn cấutrúc của một phơng ngữ phải thông thạo, am hiểu địa lý, lịch sử, phong tục tậpquán, tất cả mọi mặt của văn hoá

Trong tiếng Việt có ba vùng phơng ngữ: Phơng ngữ Bắc, phơng ngữTrung, phơng ngữ Nam

Trang 21

Chính nét khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng tạo nên các vùng phơngngữ khác nhau ở mỗi vùng địa lý khác nhau, ngôn ngữ có những biểu hiệnkhác nhau Điều này không chỉ có nguyên nhân về địa lý mà còn có nguyênnhân chủ yếu là do sự phát triển của ngôn ngữ Nếu không có sự tách biệt vềmặt địa lý thì không có phơng ngữ Tuy nhiên điều kiện địa lý chỉ là những yếu

tố bên ngoài ngôn ngữ, là nơi, mà ngôn ngữ thể hiện sự khác nhau của ngônngữ giữa các vùng

Mặc dù ngôn ngữ có sự khác nhau giữa các vùng nhng không khác biệthẳn so với ngôn ngữ toàn dân mà ở đây sự khác biệt là không đáng kể Ngônngữ toàn dân là ngôn ngữ thống nhất trong cả nớc, các phơng ngữ dù khác nhauthế nào đi nữa cũng phải giống về hệ thống cấu trúc với ngôn ngữ toàn dân.Nghĩa là các phơng ngữ phải có chung một ngôn ngữ, đó là ngôn ngữ toàn dân.Xã hội hiện nay, xu hớng thống nhất ngôn ngữ, xoá dần sự khác biệt giữa cácphơng ngữ trong toàn dân ở mỗi quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng làmột tất yếu của sự phát triển ngôn ngữ xã hội

Phơng ngữ là một trong những biểu hiện về tính đa dạng của ngôn ngữdân tộc, mỗi phơng ngữ là một hệ thống, có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ toàndân, phơng ngữ là kết quả của sự biến đổi, phát triển ngôn ngữ toàn dân theokhông gian và thời gian

Từ tất cả những điều đã trình bày ở trên, có thể rút ra một vài đặc điểmcủa ngôn ngữ nh sau:

Phơng ngữ là một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình biến

đổi và phát triển của quy luật ngôn ngữ Ngôn ngữ toàn dân mang tính lịch sử,văn hoá, là ngôn ngữ chung của toàn dân tộc, là phơng tiện ngôn ngữ đợc dùngphổ biến rộng rãi hàng ngày trong toàn quốc, không bị hạn chế về phạm vị sửdụng và đợc coi là ngôn ngữ chuẩn của quốc gia Còn phơng ngữ là tiếng nói

đặc trng của một vùng miền nhất định đợc ngời dân ở đó sử dụng và mang đặc

điểm riêng, khác biệt so với ngôn ngữ của một vùng khác

Ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội không ngừng biến đổi, sự biến đổi diễn

ra trên cả hai mặt cấu trúc và chức năng Sự phát triển, chức năng nhiều mặt củangôn ngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi phơng diệnngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp Phơng ngữ là nơi thể hiện rõ nhất sự biến đổi

đó Điều đó còn cho chúng ta thấy phơng ngữ là một yếu tố của ngôn ngữ toàndân, là một biện pháp hữu cơ của ngôn ngữ toàn dân, chỉ khác ngôn ngữ toàndân ở một vài điểm nào đó, còn nhìn chung vẫn nằm trong hệ thống cấu trúcngôn ngữ toàn dân

Phơng ngữ là ngôn ngữ riêng của một vùng dân c sinh sống trên một địabàn nhất định Nghĩa là phơng ngữ bị quy định bởi phạm vi sử dụng Phơng ngữgiữa các vùng có sự khác nhau, điều này cũng dễ hiểu bởi vì trên một đất nớc cónhiều dân tộc sinh sống, nhiều ngôn ngữ khác nhau Trong quá trình sinh sốngkhông tránh khỏi việc tiếp xúc, giao lu giữa các ngôn ngữ Phơng ngữ vùng nàytiếp xúc với phơng ngữ vùng kia, kết quả là đem đến sự khác nhau giữa các ph-

ơng ngữ hay giữa phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân

Phơng ngữ không phải là một hiện tợng bất biến mà nó mang tính lịch sử.Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, ngôn ngữ của cộng đồng ngày càng đ-

ợc chuẩn hoá, phạm vi và hình thức sử dụng phơng ngữ ngày càng bị thu hẹp và

Trang 22

dần dần sẽ mất đi chỉ còn lại một ngôn ngữ dân tộc thống nhất và chuẩn hoácao.

Từ những điều đã trình bày ở trên và từ định nghĩa phơng ngữ của HoàngThị Châu chúng ta có thể thấy rằng: phơng ngữ là một hiện tợng rất phức tạp củangôn ngữ, không những về hình thức cấu trúc cấu tạo cũng nh phơng diện thểhiện, mà bản thân nó cũng đã bao hàm nhiều mối quan hệ trong và ngoài ngônngữ Với định nghĩa của Hoàng Thị Châu về phơng ngữ cho phép chúng ta trảlời câu hỏi phơng ngữ là gì, làm cơ sở cho mọi nghiên cứu về phơng ngữ

Ngoài ra, quan niệm của nhóm tác giả: Đái Xuân Ninh, Nguyễn QuốcDân, Nguyễn Quang, Vơng Toàn về phơng ngữ cũng đa đến cho chúng ta những

cơ sở để nghiên cứu, khảo sát phơng ngữ: “Từ địa phPhơng ngữ là một hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt đợc sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác đợc coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc) Các phơng ngữ (có ngời gọi là tiếng địa phơng, phơng ngữ) khác nhau trớc hết là cách phát âm sau đó là ở uốn từ vựng” (Đái Xuân

Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vơng Toàn, 1986, Ngôn ngữ học,

khuynh hớng lĩnh vực, khái niệm, Tập 2, NXB KH Hà Nội).

2.2 Phơng ngữ Bắc Trung Bộ và tiếng địa phơng Quảng Bình

2.2.1 Một số vấn đề về phân vùng phơng ngữ.

Phơng ngữ học là một bộ phận của ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiêncứu các biến thể địa phơng của ngôn ngữ Vấn đề phân vùng phơng ngữ là mộtvấn đề mà từ trớc đến nay đã có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiêncứu nhằm trả lời cho câu hỏi tiếng Việt có bao nhiêu vùng phơng ngữ

Theo ý kiến của các tác giả nớc ngoài, thì tiếng Việt có hai vùng phơng

ngữ H.Masperô (1912) nhà ngôn ngữ Pháp với công trình Nghiên cứu ngữ âm“Từ địa ph

lịch sử tiếng Việt ” Tác giả chia tiếng Việt thành hai vùng phơng ngữ: Phơngngữ Bắc và phơng ngữ Nam

Hai nhà Việt ngữ học của Liên Xô: M.Gordina và I.Sbustrov (1970) chủyếu dựa vào hệ thống âm cuối cũng chia tiếng Việt thành hai vùng phơng ngữ

nh H Haspera, nhng đến năm 1984 trong cuốn sách Cơ cấu ngữ âm tiếng“Từ địa ph

Việt” hai tác giả có sự điều chỉnh bổ sung thêm Ngoài hai phơng ngữ đã bổ

sung thêm một vùng phơng ngữ nữa, đó là vùng phơng ngữ Huế Vùng phơngngữ này có tính chất nh một vùng đệm

Ngoài ra còn có L.Cadiere với các công trình Ngữ âm tiềng Việt“Từ địa ph ” (1902)

(Phơng ngữ miền thợng Trung kỳ); “Từ địa phNgữ âm tiếng Việt” (1911 – Phơng ngữ miền hạ Trung kỳ) Hay M.B.E Meneau – 1951 với công trình “Từ địa phNghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt”.

Tuy nhiên, chúng ta phải thấy đợc rằng các công trình nghiên cứu củacác tác giả nớc ngoài mang tính chất của một công trình ngôn ngữ hơn là mộtcông trình nghiên cứu phơng ngữ học ở các công trình này đặc trng của phơngngữ cha đợc thể hiện Các tác giả nớc ngoài phần lớn nghiên cứu ở mặt biểuhiện, chủ yếu là phơng diện ngầm, nên ít nhiều mang tính chất phơng ngữ màthôi Các tác giả chỉ đi vào miêu tả ngữ âm của một vùng nhất định, mà không

Trang 23

đặt nó trong sự đối lập, so sánh với ngôn ngữ toàn diện hay với vùng ph ơng ngữkhác Không thoả mãn điều kiện của phơng pháp nghiên cứu phơng ngữ.

Đến với các công trình nghiên cứu, những đặc trng, kết quả, hệ thống củaphơng ngữ tiếng Việt đợc các nhà Việt ngữ học chủ ý miêu tả các đặc trng củaphơng ngữ, đặt nó trong quan hệ đối lập, so sánh với ngôn ngữ toàn dân hayvùng phơng ngữ khác Các công trình này mang tính chất của một công trìnhphong ngữ

Hoàng Phê (1963), trong khi phát biểu ý kiến về vấn đề thống nhất vàchuẩn hoá tiếng Việt cũng chỉ công nhận có hai phơng ngữ chủ yếu là tiếngMiền Bắc nơi có thủ đô Hà Nội, và tiếng Miền Nam nơi có Thành phố Hồ ChíMinh Còn ở Trung Bộ là một chuỗi phơng ngữ chuyển tiếp

Phan Kế Bính chia tiếng Việt ra ba vùng phơng ngữ ứng với Bắc Bộ,Trung Bộ và Nam Bộ Nhng ông cũng có ý nhấn mạnh tính chất trung gian củaphơng ngữ Trung Bộ

Giáo s Nguyễn Kim Thản chia tiếng Việt thành bốn vùng phơng ngữ:

Ph-ơng ngữ Bắc (Bắc Bộ và một phần Thanh Hoá), PhPh-ơng ngữ Trung bắc (Phía namThanh hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên), phơng ngữ Trung nam (từ Quảng namtới Phú Khánh) và phơng ngữ Nam (từ Thuận Hải trở vào)

Ông Nguyễn Bạt Tuỵ lúc đầu chia tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữnhng về sau chia thành năm phơng ngữ: Phơng ngữ Miền Bắc (Bắc Bộ và ThanhHoá), phơng ngữ Trung trên (Từ Nghệ An đến Quảng Trị), phơng ngữ Trunggiữa (từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Ngãi), phơng ngữ Trung dới ( từ Bình Định

đến Bình Tuy) và phơng ngữ Nam (từ Bình Tuy trở vào) (Nguyễn Bá Tuy –Chữ

và vần Việt, Khoa học Sài Gòn, 1950)

Quả thật để đi đến sự thống nhất về phân vùng phơng ngữ trong tiếngViệt là rất khó Bởi đờng ranh giới giữa các vùng phơng ngữ không phải là đờngranh giới tự nhiên mà đó là phạm vi biến đổi của biến thể ngôn ngữ Trong khi

đó, sự biến đổi của ngôn ngữ lại không xảy ra ở một hiện tợng nhất định vàphạm vi biến đổi lại khác nhau Vì vậy sự phân vùng phơng ngữ ở đây chỉ mangtính chất ớc định tơng đối Mặt khác, các nhà nghiên cứu dựa vào những dấuhiệu khác nhau để làm cơ sở cho việc phân vùng phơng ngữ Mỗi tác giả nhấnmạnh một đặc điểm nào đó và dẫn đến một cách phân vùng phơng ngữ Điềunày làm cho chúng ta không ngạc nhiên khi thấy sự phân vùng phơng ngữ khácnhau của các nhà nghiên cứu Ngời thì chia thành hai vùng phơng ngữ, có ngờilại chia thành ba, hay bốn, năm vùng phơng ngữ Thậm chí có ý kiến còn rằng:không thể phân vùng phơng ngữ, bởi vì chúng ta khảo sát từ Bắc vào Nam thì sẽthấy trạng thái chuyển tiếp từ vùng này sang vùng kia

Từ những ý kiến khác nhau về việc phân vùng phơng ngữ, chúng tôi thấyhiện nay phần lớn ý kiến của các nhà nghiên cứu đều thống nhất chia tiếng Việtthành ba vùng phơng ngữ lớn: Phơng ngữ Bắc (Bắc Bộ), phơng ngữ Trung (BắcTrung Bộ) và phơng ngữ Nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ)

Mặc dù thống nhất chia tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ lớn nhngtrong cách phân chia của các tác giả, đờng ranh giới phơng ngữ có địa bàn phân

bố từ Thanh Hoá đến Thuận Hải thờng không trùng nhau, nhất là tiếng ThanhHoá và tiếng Huế đợc định vị trong bảng phân loại của các nhà nghiên cứukhông ổn định Do mang tính chất chuyển tiếp, quan hệ tiếp xúc và ảnh hởng

Trang 24

qua lại đã làm cho phơng ngữ này không ổn định nh phơng ngữ Bắc và Nam.Vấn đề mà chúng tôi trình bày ở đề tài này có liên quan đến vùng phơng ngữBắc Trung Bộ.

2.2.2 Phơng ngữ Bắc Trung Bộ

Hoàng Thị Châu trong công trình “Từ địa phPhơng ngữ học tiếng Việt” sau khi

nêu ý kiến của mình về việc chia tách tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ, tácgiả đã nêu nhận xét khái quát về mỗi phơng ngữ đồng thời chia tách phơng ngữlớn thành phơng ngữ nhỏ căn cứ trên các đặc điểm ngữ âm Đối với phơng ngữBắc Trung Bộ, tác giả chia thành ba phơng ngữ nhỏ, trên cơ sở khác nhau vềthanh điệu

- Phơng ngữ Thanh Hoá lẫn lộn giữa thanh hỏi và thanh ngã (phát âmkhông phân biệt), nhng các thanh ngữ khác lại giống thanh ngữ bắc

- Phơng ngữ Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã và thanh nặng, cả nămthanh tạo thành một hệ thống thanh ngữ khác với thanh ngữ bắc, có độ trầm lớnhơn

- Phơng ngữ Bình Trị Thiên không phân biệt thanh hỏi với thanh ngã

nh-ng về mặt điệu tính các thanh lại giốnh-ng với thanh điệu Nghệ Tĩnh

Đứng trớc một vùng phơng ngữ có địa bàn phân bố rộng nh phơng ngữBắc Trung Bộ, Võ Xuân Trang cũng có những băn khoăn Trong một vùng ph-

ơng ngữ nhng những biến thể của ngôn ngữ có phạm vi trên địa bàn phân bố nhtỉnh, thành phố thì gọi là gì? Và những biến thể có địa bàn phân bố hẹp hơn nhxã, thôn thì gọi là gì? Ông đã dùng phơng ngữ (tiếng địa phơng) để chỉ nhữngbiến thể có phạm vi phổ biến rộng trên địa bàn một tỉnh hay nhiều tỉnh và dùngkhái niệm thổ ngữ để chỉ những biến thể trên phạm vi phổ biến hẹp nh xã, thôn

Ông cũng nói rằng có ba vùng phơng ngữ lớn đó là: Vùng phơng ngữ Bắc, vùngphơng ngữ Trung và vùng phơng ngữ Nam Mỗi vùng nh vậy bao gồm nhiều ph-

ơng ngữ khác nhau Với quan niệm đó ông cho rằng: “Từ địa phVề mặt địa lý phơng ngữ

là biến thể địa phơng có địa bàn phân bố trên một phạm vi rộng gồm một hoặc nhiều tỉnh” 24

Các phơng ngữ có những đặc điểm giống nhau và đợc phân bố gần nhau

có thể tạo thành một vùng phơng ngữ Giống với ý kiến tác giả Hoàng Thị

Châu, ông cho rằng: “Từ địa phVùng phơng ngữ trung có ba vùng phơng ngữ nhỏ đó là: Phơng ngữ Thanh Hoá, phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên” 24

2.2.3 Phơng ngữ Bình Trị Thiên và tiếng địa phơng Quảng Bình

Trong ba phơng ngữ, phơng ngữ Thanh Hoá, phơng ngữ Nghệ Tĩnh và

ph-ơng ngữ Bình Tri Thiên thì phph-ơng ngữ Bình Trị Thiên là phph-ơng ngữ quan trọng

đối với lịch sử nghiên cứu tiếng Việt Đây là phơng ngữ hiện còn bảo lu nhiềudấu vết cổ, thậm chí rất cổ của tiếng Việt thuộc các giai đoạn trớc đây

Bình Trị Thiên năm ở vị trí biển giăng trớc mặt, núi vây ba bề nên việcgiao lu của vùng Bình Trị Thiên với bên ngoài bị hạn chế rất nhiều đặc biệttrong điều kiện giao thông khó khăn nh trớc đây Điều đó đã ảnh hởng không ít

Trang 25

đến sự phát triển trên tất cả mọi mặt của vùng đất này, và ngôn ngữ cũng khôngtránh khỏi điều đó.

Bình Trị Thiên là cách gọi tắt của ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và ThừaThiên Huế Theo khảo sát miêu tả ngữ âm phơng ngữ Bình Trị Thiên của VõXuân Trang24 : Phơng ngữ bình Trị thiên có thể chia làm ba tiểu vùng Tiểu

vùng Thừa Thiên Huế là phơng ngữ chuyển tiếp ( lẫn lộn âm cuối n- ng, t-k)

(giống phơng ngữ Nam) phơng ngữ Quảng Trị là tiểu vùng không thể hiện rõ

đặc trng ngữ âm của cả vùng, không mang tính chất cổ nh tiểu vùng phơng ngữQuảng Bình Tiểu vùng phơng ngữ Quảng Bình là phơng ngữ thể hiện rõ nhất,

đầy đủ nhất đặc điểm phơng ngữ Bình Trị Thiên và lại là vùng cổ( giống NghệTĩnh) Điều này có cơ sở bên trong và bên ngoài ngôn ngữ Vùng đất này tronglịch sử là vùng đất cuối cùng nơi biên viễn, địa đầu của quốc gia, triều đại củacác cuộc chiến tranh Lịch sử trải qua nhiều thăng trầm, dòng xoáy của thời giancuốn đi nhiều giá trị nhng ngôn ngữ ở Quảng Bình vẫn giữ lại đợc nét gì đó củangời xa, là nét cổ kính, sơ khai của nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Con ng-

ời Quảng Bình thật thà, chất phác, tiếng nói của họ cũng rất mộc mạc có chút

“Từ địa phquê mùa”, nhng đọng lại ở đó là nét văn hoá rất Quảng Bình mà khi đi đến đâu,

hễ nghe tiếng là ngời khác có thể nhận ra ngời Quảng Bình Đặc biệt tiếng địaphơng Quảng Bình trong quan hệ với tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh lại có gì đó rấtgắn bó và gần gũi

Từ những điều đó có thể nói rằng: Tiếng địa phơng Quảng Bình là đạidiện tiêu biểu cho phơng ngữ Bình Trị Thiên, thể hiện đầy đủ nhất đặc điểm củaphơng ngữ Bình Trị Thiên

2.3 Từ địa phơng.

Từ trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống từ là đơn vị cơ bản, trungtâm của ngôn ngữ nh là công cụ hoạt động lời nói, là phân cấu trúc cấu tạo câunói Bên cạnh từ, hình vị khi đi vào ngôn ngữ học hiện đại cũng đợc xem là đơn

vị cơ bản bên cạnh từ bởi chức năng cấu tạo của nó Tuy nhiên, xét đơn vị ngônngữ trên nhiều mặt về cấu trúc - cấu tạo, về chức năng, ở nhiều mối quan hệtrong hệ thống ngôn ngữ, trong hoạt động giao tiếp, t duy của con ngời trongquan hệ với phản ánh thực tại thì từ vẫn là đơn vị cơ bản nhất

Xét về mặt chức năng thì từ không những là đơn vị cơ bản mà còn là đơn

vị trung tâm trong cấu trúc của ngôn ngữ Nh vậy, trong ngôn ngữ từ vừa là đơn

vị thực tại vừa là đơn vị tiềm ẩn, có thể nói trong ngôn ngữ từ là đơn vị đảmnhiệm nhiều chức năng Ngoài chức năng định danh cơ bản, trong cấu tạo, tronghoạt động, lời nói từ có thể biến thành yếu tố có chức năng cấu tạo tơng tự nhhình vị hoặc có thể cùng với ngữ điệu kết thúc mà trở thành câu có chức năngthông báo Xét về mặt ý nghĩa, từ vừa là một đơn vị trong hệ thống ngôn ngữvừa là đơn vị trong lời nói

Nh vậy, với những đặc trng cơ bản, chiếm vị trí trung tâm của ngôn ngữ,cho dù ở cấp độ nào, mặt âm thanh cũng nh mặt ý nghĩa theo hớng cấu trúc hay

chức năng thì ít hay nhiều đều liên quan đến từ ở đề tài này chúng tôi tiến hành

nghiên cứu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình, nghĩa là cũng liên

quan đến từ Chúng tôi tiến hành khảo sát từ địa phơng trong thơ ca dân gian

Quảng Bình từ đó để thấy đợc cách sử dụng từ địa phơng trong thơ ca dân gian,

đồng thời thấy đợc vai trò của từ địa phơng trong thơ ca dân gian nói riêng vàtrong văn học nói chung

Trang 26

Để đi đến một định nghĩa khái quát nhất về từ địa phơng, chúng tôi xintrích dẫn một vài định nghĩa của các tác giả khác nhau, mà mỗi tác giả khi địnhnghĩa về từ địa phơng đều nhấn mạnh một khía cạnh khác nhau.

Nguyễn Văn Tu định nghĩa: “Từ địa phTừ địa phơng không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng nhất định Chúng mang sắc thái địa phơng Ngời của địa phơng này không hiểu những từ của địa phơng khác”.

23, tr129

Với định nghĩa này Nguyễn Văn Tu đã nhấn mạnh tính chất riêng của từ

địa phơng Theo ông chính cái riêng của từ địa phơng làm nên sự khác biệt trongngôn ngữ giữa các vùng mà nhiều khi ngời ở địa phơng này không hiểu đợc từcủa địa phơng khác

Tuy nhiên, với định nghĩa này theo Nguyễn Văn Tu23 khi nói đến từ

địa phơng là nói đến cái riêng, cái làm cho ngời vùng khác không hiểu đợc, thìtrong thực tế những từ đó không có nhiều Hoặc một số trờng hợp có một số từ

đợc xem là từ địa phơng nhng ngời nhiều địa phơng cũng hiểu đợc, những trờng

hợp đó thì đợc lý giải nh thế nào Ví dụ: mô, tru, cẳng

Phạm Văn Hảo với con mắt của một ngời soạn từ điển, ông định nghĩa từ

địa phơng: “Từ địa phKhác với một số biến thể vốn là đơn vị trong cùng một hệ thống,

từ ngữ địa phơng là loại biến thể gắn liền với một hệ thống nằm ngoài hệ thống từ vựng tiếng Việt hoá Điều đó đảm bảo cho một phơng pháp định nghĩa phù hợp chung Định nghĩa qua từ có nghĩa tơng đơng, (trong tiếng Việt văn hoá)” 22, tr59

Với định nghĩa này, tác giả cho rằng, từ địa phơng là những từ mà nghĩacủa chúng phải tơng đơng với nghĩa của từ trong ngôn ngữ văn hoá, nghĩa là từ

địa phơng và từ toàn dân phải có chung nét nghĩa tơng ứng Nếu vậy, ở một số

địa phơng để chỉ một số đặc sản, hay những thói quen riêng của họ đã tạo ra

những từ địa phơng trên cơ sở chất liệu ngôn ngữ dân tộc nh: Măng cụt, sầu rêng, chôm chôm (Nam Bộ), cu đơ, nhút (Hà Tĩnh), bánh bột lọc, mắm mịn

(Bình Trị Thiên) Những từ này không có nghĩa tơng ứng với từ trong ngôn ngữtoàn dân Nếu lấy định nghĩa trên làm cơ sở để thu thập từ địa phơng thì lớp từnày có đợc xem là từ địa phơng hay không? Trong khi đó phần lớn các nhànghiên cứu ngôn ngữ nh: Nguyễn Quang Hồng, Hồng Dân, Trơng Văn Sinh,Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Thiện Chí, Trần Thị Ngọc Lang, Nguyễn Thiện Giáp,

Võ Xuân Trang đều xem lớp từ trên là phơng ngữ mang tính riêng

Thực tế ta thấy, trong vốn từ địa phơng có một số từ mang tính riêng biệtcủa địa phơng, chỉ sử dụng trong phạm vi một địa phơng cụ thể Bên cạnh đócũng có những từ không bị quy định bởi phạm vi sử dụng mà đợc lan rộng ởnhững địa phơng khác

Nguyễn Quang Hồng trong bài viết “Từ địa phCác lớp từ địa phơng và chức năng của chúng trong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt” đã định nghĩa Từ địa ph“Từ địa ph ơng

là những đơn vị và dạng thức từ ngữ của ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phơng nhất định

Với định nghĩa này, tác giả cùng một lúc đã chỉ ra đợc kiểu loại từ địa

ph-ơng (là những đơn vị và dạng thức từ ngữ của một số ngôn ngữ dân tộc) vừa chỉ

Trang 27

ra phạm vi giới hạn sử dụng (trong một vài vùng địa phơng) và chỉ ra đợc một

điểm quan trọng ở ngời sử dụng đó là cảm thức tự nhiên, mang tính bản ngữ

Nh vậy, qua định nghĩa của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, mặcdầu mỗi tác giả nhấn mạnh một điểm nào đó về từ địa phơng nhng giữa các địnhnghĩa có những nét chính yếu thống nhất với nhau về đối tợng, vì vậy ở đề tàinày để việc khảo sát có cơ sở và thuận lợi chúng tôi đã dựa vào những địnhnghĩa trên và xác định từ địa phơng có hai biểu hiện:

Thứ nhất: Từ địa phơng là những từ bị hạn chế về phạm vi địa lý sử dụng,

đợc ngời địa phơng đó quen dùng

Thứ hai: Từ địa phơng có sự khác biệt nhất định về ngữ âm từ vựng hayngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân

Từ những nét chính trong quan niệm của các nhà nghiên cứu và đặc biệt

là ý kiến của Nguyễn Quang Hồng trong định nghĩa về từ địa phơng và ý kiến

của Hoàng Trọng Canh trong luận án Tiến sỹ “Từ địa phNghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh ” 4, chúng tôi đi đến một khái quát về từ địa phơng để làm

cơ sở khảo sát: Từ địa ph“Từ địa ph ơng là những đơn vị và dạng thức từ ngữ đợc sử dụng ở một hoặc vài địa phơng nhất định, có những nét khác biệt với ngôn ngữ toàn dân” Với cách hiểu đó, khảo sát từ địa phơng trong thơ ca dân gian

Quảng Bình, chúng tôi thu thập những đơn vị từ ngữ xuất hiện ở thơ ca dân gianQuảng Bình đáp ứng hai điều kiện:

Thứ nhất: Có sự khác biệt ít nhiều hoặc hoàn toàn với ngôn ngữ toàn dân.Thứ hai: Những từ ngữ đó đợc ngời Quảng Bình sử dụng trong thơ ca dângian Quảng Bình

Nh vậy, tất cả những từ ngữ mà chúng tôi thu thập đợc trong đề tài này lànhững từ tồn tại ở Quảng Bình, đợc sử dụng trong thơ ca dân gian Quảng Bình

và có những nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân, mang sắc thái địa phơng

3 Thơ ca dân gian Quảng Bình và việc sử dụng tiếng địa phơng Quảng Bình.

3.1 Cơ sở văn hoá xã hội và thơ ca dân gian Quảng Bình

Với bất kỳ một nền văn học nào, một quốc gia nào văn học dân gian lànhững sản phẩm văn hoá có giá trị có giá trị Đó là những sáng tác tập thể,truyền miệng ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thuỷ Trải qua các thời kỳ pháttriển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đạihiện nay Văn học dân gian là một loại hình văn học mang tính tổng hợp vừa có

ý nghĩa vùng miền vừa có ý nghĩa địa phơng rõ rệt

Kho tàng văn học dân gian Quảng Bình rất đa dạng Đây là vốn cổ quýgiá đợc hình thành, phát triển từ nhiều đời nay ở quê hơng, phản ánh sinh độngtâm t, nguyện vọng và tình cảm của nhân dân Quảng Bình xa đốí với mảnh đấtthân yêu nhng không ít khó khăn, khắc nghiệt

Tỉnh Quảng Bình có diện tích tự nhiên 7.748 km2, là cửa ngõ miền TrungTrung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Tâygiáp nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào qua dãy Trờng Sơn và phía Đông là

Trang 28

biển đông Dọc đờng thiên lý Bắc – Nam, Quảng Bình là một trong những dãy

đất gập ghềnh nhất và eo hẹp nhất nớc Việt Nam

Nhờ kiến tạo địa chất mà Quảng Bình có rất nhiều thắng cảnh thiên nhiên

kỳ thú Nếu có đợc một cái nhìn toàn cảnh dải đất Quảng Bình từ trên cao xuốngthì ta sẽ thấy đợc rất rõ đó là một bức tranh sơn thuỷ hữu tình, phía Tây trùng

điệp nhấp nhô một màu xanh lục của núi non, phía Đông trải dài một màu xanh

Đông - Tây ấy là năm con sông quê hơng nh năm dải lụa chia cắt cả dãy đồngbằng khiêm tốn ra từng phần xinh xắn Nếu có dịp quan sát cận cảnh bức tranh

ấy, chúng ta sẽ thấy đợc không ít những núi non hang động, bãi tắm, cửa bể,làng quê, cây đa bến cộ có vẻ đẹp của nhiều thắng tích đáng lu danh

Khung cảnh thiên nhiên non sông đẹp đẽ, trời đất an bài không thể khôngtác động đến đời sống tâm hồn của biết bao thế hệ ngời dân Quảng Bình, khôngthể không góp phần bồi bổ thêm lòng tự hào quê hơng của họ ngay từ thuở dângian:

Quảng Bình đẹp nhất quê taMấy truông cung vợt, mấy xa cùng gầnQuảng Bình từ trong xa thẳm đã là một trong những địa bàn c trú của ng-

ời nguyên thuỷ Cũng ở trên dải đất này, các nhà khoa học cũng phát hiện đợc

đây vừa là địa bàn phân bố văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc, vừa chứa đựng bảo lunhững dấu tích của văn hoá Sa Huỳnh ở phía Nam Nằm ở vị trí Trung Bộ của

đất nớc, đóng vai trò là cửa ngõ miền Trung Trung Bộ, là vùng đất chuyển tiếpBắc Nam, càng về sau sự giao thoa Bắc – Nam càng xảy ra thờng xuyên hơn,

đậm đặc hơn trên mảnh đất Quảng Bình, trong tiến trình tiến hoá của đất nớc,chính sự giao thoa tốt đẹp ấy trải qua nhiều thế hệ đã góp phần hun đúc nên mộtbản sắc riêng của con ngời Quảng Bình mà dấu vết của nó lu lại khá rõ trong đờisống tinh thần của họ Đọc câu ca dao su tầm trên đất Quảng này lên, ta vừanghe thấy đợc sự ghập ghềnh của xứ sở trong tiết tấu, lại vừa bắt gặp dấu vếtngôn ngữ của cả hai đầu đất nớc

Nớc rặc anh cắm cơn sào cụtNớc lụt anh cắm cơn sào dàiLạy trời cho em bậu có thai

Để anh lên non anh đốn củi, xuống bãi dài đốt thanTrải qua hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc, Quảng Bình luôn là mảnh

đất nằm ở vị trí xung yếu của đất nớc Quảng Bình hầu nh lúc nào cũng đứng ở

vị trí tiền tiêu của các cuộc đụng đầu lịch sử, truyền thống yêu nớc, tinh thầnkiên cờng bất khuất trớc kẻ thù, trớc cờng quyền bạo lực của nhiều thế hệ nhândân Quảng Bình mà ta đã biết là sản phẩm tất yếu đợc hun đúc nên từ hoàn cảnhlịch sử bi thơng và hùng tráng ấy Bên cạnh đó, núi sông và lịch sử đã ma dầmthấm lâu, tích tụ và tạo dựng nên trên mảnh đất này nhiều giá trị văn hoá quýbáu

Nhân dân Quảng Bình có năng lực sáng tạo văn hoá dân gian phong phú

mà trong đó vốn văn học dân gian có một khối lợng lớn và chiếm tỷ trọng đáng

kể trong các sinh hoạt văn hoá dân gian ở địa phơng

Trang 29

Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh xã hội đã góp phần chi phối mạnh mẽcác hoạt động sáng tác văn học dân gian và đồng thời chúng cũng xuất hiện đầy

đủ trong vốn văn học dân gian phong phú ấy Thông qua lăng kính phản ánhchân chất và sinh động của các thế hệ tác giả dân gian Quảng Bình, theo những

đặc điểm chung của loại thể văn học dân gian Quảng Bình còn có màu sắcriêng của mảnh đất con ngời của xứ sở Mỗi bản nhạc lời ca, mỗi câu chuyện

đều thể hiện cái riêng biệt độc đáo của con ngời Quảng Bình Đã bao đời rồi cáigia tài vô giá ấy đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con ngời nơi đây và đồng thờicũng làm cho nền văn học dân tộc thêm giàu hơng sắc

Văn học là sự thể hiện một cách sâu sắc tiếng nói con ngời của một vùngquê, một dân tộc cụ thể Đến với văn học dân gian Quảng Bình, chúng ta đợclắng nghe những tâm sự chân thật, sâu kín nhất của con ngời trên mảnh đất này

Có thể nói rằng, Quảng Bình là vùng có nền văn học dân gian rất phongphú, cũng nh cả nớc nói chung, văn học dân gian Quảng Bình có nhiều loại hìnhkhác nhau Trong mỗi thể loại lại mang những đặc trng riêng, chính điều này đãlàm cho vờn hoa văn học thêm phong phú và toả ngát hơng thơm

Vốn văn học dân gian su tầm đợc ở Quảng Bình có đầy đủ ba bộ phậnchính của các phơng thức phản ánh của văn học dân gian nói chung Các thểloại tự sự gồm có: Truyền thuyết, cố tích, truyện cời, giai thoại, vè; các thể loạisuy lý gồm có: Ca dao, hò đối đáp, đồng dao Tuy nhiên không phải thể loại nàocũng phát triển nh nhau, mà ở Quảng Bình có một số thể loại văn học dân gianphát triển mạnh, đặc biệt là các thể loại thơ ca dân gian nh: ca dao, hò, vè

Điều này cũng dễ hiểu bởi xa nay ngời Quảng Bình vốn thích thơ ca, câu hò

điệu hát và chúng luôn có mặt trong vui chơi cũng nh trong lao động Chính vìvậy, thơ ca dân gian Quảng Bình nh dòng sông bắt nguồn từ những mạch sâukín chảy qua nhiều thời đại, mang theo bao tâm t tình cảm, ớc mơ của con ngờiViệt Nam trên mảnh đất này Nó không ngừng toả khí mát bồi bổ mạch hàohứng cho quần chúng lao động ở địa phơng Nó cũng không ngừng đem nớc vàmàu mỡ đến tới tắm cho thơ ca dân tộc

Có thể nói rằng, bát kể lúc nào, bất kể làm gì ở đâu, ngời Quảng Bìnhcũng cất cao lời thơ, điệu hát Chính phơng tiện tự tác văn hoá này đã cung cấpcho kho tàng văn học dân gian ngày càng dồi dào, phong phú Cho đến tận bâygiờ, những vẻ đẹp non sông gấm vóc, tinh thần đấu tranh, tình cảm tốt đẹp củangời dân lao động vẫn đang đợc lu giữ và vang vang mãi trong mỗi chúng ta

Vì phạm vi đề tài và khả năng cũng nh thời gian có hạn nên ở đề tài nàychúng tôi chỉ khảo sát từ địa phơng ở ba loại hình thơ ca dân gian, đó là: Cadao, hò, vè Đây là những sáng tác mang linh hồn, đặc trng nhất trong văn họcdân gian Quảng Bình Đặc biệt ở các loại hình này ngôn ngữ địa phơng đợc sửdụng rất đậm đặc vì vậy màu sắc địa phơng đợc thể hiện rõ nét

3 2 Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình.

Từ địa phơng là lời ăn tiếng nói hàng ngày và rất quen thuộc của ngời dân

địa phơng Các sáng tác thơ ca dân gian là sản phẩm truyền miệng của quầnchúng nhân dân lao động, vì vậy văn học dân gian là nơi phản ánh lời ăn tiếngnói của họ Tìm hiểu từ địa phơng trong thơ ca dân gian thông qua việc phântích từ ngữ địa phơng, từ đó sẽ thấy đợc vai trò của từ địa phơng trong hànhchức

Trang 30

Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình là những từ ngời dânQuảng Bình vốn quen dùng để giao tiếp với nhau hàng ngày, những từ đó đi vàothơ ca dân gian một cách tự nhiên nh một ngôn ngữ văn hoá, đồng thời đem lạicho thơ ca dân gian Quảng Bình một nét riêng biệt đậm đà màu sắc quê hơng.Nếu nh trong các tác phẩm không thuộc phong cách nghệ thuật, ngời ta có thểdùng ngôn ngữ toàn dân – ngôn ngữ văn hoá để thông báo nhng đối với nhữngtác phẩm văn học không mang tính sáng tạo nghệ thuật thì ngôn ngữ không chỉ

có chức năng thông báo mà còn phải phong phú, gợi cảm, giàu sắc thái biểucảm Chính vì vậy những tác phẩm này đợc phép vận dụng một cách linh hoạtcác yếu tố địa phơng, do đó việc sử dụng từ địa phơng là một điều dễ hiểu Tìmhiểu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình là một việc làm cần thiết,việc làm đó không chỉ nhằm mục đích nhận thức về đặc điểm từ địa phơng trong

hệ thống vốn từ mà còn để thấy vai trò chức năng biểu hiện của từ địa phơng ởmột khía cạnh khác là chức năng thi ca hay còn gọi là chức năng sáng tạo vănhọc

Tìm hiểu từ địa phơng trong sáng tác văn học, lâu nay đã đợc mọt số tácgiả quan tâm, nhng những khảo sát ấy chỉ tập trung chủ yếu vào các sáng tácviết của những tác giả là cá nhân cụ thể Do đó đối tợng phục vụ rộng rãi lại làsáng tác của cá nhân nhà văn nên việc dùng từ địa phơng rất hạn chế, có chăngchỉ là những điểm xuyết những chỗ cần nhấn mạnh sắc thái địa phơng cho nhânvật hoặc thể hiện tình cảm quê hơng gần gũi trong thơ vì thế tác phẩm mang dấu

ấn phong cách nhà văn khá rõ

Từ địa phơng Quảng Bình khi đi vào thơ ca dân gian đã mang đến chonhững tác phẩm thơ ca dân gian hơi thở mộc mạc, chân chất của cuộc sống.Những sáng tác thơ ca dân gian Quảng Bình chính là những đặc trng của vùng

đất “Từ địa phQuảng Bọ”, bởi ngôn ngữ ở đây là tiếng nói của nhân dân lao động QuảngBình Tìm hiểu từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình còn cho chúng tathấy vai trò của từ địa phơng trong hành chức - một dạng hành chức ít nhiềumang tính đặc trng riêng, bởi sự giao tiếp ở đây đợc thực hiện mà ngời phát vàngời nhận đều là tập thể ngời địa phơng, trong đó các nhân tố ngôn ngữ có một

bộ phận lớn là từ địa phơng, đảm nhận chức năng nghệ thuật Cũng qua đó ta cóthể hiểu thêm khía cạnh tâm hồn, tình cảm và ứng xử của ngời Quảng Bình

đặc điểm từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng bình

Nh mục đích đã trình bày, chơng này chúng tôi sẽ nêu lên những đặc

điểm của từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình trên các bình diện chủyếu nhằm thấy đợc nét riêng biệt của từ địa phơng khi đi vào hành chức

Trang 31

Từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình, trớc hết nó là thuộc lớp

từ địa phơng Quảng Bình với những đặc điểm chung của phơng ngữ QuảngBình Về từ vựng từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình là những từ ngữvừa có quan hệ gắn bó nội tại với phơng ngữ Quảng Bình vừa có quan hệ gắn kếtchặt chẽ với hệ thống vốn từ toàn dân Ta có thể tiếp cận từ địa ph ơng trong thơ

ca dân gian Quảng Bình ở nhiều góc độ, nh từ góc độ ngữ nghĩa, từ góc độ địnhdanh hày từ góc độ từ loại

Tuy nhiên, chúng ta phải thấy đợc rằng: Khi nghiên cứu từ địa phơng,

ng-ời ta thờng phải chú ý đến diện mạo của từ về ngữ âm, về cấu tạo Nhng vốn từ

địa phơng không phải là một hệ thống tách biệt với từ trong vùng, cũng nh với

hệ thống từ toàn dân Cho nên khi nghiên cứu đặc điểm từ địa phơng, chúng takhông thể miêu tả một cách biệt lập riêng lẻ mà còn phải so sánh với từ toàndân

Trớc tiên ta xét mặt biểu hiện bên ngoài có tính chất định lợng về từ địaphơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình

1 Độ phong phú của từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình.

Từ các nguồn khảo sát t liệu nh đã nói, chúng tôi thu thập đợc vốn từ địaphơng đợc sử dụng trong thơ ca dân gian Quảng Bình là 514 từ với 1070 lần xuấthiện Bao gồm các từ loại khác nhau nh danh từ, động từ, tính từ, đại từ, phụ từ Nếu phân chia vốn từ này theo cấu tạo thì có từ đơn tiết và từ đa tiết, trong đó từ

đơn tiết chiếm nhiều hơn từ đa tiết Cụ thể từ đơn tiết là 412 từ (chiếm 80,2%),

từ đa tiết là 102 từ (chiếm 19.8%) Nh vậy từ địa phơng đợc sử dụng trong thơ

ca dân gian chủ yếu là từ đơn tiết, từ đa tiết thì thấy chủ yếu là từ ghép còn từláy chiếm số lợng và tỷ lệ rất thấp (15 từ)

Kết quả thu thập và phân loại vốn từ địa phơng trong thơ ca dân gianQuảng Bình đợc thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1: Số lợng và tỷ lệ của các loại từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình theo cấu tạo.

Các loại từ

Số lợng

và tỷ lệ %

Từ đơntiết

Trang 32

tạo và về từ loại Loại số liệu thứ hai cần đợcc xác định là số liệu của từ Chúngtôi đã thống kê cụ thể số lần xuất hiện của từng từ trong từng tác phẩm, từ đó

mà có số liệu tổng hợp về tổng số lần xuất hiện của từ Để biết đợc khả nănghoạt động của từng loại từ, cũng sẽ có bớc thống kê tổng hợp về từng loại từtheo từ loại trong từng tác phẩm cũng nh trong toàn bộ các tác phẩm Các số liệu

về từ ngữ địa phơng nh vậy sẽ đợc so sánh với số liệu chung của tác phẩm đểtính đợc tỷ lệ phần trăm của từng loại Đối với toàn bộ các tác phẩm cũng nhtừng tác phẩm, các thống kê của chúng tôi cũng chỉ dừng lại ở việc xác địnhtheo số lợng, số lần âm tiết chung (toàn dân và địa phơng) xuất hiện mà thôi.Ngoài ra số lợng dòng thơ trong toàn bộ các tác phẩm cũng đợc thống kê để tínhmật độ phân bố của từ cũng nh số lần từ địa phơng xuất hiện trong các tácphẩm Từ đó trên cơ sở những số liệu đã thống kê chúng tôi đa ra những nhậnxét chung

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát ba tác phẩm với 4.221 dòng thơ với tổng

số lần âm tiết chung xuất hiện là 21.625 lần Tổng số từ địa phơng thu đợc là

514 đơn vị và tổng số lần từ địa phơng xuất hiện là 1.070, trung bình chung 3,94dòng thơ thì có một lần từ điạ phơng xuất hiện Số liệu cụ thể khảo sát trongtừng tác phẩm nh sau:

Trong ca dao Quảng Bình có 2.203 dòng thơ, số từ địa phơng xác định

đ-ợc là 224 từ với 441 lần xuất hiện, trung bình 4,9 dòng thơ có một lần từ điạ

ph-ơng xuất hiện

Trong vè Quảng Bình có 1414 dòng thơ, số từ địa phơng xác định đợc là

164 từ với 273 lần xuất hiện, trung bình 8,17 dòng thơ có một lần từ địa ph ơngxuất hiện

Trong hò Quảng Bình có 604 dòng thơ, số từ địa phơng xác định đợc là

126 từ với 356 lần xuất hiện, trung bình 1,69 dòng thơ có một lần từ địa ph ơngxuất hiện

Kết quả khảo sát cho thấy từ địa phơng đợc dùng rất đa dạng: Có đủ các

từ thuộc các từ loại khác nhau( danh từ, động từ, tính từ, phụ từ) Về cấu tạo có

từ đơn, từ ghép, từ láy Về nguồn gốc thành phần, từ địa phơng trong các sángtác dân gian cũng gồm nhiều loại, có từ biến âm, có lớp từ khác âm t ơng đồng

về nghĩa với từ toàn dân, có lớp từ là từ cổ của tiếng Việt

2.1 Sự phân bố của từ địa phơng xét về cấu tạo

Toàn bộ các tác phẩm có 514 từ địa phơng đợc sử dụng, phân chia từ theocấu tạo, ta có số lợng từ đơn tiết, từ đa tiết mỗi loại và tỷ lệ giữa chúng trongtừng tác phẩm, từ đó ta có thể thấy đợc tỷ lệ phân bố vốn từ địa phơng giữa cáctác phẩm so với vốn từ chung tất cả tác phẩm Số liệu và tỷ lệ phân bố đợc minhhoạ qua bảng sau:

Bảng 2: Vốn từ địa phơng (xét theo cấu tạo) phân bố trong các tác phẩm thơ ca dân gian Quảng Bình.

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lợng và tỷ lệ của các loại từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình theo cấu tạo. - Từ địa phương trong thơ ca dân gian quảng bình
Bảng 1 Số lợng và tỷ lệ của các loại từ địa phơng trong thơ ca dân gian Quảng Bình theo cấu tạo (Trang 37)
Bảng 2: Vốn từ địa phơng (xét theo cấu tạo) phân bố trong các tác phÈm  thơ ca  dân gian Quảng Bình. - Từ địa phương trong thơ ca dân gian quảng bình
Bảng 2 Vốn từ địa phơng (xét theo cấu tạo) phân bố trong các tác phÈm thơ ca dân gian Quảng Bình (Trang 39)
Bảng 4: Tỷ lệ tần số của từ địa phơng trong các tác phẩm - Từ địa phương trong thơ ca dân gian quảng bình
Bảng 4 Tỷ lệ tần số của từ địa phơng trong các tác phẩm (Trang 40)
Bảng 5: Số lợng và tần số của từ địa phơng xét theo từ loại trong  thơ ca dân gian Quảng Bình (tính chung cho tất cả các tác phẩ - Từ địa phương trong thơ ca dân gian quảng bình
Bảng 5 Số lợng và tần số của từ địa phơng xét theo từ loại trong thơ ca dân gian Quảng Bình (tính chung cho tất cả các tác phẩ (Trang 43)
Bảng 6: Sự phân bố của vốn từ địa phơng xét theo từ loại trong các tác phÈm  thơ ca  dân gian Quảng Bình. - Từ địa phương trong thơ ca dân gian quảng bình
Bảng 6 Sự phân bố của vốn từ địa phơng xét theo từ loại trong các tác phÈm thơ ca dân gian Quảng Bình (Trang 44)
Bảng số lợng và tần số của từ địa phơng xét theo từ loại trong văn học dân gian Quảng Bình – thì thấy rằng: Số lợng, tỷ lệ các loại từ là đại từ, phụ từ so - Từ địa phương trong thơ ca dân gian quảng bình
Bảng s ố lợng và tần số của từ địa phơng xét theo từ loại trong văn học dân gian Quảng Bình – thì thấy rằng: Số lợng, tỷ lệ các loại từ là đại từ, phụ từ so (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w