BẢN SẮC VĂN HÓA VÀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘNhững giá trị văn hóa đó không phải tự nhiên mà có, mà được tạothành dần dần và được khẳng định trong quá trình lị
Trang 1BẢN SẮC VĂN HÓA VÀ TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Những giá trị văn hóa đó không phải tự nhiên mà có, mà được tạothành dần dần và được khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng,củng cố và phát triển của nhà nước dân tộc Việt Nam Những giá trị đóđược bảo tồn, bổ sung và tiếp biến những giá trị mới cho phù hợp Dântộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểmnghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổsung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác.Miền Đông Nam Bộ nằm trên lưu vực sông Đồng Nai, gồm các tỉnh,thành: Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, thành phố HồChí Minh và Bà Rịa ‑ Vũng Tàu Miền Đông Nam Bộ là vùng cư trú củanhiều thành phần dân tộc có nguồn gốc địa phương khác nhau tụ họp
về đây Đây là vùng đất có nhiều tôn giáo và các hình thức tín ngưỡngtồn tại trong nhân dân, là vùng hội tụ dân cư do những cuộc di dân lớndiễn ra hàng thế kỷ tạo nên, vốn có nhiều hệ thống phong tục tập quánkhác nhau kết tinh thành truyền thống văn hóa chung có đặc tính riêngtrong văn hóa Việt Nam
Trang 2Trải qua quá trình lịch sử, nhiều lớp dân cư từ đồng bằng Bắc Bộ,
từ các tỉnh duyên hải miền Trung đến đây lập làng xóm, khai thác đấtđai, phát triển nông nghiệp, xây dựng nên những cánh đồng lúa Từnhững làng xóm của vùng đồng lúa đi đến sinh sống ở những vùng đôthị, trước hết là vùng đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn, miền đồi núi, ĐôngNam Bộ…
Cư dân người Việt (Kinh) và văn hóa người Việt đã thực sự trở thànhnền tảng căn bản từ đầu thế kỷ XVIII cho đến ngày nay Sự giao tiếpgiữa các tộc người và sự tiếp cận giữa những hệ thống văn hóa khácnhau đã tạo nên những đặc điểm văn hóa có tính đặc thù cho các dântộc vùng miền Đông Nam Bộ
Cư dân ở vùng miền Đông Nam Bộ ngoài người Việt chiếm đa số,còn có các dân tộc bản địa và nhập cư như: Chơro, Mạ, Stiêng, Cơho,Hoa, Chăm, Khơme, Tày, Nùng, Mường… Bản sắc văn hóa của các dântộc vùng miền Đông Nam Bộ bao hàm những những giá trị tiêu biểunhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc biểu hiện trên cáclĩnh vực đời sống vật chất và tinh thần thông qua sinh hoạt sản xuất,giao tiếp, ứng xử hằng ngày của con người ở vùng miền Đông Nam Bộ
1.1 Cách thức tổ chức xã hội cổ truyền
Không giống như người Việt ở Bắc Bộ, làng xóm của người Việt Nam
Bộ không nằm trong những lũy tre xanh bao bọc mà được hình thànhdọc theo những con kênh, rạch, triền sông và vùng đồng bằng thấp bằngphẳng Nơi ở, đằng trước có ghe thuyền qua lại, xung quanh là vườncây ăn trái và đằng sau là ruộng đồng Tổ chức làng xã ở Đông Nam Bộcũng như Nam Bộ không chặt chẽ như làng ở miền Trung và miền Bắc Các dân tộc bản địa nơi đây cư trú theo các bòn, sóc Người Chơro
gọi làng là palây, đublây; người Mạ gọi là bòn; người Stiêng gọi là sóc, bòn,
bù; người Khơme gọi là phum, sóc… Mỗi làng gồm nhiều gia đình, dòng
họ hoặc vài tộc họ tập trung lại Ranh giới làng không rõ rệt, gồm vàinhà sàn dài (sau này là vài chục nhà sàn nhỏ) ở cùng một địa điểm cưtrú Xưa kia đứng đầu mỗi nhà dài có vị trưởng họ hay tộc trưởng gọi
là ông đầu nhang ‑ voh yang va (người Chơro), chau đoòng (người Mạ),
tom yau (người Stiêng) hoặc vị già làng hay hội đồng già làng có tráchnhiệm giải quyết các việc trong trong một làng, palây, bòn, sóc… Đây là
Trang 3những người già có uy tín, có nhiều kinh nghiệm được mọi người tronglàng tín nhiệm và tuân phục.
1.2 Phong tục tập quán:
Phong tục của người Việt ở vùng Đông Nam Bộ cũng có nguồngốc từ đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, nhưng có tiếp biến thêmnhiều yếu tố từ phong tục của người Khơme, người Chăm, ngườiHoa… Chẳng hạn, hầu hết người Việt Nam Bộ vẫn giữ tập quán giẫy
mả vào ngày 25 tháng Chạp trước khi làm lễ đón ông bà vào ngày 30tháng Chạp âm lịch, nhưng một bộ phận người Việt Nam Bộ cũngtheo tập quán tảo mộ vào tiết Thanh minh tháng Ba âm lịch giống nhưngười Hoa
Tính cách của người Việt Nam Bộ cũng có nhiều nét khác biệt vớingười Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ: cởi mở, không ưa sựràng buộc, chuộng sự bình đẳng; trong mưu sinh thì có tinh thần mạohiểm, bươn chải, đầu óc sáng tạo, nhanh nhạy với cái mới; trong ứng xửthì bộc trực, hào hiệp, trọng nghĩa, khinh tài, thích ăn chơi xả láng…Người Chăm ở Đông Nam Bộ hầu hết theo đạo Hồi (Islam) nên
có những món ăn riêng, gọi là các món halal Họ ăn thịt các loài độngvật do chính họ cắt tiết và làm lấy Trong tháng chay nhịn Ramadan,người Chăm Hồi giáo phải giữ mình trong sạch và phải chịu thử tháchbằng cách nhịn ăn, uống, hút thuốc vào ban ngày (khi có ánh sáng mặttrời) và chỉ được phép ăn, uống, hút thuốc vào ban đêm
Người Chăm Islam có tục chôn cất người chết trong vòng 24 giờ vàkhông có quan tài với ý nghĩa thân xác người chết sẽ mau hòa tan trở vềvới đất
1.3 Tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội
Miền Đông Nam Bộ có nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian Các dântộc bản địa như: Chơro, Mạ, Stiêng, Cơho theo tín ngưỡng vạn vật hữulinh, tôn sùng tự nhiên Hàng năm đồng bào có những lễ hội gắn vớinông nghiệp, với núi rừng như: lễ mừng lúa mới, lễ cúng Yang(SaYangva), cúng thần rừng, thần sông suối, thần nhà, thần cửa, lễđâm trâu…
Trang 4Ở Tây Ninh có núi Bà Đen, trên núi có đền Linh Sơn Thánh Mẫunổi tiếng Đạo Phật kết hợp với đạo Lão, đạo Khổng, đạo Kitô, đạoMẫu là cơ sở hình thành đạo Cao Đài trên vùng đất Đông Nam Bộ TâyNinh là thánh địa của đạo Cao Đài Hiện đạo Cao Đài có 2,7 triệu tín
đồ Còn các làng ven biển Bà Rịa ‑ Vũng Tàu và Cần Giờ ‑ thành phố
Hồ Chí Minh thì có các đình miếu thờ cúng Cá Ông Miền Đông Nam
Bộ cũng là nơi có đông đồng bào theo đạo Công giáo (tập trung đôngnhất ở tỉnh Đồng Nai)
Lễ hội tín ngưỡng ‑ tôn giáo bao gồm các lễ hội thường niên củađạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành,hội đền Linh Sơn Thánh mẫu ở núi Bà Đen Ở các đình làng, thườngxuyên có các lễ Kỳ yên tiến hành vào đầu năm và cuối năm tạ ơnThành hoàng bổn cảnh, thần linh và các bậc tiền hiền, hậu hiền Ởvùng ven biển, lễ hội Nghinh Ông là sự kiện quan trọng bậc nhấttrong đời sống văn hóa và tâm linh của cư dân Ở Bà Rịa‑Vũng Tàu,nơi có 10 đền thờ cá voi, nhiều nhất ở miền Nam, bên cạnh lễ hộiNghinh Ông còn có lễ Lệ Cô Long Hải từ 10/2 đến 12/2 âm lịch để thờcúng Mẫu ‑ Nữ thần và kết hợp cúng thần biển Ở Cần Giờ (thành phố
Hồ Chí Minh) và Bà Rịa ‑ Vũng Tàu đều có lễ hội Nghinh Ông trọngthể hằng năm Lễ hội văn hóa ‑ lịch sử bao gồm các lễ tết cổ truyềnnhư tết Nguyên Đán, tết Đoan ngọ Các lễ hội tưởng niệm các danhnhân có công mở đất như Nguyễn Hữu Kính, Lê Văn Duyệt, TrầnThượng Xuyên…
Người Khơme vẫn duy trì tín ngưỡng thờ Neak ‑ tà là các thần bảo
hộ con người và đất đai dưới hình tượng những viên đá cuội Các lễhội truyền thống của người Khơme bao gồm hai loại chính: các lễ hộiPhật giáo (lễ Phật Đản (bon Pisakh Bâuchea), lễ nhập hạ (bon ChâulVâssa), lễ cầu phước (bon Đa), lễ hội linh (bon Pchum Bôn), lễ tang (bonSôp) ) và các lễ hội văn hóa ‑ lịch sử (lễ Tết‑ pithi Chôl Chnam Thmây,
lễ cúng tổ tiên ‑pithi Sen Đônta, lễ cúng trăng ‑pithi Sâm Peak PreachKhe hay còn gọi là lễ đút cốm dẹp ‑ Âk Âmbok với các nghi lễ cảm tạthần Mặt Trăng bảo hộ mùa màng, điều hòa thời tiết, đem lại ấm no, tổchức đua ghe ngo ‑ Um tuk ngua ) Các nghi lễ vòng đời có lễ cắt tóc(đầy tháng), lễ giáp tuổi (12 tuổi), lễ đi tu cho nam giới, lễ cưới, lễ chúcthọ và lễ tang với hình thức hỏa táng
Trang 5Người Hoa phần nhiều theo các tín ngưỡng dân gian và thờ cúng tổtiên Hệ thống thần thánh của người Hoa rất phong phú và phức tạp.Các thần thánh được cộng đồng thờ cúng gồm bà Thiên Hậu, QuanThánh Đế Quân, Quan Âm Bồ Tát, Phúc Đức Chánh thần, Khổng Tử Trong đó, thánh nhân được thờ cúng nhiều hơn thần linh như ThiênHậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Phước Đức Chánh thần (ba vịthần được tôn sùng nhất)
Người Chăm ở Đông Nam Bộ theo đạo Hồi (Islam), tôn thờ Thượng
đế Allah và lấy Kinh Qur’an làm kim chỉ nam cho hoạt động tín ngưỡngcủa mình Các lễ hội truyền thống của người Chăm ở Đông Nam Bộ chủyếu là lễ hội tín ngưỡng ‑ tôn giáo: lễ Tolakbala vào ngày thứ Tư tuầncuối tháng Safar (tháng 2 Hồi lịch) để cầu xin Thượng đế ban sự bình
an, lễ kỷ niệm ngày sinh của Đấng Muhammad vào ngày 12 thángRabiul Awal (tháng 3 Hồi lịch), lễ Raya Iadil Fitrah vào ngày cuối cùngcủa tháng chay nhịn Ramadan (tháng 9 Hồi lịch) Các nghi lễ vòng đờigồm có lễ đặt tên, cắt tóc cho trẻ sơ sinh (cha kak buk), lễ thành niênthực hiện tiểu phẫu (khotan) ở bộ phận sinh dục khi con trai và con gáiđến 15 tuổi, hôn lễ và tang lễ với hình thức địa táng
Những đặc điểm văn hóa về cư trú, tổ chức làng xã, sinh hoạt sảnxuất, hay phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội dân gian… đã tạo nênnhững giá trị văn hóa được lưu truyền qua nhiều thế hệ trở thành bảnsắc văn hóa cho cộng đồng cư dân ở vùng Đông Nam Bộ
2 Đến tri thức địa phương
Bên cạnh những giá trị tiêu biểu hay còn gọi là bản sắc văn hóa thìcòn có hệ thống tri thức địa phương là những kiến thức, kinh nghiệmđược người dân địa phương trải nghiệm và học tập qua quá trình laođộng thực tế Đó là sản phẩm văn hóa có giá trị thực tiễn vô cùng to lớncủa người địa phương
Tri thức địa phương là sản phẩm văn hóa có giá trị tinh thần vô cùng
to lớn cho thế hệ mai sau Tuy nhiên hiện nay, những giá trị ấy ngàycàng bị mai một và có nguy cơ mất đi khi nền kinh tế thị trường pháttriển Cho nên việc lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau là điềucần thiết và quan trọng
Trang 62.1 Tri thức về thiên nhiên và môi trường
Văn hóa của các dân tộc bản địa Chơro, Mạ, Stiêng, Cơho nổi lênvới các đặc trưng của các dân tộc có nguồn gốc nông nghiệp, sống gắn
bó rừng, còn lệ thuộc vào thiên nhiên, đời sống còn chưa cao Kinh tếnông nghiệp theo kiểu du canh du cư Họ tôn sùng các hiện tượngtrong tự nhiên, các vật trong thiên nhiên thể hiện sự hòa nhập với thếgiới tự nhiên
Khoảng ba năm dân trong làng (bòn) tổ chức lễ cúng thần rừng (lở
Yàng Bri) Họ góp gạo, rượu, gà, vịt… đem ra miếu lá dựng trên đường
đi vào rừng làm lễ cúng, mong Yàng Bri cho bà con những nguồn thựcphẩm từ rừng như: thú rừng, măng, dầu chai, mật ong…
Cây nêu trong lễ đâm trâu người Mạ tượng trưng cho cây hoa đẹpnhất Cây nêu được làm bằng cây muỗng là loại cây cao thẳng, sống lâunăm, có nhiều hoa và trái (trái muỗng nhìn giống như trái bông gòn).Cây muỗng không sử dụng để cất nhà chỉ dùng làm cây nêu
Còn người Cơho thì có kinh nghiệm sử dụng cây bông lang làm câynêu trong lễ đâm trâu và mừng lúa mới
Người Chơro có kinh nghiệm chọn cây vàng nghệ làm cây nêu vìdẻo và thân thẳng, cao, không bị mối mọt
2.2 Tri thức về quản lý xã hội và cộng đồng
‑ Người Việt ở các làng cổ Đồng Nai còn có tục lệ hết sức tiêu biểumang tính văn hóa cộng đồng, đó là “lễ lạy làng” trong đám cưới Saukhi đôi trai gái được hai gia đình đồng ý cho kết hôn, đám cưới phảitrình “lễ bát nhật” theo lệ làng Ban Hội tề viết bố cáo tên tuổi của đôitrai gái cũng như tên tuổi của cha mẹ hai bên và dán ở nhà Hội của làng.Nếu trong 8 ngày không có ai phản đối hay tờ bố cáo không bị xé đi thì
cả hai gia đình mới được tổ chức lễ cưới cho đôi trẻ
Ngày thành hôn cũng là ngày mà làng đứng ra chứng nhận và lậpgiấy Hôn thú cho đôi hôn phối trước sự chứng kiến của mọi người Saukhi cô dâu chú rể lạy Cửu huyền Thất tổ, thì phải trình “lễ lạy làng” Côdâu chú rể lạy tạ hai vị Hương cả và Hương hào để tỏ lòng cảm ơn
“làng” đã chứng giám và xác lập hôn thú cho họ Ngày nay nghi thức
Trang 7“lạy làng” được thay thế bằng nghi thức “lạy họ” mục đích để cám ơn
bà con, họ hàng đã dự lễ thành hôn của cô dâu chú rể Sau lễ lạy làng là
lễ lạy ông bà, cha mẹ là những bề trên và là thân sinh ra cô dâu chú rể
‑ Trước đây nếu một thành viên trong làng Việt cổ vi phạm lệ làngthì bị làng phạt “đóng trăn” (bị nằm trên tấm ván, trói hai tay hai châncăng ra bốn phía vào cây cột và bị nọc ra đánh phạt vạ)
‑ Tăm‑pớt là một loại hình văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Mạ,phản ảnh rất nhiều lĩnh vực trong lịch sử cộng đồng tộc người như: Luậttục, tập quán, truyền thống, cội nguồn dân tộc quan hệ dòng tộc, tìnhyêu nam nữ… được thể hiện dưới dạng hát kể trong các dịp lễ hội, cướihỏi, làng có việc vui… bằng hình thức truyền khẩu
2.3 Tri thức trong sinh hoạt sản xuất
‑ Từ tháng ba âm lịch, người Chơro, Mạ, Stiêng bắt đầu đốn cây rừng,phát cỏ để làm rẫy Nhiều bà con tin rằng, nếu dọn sạch rẫy xong trướcrằm tháng ba thì rẫy sẽ ít cỏ và được mùa Sau những trận mưa giôngđầu mùa nửa cuối tháng ba âm lịch, họ bắt đầu gieo giống trỉa hạt Theotập quán, bà con trỉa hạt rẫy cũ xong mới đến rẫy mới Cách làm này có
cơ sở khoa học: rẫy mới tuy trỉa sau nhưng vì màu mỡ hơn nên cây trồngvẫn phát triển kịp với cây trỉa trước Trên mảnh đất rẫy, bà con trồngnhiều loại cây như: bắp, đậu ván, đậu rồng, mướp… ở ngoài cùng; trồngkhoai mì bên trong và trong cùng (ở giữa) người ta trỉa lúa và mè xenvới bắp
Ngày nay, nhiều bà con người Chơro, Mạ, Stiêng biết trồng lúa nước
và thành thạo kỹ thuật (chăm sóc lúa và bón phân) như người Việt.Những nơi có sẵn nước, họ có thể làm hai vụ một năm (đông xuân và
hè thu) Ruộng lúa nước cho năng suất cao hơn hẳn lúa rẫy, năng suấtcao và ổn định, thâm canh tốt có thể đạt 4 tấn/vụ/ha
‑ Các dân tộc bản địa miền Đông Nam Bộ thường tổ chức lễ cúngThần Lúa (Yang Va) vào khoảng tháng ba âm lịch sau khi mùa vụ cũ thuhoạch đã xong và chuẩn bị cho một mùa vụ mới Trước đây, hệ thốngnhà dài còn tồn tại thì lễ cúng Yang Va mang tính tập thể kéo dài khoảngmột tuần lễ Nay từng hộ nhỏ lần lượt cúng ở mỗi ấp tuần tự kéo dàitrong suốt tháng ba âm lịch
Trang 8‑ Trước kia, vào mùa cấy gặt, chiếc tù và, tù ló còn được người nôngdân ở làng Việt cổ Đồng Nai sử dụng để thổi kêu thợ đi cấy, đi làm Đây
là nét sinh hoạt văn hóa nông nghiệp đặc thù của nông thôn làng Việt ởNhơn Trạch (Đồng Nai) so với những nơi khác Trong cấy gặt, thanhniên nam nữ thôn quê còn có tục hò đối đáp giao lưu tình cảm với nhau
‑ Dân tộc bản địa Stiêng hiện nay vẫn còn một số hộ giữ được phongtục cầu mưa, thường thực hiện vào dịp thu hoạch mùa màng xong vàchuẩn bị cho mùa vụ gieo trỉa sắp tới
‑ Vào những năm thời tiết không thuận lợi, người Tày và ngườiNùng tổ chức làm Then để xin Thần Nông ban cho mưa nắng thuận hòa,mùa màng thuận lợi, con người khỏi bị đói kém thất mùa, dịch bệnh…Người ta tiến hành lễ Then trên một thửa ruộng khô bên bờ suối với cácnghi nghi lễ theo chu kỳ canh tác như: lễ xuống đồng, lễ gieo mạ, lễ lúalên đòng, lễ lúa chín, lễ mừng sân lúa, lễ hội mùa (mừng lúa tốt) và lễdâng gạo mới (còn gọi là lễ Tiến cốm)
2.4 Tri thức về phong tục, tập quán
‑ Nhà ở của các dân tộc bản địa là nhà sàn, sàn cao chừng 1,5m, dựngtheo hướng đông‑tây tránh mặt trời đi qua đòn dông nhà, hai cửa hông
có hai cầu thang bằng gỗ hoặc tre Thang người đi ở bên trái, thang
chuồng gà (nhiier) ở bên phải Nhà có trổ một số cửa sổ, cửa ra vào không
có cánh để đóng mở mà dựng như phên liếp Khoảng giữa rộng rãi lànơi ngồi chơi ăn cơm Khoảng sàn phía đông được đắp một ô đất chốngcháy để làm bếp đun nấu Nửa sàn nhà phía tây là sạp tre cao hơn sànmột chút được trải chiếu, đệm làm nơi ngủ của gia đình Phía trên nơingủ là bàn thờ Nhang cúng nhang lúa
Nhà ở tiêu biểu của các dân tộc bản địa Đông Nam Bộ là nhà sàn rấtthích hợp với hoàn cảnh của vùng rừng núi, tránh được thú dữ có thểlàm hại đến con người Ngôi nhà dựng trên những cột trụ rất phù hợpvới môi trường ẩm ướt về mùa hạ Tùy theo hoàn cảnh và tư duy từngtộc người mà hình thức ngôi nhà dài ngắn khác nhau, hoặc lệ thuộc vào
số lượng người trong một gia đình mà ngôi nhà che chở
‑ Người Việt còn có tục lệ đón mừng năm mới vào ngày mùng 1 thánggiêng âm lịch (tết Nguyên Đán) Tết của người Việt có những lễ nghi và
Trang 9tập quán dân gian như: “Mùng một Tết cha, mùng hai Tết mẹ, mùng baTết thầy”… Sau giao thừa thì phải chọn người có vía tốt để xông nhà vớimong muốn gia đình sẽ được mọi điều may mắn, tốt lành trong năm mớihoặc phải chọn giờ tốt để xuất hành thì cả năm mới gặp may ‑ “hên”.Vào ngày Tết trên bàn thờ người Việt ở Đông Nam Bộ thường phải cómâm ngũ quả gồm năm loại trái cây như: mãng cầu, sung, dừa, đu đủ
và xoài; theo đó với tên gọi của trái mà có ý nghĩa tương ứng “cầu sungtúc vừa đủ xài”… để mong làm ăn thuận lợi, phát đạt
‑ Trong việc cúng lễ tổ tiên, người Việt còn có tục qui định vật cúng
nhất định cho từng dòng họ (còn gọi là cúng việc lề) Mục đích của những
qui định về vật cúng là làm cho dòng họ dễ nhận biết nhau Hễ gặp vàongày, tháng, giờ cúng nhất định được truyền lại và với vật cúng nào đóthì dù không biết nhau cũng có thể nhận ra người cùng dòng họ tổ tiênvới mình Lễ cúng của người Việt ở Bến Gỗ‑ Long Thành thường có mónthịt kho tàu và khổ qua nhồi thịt, có lẽ ảnh hưởng từ văn hóa ẩm thựccủa người Hoa Đây cũng là biểu hiện của “cúng việc lề” ở vùng ĐôngNam Bộ
‑ Ngay từ buổi đầu khai phá đất Đồng Nai, người Việt đã định cưnơi những vùng kênh rạch ven sông hoặc cù lao như: Bàn Lân, Cù laoPhố, Bến Gỗ, Bến Cá, Cù lao Rùa, Tân Triều, Cù lao Tân Chánh, rạch LáBuông (sau này mới đến Sài Gòn thuộc huyện Tân Bình) Có lẽ xuấtphát từ ý nghĩa quan trọng đó mà từ lâu người Việt ở vùng Đông Nam
Bộ đã tổ chức những dịp lễ hội đua ghe, đua thuyền trên sông – một nétvăn hoá sông nước được duy trì cho đến hiện nay
‑ Người Stiêng ở Bình Phước, Đồng Nai còn giữ được món ăn truyềnthống (như cơm lam, rượu cần, canh bùi) biết đan gùi, rèn kim loại vàgiao tiếp bằng tiếng Stiêng
‑ Người Tày và người Nùng làm Then trong nghi lễ cúng giỗ, cầuthọ, cầu an, giải hạn và chữa bệnh… Dựa vào mục đích, có thể chia Thenthành 7 loại gồm: Then cầu mùa, Then chữa bệnh, Then bói toán, Thenchúc tụng (làm nhà mới, cưới xin), Then cầu yên (cầu an), Then cầu tự(cầu con cái), Then cấp sắc (còn gọi là Lẩu Then) Then thường được tổchức vào những thời tiết đẹp của mùa xuân và mùa thu Đây là hai mùahoa thơm và cỏ lạ, mùa của trăng sáng, cũng là mùa ứng với hai quẻThái (tháng giêng) và Bỉ (tháng bảy)
Trang 102.5 Tri thức về tín ngưỡng dân gian
‑ Các vị thần được các dân tộc bản địa thờ như: Yang Va (thần lúa),Yang Bri (thần rừng), Yang Dal (thần suối), Yang Re (thần rẫy), Yang
Mơ (thần ruộng), Yang Nhi (thần nhà hay thổ công)… Một trongnhững lễ cúng quan trọng của các dân tộc bản địa là lễ cúng Thần Lúa(sa Yang Va) hay mừng Lúa mới đến nay vẫn còn bảo tồn nhiều nétđặc sắc
‑ Trong một vụ mùa, người Cơho còn tổ chức nhiều nghi lễ tươngứng với chu kỳ sinh trưởng của cây lúa như: cúng lúa đang xanh tốt sắplàm đòng để mong cho lúa chắc hạt, lúc lúa chín nửa bông cúng cho lúachín tương tự lễ cúng cơm mới, cầu mong thần linh ban cho mùa vụthuận lợi, mùa màng bội thu…
‑ Trong lễ cúng sa Yang Va của dân tộc Chơro bao giờ cũng có tụcchặt hai cây chuối con về giắt trên bàn thờ với ý nghĩa cho con cháu mát
2.7 Tri thức về nghề thủ công truyền thống
‑ Người Chơro có kỹ thuật ủ men rượu cần từ 77 loại lá, vỏ, củ, quảcây rừng có vị cay, thơm, đặc tính nóng Muốn có loại men tương đốihoàn chỉnh để ủ rượu ngon phải tập hợp đầy đủ các loại cây rừng nhưsau: lá củ cây sốt rét, rễ cây sâm đất, rễ cây xương dỉ, ổ chim cu đất, vỏ
Trang 11cây la‑don, dây lá cây chiều trơn, vỏ cây nhào, vỏ cây trai đồi, vỏ câytrai nước, vỏ lá cây cùi đèn cái, cây chân vịt, cây chìa vôi, cây quai gùi,
vỏ dây kim‑cuôn, củ riềng rừng, củ chai nhí, dây xưng đừng, vỏ cây sắc,cây bá bệnh, lá cây lòng mót, vỏ cây bời, vỏ cây chùm hum, dây trầmhương, vỏ cây bù nâu, dây lá sanh, dây lá dằn, củ nghệ, lá vỏ cây bảithưa, lá vỏ cây đỏ cọng, vỏ cây mai rừng, lá cây cơm rượu, cây chân rít,
củ cây tổ rồng cánh gà, dây lá dẻ trơn, dây lá dẻ lông, củ lá cây tổ rồngbay, lá cây bông trang, lá vỏ cây lấu, cây mua, củ thiên niên kiện, rễ câysâm cao, vỏ lá cây nàng nàng, vỏ cây cà đuối, củ cây chuối chín, vỏ câydâu đất, dây xưng…; (lá cà ung và lá cây cùi đèn dùng để đậy ủ men).Men ủ khoảng 10 ngày thì được Men được đem phơi nắng cho khô dần,
có thể dành sử dụng trong vài năm
‑ Người Kơho làm men ủ rượu cần sau đó treo men gác bếp lửa vì sợphơi nắng làm men không tốt
‑ Người Mạ cũng có tri thức làm men ủ rượu cần và bọc men rượutrong lớp vải để giữ hơi men
‑ Người Mạ có kinh nghiệm từ việc trồng bông làm sợi, xe chỉ chođến việc lấy vỏ cây làm màu nhuộm sợi vải đều từ những loại cây trongrừng Những bí quyết về cách làm thuốc nhuộm cổ truyền cho sợi dệt
từ vỏ, lá cây rừng đều có trong truyện kể dân gian người Mạ Một sốngười Mạ lớn tuổi đều có kinh nghiệm truyền dạy lại nghề dệt thổ cẩmtruyền thống cho con cháu
Nhìn chung, mỗi một dân tộc lại có những kho tàng tri thức dân giancủa riêng dân tộc mình Trong tổng thể vùng, thì miền Đông Nam Bộ cómột kho tàng tri thức địa phương khá phong phú và đa dạng trên nhiềumặt của đời sống xã hội Trong đó, các tri thức về sản xuất phong phú
và nhiều hơn cả Đối với các dân tộc ở Việt Nam, việc sản xuất chủ yếu
là trồng lúa, do đó những tri thức phong phú nhất cũng được hình thành
ở lĩnh vực này Người Việt sống ở vùng đất thấp đã tích luỹ tất cả các trithức về nông nghiệp và thể hiện nó trong 4 khâu kỹ thuật “nước, phân,cần, giống”…
Hệ thống tri thức của cộng đồng đóng một vai trò rất quan trọng,
nó đảm bảo sự ổn định và bền vững trong phát triển truyền thống
xã hội
Trang 123 Phát triển vùng Đông Nam Bộ
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế phát triển và năng động nhất nước ta,phát triển theo chiều sâu với cơ cấu công ‑ nông nghiệp Do có nhữngnguồn lực phát triển về vị trí địa lý rất thuận lợi như tiếp giáp với nhữngvùng giàu tài nguyên và thị trường tiêu thụ lớn, có quỹ đất phong phú;
có khoáng sản giá trị kinh tế cao; nguồn lợi hải sản phong phú Cơ sở hạtầng được trang bị khá tốt: giao thông phát triển, hệ thống thủy lợi hiệnđại, nguồn lao động dồi dào và trình độ dân trí cao
Đặc biệt trên các lĩnh vực như công nghiệp, tài chính, ngân hàng,viễn thông, hàng không, thương mại, khoa học công nghệ, du lịch vớitốc độ tăng trưởng cao, các mặt văn hóa, xã hội phát triển vào loại tiêubiểu của cả nước
Trong phát triển công nghiệp, vùng Đông Nam Bộ luôn là khu vựctrọng điểm phát triển kinh tế ở phía Nam và của cả nước Nơi đây tậptrung được nhiều nguồn lực lao động, phát triển cơ sở hạ tầng, quản lýnhân sự, tiềm năng đầu tư…
Từ những đặc trưng về dân cư, tôn giáo, văn hóa, kết cấu kinh tế và
tổ chức xã hội, đặc biệt là bản sắc văn hóa và tri thức địa phương chothấy đây là tổng thể của những mối quan hệ xã hội và phát triển vănhóa trong phát triển kinh tế ‑ xã hội địa phương Nghiên cứu đặc tínhvăn hóa và tri thức địa phương của cộng đồng cư dân nhằm hiểu rõ thựctrạng và tiềm năng của địa phương trong quá trình vận hành bước vàothời kỳ công nghiệp hóa ‑ hiện đại hóa là việc làm cần thiết
Kết hợp bản sắc văn hóa và tri thức địa phương trong phát triển vùngĐông Nam Bộ xuất phát từ quyền lợi chung của các dân tộc là một vấn
đề rất quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc đề ra nhữngchính sách kinh tế – xã hội cho trước mắt và cho quy hoạch phát triểnvùng trong tương lai
Bản sắc văn hóa dân tộc, tri thức địa phương vùng Đông Nam Bộcần được nghiên cứu, định vị, bảo tồn; cần có sự kết hợp ứng dụng trongchiến lược phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong tổng thểnền kinh tế ‑ xã hội của đất nước trong quá trình thực hiện công nghiệphóa ‑ hiện đại hóa
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO