Vì thế chúng tôi tìm hiểu Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ cũng nhằm nghiên cứu một khía cạnh về văn hoá tinh thần đợc thể hiện qua các sáng tác nghệ thuật dân gian của ngời dân
Trang 2Sau một thời gian học tập, tìm tòi và tập sự nghiên cứu, Luận văn đã đợc hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình, nghiêm túc của TS Hoàng Trọng Canh Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Trọng Canh.
Ngoài ra, luận văn của chúng tôi hoàn thành đúng thời hạn cũng nhờ sự giúp đỡ nhiều mặt của các thầy cô giáo bộ môn Ngôn ngữ - khoa Ngữ văn - ĐH Vinh nh: GS.TS Đỗ Thị Kim Liên, PGS.TS Phan Mậu Cảnh, TS Trần Văn Minh Chúng tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn đến trờng ĐH Đồng Tháp nơi tôi đang công tác và bạn bè,
đồng nghiệp gần xa!
Vinh, ngày 15 tháng 12 năm 2008
Tác giả
Trần Đức Hùng
Trang 3Chơng 1: một số giới thuyết liên quan đến đề tài 9
1.2.1 Phơng ngữ và lịch sử nghiên cứu phơng ngữ 12
1.2.2 Phơng ngữ tiếng Việt và phơng ngữ Nam Bộ 15
1.2.3 Khái niệm từ địa phơng và từ địa phơng Nam Bộ 231.3 Ca dao - dân ca Nam Bộ với việc sử dụng từ địa phơng vùng Nam Bộ 26
1.3.2 Vài nét về hình thức và nội dung ca dao - dân ca Nam Bộ 31
1.3.3 Vài nét về từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ 35
Chơng 2: đặc điểm từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam
Bộ 382.1 Sự phân bố của từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ 38
2.2 Đặc điểm từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ 41
2.2.1 Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ xét về cấu tạo 41
2.2.2 Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ xét về từ loại 48
Trang 42.3.1 Những từ vừa tơng ứng ngữ âm vừa tơng đồng về nghĩa 64 2.3.2 Những từ tơng ứng ngữ âm nhng biến đổi ít nhiều về nghĩa 67
3.2 Vai trò biểu hiện nội dung của từ địa phơng trong ca dao - dân ca
Trang 51.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất của 54 dân tộc anh em sống trên mọi miền đất nớc của tổ quốc Việt Nam Về mặt biểu hiện, trên các vùng miền, giữa các tầng lớp dân c trong xã hội, trong các loại phong cách chức năng, tiếng Việt rất đa dạng Phơng ngữ là một trong những biểu hiện của tính
đa dạng đó Trong quá trình hình thành, phát triển đi đến sự thống nhất của ngôn ngữ dân tộc, cũng nh các ngôn ngữ khác, tiếng Việt có sự biến đổi, tạo ra những nét khác biệt giữa các vùng miền Cho nên, nghiên cứu phơng ngữ luôn
có ý nghĩa nhiều mặt, không chỉ đối với Phơng ngữ học mà còn có ý nghĩa đối với Việt ngữ học
1.2 Trong các vùng và tiểu vùng phơng ngữ thì Nam Bộ là vùng phơng ngữ có đặc trng khác biệt nổi rõ so với các vùng phơng ngữ khác Tuy nhiên, phơng ngữ nơi đây đang ít đợc quan tâm nghiên cứu, nhất là về mặt hành chức cho nên chúng tôi chọn đề tài Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ nhằm mục đích chỉ ra đợc đặc điểm của từ địa phơng về mặt hành chức nói riêng góp phần làm rõ đặc điểm từ địa phơng Nam Bộ nói chung
1.3 Nam Bộ là một vùng đất có những nét riêng về địa lí, dân c, xã hội, văn hoá Nơi đây không chỉ có sông ngòi chằng chịt, làng xóm chạy theo bờ kênh, bờ rạch, bờ sông khác các vùng đất khác mà con ngời cũng nổi tiếng ở bản tính cơng trực, phóng khoáng, dễ hoà nhập, luôn sống hết sức chân chất, sâu đậm tình cảm Nh ta biết, những thói quen, nếp nghĩ, cách ứng xử trớc thiên nhiên, xã hội, gia đình, của một cộng đồng ngời có bản sắc văn hoá luôn đợc thể hiện rất rõ qua giao tiếp, trong đó có cả dới hình thức sáng tác dân gian Vì thế chúng tôi tìm hiểu Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ cũng nhằm nghiên cứu một khía cạnh về văn hoá tinh thần đợc thể hiện qua các sáng tác nghệ thuật dân gian của ngời dân nơi đây
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việt dới góc độ cấu trúc theo cách nhìn phơng ngữ học địa lí cũng nh nghiên cứu phơng ngữ về mặt hành chức dới gốc
độ ngôn ngữ - văn hoá, chức năng lâu nay đã đựơc nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nớc quan tâm Trong các vùng và tiểu vùng phơng ngữ Việt, tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ là một trong những ph-
ơng ngữ đợc nghiên cứu nhiều nhất, có nhiều công trình đợc công bố nhất Theo những tài liệu mà chúng tôi biết đợc, có lẽ sau phơng ngữ Nghệ Tĩnh, phơng ngữ cũng đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phải kể đến đó là tiếng địa ph-
ơng Nam Bộ thuộc vùng phơng ngữ Nam Trung Bộ, Nam Bộ Trong luận văn này, chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu cũng nh các bài viết
về phơng ngữ Nam Bộ nói chung và phơng ngữ trong ca dao - dân ca Nam Bộ nói riêng
Trớc hết, chúng tôi xin đề cập đến công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Thản (1964) với bài viết “Thử bàn về một vài đặc điểm trong ph-
ơng ngữ Nam Bộ" [64] Trong bài viết này, tác giả đã có những tìm hiểu bớc
đầu về một số đặc điểm trong phơng ngôn mà ngời miền Nam đã sử dụng Trong đó, tác giả đã đa ra và chứng minh một số biểu hiện khác biệt của phơng ngôn Nam Bộ so với phơng ngôn Bắc Bộ ở bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở một vài đặc điểm rút ra trên cơ sở t liệu
ít ỏi quan sát đợc bằng phơng pháp trực quan qua ngôn ngữ giao tiếp của một số ngời Nam Bộ sống ở Hà Nội
Trong bài viết “Mấy nhận xét bớc đầu về những khác biệt từ vựng - ngữ
nghĩa giữa phơng ngữ miền Nam và ngôn ngữ toàn dân", hai tác giả Nguyễn
Đức Dơng và Trần Thị Ngọc Lang (1983) đã đề ra mục đích là “thử nêu lên
một số khác biệt đáng kể vê mặt từ vựng - ngữ nghĩa của một trong những
ph-ơng ngữ lớn tiếng Việt” [14, tr 47-51] Tuy bài viết chỉ nêu lên một số nét lớn
về sự khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa của phơng ngữ miền Nam so với ngôn ngữ toàn dân và còn nhiều điểm cha đợc mô tả kỹ nhng đây là một t liệu bổ ích
về tiếng địa phơng cho những ngời quan tâm nghiên cứu phơng ngữ
Trang 7Năm 1987, cuốn “Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ” do tác giả Nguyễn Văn ái chủ biên đã ra đời (Năm 1994, cuốn sách đợc chỉnh sửa và in thành “Từ điển
phơng ngữ Nam Bộ”) Với công trình này, lần đầu tiên phơng ngữ Nam Bộ đợc
điều tra, nghiên cứu công bố kết quả dới dạng một từ điển
Trên cơ sở luận án Tiến sĩ đợc bảo vệ năm 1993 của mình, năm 1995 tác giả Trần Thị Ngọc lang đã cho ra đời công trình nghiên cứu “Phơng ngữ Nam
Bộ Những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với phơng ngữ Bắc Bộ” [28]
Đây là một chuyên luận đi sâu vào tìm hiểu phơng ngữ Nam Bộ trên cơ sở so sánh với phơng ngữ Bắc Bộ Trong đó, tác giả tập trung khảo sát các tơng ứng ngữ âm, ngữ nghĩa của các lớp từ vựng phơng ngữ Nam Bộ theo hớng chỉ ra những nét khác biệt
Năm 2004, tác giả Hoàng Thị Châu trong cuốn “Phơng ngữ học tiếng
Việt" [6] cũng đã đề cập đến phơng ngữ Nam Bộ khi tác giả nói về các vùng
ph-ơng ngữ Giải thích về các vùng phph-ơng ngữ, tác giả khẳng định “Có những vùng
có rất nhiều thổ ngữ nh vùng châu thổ sông Hồng Lại có những nơi hầu nh không có thổ ngữ, cả vùng bao gồm một diện tích mênh mông nói một phơng ngữ thống nhất nh đồng bằng Nam Bộ".
Nghiên cứu ca dao Nam Bộ trong đó có vấn đề ngôn ngữ trong các sáng tác thơ dân gian vùng này cũng đã thu hút không ít tác giả quan tâm và đã có những bài viết sâu sắc:
Trong cuốn “Ca dao - dân ca Nam Bộ” (1984), tác giả Bảo Định Giang
đã có phần tiểu luận “Ca dao - dân ca Nam Bộ, những biểu hiện sắc thái địa
phơng” Tác giả nhận xét: các câu ca dao - dân ca đã thể hiện một số hình
ảnh mang đậm sắc thái địa phơng, đó vốn là những hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống đời thờng của vùng đất Nam Bộ xa nh: ghe, sông nớc, miệt v-
ờn, giồng, truông… Ca dao - dân ca Nam Bộ đã phản ánh các mặt đời sống, tính cách của ngời dân Nam Bộ, đó là những con ngời dám xả thân vì nghĩa
Bài viết “Tính cách Nam Bộ biểu trng qua ca dao” của tác giả Trần Văn Nam (2007) [31] là sự tiếp nối mạch nghiên cứu đề tài ca dao Nam Bộ Bài viết
Trang 8đã đi vào tìm hiểu những nét nổi trội trong cử chỉ, tính cách của ngời Việt Nam
Bộ đợc khắc hoạ trong ca dao - dân ca
Tác giả Trần Phỏng Diều (2007) với bài “Cảm xúc về sông nớc qua ca
dao Nam Bộ” [11] đã có sự phát hiện rất tinh tế: Trong ca dao - dân ca Nam
Bộ, để bộc lộ tâm trạng của mình, ngời dân nơi đây thờng mợn các hình ảnh quen thuộc để ví von nhằm bộc lộ những gì mình muốn nói, kể cả việc thể hiện tình cảm giã chàng trai và cô gái cũng chứa đầy những hình ảnh đặc tr-
ng của miền sông nớc Nam Bộ
Bài viết “Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam Bộ” của tác giả
Đoàn Thị Thu Vân (2007) [77] nghiên cứu một khía cạnh về nội dung và sắc thái riêng của ca dao Nam Bộ Theo tác giả, chính sự mộc mạc, hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh đã gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thờng thấy trong ca dao tình yêu Nam Bộ
Bài viết “Phơng ngữ Nam Bộ trong ca dao về tình yêu”, tác giả Trần Phỏng Diều (2007) [12] cũng đi vào nghiên cứu bộ phận ca dao tình yêu Nêu lên một vài biểu hiện về cách sử dụng phơng ngữ Nam Bộ trong ca dao, từ đó tác giả cho rằng việc tìm hiểu phơng ngữ Nam Bộ đợc thể hiện qua ca dao là một cách nhằm khẳng định thêm tính độc đáo, sắc sảo, phong phú và đa dạng của ngời Nam Bộ xa trong việc sử dụng lời ăn, tiếng nói của mình
Ngoài những công trình nghiên cứu về ca dao Nam Bộ trong đó có nói
đến ngôn ngữ dới góc độ nghiên cứu văn học nh trên, cần phải kể đến một số công trình, bài viết khác trực tiếp nghiên cứu ngôn ngữ trong ca dao Nam Bộ trong đó ít nhiều có đề cập đến phơng ngữ, ở những mức độ nông sâu, rộng hẹp khác nhau nh:
- Huỳnh Công Tín (2002), Tiếng cời dân gian Nam Bộ, (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2) [59, tr 49-50]
- Nguyễn Tài Thái - Phạm Văn Hảo (2004), Sự thâm nhập của từ ngữ
địa phơng miền Nam vào tiếng Việt toàn dân giai đoạn 1945 - 1975 (Tạp chí
Ngôn ngữ và đời sống, số 4) [61, tr 6-11]
Trang 9- Hồ Xuân Tiên (2007), “Định danh thời gian trong phơng ngữ Nam Bộ” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2) [54, tr 15]
Nh vậy, điểm qua cá công trình nghiên cứu nh trên, chúng ta có thể thấy phơng ngữ Nam Bộ trong ca dao - dân ca đã phần nào đợc quan tâm nghiên cứu tìm hiểu một số khía cạnh biểu hiện cụ thể cũng nh các đặc điểm sử dụng từ ngữ địa phơng và sắc thái địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ ở một nội dung, chủ đề nào đó Các bài viết ngày càng đi vào nghiên cứu cụ thể hơn về các phơng diện của từ vựng và ngữ nghĩa của từ địa phơng Nam Bộ Những công trình đó là những tài liệu tham khảo và gợi ý quan trọng cho luận văn của chúng tôi Tuy nhiên, nghiên cứu “Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam
Bộ” thành một vấn đề có tính hệ thống dới góc độ ngôn ngữ - văn hoá nh luận
văn của chúng tôi thì đây là lần đầu
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là các lớp từ địa phơng trong ca dao - dân
ca Nam Bộ Do tính chất riêng của một vùng miền về địa lí xã hội nh đã nói và
từ thực tế điều tra điền dã từ ngữ địa phơng Nam Bộ, chúng tôi xác định đối ợng thu thập nghiên cứu của luận văn là: các từ đợc dùng trong thơ dân gian
t-Nam Bộ vốn đợc ngời t-Nam Bộ quen dùng, có sự khác biệt về ngữ âm, ngữ nghĩa hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân.
Từ ngữ đợc khảo sát trong luận văn là từ các tác phẩm thơ ca dân gian Nam Bộ đã đợc su tầm xuất bản
Các phơng diện từ ngữ địa phơng đợc luận văn khảo sát là: vốn từ địa
ph-ơng đợc sử dụng trong ca dao dân ca, đặc điểm của vốn từ đó về phph-ơng diện phản ánh, về cấu tạo, về vai trò và hiệu quả của vốn từ địa phơng trong việc thể hiện nội dung và nghệ thuật
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Trang 10- Trong xu thế hiện đại hoá đất nớc, giao lu tiếp xúc giữa các vùng miền
và các tầng lớp xã hội ngày càng đợc mở rộng thờng xuyên Do đó, việc sử dụng từ địa phơng ngày càng bị thu hẹp và khả năng bị quên lãng là điều không thể tránh khỏi Thực hiện đề tài này, chúng tôi cố gắng góp phần thu thập vốn từ
địa phơng của vùng Nam Bộ xem chúng là nguồn t liệu có thể cung cấp cho những ai quan tâm đến ngôn ngữ và các vấn đề có liên quan đến vùng đất này
- Chỉ ra đợc đặc điểm, vai trò của từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ
- Qua việc tìm hiểu đặc điểm của từ địa phơng về mặt hành chức trong ca dao - dân ca, chúng tôi nhằm góp phần chỉ ra một vài nét sắc thái văn hoá của vùng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này có mục đích chính là nghiên cứu các lớp từ địa phơng đợc sử dụng trong ca dao - dân ca Đây là một vấn đề lớn nên chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:
1 Thống kê, phân tích các lớp từ địa phơng, chỉ ra đặc điểm của từ địa phơng xét về cấu tạo và từ loại
2 Xác định vai trò giá trị của từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ thể hiện ở mặt nội dung và nghệ thuật với những nét đặc trng riêng biệt
3 Rút ra những nhận xét ban đầu về những sắc thái văn hoá trên cơ sở phân tích một số lớp từ nổi bật thể hiện đặc điểm của vùng
5 Phơng pháp nghiên cứu và phạm vi t liệu
5.1 Phơng pháp nghiên cứu
Vấn đề Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ không chỉ là vấn đề thuộc ngôn ngữ học mà còn là vấn đề thuộc phạm trù văn hoá Do đó, chúng tôi vận dụng một số phơng pháp sau:
- Phơng pháp thống kê, phân loại: Sau khi có số liệu cụ thể về từ ngữ địa phơng, chúng tôi tiến hành thống kê phân loại cụ thể từ địa phơng về mặt cấu tạo, về mặt từ loại, định danh
Trang 11- Phơng pháp mô tả, so sánh: Đây là phơng pháp đợc chúng tôi sử dụng thờng xuyên trong nội dung của luận văn Chúng tôi tiến hành miêu tả phân tích các đặc điểm của từ địa phơng, vai trò của từ địa phơng trong ca dao - dân ca
Đồng thời, trong quá trình phân tích, chúng tôi đặt các từ địa phơng trong mối quan hệ với ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ của một số vùng miền khác để tìm
ra nét khác biệt mang đặc trng riêng của vùng đất Nam Bộ
5.2 Phạm vi t liệu
Thực hiện đề tài “Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ”, t liệu
mà chúng tôi thu thập nghiên cứu chủ yếu là từ các tác phẩm sau:
- “Ca dao - dân ca Nam Bộ” (Bùi Mạnh Nhị chủ biên, Nxb TPHCM, 1984)
- “Ca dao - dân ca Nam kỳ lục tỉnh” (do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2006)
- “Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long” (Khoa Ngữ văn - ĐH Cần Thơ, Nxb Giáo dục, 2002)
6 Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình đầu tiên tìm hiểu từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ ở góc độ từ vựng ngữ nghĩa, nên luận văn có những đóng góp cụ thể
nh sau:
Khác với các công trình trớc đây, đề tài tập trung tìm hiểu từ địa phơng
trong ca dao - dân ca Nam Bộ trên cơ sở so sánh với ngôn ngữ toàn dân một
cách hệ thống, chỉ ra những khác biệt chủ yếu của từ địa phơng Nam Bộ trong
ca dao - dân ca và những sắc thái văn hoá địa phơng thể hiện qua ngôn ngữ Vai trò của từ ngữ địa phơng trong các sáng tác dân gian lần đầu tiên đợc nêu lên một cách có hệ thống trong luận văn này là một cách tiếp cận mới giúp chúng ta
có thể hiểu thêm về vai trò, khả năng hoạt động của từ địa phơng - một dạng hành chức đặc biệt là sáng tạo nghệ thuật dân gian, nh vậy cũng góp phần nghiên cứu ca dao - dân ca Nam Bộ từ góc độ ngôn ngữ
Trang 12Ngoài ra t liệu nhiều mặt, trớc hết là bảng từ địa phơng đợc rút ra từ thơ
ca dan gian Nam Bộ lần đầu tiên đợc công bố sẽ là một tham khảo tốt cho cho những ai quan tâm tới từ ngữ địa phơng và văn hoá của mảnh đất Nam Bộ
7 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chơng:
- Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
- Chơng 2: Đặc điểm từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ
- Chơng 3: Vai trò từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ
chơng 1 một số giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ
Trang 13Ngôn ngữ là công cụ sử dụng hàng ngày trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời Ngôn ngữ phát triển cùng với sự phát triển của xã hội và tồn tại mãi theo thời gian từ xã hội này qua xã hội khác; ngôn ngữ tồn tại với sự tồn vong của dân tộc, chính vì thế, ngôn ngữ là linh hồn của văn hoá dân tộc
Nói đến ngôn ngữ dân tộc trớc hết phải nói tới ngôn ngữ toàn dân bởi nó
là thành phần cốt lõi nền tảng của ngôn ngữ dân tộc
Ngôn ngữ toàn dân là một khái niệm thờng đợc hiểu là: “Ngôn ngữ đợc
sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, không bị hạn chế ở phong cách và phạm vi sử dụng; ngôn ngữ đợc mọi ngời trong một quốc gia biết, chấp nhận
và sử dụng” [47, tr 156] Nội dung khái niệm ngôn ngữ toàn dân có sự gần gũi
với nội dung khái niệm ngôn ngữ dân tộc tuy chúng có sự phân biệt về mặt khái niệm Bởi lẽ “ngôn ngữ dân tộc là hình thức thống nhất của ngôn ngữ toàn
dân” [58; tr.367] Nội dung khái niệm ngôn ngữ dân tộc là: “Ngôn ngữ chung của cả một dân tộc Đó là một phạm trù lịch sử - xã hội biểu thị ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp của cả một dân tộc và đợc thể hiện dới hai hình thức: nói
và viết Ngôn ngữ dân tộc hình thành cùng với sự hình thành dân tộc đồng thời cũng là tiền đề và điều kiện hình thành và tồn tại của dân tộc, và mặt khác ngôn ngữ dân tộc là kết quả và sản phẩm của quá trình hình thành, tồn tại của dân tộc” [47, tr.156] Nh vậy, dù dùng khái niệm ngôn ngữ dân tộc hay
ngôn ngữ toàn dân thì cũng liên quan đến lời ăn tiếng nói của ngời dân đợc dùng thờng xuyên, rộng rãi trong phạm vi một quốc gia, dân tộc nhất định
Ngôn ngữ toàn dân là phơng tiện giao tiếp chung đợc sử dụng phổ biến rộng rãi hàng ngày của mọi ngời dân trong một quốc gia dân tộc dù họ khác nhau về lãnh thổ hay vị thế xã hội, không bị hạn chế về phạm vi sử dụng Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử mà sự hình thành của dân tộc và ngôn ngữ mỗi nơi, mỗi thời kỳ một khác và theo những con đờng khác nhau
Một trong những điều kiện quan trọng bắt buộc để đảm bảo một cộng
đồng ngời hình thành một dân tộc (ví dụ nh điều kiện về lãnh thổ, về kinh tế, về cấu tạo tâm lí và văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần…) là cộng đồng đó phải có một ngôn ngữ chung
Trang 14Ngôn ngữ toàn dân mang tính thống nhất nh mọi quy luật phát triển, cũng nh một sự đòi hỏi của xã hội Tuy vậy, trong biểu hiện lại phải chấp nhận tình trạng có sự tồn tại của phơng ngữ Nó nh là một thực tế hiển nhiên mà chúng ta hoàn toàn có thể quan sát đợc thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trên căn bản thống nhất của ngôn ngữ.
Con đờng hình thành phơng ngữ khi đã có ngôn ngữ quốc gia trong những điêu kiện địa lí giao tiếp cách biệt và phụ thuộc vào điều kiện lịch sử xã hội cụ thể của từng nớc Nói một cách cụ thể hơn là phơng ngữ đợc hình thành
do nguyên nhân về kinh tế, địa lí, lịch sử xã hội - nguyên nhân bên ngoài ngôn ngữ Đồng thời, phơng ngữ ra đời còn là kết quả của một sự tác động bên trong,
từ cấu trúc ngôn ngữ Bản chất ngôn ngữ là luôn luôn phát triển và biến đổi Sự biến đổi của nó đợc thể hiện cụ thể trên từng phơng ngữ chủ yếu là về ngữ âm,
từ vựng, còn ngữ pháp là không đáng kể
Sự biến đổi của ngôn ngữ là không đồng đều trên mọi bình diện ngôn ngữ cũng nh trên khắp các vùng dân c cho nên sẽ tạo ra những đặc điểm riêng của từng phơng ngữ làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ trong biểu hiện Sự cách biệt nhau về địa lí, điều kiện giao thông và thông tin khó khăn của các vùng dân c dẫn đến tình trạng tiếp xúc ngôn ngữ giữa các vùng không thờng xuyên, bị khép kín Thông thờng, một sự thay đổi nào đó về ngôn ngữ cũng chỉ lan truyền trong nội bộ c dân vùng địa lí đó mà thôi Xét về phơng diện cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ, sự khác nhau của ngôn ngữ giữa các vùng dân c lúc đầu chỉ mang tính rời rạc về mặt từ vựng, lâu dần có sự thay đổi lớn hơn về âm vị,
về các từ công cụ ngữ pháp trong từng vùng địa lí
Xét về phơng diện hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ thay đổi trong từng vùng dân c là sự thay đổi và tạo ra thói quen nói năng khác ở các vùng dân c khác Tập hợp các thói quen nói năng khác nhau đó của một vùng dân c so với vùng dân c khác là tập hợp tạo nên phơng ngữ của từng vùng
Thực ra nếu xét một cách toàn diện hơn, phơng ngữ là một hiện tợng rất phức tạp Ngoài những nguyên nhân chủ yếu phổ biến tạo ra phơng ngữ nh đã nêu, cũng cần phải xem xét những nhân tố khác nh: điều kiện tự nhiên, bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ, nguồn gốc c dân của từng vùng địa phơng… đó cũng có thể
Trang 15là những nhân tố góp phần tạo nên những nét khác biệt riêng trong hệ thống một phơng ngữ.
Tuy nhiên, một thực tế cần phải biết đến, đó là sự khác nhau giữa các
ph-ơng ngữ dù lớn đến đâu cũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân Vì trên căn bản, các phơng ngữ trong một dân tộc lại giống nhau về hệ thống cấu trúc và cùng dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất
Ngôn ngữ nào trên thế giới cũng có phơng ngữ, song tuỳ thuộc vào điều kiện địa lí hay ngôn ngữ trong từng ngôn ngữ dân tộc mà sự tồn tại của các ph-
ơng ngữ nhiều hay ít Các phơng ngữ đó tạo thành hệ thống, quan hệ gắn bó với
hệ thống ngôn ngữ toàn dân và là một trong những biểu hiện của tính phong phú
đa dạng của ngôn ngữ toàn dân
Nói một cách đơn giản hơn thì phơng ngữ là biến thể địa phơng của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể và chúng ta có thể thấy phơng ngữ có những đặc điểm nh sau:
- Phơng ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình phát triển biến đổi của quy luật ngôn ngữ
- Phơng ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp của ngôn ngữ Do đó, phơng ngữ khác ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào đó, ở một mức độ nào đó, nhng trên căn bản, cái mã (code) chung - hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, âm vị giữa phơng ngữ và ngôn ngữ toàn dân là giống nhau
- Phơng ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân bị hạn chế
về phạm vi sử dụng
- Phơng ngữ là một hiện tợng lịch sử, nó ra đời nh một tất yếu do sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội Do đó, với xu thế thống nhất ngôn ngữ ngày càng cao, phạm vi sử dụng của phơng ngữ ngày càng bị thu hẹp và về mặt lí thuyết, nó sẽ mất đi trong tơng lai của một ngôn ngữ dân tộc thống nhất và đợc tiêu chuẩn hoá cao
Nh vậy, nói tới phơng ngữ là nói tới một hiện tợng phức tạp của ngôn ngữ không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc, cấu tạo cũng nh phơng diện thể hiện mà bản thân nó còn là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ trong và ngoài ngôn ngữ
Trang 16Nh đã trình bày, tiếng nói của một cộng đồng ngôn ngữ thờng vẫn là một thể thống nhất nhng đa dạng Trong cái chung giống nhau vẫn có những sai biệt giữa các địa phơng Những khác biệt địa phơng có thể là về cách phát âm, về lối dùng từ ngữ và có thể cả mặt ngữ pháp nữa Điều đó có nghĩa là ở mỗi địa ph-
ơng, tiếng nói có những nét chung với nhau và mỗi địa phơng nh vậy đã hình thành một phơng ngữ
Hơn nữa, bởi phơng ngữ là một hiện tợng rất phức tạp nên nó nằm trong nhiều mối quan hệ chằng chéo trong và ngoài ngôn ngữ và bản thân nó là kết quả của sự phát triển và biến đổi ngôn ngữ nên có quan hệ với ngôn ngữ toàn dân Đồng thời phơng ngữ có quan hệ gắn bó với cộng đồng ngời của một vùng
địa phơng nhất định nên nó liên quan đến sự hình thành và phát triển của lịch
sử, văn hoá ở vùng địa phơng đó Bên cạnh đó, phơng ngữ có quan hệ với ngôn ngữ toàn dân nên phơng ngữ cũng liên quan đến sự hình thành và phát triển của lịch sử, văn hoá dân tộc
1.2 Khái niệm phơng ngữ, từ địa phơng
1.2.1 Phơng ngữ và lịch sử nghiên cứu phơng ngữ
Về tên gọi “phơng ngữ” ở hầu hết các ngôn ngữ Châu Âu, từ “phơng
ngữ” đều có nguồn gốc Latinh là: dialectus Từ Latinh này lại có nguồn gốc từ
Hylạp là: dialektos Ban đầu, nó có nghĩa là nói năng, hội thoại và sau này có nghĩa phái sinh là tiếng địa phơng Từ dialectus này đã đợc các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới sử dụng khi đi vào nghiên cứu phơng ngữ Vậy, có một vấn đề đặt ra là phơng ngữ đợc nghiên cứu từ lúc nào?
Trong lịch sử, từ rất sớm, phơng ngữ đã đợc các nhà văn hoá và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu phục vụ cho công việc và lĩnh vực của mình Thời kỳ Trung cổ, nhiều nhà thơ, nhà triết học khi nghiên cứu những vấn đề ngôn ngữ dân tộc, văn hoá, nghệ thuật đã đề cập đến phơng ngữ, tiêu biểu là nhà thơ kiệt xuất ngời ý Alighieri Dante (1265 - 1321) và những thế hệ các nhà thơ lớn sau đó nh: Petrarch (1304 - 1374), Boccaccio (1313 - 1375)
Thời kỳ phục hng về sau, do ý thức về dân tộc, đề cao văn hoá cổ đại, bảo
vệ và phát huy ngôn ngữ dân tộc nên nhiều vấn đề về lý thuyết cũng nh thực
Trang 17tiễn ngôn ngữ, gắn liền với tiếng nói của các địa phơng cũng đợc chú ý hơn
Điều này đợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu của W.Lebniz (1646 - 1716) và W.Humboldt (1768 - 1835) Các ông đã khẳng định việc cần thiết của việc nghiên cứu phơng ngữ ở các ngôn ngữ đang dùng trong cuộc sống của các dân tộc
Đặc biệt, phơng ngữ học thực sự phát triển ở đầu thế kỷ XIX khi những vẫn đề lý thuyết cũng nh thực tiễn ngôn ngữ học so sánh - lịch sử trong ngôn ngữ học đợc đặt lên hàng đầu Kế đó là nhờ so sánh các ngôn ngữ để xác định quan hệ họ hàng, nhất là trên cứ liệu ngữ âm thì phơng ngữ học thực sự phát triển Những tên tuổi liên quan tới sự phát triển của ngành ngôn ngữ học là: Franz Bopp (1791 - 1867), J Grimm (1785 - 1863), Jost Winteler (1846 - 1926), G Wenker (1852 - 1911), J Gilléron (1854 - 1926), J Smit (1843 - 1901),… (Dẫn theo Nguyễn Kim Thản) [10] Quan trọng của thời kỳ này là công trình nghiên cứu “Phơng ngôn Franconie” Đây là một trong những công trình mẫu mực của việc vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu ph-
ơng ngữ
Thời kỳ ngôn ngữ học hiện đại chứng kiến một sự tiến bộ vợt bậc và đợc bắt đầu từ F de Saussure với công trình “Giáo trình ngôn ngữ học đại cơng” Phơng ngữ học đã đợc nghiên cứu mạnh mẽ và thực sự trở thành một ngành nghiên cứu của ngôn ngữ học Nhiều nhà ngôn ngữ học lớn, trong các công trình nghiên cứu của mình cũng đã có những phần, chơng nghiên cứu phơng ngữ Chẳng hạn, E Sapir trong công trình “Language - An introduction to the
study of speech” (1921) đã đề cập đến vai trò của phơng ngữ, của sự tiếp xúc
ngôn ngữ, sự vay mợn từ ngữ và sự phát triển của ngôn ngữ trong các chơng 7,
8, 9, 10 Còn Ch Hockett trong “Giáo trình ngôn ngữ học hiện đại” đã dành hẳn một chơng để bàn về phơng ngữ học (Chơng 6: phơng ngữ học hiện đại) Trong công trình “A Functional view of language” (Oxfod, 1962), A Martinet cũng đã giành hai chơng cuối (chơng IV, V) để nói về phơng ngữ, thổ ngữ Trong công trình “Ngữ nghĩa học” (2 tập), J Lyons cũng đã nói về các biến thể phơng ngữ và phong cách ở chơng 14
Trang 18Còn J Vendryes trong quyển “Le language” đã bàn về phơng ngữ và biệt ngữ trong chơng 2, đồng thời nói lên tính chất pha trộn, sự tiếp xúc và pha trộn ngôn ngữ ở chơng 4.
ở Việt Nam cũng đã có nhiều học giả và nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu tới phơng ngữ Năm 1956, Nguyễn Trọng Hoàn đã lập “Danh
sách từ ngữ địa phơng” đăng trên Văn hoá nguyệt san, số 15, 16 Sau đó, Bình
Nguyên Lộc và Nguyễn Nh ý đã có công su tầm, giải thích “tiếng địa phơng” miền Nam trên “Tạp chí Bách khoa” nhiều số liền từ 1958 đến 1959 Năm
1964, Nguyến Kim Thản đã “Thử bàn về một vài đặc điểm trong phơng ngữ
Nam Bộ” [63],…
Trong đó, một số tác giả quan tâm nghiên cứu phơng ngữ ở bình diện ngữ
âm nh: Cao Xuân Hạo, Hoàng Thị Châu, Đinh Lê Th, Hoàng Cao Cơng, Võ Xuân Trang,…
Một số tác giả lại quan tâm nghiên cứu phơng ngữ ở phơng diện từ vựng nh: Nguyễn Quang, Nguyễn Đức Dơng, Nguyễn Văn ái,…
Nh vậy, lịch sử nghiên cứu phơng ngữ trên thế giới và trong tiếng Việt đã
có từ lâu đời Mặc dù họ quan tâm nghiên cứu ở nhiều phơng diện khác nhau của phơng ngữ nhng đều thống nhất quan điểm phơng ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trên một vùng địa lý xã hội cụ thể nào đó và nó thể hiện sự phát triển biến đổi liên tục của ngôn ngữ toàn dân Điều này thể hiện rõ trong các phơng ngữ tiếng Việt Việc nghiên cứu về một khía cạnh trong phơng ngữ Nam Bộ cũng là một cách nhằm khẳng định những quan điểm ấy
1.2.2 Phơng ngữ tiếng Việt và phơng ngữ Nam Bộ
1.2.2.1 Một số vấn đề phân vùng phơng ngữ tiếng Việt
Tuy việc nghiên cứu và phân vùng phơng ngữ tiếng Việt không phải là vấn đề đầu tiên của các nhà Việt ngữ học nhng đây là một công việc mà nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập tới ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX Và cho
đến nay đã hơn một trăm năm, phơng ngữ tiếng Việt đã đợc nhiều nhà Việt ngữ học trong và ngoài nớc quan tâm, nghiên cứu dới nhiều góc độ khác nhau Nh-
ng, xoay quanh vấn đề phơng ngữ có nhiều vấn đề đợc đặt ra
Trang 19Vấn đề phân vùng phơng ngữ trên mọi miền đất nớc và khảo cứu phơng ngữ tiếng Việt là một trong những quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau nhằm trả lời cho câu hỏi: tiếng Việt có bao nhiêu vùng phơng ngữ? Cơ sở của sự phân chia phơng ngữ? Ranh giới của sự khác biệt ở mỗi bình diện ngữ âm, từ vựng, là tới đâu?
Các ý kiến phân vùng phơng ngữ cho đến nay vẫn cha đợc nhất trí Có thể khái quát thành các khuynh hớng nh: phân chia thành hai vùng, ba vùng, bốn vùng và nhiều hơn nữa Điểm qua các ý kiến phân vùng phơng ngữ có thể rút ra một số nhận xét sau:
ý kiến chia tiếng Việt thành hai vùng phơng ngữ, đó là ý kiến của các tác giả nớc ngoài nh L.Cadiere với công trình “Ngữ âm tiếng Việt” (1902) chia tiếng Việt thành phơng ngữ miền thợng Trung kỳ và phơng ngữ miền hạ Trung kỳ
H.Masperô trong công trình “Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt” (1912) chia tiếng Việt thành hai vùng: phơng ngữ Bắc và phơng ngữ Nam
M.Grodina và I.Sbustrov (1970) chia tiếng Việt thành hai vùng phơng ngữ chủ yếu dựa vào hệ thống âm cuối
Trong nớc có ý kiến của tác giả Hoàng Phê (1963), khi phân chia tiếng Việt thì ông cũng chỉ công nhận có hai phơng ngữ chủ yếu là tiếng miền Bắc (có thủ đô Hà Nội) và tiếng miền Nam (có Thành phố Hồ Chí Minh), còn Trung
Bộ chỉ là một chuỗi phơng ngữ chuyển tiếp mà thôi
Nhìn theo tiến trình thời gian, chúng ta có thể nhận thấy những năm đầu thế kỷ, các công trình nghiên cứu không nhiều và các ý kiến của họ thờng mô tả các đặc điểm của những vùng phơng ngữ cụ thể mà họ quan tâm Nh vậy là ngay từ đầu, chúng ta thấy đã có những xu hớng tiếp cận phân chia phơng ngữ tiếng Việt thành hai vùng nhng căn cứ để phân chia thì khác nhau ít nhiều Họ cùng thừa nhận tiếng nói của hai vùng Hà Nội và Sài Gòn nằm ở hai cực của đất nớc có tính chất đối trọng về nhiều mặt lịch sử, xã hội, còn tiếng nói nằm giữa hai vùng là có tính chất chuyển tiếp Các công trình nghiên cứu của các tác giả này tuy nghiên cứu phơng ngữ nhng lại mang tính chất của một công trình
Trang 20nghiên cứu ngôn ngữ nhiều hơn bởi khi nghiên cứu phơng ngữ, họ đã không đặt
nó trong thế đối lập, so sánh với ngôn ngữ toàn dân hay với vùng phơng ngữ khác Điều này đòi hỏi cần phải có những công trình nghiên cứu phơng ngữ khác thoả mãn điều kiện của phơng pháp nghiên cứu phơng ngữ
ý kiến chia tiếng Việt ra làm ba vùng phơng ngữ, đó là tác giả Hoàng Thị Châu (1989) với công trình “Tiếng Việt trên các miền đất nớc” (Phơng ngữ học) Trong công trình này, tác giả đã nêu lên ý kiến của mình về việc chia tách tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ, đồng thời nêu lên nhận xét khái quát về mỗi phơng ngữ và chia tách các phơng ngữ lớn thành phơng ngữ nhỏ căn cứ trên các đặc điểm ngữ âm Riêng về vùng phơng ngữ Nam, tác giả lại chia thành ba phơng ngữ nhỏ hơn là:
- Phơng ngữ từ Quảng Nam đến Quảng Ngãi
- Phơng ngữ từ Quy Nhơn đến Bình Thuận
- Phơng ngữ Nam Bộ
Võ Xuân Trang (1997) cũng nh Hoàng Thị Châu đã chia tiếng Việt thành
ba vùng phơng ngữ lớn là: vùng phơng ngữ Bắc, vùng phơng ngữ Trung và vùng phơng ngữ Nam Mỗi vùng nh vậy bao gồm nhiều phơng ngữ nhỏ khác nhau
Bên cạnh đó, lại có ý kiến chia tiếng Việt thành năm vùng phơng ngữ (Nguyễn Bạt Tuỵ, 1950; Huỳnh Công Tín, 1999), và thậm chí có ngời nhìn nhận cực đoan rằng không nên chia tiếng Việt ra thành các vùng phơng ngữ vì những khác biệt giữa chúng là không rõ ràng (S.C Thomson, 1959) Sở dĩ có sự phân chia nh trên là có lí do của nó Khi phân chia phơng ngữ, ai cũng căn cứ tr-
ớc hết về ngữ âm, sau đó là từ vựng và cộng thêm một vài khác biệt phụ trợ khác Sự phân chia dựa vào tiêu chí khác nhau thì kết quả phân vùng sẽ khác nhau và những công trình nghiên cứu này cho chúng ta những tri thức khá thú vị
để nhận diện một vùng tiếng nói nào đó phục vụ cho việc nhận biết tiếng địa phơng
Từ những ý kiến khác nhau về việc phân chia vùng phơng ngữ, chúng tôi nhận thấy hiện nay phần lớn ý kiến của các nhà nghiên cứu đều thống nhất chia tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ lớn: phơng ngữ Bắc (Bắc Bộ), phơng ngữ
Trang 21Trung (Bắc Trung Bộ) và phơng ngữ Nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ) Vấn đề
mà chúng tôi trình bày ở đề tài này có liên quan đến một vùng phơng ngữ nhỏ là phơng ngữ Nam Bộ thuộc vùng phơng ngữ Nam Trung Bộ, Nam Bộ
Khác với việc phân chia vùng phơng ngữ, xu hớng mô tả các thổ ngữ hay một phơng ngữ nào đó đợc quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, qua quan sát các công trình mô tả các phơng ngữ cụ thể, chúng ta lại thấy có sự phân biệt về khái niệm và ranh giới địa bàn khảo sát khi dùng thuật ngữ phơng ngữ Có những mô tả mà đối tợng của nó là một vùng lãnh thổ thuộc một địa phơng nhất định (nh
tiếng Bình Trị Thiên của Vũ Xuân Trang; Tiếng Nghi Lộc của Võ Xuân Quế; tiếng Sài Gòn của Huỳnh Công Tín…) hay có những mô tả đối tợng của nó chỉ
là một thổ ngữ cụ thể (Thổ ngữ Vinh và Cao Lao Hạ của M.Ferlns; Thổ ngữ
Hội An của Cao Xuân Hạo…) Dờng nh sự khác biệt về đối tợng mô tả cũng
phản ánh một sự khác biệt khác về mục đích hay thủ pháp tiếp cận Những đề tài này nhờ phân biệt đợc những hiện tợng tuần tự của lịch sử và những hiện t-ợng “phi lịch sử” mà các mô tả này làm nổi bật bản chất phơng ngữ của nó H-ớng tiếp cận theo cách này có sự phù hợp với đặc điểm lịch sử hình thành các cộng đồng dân c của ngời Việt Nghiên cứu phơng ngữ cả vùng hay nghiên cứu phơng ngữ hay thổ ngữ điển hình tiêu biểu cho cả vùng điều đó là hoàn toàn có thể tuỳ theo mục đích của ngời ngời nghiên cứu
Ngoài cách tiếp cận trên thì một hớng nghiên cứu khác đối với phơng ngữ
đợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đó là hớng tiếp cận ngôn ngữ - văn hoá xã hội của phơng ngữ
Với cách nhìn nhận vấn đề phơng ngữ gắn với vấn đề lịch sử dân tộc thì ngời có công rất lớn đóng góp cho hớng này là Hoàng Thị Châu và một số ngời khác Tuy nhiên, những nghiên cứu nh vậy cha nhiều và cha đáp ứng đòi hỏi của các ngành khoa học khác cần tới sự đóng góp của ngôn ngữ học
Cách tiếp cận ở mặt ngôn ngữ - văn hoá xã hội của việc nghiên cứu
ph-ơng ngữ tiếng Việt là xem xét phph-ơng ngữ với vấn đề định danh, tri nhận của
ng-ời dùng, những vấn đề có liên quan đến chuẩn hoá tiếng Việt nói chung, vấn đề dùng tiếng địa phơng trong nhà trờng phổ thông và vai trò của tiếng địa phơng
Trang 22trong sáng tạo văn học Đây là những nghiên cứu đặt trong mối quan hệ phản
ánh với hiện thực đợc gọi tên, với ngời dùng, “nghiên cứu ứng dụng” của phơng ngữ học và qua đây ngời ta nhận biết mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ toàn dân và từng địa phơng của nó
Nh vậy, ngay từ lúc đầu các công trình nghiên cứu về phơng ngữ phần lớn là xem xét nó ở mặt ngữ âm, sau đó là mặt từ vựng Điều này đã phản ánh nét khác biệt nổi bật nhất giữa phơng ngữ và tiếng toàn dân Sau này các công trình nghiên cứu đợc mở rộng và bổ sung theo hớng lập từ điển tiếng địa phơng nh: Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh [4]; Từ điển đối chiếu từ địa phơng
[82]; Từ điển phơng ngữ Nam Bộ [1], từ điển từ ngữ Nam Bộ [60] … Với cách này các công trình từ điển đã cung cấp cho chúng ta một nguồn t liệu quan trọng về từ ngữ ở một vùng lãnh thổ nào đó giúp ích cho cả công việc tìm hiểu lịch sử văn hoá địa phơng Đó là những đóng góp quan trọng, trớc hết cho nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việt
1.2.2.2 Phơng ngữ Nam Bộ
Tính thống nhất của ngôn ngữ Việt Nam rất cao, nhất là chữ viết Nhng tiếng Việt không nằm ngoài quy luật chung của mọi ngôn ngữ trên thế giới Nghĩa là nó vẫn có những khác biệt giữa các địa phơng về phát âm, về từ ngữ và
ít nhiều về ngữ pháp Do lãnh thổ phát triển theo chiều dài, lại hình thành trong một quá trình tiệm tiến trải qua nhiều thế kỷ nh vết dầu loang, cho nên về mặt ngôn ngữ, các biến thể nh những con sóng mạnh yếu khác nhau, sức lan toả khác nhau, theo thời gian chúng cứ chồng xếp lên nhau, cùng với các đợt di dân trong lịch sử cứ từng chặng xuôi vào Nam trong điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch
sử yếu tố thời gian, sự giao lu ngôn ngữ khác nhau nên từ đó hình thành các
ph-ơng ngữ khác nhau trong lòng tiếng Việt Do đó, Phph-ơng ngữ Nam Bộ là một bộ phận nằm trong dòng chảy của ngôn ngữ dân tộc
Theo định nghĩa của “Từ điển tiếng Việt” [46, tr 793]: Phơng ngữ là
biến thể địa phơng hoặc biến thể xã hội của ngôn ngữ Nh vậy, có thể nói
ph-ơng ngữ Nam Bộ là biến thể địa lí của ngôn ngữ toàn dân; hay nói cách khác, phơng ngữ Nam Bộ là những biểu hiện khác biệt của ngôn ngữ tiếng Việt trên
Trang 23vùng địa lý c dân Nam Bộ đợc ngời Nam Bộ quen dùng Cho nên cũng có thể xem phơng ngữ Nam Bộ là lời ăn tiếng nói tự nhiên hằng ngày của ngời dân Nam Bộ
Lịch sử phát triển vùng đất phơng Nam của tổ quốc cũng đi liền với lịch
sử của nhiều cuộc chiến tranh chia cắt có tính chất dai dẳng, quyết liệt, mà chính những cuộc chiến tranh này đã chia cắt hẳn sự tiếp xúc giữa các vùng miền Đó là cuộc chiến tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn, Đàng Ngoài - Đàng Trong kéo dài trong suốt hơn hai thế kỷ chia cắt kể từ khi Nguyễn Hoàng đợc lệnh vào Nam mùa đông năm 1558 đến ngày Nguyễn ánh lấy lại Phú Xuân, thống nhất đất nớc 1802 Sau đó, đất nớc bị hoạ giặc ngoại xâm, thực dân Pháp
đã chia đất nớc thành 3 miền để trị: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ Ba miền với những thể chế hành chính và những luật lệ khác nhau đã góp phần tạo thêm thêm sự khác biệt nhiều mặt, trong đó có ngôn ngữ giữa các miền Sau năm
1954, đất nớc lại bị chia làm hai và nhân dân cả nớc lại phải tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày thống nhất đất nớc 1975 Do đó, có thể xem sự phân chia lãnh thổ chính trị - hành chính do lịch sử để lại là nhân tố quan trọng, sau nhân tố sự biến đổi bên trong của ngôn ngữ đã hình thành nên phơng ngữ Nam Bộ Bên cạnh đó, sự chia cắt tự nhiên về mặt địa lí làm cho sự giao lu tiếp xúc giữa các vùng gặp khó khăn càng củng cố thêm sự khác biệt ngôn ngữ giữa các vùng
Phơng ngữ Nam Bộ đợc hình thành và phát triển cùng với tiến trình phát triển lịch sử 300 năm của vùng đất mới Nam Bộ, bắt đầu từ thế kỷ XVII, cùng lúc với những đoàn ngời Việt đầu tiên vào định c khai khẩn vùng đất miền
Đông Nam Bộ, rồi sau đó phát triển mạnh xuống Miền Tây Họ vào đồng bằng này thoạt đầu với nhiều giọng nói khác nhau của nhiều địa phơng trong cả nớc, rồi quần tụ nhau lại, hợp tác với nhau trong lao động sản xuất và giao lu tình cảm,… Do đó, tiếng nói của nhiều địa phơng - quê hơng trớc đây mà họ mang theo dần dần đợc hoà đồng thống nhất do sự điều chỉnh tự nhiên của việc tiếp xúc thờng xuyên và mạnh mẽ trong cộng đồng dân c ở đây Từ đó, tiếng Việt ở
đồng bằng Nam Bộ cùng với cuộc sống của ngời dân nơi đây đã không ngừng
Trang 24phát triển, biến đổi thành sắc thái riêng nh hiện nay khác biệt với ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ khác
Phơng ngữ Nam Bộ đợc hình thành trên một vùng đất khá rộng lớn, có sự giao lu rất đậm nét với các phơng ngữ khác trong khu vực, nh phơng ngữ của
đồng bào Khơme, đồng bào Chăm, đồng bào Hoa,… và một số luồng ngôn ngữ khác Điều đó đã làm nên một diện mạo và bản sắc riêng không thể nhầm lẫn của phơng ngữ Nam Bộ Đồng thời, do đặc điểm chung của phơng ngữ là một trạng thái ngôn ngữ toàn dân bị chia cắt do hoàn cảnh lịch sử để lại, làm biến dạng đi ít nhiều, tạo ra một số nét riêng biệt, đó là tiếng nói sinh động của nhân dân lao động, đợc sử dụng chủ yếu trong khuôn khổ một vùng địa phơng nhất
định Cho nên, phơng ngữ Nam Bộ cũng nh các phơng ngữ khác của tiếng Việt không tránh khỏi có những phát triển biến đổi riêng biệt trong nội bộ hệ thống phơng ngữ, gắn liền với đặc điểm xã hội và tâm lí con ngời, thói quen sử dụng của ngời địa phơng Trải qua thói quen sử dụng phơng ngữ Nam Bộ đã tự khẳng
định bản sắc riêng của mình bằng con đờng “khẩu ngữ”, bằng những sáng tạo nghệ thuật dân gian trong đó có ca dao dân ca
Sự phát triển tự nhiên - tự do của phong ngữ Nam Bộ đợc thể hiện qua một số hiện tợng “cha định âm” (phát âm cha chuẩn) và “cha định hình” (cách viết chính tả cha ổn định nhất quán) Ví dụ: ngời dân Nam Bộ thờng có thói quen sử dụng 5 dấu thanh (thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một), thờng nói sai phụ âm đầu (v-d, h-g), có sự biến đổi trong phát âm (i-iê, ng-n), hay gộp âm trong xng hô (bả, chả, ảnh, chỉ) trong chỉ địa danh (ngoải, trỏng), hay dùng từ
cổ (bể, bợ, bông, heo), thích dùng yếu tố phụ để tạo từ có sắc thái (dơ hầy,
nhọn lểu, rẻ rề, vàng ngoách, đỏ hoét), thích vay mợn ngôn ngữ khác (chạp phô, tàu hủ, khổ qua, bao tử, hột xoàn, hên xui, cần xé, cù lao,…).
Phơng ngữ Nam Bộ không chỉ đợc sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của ngời dân nơi đây mà nó còn đợc phát triển mạnh mẽ trong địa hạt văn hoá thông qua văn học Nền văn học Nam Bộ và đội ngũ những nhà thơ, nhà văn ở
đây đã nối tiếp nhau phát triển liên tục và mạnh mẽ qua các thời kỳ lịch sử, nhất
là nền văn học cận đại và hiện đại của Việt Nam Bằng con đờng sáng tác,
Trang 25những nhà thơ, nhà văn của địa phơng này đã dày công khai thác và phản ánh vốn từ ngữ bình dân của phơng ngữ Nam Bộ vào trong lĩnh vực văn hoá nh một phong cách hay một thẩm mỹ ngôn ngữ, làm cho sự khác biệt của phơng ngữ này nh càng đợc củng cố, khắc sâu Ngoài ra, những hình thức văn học dân gian nh: ca dao, hò, vè, lý, cải lơng… phát triển rất phong phú ở vùng đồng bằng Nam Bộ cũng là mảnh đất tốt giúp cho việc lực chọn và phổ biến lời ăn tiếng nói của địa phơng mình.
Nhận diện đợc các đặc điểm của phơng ngữ sẽ giúp chúng ta có thể hiểu một cách thực tế sinh động sự phong phú của tiếng nói toàn dân Việc nhận diện phơng ngữ Nam Bộ cũng nh các phơng ngữ khác sẽ giúp chúng ta có thể hiểu thêm về một khía cạnh dùng từ của ngời dân nơi đây và sự đóng góp của phơng ngữ Nam Bộ vào trong ngôn ngữ toàn dân Có thể khái quát sơ lợc những nét chính cuộc sống và thói quen nói năng của ngời Nam Bộ nh sau:
Trên mảnh đất Nam Bộ, chúng ta có thể chứng kiến những căn nhà và cấu trúc làng xóm cũng giống nh con ngời Nam Bộ, thoải mái, ít bị ràng buộc
mà ta gọi là phóng khoáng Ngời Nam Bộ bộc trực, thích bông đùa, hài hớc chính phơng ngữ ở đây đã phản ánh khá trung thực các nét tính cách đó Từ ngữ
đợc dùng thờng rất linh hoạt và ngắn gọn Chẳng hạn những cách gọi nh: ông
ấy, anh ấy, chị ấy, bà ấy, đợc dùng quen thuộc trong ngôn ngữ toàn dân nhng
lại ít đợc ngời dân nơi đây sử dụng, ngợc lại họ lại tạo ra cách gọi - gộp, khác biệt: ổng, ảnh, chỉ, bả,… nhng không ai nói là củ, ẻm (cụ ấy, em ấy) cả bởi ph-
ơng ngữ Nam Bộ ra đời là do tiện dụng và không phải phụ thuộc vào một nguyên tắc nào Tuy nhiên, Phơng ngữ Nam Bộ cũng nh các phơng ngữ khác là ngôn ngữ nói phát sinh từ hoàn cảnh cuộc sống xã hội địa phơng cho nên nó khá gần gũi với tiếng lóng
Nam Bộ từ khi hình thành và khai phá để lập nên mảnh đất mới này từng
là nơi tiếp nhận và chung sống với cộng đồng lớn ngời Hoa và ngời Khơmer, cho nên trong phơng ngữ Nam Bộ cũng có một số tiếng lai, ví dụ: dzách, rầu,
mắc, xiêm la, mình ên, cà tha, lì xì, xí muội, thò lò,…một số địa danh đợc gọi
Trang 26tên có yếu tố của ngôn ngữ tiếp xúc nh: Sa Đéc, Sóc Trăng, Bãi Xáu, Chắc Cà
Đao…
Phơng ngữ Nam Bộ bắt nguồn từ nếp sống, cách suy nghĩ và nói năng của ngời Nam Bộ, cũng nh sự bộc trực, thẳng thắn, ít thích văn chơng rào đón, cho nên ngôn ngữ Nam Bộ thờng cụ thể, ngắn gọn, nóng bỏng, “huỵch toẹt”, ít diễn tả những trạng thái tâm t, nhất là những nội dung sâu kín tế nhị, mà thờng thể hiện hành vi, tính cách, hành động của con ngời bộc trực, nhng rất giàu hình tợng và thích ngoa dụ với mục đích làm vui Kiểu nói không lẫn với vùng khác,
ví dụ nh: bi dai bi lớn, bi nhiêu, bi tuổi, đẹp thấy ớn, xấu thấy sợ, say quắt cần
câu, lời thối thây
Nh vậy, phơng ngữ Nam Bộ đợc sử dụng trong một vùng địa phơng rộng lớn với một phần ba số dân cả nớc Có một trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học
- kỹ thuật và chính trị nổi bật, đóng vai trò chi phối mọi mặt sinh hoạt của toàn vùng Nam Bộ, đó là thành phố Sài Gòn, nay là thành phố Hồ Chí Minh Do thời gian hình thành phơng ngữ tơng đối mới, lại là một vùng đồng bằng thẳng tắp với nhiều đờng giao thông thuỷ bộ thông suốt, nền kinh tế phát triển nhanh chóng, việc giao lu trao đổi hàng hoá mở rộng thờng xuyên và đều khắp… đã tạo ra tính thống nhất cho phơng ngữ Nam Bộ rất cao về các mặt phát âm, từ ngữ cũng nh phong cách Tính thống nhất cao về mặt tiếng nói đó cũng là một khía cạnh biểu hiện sự gắn bó tâm lý, tình cảm, tập quán, phơng thức sinh hoạt của cộng đồng dân c ở đây
1.2.3 Khái niệm từ địa phơng và từ địa phơng Nam Bộ
Tiếng nói của một cộng đồng ngôn ngữ thờng là một thể thống nhất nhng
đa dạng Trong cái chung giống nhau vẫn có những sai biệt giữa các địa phơng Những khác biệt địa phơng có thể là về phát âm, về từ ngữ và có thể cả về mặt ngữ pháp Mỗi địa địa phơng nh vậy bên cạnh những đặc điểm chung với ngôn ngữ toàn dân còn có những nét khác biệt nhng nét khác biệt đó lại có thể là tính thống nhất trong vùng Tập hợp những nét khác biệt đó so với ngôn ngữ toàn dân trong một vùng chính là phơng ngữ ý niệm “địa phơng” ở đây bao hàm một vùng địa lý rộng lớn, có khả năng dung nạp những nét chung nhất về ngữ
Trang 27âm và từ ngữ sử dụng tại vùng đất đó Sự khác biệt giữa phơng ngữ so với ngôn ngữ chung thể hiện rõ nhất ở ngữ âm và từ vựng Cho nên nói đến phơng ngữ không thể không nói đến từ điạ phơng
Về khái niệm từ địa phơng, vì các nhà nghiên cứu đứng ở những góc độ khác nhau, nhấn mạnh những đặc điểm không giống nhau nên đến nay có nhiều quan niệm khác nhau ít nhiều Chẳng hạn cách hiểu của Nguyễn Văn Tu: “Từ
địa phơng không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng nhất định Chúng mang sắc thái địa phơng Ngời của địa phơng này không hiểu những từ của địa phơng khác” [74; tr.129] Với định nghĩa này, tác
giả Nguyễn Văn Tu đã nhấn mạnh tính chất riêng của từ địa phơng Theo ông, chính cái riêng của từ địa phơng đã làm nên sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa các vùng mà nhiều khi ngời ở địa phơng này không hiểu đợc từ của địa phơng khác Tuy nhiên, theo chúng tôi, nếu nh theo định nghĩa của Nguyễn Văn Tu thì những từ địa phơng Nam Bộ nh: ghe, lợm, cẳng,… là những từ mà những ngời vùng khác vẫn có thể hiểu đợc Những trờng hợp này cần giải thích ra sao?
Một hớng định nghĩa khác, Phạm Văn Hảo dới con mắt của ngời biên soạn từ điển, ông cho rằng: “Khác với một số biến thể vốn là đơn vị trong cùng
một hệ thống, từ ngữ địa phơng là loại biến thể gắn với một hệ thống nằm ngoài hệ thống từ vựng tiếng Việt văn hoá Điều đó đảm bảo cho một phơng pháp định nghĩa phù hợp với chúng Định nghĩa qua từ có nghiã tơng đơng (trong tiếng Việt văn hoá)” [21; tr.59] Theo cách hiểu của định nghĩa này thì
từ địa phơng là những từ mà nghĩa của chúng có giá trị ngang hàng với nghĩa của từ trong ngôn ngữ văn hoá Có nghĩa là từ địa phơng và từ toàn dân phải có nghĩa tơng ứng Tuy nhiên, một thực tế cho thấy những từ nh: măng cụt, sầu
riêng, chôm chôm,…cu đơ, chẻo, nhút, không có từ toàn dân tơng ứng về
nghĩa, chúng là những từ dùng trong một vùng, thờng chỉ các sự vật hiện tợng, chỉ có ở vùng địa phơng đó nếu không xem chúng là từ địa phơng thì cũng không thể xem là từ toàn dân Chỉ khi nào từ nào trong số đó mở rộng phạm vi
địa bàn sử dụng trở thành phổ biến trong toàn quốc thì mới trở thành từ toàn dân
Trang 28Trong bài viết “Các lớp từ địa phơng và chức năng của chúng trong
ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Quang Hồng (1981) đã định
nghĩa: “Từ địa phơng là những đơn vị và dạng thức từ ngữ của ngôn ngữ dân
tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phơng nhất định” [25; tr.313] Định nghĩa này đã chỉ ra đợc
các kiểu loại từ địa phơng (bao gồm cả loại đơn vị mà Phạm Văn Hảo không xem là từ địa phơng), phạm vi giới hạn sử dụng và cảm thức tự nhiên mang tính bản ngữ của ngời sử dụng
Từ các định nghĩa nêu trên, chúng tôi thấy các nhà ngôn ngữ học khi
định nghĩa từ địa phơng đều có những thống nhất với nhau trên hai nét cơ bản:
Thứ nhất, từ địa phơng là những từ bị hạn chế về phạm vi địa lí sử dụng
Tức là những đơn vị và dạng thức từ ngữ đợc sử dụng quen thuộc ở một hoặc một vài địa phơng nhất định.
Thứ hai, từ địa phơng có sự khác biệt nhất định về ngữ âm, từ vựng hay
Về khái niệm từ địa phơng Nam Bộ Dựa trên quan niệm chung của các tác giả, với hai đặc điểm cơ bản của từ địa phơng nh trên, chúng tôi đi đến xác
định: từ địa phơng Nam Bộ là những từ đợc ngời Nam Bộ quen dùng có sự
khác biệt về âm, nghĩa hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân Quan niệm
của chúng tôi chỉ có tính ớc định, tiện cho việc khảo sát, miêu tả từ địa phơng
đảm bảo tính nhất quán trong luận văn này Trong số các từ địa phơng Nam Bộ
mà chúng tôi thu thập, miêu tả có thể có những từ cũng đợc dùng trong phơng ngữ khác, điều đó cũng không có gì lạ, vì do các biến thể của ngôn ngữ nh những làn sóng có sự lan toả khác nhau và do hiện tợng di dân trong lịch sử hay tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên Vì thế việc xếp các đơn vị đó vào phơng ngữ nào là
Trang 29hết sức phức tạp Chúng tôi, nh đã nói, tạm xem chúng là từ địa phơng Nam Bộ vì chúng đợc ngời Nam Bộ dùng một cách tự nhiên phổ biến và có khác biệt với ngôn ngữ toàn dân
1.3 Ca dao - dân ca Nam Bộ với việc sử dụng từ địa phơng vùng Nam Bộ
1.3.1 Vùng đất và con ngời Nam Bộ
1.3.1.1 Vùng đất Nam Bộ
Nam Bộ là một vùng đất cuối cùng phía Nam của tổ quốc, nằm chủ yếu ở hạ lu của hai con sông Đồng Nai và Cửu Long Là vùng châu thổ màu mỡ với nhiều cửa sông đổ ra biển Chính điều này đã tạo nên một Nam Bộ trù phú với biết bao huyền thoại thời khai hoang mở đất
Sự hình thành và phát triển của vùng đất này không liền mạch giống với các vùng khác mà bị đứt quãng Về mảnh đất Nam Bộ, theo khám phá của các nhà khảo cổ học thì con ngời đã có mặt ở đây từ 4.000 đến 5.000 năm (chủ yếu
là vùng Đông Nam Bộ,còn vùng đất phía Tây Nam Bộ mới nổi lên khỏi mặt biển từ thế kỉ V, TCN) khi mà mảnh đất này đang còn là vùng đất chứa nhiều n-
ớc mặn, sình lầy, cây dại và dã thú Những c dân bản địa đầu tiên đã để lại khá nhiều dấu ấn văn hoá khá đặc trng về vùng miền, mà sinh động và thiết thực nhất là vùng tứ giác Long Xuyên và U Minh Thợng Tuy nhiên, nền văn minh
ấy cũng chỉ hứng khởi lên trong vòng vài trăm năm rồi bị chìm lấp trong lòng
đất miền Tây Do đó, những cộng đồng dân c đến sau này làn chủ vùng đất Nam Bộ đã đợc thừa hởng những ảnh hởng di sản của nền văn hoá cổ Đông Nam và dân tộc ta từ 4.000 năm lịch sử
Xét về mặt địa lý tự nhiên, mảnh đất Nam Bộ đợc chia thành hai khu vực lớn, bao gồm: Các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long Trong đó, Đông Nam Bộ có diện tích rộng khoảng 26.000 km2, gồm các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh và đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo Vùng đất này có những ngọn núi tha thớt xen giữa các triền đồi đất đỏ hoặc đất xám trùng điệp, lợn sóng nhấp nhô và ít có sông rạch Những c dân ngời Việt đã c ngụ đầu tiên ở mảnh đất này trớc khi lấn xuống
Trang 30đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long Còn Tây Nam Bộ với diện tích hơn 40.000
km2, gồm các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Minh Hải Mảnh đất này đợc khai phá muộn hơn
Đông Nam Bộ Đồng bằng Tây Nam Bộ hay còn gọi là Đồng Bằng Sông Cửu Long là mảnh đất tơng đối thấp, bằng phẳng, khí hậu mát mẻ, điều hoà quanh năm, là châu thổ phì nhiêu, đồng thời là trung tâm nông nghiệp lớn nhất nớc ta
ở đây hội tụ lịch sử con sông lớn của thế giới là sông Cửu long, đã tạo nên một
hệ thống sông rạch, kênh đào chằng chịt phục vụ cho các mục đích kinh tế, văn hoá, quốc phòng Cho nên, hiếm có nơi nào mà con ngời lại gắn bó mật thiết với sông nớc nh ở Tây Nam Bộ Chính điều kiện tự nhiên và con ngời ở đây đã ảnh hởng không nhỏ tới các sáng tác ca dao - dân ca
Theo lịch sử, trớc kia đây vốn là lãnh thổ của nớc Phù Nam và Chân Lạp Vào thế kỷ XVI, XVII đây còn là vùng đất hoang sơ, đợc chúa Nguyễn ở Đàng Trong khai phá Cho nên, có thể nhận thấy mảnh đất này chỉ thực sự đợc hình thành và khai hoang từ những cuộc di dân lớn của ngời Việt ở thế kỉ XVI và đầu XVII Đầu tiên là những nông dân ngời Việt đến đây “lập nghiệp” chủ yếu là từ các miền ngoài vào Họ chủ yếu là những ngời bần cùng lu tán hay một số ngời
có tiền thuê công dân đi khai khẩn đất hoang, hoặc lính tráng tội đồ đi bảo vệ biên cơng và khẩn hoang vùng biên giới hải đảo… và một phần là dân ở các nớc lân cận đến làm ăn Vì đây là vùng đất mới, còn hoang vu, thú dữ tràn đầy và biết bao nguy hiểm khác đe doạ cuộc sống con ngời nên các cộng đồng dân tộc sống đoàn kết, cùng chung lng đấu cật để chống thú dữ, thiên tai, khẩn hoang
mở rộng vùng đất Họ cùng vợt lên hoàn cảnh của chính mình mà đổi đời, trởng thành, xây dựng thành các ấp - phố, xã - phờng, xây dựng mảnh đất mới ngày càng giàu đẹp Trong đó, ngời Việt là nhân tố phát triển và đoàn kết Nh vậy, hơn 300 năm trớc, vùng đất này chỉ là những bãi sình lầy, hoang vu Với hệ thống sông rạch khá thuận tiện cho việc di chuyển, những lu dân ngời Việt đầu tiên đã vợt biển tìm đến mu sinh ở miền đất này Bằng bàn tay và khối óc, bằng
mồ hôi và nớc mắt và cả xơng máu nữa, họ đã biến miền đất hoang sơ này thành
đồng ruộng phì nhiêu, phố phờng đông đúc…
Trang 31Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay, mảnh đất Nam Bộ đã có nhiều tên gọi khác nhau qua các thời kì lịch sử: tên gọi Đàng Trong (còn gọi là Nam Hà), bắt nguồn từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, thế kỉ XVII, chỉ phần lãnh thổ Đại Việt từ sông Gianh (từ tỉnh Quảng Bình trở vào Nam) Sang giữa thế kỷ XVIII, khởi nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi và cuối cùng phong trào Tây Sơn đã lật đổ chế độ chúa Nguyễn Năm 1786, chấm dứt sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài Từ năm 1832, vùng đất Nam Bộ ngày nay chuyển thành tên gọi Nam Kỳ để chỉ lãnh thổ thuộc quyền cai quản của Gia Định Thành trớc kia Do vua Minh Mạng chia vùng lãnh thổ này thành 6 tỉnh trực tiếp đặt dới quyền cai quản của triều đình, nên nó còn có tên gọi là Nam Kỳ lục tỉnh Tuy nhiên, sang thế kỷ XX, mảnh đất này lại đợc đổi thành tên gọi Nam Bộ Sau cuộc đảo chính Pháp tại Đông Dơng ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật
đã tuyên bố trao lại quyền độc lập cho Việt Nam do vua Bảo Đại cai trị Cùng với việc thành lập chính phủ, vua Bảo Đại cũng đã cho phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 3 khu vực hành chính, trong đó Nam Bộ là khu vực tơng ứng với Nam Kỳ cũ
Trải qua hơn 300 năm với nhiều tên gọi khác nhau, cuối cùng tên gọi Nam Bộ dùng để chỉ mảnh đất phía Nam của tổ quốc và đó cũng là tên gọi đợc
sử dụng lâu dài nhất cho đến ngày nay
Do đây là địa bàn c trú của nhiều tộc ngời khác nhau cho nên có thể thấy mảnh đất Nam Bộ là vùng dân c mang tính hỗn hợp Nam Bộ cũng là vùng đa dạng về mặt tín ngỡng, tôn giáo, chênh lệch cách xa về lối sống và phong tục tập quán, trình độ phát triển xã hội và văn hoá, cũng nh thói quen canh tác và phong cách làm ăn không giống nhau Sở dĩ có hiện tợng này là vì tính chất hỗn hợp và đa dạng về mặt dân c Quá trình xích lại gần nhau, hoà hợp giữa các dân tộc trong khu vực là một hiện tợng có tính lịch sử, có tính quy luật, bắt nguồn từ lịch sử di dân và sự hình thành những vùng sinh thái nhân văn của cả khu vực châu thổ phù sa mới rộng lớn của Nam Bộ Chính quá trình cộng c lâu dài giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khơ-mer trên vùng đất Nam Bộ này đã khiến mọi mặt văn hoá - tín ngỡng phù hợp và giao thoa lẫn nhau Mỗi dân tộc nơi đây đều lu giữ nét văn hoá cho riêng mình, đồng thời cũng đóng góp vào nền văn hoá
Trang 32chung làm cho nền văn hoá Nam Bộ có sự phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc.
Nh vậy, phần cực Nam của tổ quốc đợc hiện lên với vẻ hoang sơ, bí ẩn nhng cởi mở rất dễ chịu, Những nét độc đáo về địa hình sông nớc và văn hoá của vùng “đất mới” đã tạo nên một Nam Bộ với dáng vẻ riêng, độc đáo, sức sống mãnh liệt
1.3.1.2 Con ngời Nam Bộ
Nghiên cứu ca dao - dân ca Nam Bộ, ta phải tìm hiểu về con ngời và tính cách đặc trng của con ngời nơi đây Bởi họ là chủ nhân đã tạo ra thơ ca dân gian Nam Bộ, để lại dấu ấn tâm hồn, tính cách, văn hoá, ngôn ngữ trong đó một cách sâu đậm
Đầu tiên, khi nói đến con ngời Nam Bộ là nói đến con ngời “tứ chiếng” bởi họ đến đây từ nhiều vùng đất khác nhau Cho nên, đây là địa bàn c trú của các dân tộc Việt, Chăm, Khơ-me, Hoa, Stiêng, Châu Ro…
Nói đến tích cách Nam Bộ không phải là nói đến một cái gì cá biệt mà là
sự thể hiện của một bộ phận riêng trong lòng một tinh thần chung của dân tộc
Do sống trong điều kiện sông nớc mênh mông chằng chịt với nhiều kênh rạch, nhiều sản phẩm trù phú của tự nhiên và chính môi trờng tự nhiên đã tác động nhiều đến con ngời nơi đây Bởi vậy, nói đến tính cách con ngời Nam Bộ là nói
đến những đặc trng chính sau:
Tính cách nổi trội đầu tiên của ngời dân Nam Bộ là trọng nghĩa khinh tài
và tính lạc quan Trong một môi trờng sống hoang vu, đầy sự đe dọa, những con ngời cùng đến nơi đây khai hoang “vùng đất mới” phải giúp đỡ lẫn nhau, nơng tựa vào nhau Cho nên, họ là những con ngời đầy nghĩa khí, sẵn sàng hy sinh cả bản thân mình để cứu ngời khác Họ coi trọng những việc dám làm, dám chịu, sẵn sàng đơng đầu với khó khăn thử thách, thấy đúng thì làm, sai thì sửa Chính thực tế khắc nghiệt đã tạo cho con ngời nơi đây một tính cách mạnh mẽ đến nh thế:
Ra đi là sự đánh liều,
Ma mai cũng chịu, nắng chiều cũng cam
Trang 33Một đặc điểm nổi bật của ngời Nam Bộ mà không ai không biết đến đó là tính bộc trực, thẳng thắn Họ không a kiểu nói văn hoa, dài dòng văn tự hay rào
đón trớc sau Họ chỉ chuộng lối nói ngắn gọn, thẳng tuột, nói toạc những điều mình nghĩ, ít khi phải đắn đo suy tính… Đó chính là một nét đẹp trong tính cách con ngời Nam Bộ thể hiện trong mối quan hệ giữa con ngời với con ngời
mà ít nơi nào có đợc Có nhiều ngời giải thích nét tính cách này là do sự phóng khoáng, thoải mái quy định Tuy nhiên, một phần khác lại do lịch sử mà tạo nên
Nếu mới đầu tiếp xúc với ngời Nam Bộ thì cho họ là con ngời cộc lốc, nhng nếu tiếp xúc lâu dài thì sẽ hiểu họ Nhà văn Sơn Nam có nhận xét rất tinh tế: “Ngời khẩn hoang thờng chữ nghĩa không đầy lá me, không rành sách
ngôn thánh hiền, tánh khí nóng nảy, bộc trực, lắm khi đến mức thô bạo, nhng sau khi đợc giải thích thì vui vẻ, thông cảm Ai hiểu lầm là nổi giận ngay”.
Bên cạnh đó, ta còn thấy ngời Nam Bộ rất hào phóng và hiếu khách Đây cũng là một nét đáng quý trong tính cách con ngời nơi đây Bao giờ cũng vậy, trong quan hệ đối xử với ngời hàng xóm, bạn bè và ngời thân của mình ngời dân Nam Bộ luôn muốn giành những gì quý nhất, đẹp nhất cho họ Khi có khách quý, họ không cần quan tâm đến ngày mai có cái ăn hay không mà trớc hết là
họ sẵn sàng mở lòng đón tiếp khách chu đáo và thoải mái:
Bắt con cá lóc nớng trui, Làm mâm rợu trắng đãi ngời phơng xa.
Tuy những ngời dân nơi đây lắm cơ cực nhng họ không cần phải giành giụm Bởi thiên nhiên u đãi nên họ làm đợc bao nhiêu là họ tiêu xài bấy nhiêu Cái quan trọng ở họ là tình ngời Cho nên, dù không có cái ăn cho ngày mai thì vẫn có thể cùng nhau uống rợu và đờn ca tài tử đến ngày hôm sau
Nh vậy, trải qua nhiều bớc thăng trầm của lịch sử, những con ngời tứ
chiếng của mảnh đất Nam Bộ đã hình thành nên những tính cách riêng rất đáng
quý Do đó, họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp riêng của văn hoá Nam Bộ trong
v-ờn hoa sắc hơng của nền văn hoá dân tộc Cả nớc có thể tự hào về một miền đất sớm nổi danh với những Nam Trung sĩ khí, Hào khí Đồng Nai
Trang 341.3.2 Vài nét về hình thức và nội dung ca dao - dân ca Nam Bộ
Ca dao - dân ca là một loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn hoá dân gian đã có từ rất lâu Ca dao - dân ca là mảnh đất trù phú, một kho tàng âm điệu vô tận, nơi thể hiện sinh động tính cách tâm hồn văn hoá truyền thống của dân tộc, của các vùng miền Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần gũi và thân thơng Mỗi miền quê đều có những câu
hò, điệu hát rất chung mà lại rất riêng, mang âm hởng của từng vùng miền Cũng nh ca dao - dân ca các vùng miền khác của dân tộc, ca dao - dân ca Nam
Bộ cũng mang âm hởng của riêng mình
Ca dao - dân ca Nam Bộ là bộ phận sáng tác dân gian ra đời muộn cùng với sự hình thành của vùng đất mới phía nam, tuy vậy bản sắc riêng của ca dao - dân ca vùng này lại khá đậm nét Mang theo vốn văn hoá dân gian của quê hơng bản quán di dân đến vùng đất mới, giao lu và hội nhập với nhiều luồng văn hoá khác nhau, theo thời gian, diện mạo một nền văn hoá dân gian mới đợc hình thành và dần hình thành những đặc trng khác với nền văn hoá của các vùng miền khác trong cả nớc
Ca dao - dân ca Nam Bộ nằm trong dòng chảy của ca dao - dân ca Việt Nam nên về hình thức và nội dung ca dao - dân ca Nam Bộ cũng nh ca dao - dân ca các miền khác là vừa có những cái chung của ca dao - dân ca dân tộc vừa
có cái riêng gắn với hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá, tâm
lý, tính cách con ngời ở địa phơng Nam Bộ
1.3.2.1 Về hình thức
Đối với các sáng tác dân gian thì hình thức diễn xớng là không thể thiếu Bởi chỉ tồn tại dới hình thức diễn xớng mới có thể bộc lộ hết vẻ đẹp và những tác động thẩm mỹ do nó tạo nên mới toàn diện và sâu sắc
Hình thức diễn xớng của các tác phẩm văn học dân gian đợc quy định bởi hoàn cảnh tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hoá Đồng thời, nó đợc quy định bởi loại hình tồn tại của tác phẩm Hình thức diễn xớng tổng hợp của ca dao - dân
ca Nam Bộ đợc thể hiện ở các thể loại cụ thể: hò, hát, lý… ở mỗi thể loại lại có những môi trờng và hình thức thể hiện khác nhau
Trang 35Về hò, bao gồm hò chèo ghe, hò cấy lúa, hò xay giã gạo, hò đa linh Mỗi điệu hò lại thể hiện trong những điều kiện, môi trờng lao động khác nhau của ngời dân Ví dụ nh hò chèo ghe là biểu hiện tập trung, điển hình của hình
thức sinh hoạt văn hoá dân gian trên sông nớc Đó là khung cảnh sinh động vô tận để họ bộc lộ tâm t, tình cảm của mình Hò cấy hay còn gọi là hò công cấy
đợc hình thành trên đồng ruộng vào các mùa cấy, nó giúp cho mọi ngời say mê với công việc, kích thích niềm vui trong lao động của họ
Hát trong dân gian Nam Bộ thờng đợc dùng để chỉ các hình thức diễn
x-ớng tổng hợp hay sân khấu nh: hát sắc bùa, hát đa linh, hát bội… Đồng thời, hát đợc dùng để chỉ các thể loại dân ca đơn lẻ hoặc đối đáp ở đây, mỗi thể loại
đợc coi là những thành tố cấu thành hình thức diễn xớng của nó Ví nh hát ru dựa trên đặc thù của động tác hỗ trợ cho lời hát và chức năng của lời hát hoặc những tiếng đa hơi Đây là loại bài ca gắn bó chặt chẽ với sinh hoạt gia đình và các mối quan hệ gia đình nh: mẹ - con, bà - cháu, chị - em…Loại này thuộc dạng hát đơn Tuy nhiên, ngời hát vẫn luôn có sự hình dung đang hát đối đáp -
“đối thoại cảm xúc” giữa ngời nào đó với mình
Bên cạnh những điệu hò, câu hát trữ tình, êm dịu, ca dao - dân ca Nam
Bộ còn bao gồm những bài Lý Lý là những khúc hát ngắn gọn, vui tơi, dí dỏm, mang tính lạc quan yêu đời rõ nét với các nhịp điệu phong phú và sinh động Hình thức diễn xớng của lý rất rộng và gắn với mọi môi trờng sinh hoạt của đời sống nhân dân Lý có thể hát trong nhà, ngoài ruộng, trên sông rạch, khi lao
động hay vui chơi, giải trí…
Có thể thấy, mỗi thể loại gắn liền với những hình thức diễn xớng khác nhau, tạo nên sự đa dạng về thể loại và nội dung, đồng thời thể hiện nhiều khía cạnh khác nhau của tình cảm con ngời Nam Bộ trong ca dao - dân ca
1.3.2.2 Về nội dung
Trang 36Ca dao - dân ca nói chung đợc chia thành ba loại: thơ ca nghi lễ, dân ca lao động và ca dao - dân ca trữ tình Ca dao - dân ca su tầm ở Nam Bộ cũng nằm chung trong cái khung phân loại ấy và có những biểu hiện cụ thể sau:
Thơ ca nghi lễ là một thể loại sáng tác dân gian rất cổ, nảy sinh trong
quá trình lao động, sinh hoạt, gắn chặt với thế giới quan cũng nh ý thức tôn giáo của con ngời Hình thức diễn xớng của nó kèm theo các hành động nghi lễ với niềm tin có thể cảm hoá đợc các lực lợng siêu nhiên giúp con ngời khắc phục đ-
ợc mọi tai hoạ…
Dân ca lao động là những bài ca đợc hò hát trong lao động với điều kiện
là tiết tấu, nhịp điệu, sắc thái biểu cảm, tốc độ, cờng độ và cách thức diễn xớng của nó phải gắn chặt với các quá trình của một công việc cụ thể nào đó của nhân dân Cho nên, dân ca lao động chỉ nảy sinh trên cơ sở của những công việc
có sự lặp đi lặp lại về nhịp điệu và động tác lao động Đó là những việc nh:
chèo ghe, tát nớc, phát cỏ, kéo gỗ, giã gạo, xay lúa…
Tuy nhiên, không phải mọi bài ca đợc hát trong lao động đều thuộc thể loại dân ca lao động Cho nên, những bài hát, điệu hò đợc hình thành trong quá trình lao động mà nội dung của nó không trực tiếp liên quan đến việc đang làm, nhịp điệu, tiết tấu của nó không bám sát với động tác lao động… thì sẽ đợc xếp vào thể loại ca dao - dân ca trữ tình
Ca dao - dân ca trữ tình là những bài ca đợc hát trong lao động, nhng
nội dung cơ bản của nó nhằm bộc lộ tâm t, tình cảm của nhân vật trữ tình, bộc
lộ tình yêu tha thiết của nhân dân đối với quê hơng đất nớc, tình cảm lứa đôi, tiếng ca nghĩa tình của nhân dân trong quan hệ gia đình và những mối quan hệ xã hội khác Các bài ca của mỗi thể loại này mang một vẻ đẹp riêng và nó thể hiện thế giới nội tâm vô cùng đa dạng và đậm chất trữ tình
Cùng với ca dao - dân ca các vùng khác, ca dao - dân ca Nam Bộ cũng có các mảng chủ đề chung mang tính thống nhất làm thành dòng chảy của ca dao - dân ca dân tộc Tính thống nhất đó đợc thể hiện rõ ở các nội dung của thể loại Nội dung đó biểu hiện qua các mảng chủ đề sau:
- Tình cảm của ngời dân Lục tỉnh đối với quê hơng, đất nớc;
Trang 37- Quan hệ yêu đơng và suy t của nam nữ thanh niên;
- Tiếng ca tình nghĩa của ngời lao động trong quan hệ gia đình;
- Những khúc ca vui buồn của nhân dân trong các mối quan hệ khác.Các mảng chủ đề này có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan chéo vào nhau, trong nhiều trờng hợp khó có thể xác định một cách dứt khoát bài ca thuộc mảng chủ đề nào Song toàn bộ ca dao - dân ca ở Nam Bộ không nằm ngoài các nội dung chủ yếu ấy Chủ đề ca dao - dân ca Nam Bộ nh vậy cũng giống với chủ đề phổ biến của ca dao - dân ca các miền Tuy nhiên, trong nội dung của mỗi thể loại trong ca dao - dân ca Nam Bộ, tính địa phơng lại đợc thể hiện đậm nét Bởi các nội dung phản ánh luôn gắn liền với thiên nhiên và cuộc sống của ngời dân nơi đây Ví dụ nh cùng chủ đề cảm nghĩ về quê hơng đất nớc nhng nội dung của các bài ca Nam Bộ luôn phản ánh đậm nét tính hai mặt của thiên nhiên nơi đây:
- Cảnh hoang vu khắc nghiệt của một vùng đất cha có bàn tay con ngời khai phá
- Sự u đãi của thiên nhiên khi đã đợc con ngời chinh phục, sự giàu có và phong phú của những sản vật do bàn tay con ngời tạo ra
Hay, trong chủ đề tình yêu nam nữ, tình cảm con ngời nơi đây có phần không giống các vùng khác Họ bộc lộ tình cảm một cách trực tiếp, nói thẳng, không bóng gió xa xôi, không úp mở, cốt sao nói hết cái thơng trong lòng:
Phải chi cắt ruột đừng đau,Chiều nay tui cắt ruột, tui trao anh mang về
Những biểu hiện trên là một trong những sắc thái độc đáo của ca dao - dân ca Nam Bộ
Nh vậy, ca dao - dân ca của nhân dân từ Bắc đến Nam là một dòng chảy liên tục, tạo nên sự thống nhất chung cả về hình thức lẫn nội dung thể hiện Tuy nhiên, trong dòng chảy chung và thống nhất ấy, ca dao - dân ca Nam Bộ lại thể hiện những sắc thái riêng mang tính địa phơng độc đáo
1.3.3 Vài nét về từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ
Trang 38Ca dao - dân ca là lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động Lời trong ca dao - dân ca là những câu hò bài hát đợc tạo ra trực tiếp trong lao động nên nó không mang đặc điểm nh một viên ngọc đợc chế tác gọt giũa công phu Tuy có phần thô ráp nhng đấy là tiếng nói chân chất hồn hậu nhất của họ Chính vì thế hơn bất cứ sáng tạo nghệ thuật nào, thơ ca dân gian sử dụng rất nhiều từ địa ph-
ơng, những từ ngữ mà ngời lao động vốn quen dùng trong cuộc sống hàng ngày
Ngôn ngữ của nhân dân Nam Bộ gắn chặt với môi trờng và cuộc sống sinh hoạt của con ngời ở đây Trong vốn từ vựng mà nhân dân Nam Bộ đã sử dụng, bên cạnh một kho tàng từ ngữ giàu có đợc phổ biến khắp cả nớc, có một
bộ phận không nhỏ những từ ngữ địa phơng Đó là những từ làm tên gọi cho một số sự vật, sản vật; những từ biểu hiện tình cảm khác nhau của con ngời nảy sinh trong bối cảnh thiên nhiên và xã hội Ca dao - dân ca Nam Bộ đã khai thác triệt để vốn từ vựng đó của địa phơng
Con ngời Nam Bộ vốn là những nông dân có đầu óc thực tế tính tình chất phác thẳng thắn, cho nên ngôn ngữ đợc sử dụng trong ca dao - dân ca Nam Bộ
có sự khác biệt so với ca dao - dân ca Bắc Bộ Nếu nh trong ca dao - dân ca Bắc
Bộ, ngôn ngữ đợc trau chuốt, gọt dũa tạo nên những từ ngữ mang tính khuôn sáo, cái chất sáng tạo và phát hiện của nghệ thuật dờng nh mòn dần và đó là
nhợc điểm của nhiều bài ca dao Bắc Bộ (Xuân Diệu) thì ca dao - dân ca Nam
Bộ liều lợng của những câu óng ả, chải chuốt không nhiều mà ngôn ngữ ở đây thờng đợc biểu hiện ở hai mặt:
Thứ nhất là nhỏ nhẹ, hiền lành, ngộ nghĩnh, dễ thơng:
Nớc chảy liu riu
Lục bình trôi líu ríu,
Anh thấy em nhỏ xíu anh thơng
Liu riu, líu ríu, nhỏ xíu,… là những từ mang giọng tâm tình, ngọt ngào,
duyên dáng, nhỏ nhẹ mà cũng rất sâu sắc
Thứ hai là lối sống xông xáo, phóng túng, tự do Điều này vừa phù hợp với tính cách con ngời, vừa phù hợp với phong cách sinh hoạt xã hội ở Nam Bộ Khác với các vùng khác, nhiều câu ca dao - dân ca Nam Bộ lấy thẳng ngôn ngữ
Trang 39từ khẩu ngữ sinh hoạt hàng ngày, trực tiếp, mang tính phóng túng, trẻ trung, dí dỏm và chân thực Con ngời Nam Bộ yêu ra yêu, ghét ra ghét và luôn sống hết mình:
Con ếch ngồi dựa gốc bng,
Nó kêu cái quệt biểu ng cho rồi
Ngôn ngữ trong ca dao - dân ca Nam Bộ luông đầy sức sống, tác động mạnh vào mọi giác quan của ngời nghe Điều đó đợc thể hiện ở hàng loạt các danh từ, động từ, tính từ chỉ mức độ cao kèm theo nh: non èo, ốm o, tởn, ớt
mem, mốc thích, mỏng dánh, tối hù, nói phứt, cao nghệu… Đó chính là sự
sáng tạo trong việc sử dụng các từ ngữ rong ca dao - dân ca Nam Bộ không chịu
sự ràng buộc vào những khuôn mẫu của ngôn ngữ truyền thống
Đi vào khảo sát thống kê từ địa phơng Nam Bộ thể hiện trong ca dao - dân ca chúng tôi thấy đúng nh giả định; các lớp từ địa phơng đợc sử dụng rất phong phú, đặc biệt là các từ ngữ gọi tên các đối tợng liên quan đến sản vật miệt vờn đồng ruộng, các từ chỉ sông nớc và cuộc sống của ngời dân gắn với sông n-
ớc Đó là cơ sở khoa học và thực tế đảm bảo cho chúng tôi đi vào nghiên cứu
đặc điểm từ địa phơng Nam Bộ thể hiện trong ca dao - dân ca địa phơng
Nh vậy, việc sử dụng vốn từ ngữ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhkhẩu ngữ đã làm giàu thêm cho ngôn ngữ của ca dao - dân ca Nam Bộ và cũng chính ngôn ngữ trong ca dao - dân ca Nam Bộ đã góp phần tạo nên bản sắc riêng tiếng nói của một vùng sông nớc
1.4 Tiểu kết chơng 1
“Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con ngời” (LêNin), mỗi quốc gia dân tộc cần phải có một thứ công cụ giao tiếp quan trọng chung cho toàn xã hội, đó là ngôn ngữ toàn dân Tuy nhiên, ở mỗi địa phơng lại có những biến thể tạo nên những phơng ngữ khác nhau Tiếng Việt cũng vậy, từ ngàn xa vốn là một ngôn ngữ thống nhất, nhng trong quá trình phát triển của lịch sử, trong lòng nó tiếng Việt dần dần hình thành các phơng ngữ Sự khác nhau giữa các phơng ngữ chủ yếu thể hiện ở ngữ âm và từ vựng, còn về ngữ pháp thì hầu nh là không đáng kể
Trang 40Phơng ngữ Nam Bộ là một bộ phận nằm trong dòng chảy của tiếng Việt,
là tiếng nói của khu vực dân c từ Đồng Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau Phơng ngữ Nam Bộ ra đời gắn liền với quá trình hình thành và phát triển vùng đất mới trên ba thế kỷ nay Đó là quá trình hội tụ của nhiều dạng tiếng nói địa phơng khác nhau của ngời Việt từ các nơi miền ngoài mang đến Bên cạnh đó còn có
sự tiếp xúc vay mợn ngôn ngữ của các dân tộc cùng sinh sống ở vùng đất này
Ca dao - dân ca Nam Bộ là sản phẩm sáng tạo của chính ngời dân Nam
Bộ, nó đã ghi lại và phản ánh thiên nhiên và cuộc sống của con ngời nơi đây Ngôn ngữ mà nhân dân Nam Bộ sử dụng luôn gắn chặt với môi trờng và cuộc sống sinh hoạt của chính họ Cho nên, bên cạnh vốn từ giàu có của dân tộc thì
từ ngữ địa phơng Nam Bộ chiếm một phần không nhỏ trong các sáng tác ca dao
- dân ca Nó góp phần thể hiện sắc thái riêng biệt của tiếng địa phơng Nam Bộ Chúng tôi tìm hiểu Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ một phần nhằm chứng minh màu sắc riêng biệt ấy
Chơng 2 đặc điểm từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ
Vốn từ đợc ngời dân sử dụng trong các sáng tác dân gian bên cạnh từ ngữ toàn dân thì có một bộ phận không nhỏ là các từ ngữ ngời dân sử dụng trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày có sự khác biệt với ngôn ngữ chung, đó chính là
từ địa phơng Cho nên, từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ là những từ