Bộ đợc dùng trong các tác phẩm văn học của hai tác giả sống và sáng táccách nhau gần một thế kỷ còn cho phép đề tài, một mặt rút ra đợc sự tơngđồng và khác biệt trong cách dùng từ ngữ đị
Trang 1Mục lục
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề
1 3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tợng của đề tài
4 4 Phơng pháp nghiên cứu
5 5 Đóng góp của đề tài
5 6 Cấu trúc luận văn
5 Chơng 1: Một số giới thuyết về đề tài 1.1 Sơ lợc về phơng ngữ Nam Bộ
1.1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ
7 1.1.2 Khái niệm về phơng ngữ
9 1.1.3 Vài nét về phơng ngữ Nam Bộ
10 1.2 Về từ địa phơng trong tác phẩm văn học
1.2.1 Từ ngữ trong văn học và từ địa phơng trong tác phẩm văn học
14 1.1.2 Vai trò của từ địa phơng trong tác phẩm văn học
15 1.3 Hồ Biểu Chánh và màu sắc Nam Bộ trong một số tiểu thuyết của ông
1.3.1 Vài nét về Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết của ông
17
1.3.2 Màu sắc Nam Bộ trong ba tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh 19
Trang 21.4 Nguyễn Ngọc T và tập truyện Cánh đồng bất tận
20
Chơng 2 : Từ địa phơng NAM Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và truyện Nguyễn Ngọc T
2.1 Từ địa phơng Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
2.1.1 Số lợng và tần số sử dụng từ địa phơng Nam Bộ trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh 25
2.1.2 Phân loại từ địa phơng Nam Bộ trong ba tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh 26
2.1.3 Nhận xét về từ địa phơng đợc dùng trong tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh 48
2.2 Từ địa phơng Nam Bộ trong tập truyện Cánh đồng bất tận
của Nguyễn Ngọc T
2.2.1 Thống kê định lợng 50
2.2.3 Nhận xét về từ địa phơng Nam Bộ trong tập truyện Cánh đồng
bất tận của Nguyễn Ngọc T
62
Chơng 3 : So sánh việc dùng từ địa phơng NAM Bộ trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh và truyện Nguyễn Ngọc T
3.1 Những điểm tơng đồng
64
3.2 Những điểm nổi bật qua việc dùng từ địa phơng Nam Bộ
trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
3.2.1 Điểm nổi bật về ngữ âm 67
3.2.2 Điểm nổi bật về từ vựng 68
3.2.3 Điểm nổi bật về cú pháp 74
Trang 33.3 Những điểm nổi bật qua việc dùng từ địa phơng Nam Bộ
trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T
3.3.1 Điểm nổi bật về ngữ âm 75
3.3.2 Điểm nổi bật về từ vựng 76
3.3.3 Điểm nổi bật về cú pháp 83
1.1 Trong mấy chục năm qua, việc nghiên cứu diện mạo và hoạt động
hành chức của các phơng ngữ tiếng Việt đã thu đợc nhiều kết quả Tuy vậy,hớng nghiên cứu diện mạo và vai trò của từ ngữ điạ phơng trong tác phẩmvăn học cha đợc chú ý nhiều Trong khi dùng tiếng Việt văn học để sáng tácvăn chơng, do những dụng ý và quan niệm nhất định, khá nhiều tác giả, nhất
là ở Nam Bộ vẫn dùng khá nhiều từ ngữ địa phơng trong tác phẩm của mình
Hồ Biểu Chánh và Nguyễn Ngọc T là hai trong số những tác giả Nam Bộ nhthế Việc khảo sát theo hớng đối chiếu so sánh diện mạo hình thức, đặc điểmngữ nghĩa và vai trò của lớp từ ngữ địa phơng Nam Bộ đợc dùng trong tácphẩm văn xuôi của họ là việc cần thiết và có ích đối với hớng nghiên cứu ph-
ơng ngữ Nam Bộ trong tác phẩm văn học nói riêng, trong giao tiếp ngôn ngữnói chung
1.2 So với phơng ngữ Bắc và phơng ngữ Trung, phơng ngữ Nam Bộ là
phơng ngữ "trẻ" hơn và có tính thống nhất cao hơn giữa các địa phơng trongvùng Mặt khác, cũng nh tiếng Việt toàn dân, theo thời gian, nội bộ phơngngữ Nam Bộ cũng có những biến đổi nhất định về số lợng từ, về hình thứcngữ âm và về ngữ nghĩa Do đó, việc khảo sát, so sánh từ ngữ địa phơng Nam
Trang 4Bộ đợc dùng trong các tác phẩm văn học của hai tác giả sống và sáng táccách nhau gần một thế kỷ còn cho phép đề tài, một mặt rút ra đợc sự tơng
đồng và khác biệt trong cách dùng từ ngữ địa phơng của họ, mặt khác nêulên nhận xét về sự biến đổi của phơng ngữ này
Mặt khác, việc nghiên cứu so sánh từ địa phơng trong tác phẩm của
Hồ Biểu Chánh và Nguyễn Ngọc T có thể góp phần làm rõ thêm một số nét
về phong cách ngôn ngữ tác giả trong việc sử dụng ngôn từ
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu đặc điểm của phơng ngữ tiếng Việt,
cho tới nay cha có nhiều Tuy vậy, qua các công trình đã công bố, các tác giả
đã khái quát đợc mối quan hệ giữa phơng ngữ và ngôn ngữ dân tộc, chỉ radiện mạo và đặc điểm của phơng ngữ tiếng Việt Trong đó, đặc điểm cácvùng phơng ngữ trong tiếng Việt đã đợc phân biệt khá rõ ràng Tuy đứng ởbình diện và mục đích nghiên cứu khác nhau nhng các nhà nghiên cứu đãcho ta một cái nhìn tơng đối đầy đủ về vấn đề các phơng ngữ trong tiếngViệt
Các công trình của giáo s Hoàng Thị Châu : Tiếng Việt trên mọi miền
đất nớc (phơng ngữ học) [5] và Phơng ngữ học Tiếng Việt [6] đã cung cấp
một cái nhìn bao quát về bức tranh các phơng ngữ tiếng Việt với những điểmchung lẫn điểm riêng của các phơng ngữ đó
2.2 Nghiên cứu phơng ngữ các vùng, gần đây đã có hàng trăm công
trình nghiên cứu, thu thập vốn từ địa phơng Theo những tài liệu chúng tôitham khảo đợc, có lẽ sau phơng ngữ Nghệ Tĩnh, phơng ngữ Nam Bộ là phơngngữ đợc quan tâm nhất Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu cũng
nh các bài viết về phơng ngữ Nam Bộ
Năm 1987, cuốn Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ của tác giả Nguyễn Văn ái
[1] ra đời Quyển sách lần đầu đã ghi chép lại một số từ ngữ của vùng đồngbằng Nam Bộ Trên cơ sở đó, năm 1994 cuốn sách đợc chỉnh sửa và in thành
"Từ điển phơng ngữ Nam Bộ [16] Với công trình này, lần đầu tiên phơng
ngữ Nam Bộ đợc điều tra, nghiên cứu, công bố kết quả dới dạng một từ điển
Năm 2007, cuốn"Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín [17] ra
mắt bạn đọc Đây là một công trình đồ sộ, tổng hợp đợc những kết quả tơng
Trang 5đối toàn diện Những gì phản ánh trong cuốn từ điển này không đơn thuần làmột danh sách các từ ngữ địa phơng Qua từng mục từ ngữ với cấu trúc tơng
đối hợp lý và dẫn giải ngắn gọn, tác giả đã cung cấp cho chúng ta những hiểubiết cần thiết nhất về bản thân từ ngữ đang xét; đồng thời cuốn từ điển này
đã thể hiện sắc thái văn hóa nào đó trong lời ăn tiếng nói của c dânNam Bộ
Trên cơ sở luận án tiến sĩ (bảo vệ năm 1993) của mình, năm 1995 tác
giả Trần Thị Ngọc Lang đã xuất bản chuyên luận Phơng ngữ Nam Bộ Những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với phơng ngữ Bắc Bộ [12]
Chuyên luận này đi sâu tìm hiểu phơng ngữ Nam Bộ trên cơ sở so sánh vớiphơng ngữ Bắc Bộ Trong đó tác giả tập trung khảo sát các tơng ứng ngữ âm,ngữ nghĩa của các lớp từ vựng phơng ngữ Nam Bộ theo hớng chỉ ra nhữngnét khác biệt
2.3 Hớng nghiên cứu từ địa phơng trong tác phẩm văn học cũng đã có
một số công trình tiêu biểu) khẳng định vai trò của từ ngữ địa phơng Nam Bộtrong sáng tác văn học ở vùng đất này:
Hoàng Dũng, Một số ý kiến về vấn đề sắc thái ngôn ngữ địa phơng và văn bản "Lục Vân Tiên", "Dơng Từ - Hà Mậu [7]; Lê Văn Trờng, Tiếng địa phơng Miền Nam trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu [21]; Trần Đức Hùng,
Từ địa phơng trong ca dao - dân ca Nam Bộ [8]
2.4 Về ngôn ngữ trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh và Nguyễn Ngọc
T, tuy đã có một số nhà ngôn ngữ đề cập đến nhng còn rất chung chung
Đáng chú ý là bài viết "Ngôn ngữ Hồ Biểu Chánh - những phơng diện cần nghiên cứu"của Trần Thị Ngọc Lang [11] ở bài viết này, tác giả đã nêu ra
một số ý kiến về ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và đề cập
đến việc sử dụng dày đặc từ địa phơng trong tiểu thuyết của ông Tuy vậy,
nó đang ở dạng nhận định khái quát, chung chung
Trên Website http:// hobieuchanh.com và công trình Hồ Biểu Chánh ngời mở đờng cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (2006) do Trần quang Sen,
-Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở biên soạn, có thể tìm thấy những bài viết khá
súc tích của các nhà văn, học giả viết về Hồ Biểu Chánh nh: Ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ biểu Chánh (Nguyễn Vi Khanh), Vài nét về phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh" (Huỳnh Thị Lan Phơng, Nguyễn Văn Nở)
Đối với Nguyễn Ngọc T, hiện nay mới chỉ có một số bài viết lẻ tẻ về
Trang 6một số nội dung ngôn ngữ Đáng chú ý là tác giả Dơng Thanh Bình với bài
viết "Tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc T” [3] Tác giả đã khẳng
định "Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của nhà vănNguyễn Ngọc T" và cho rằng đặc sắc ngôn ngữ trong truyện ngắn NguyễnNgọc T đợc thể hiện qua ba phơng diện: ngữ âm, từ vựng và cú pháp Tác giả
đã dành 1/3 bài viết của mình để nói về việc dùng từ địa phơng trong tácphẩm của Nguyễn Ngọc T (số từ địa phơng trong tác phẩm của NguyễnNgọc T đợc tác giả thống kê sơ bộ là 200 từ)
Bên cạnh đó phải kể đến Website http //www viet-studies.org Trang
website do Trần Hữu Dũng thiết kế và trông nom này đã tập hợp tất cả tácphẩm của Nguyễn Ngọc T và nhiều bài viết về Nguyễn Ngọc T [27]
Từ thực tế nghiên trên có thể thấy việc nghiên cứu về ngôn ngữ HồBiểu Chánh và Nguyễn Ngọc T tuy đã đợc quan tâm nhng cha đầy đủ Một
số công trình, bài viết mới chỉ dừng lại ở mức độ đa ra những nhận định kháiquát hoặc rất chung hoặc còn sơ lợc Cho đến nay cha có một đề tài hay côngtrình nào đi vào khảo sát so sánh việc dùng từ ngữ địa phơng Nam Bộ trongtiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và trong truyện Nguyễn Ngọc T Do vậy, chúng
tôi chọn đề tài "So sánh việc dùng từ ngữ địa phơng Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và truyện của Nguyễn Ngọc T" làm đối tợng
nghiên cứu của luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tợng của đề tài
3.1 Mục đích
Chỉ ra đợc sự tơng đồng và khác biệt về diện mạo, cách dùng từ ngữ
địa phơng Nam Bộ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và trong tậptruyện ngắn " Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc T, cũng qua đó để thấy
đợc vai trò và sự biến đổi trong cách dùng từ ngữ địa phơng Nam Bộ trongtác phẩm văn học qua gần một thế kỷ (từ đầu đến cuối thế kỷ XX)
3.2 Nhiệm vụ
a) Thống kê, phân loại và phân tích, miêu tả việc dùng từ ngữ địa
ph-ơng Nam Bộ trong tác phẩm văn học của hai tác gia này ở các mặt: số lợng,ngữ nghĩa (tính dễ hiểu), vai trò đối với tác phẩm
b) So sánh kết quả khảo sát để rút ra sự tơng đồng trong việc dùng vốn
Trang 7từ ngữ địa phơng Nam Bộ đợc dùng giữa hai tác giả
c) Nhận xét về những điểm nổi bật trong cách dùng từ ngữ địa phơngNam Bộ trong tác phẩm văn học của mỗi tác giả này
3.3 Đối tợng nghiên cứu
Cả Hồ Biểu Chánh và Nguyễn Ngọc T đều có số lợng tác phẩm đồ sộ.Trong phạm vi đề tài luận văn này, chúng tôi chọn đối tợng khảo sát nh sau:
a) Đối với tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, luận văn thống kê và khảo sátcác từ ngữ địa phơng Nam Bộ đợc tác giả dùng trong ba cuốn tiểu thuyết: 1/
Ai làm đợc (viết năm 1912), 2/ Cay đắng mùi đời (viết năm 1932), 3/ Thầythông ngôn (viết năm 1926) Cả ba tiểu thuyết này đều đợc in trong sách
“Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Quyển 1, tập 3”[28].
b) Đối với tác phẩm của Nguyễn Ngọc T, luận văn thống kê và khảosát các từ ngữ địa phơng Nam Bộ đợc tác giả dùng trong 14 truyện của tập
- Đề tài nêu lên một số nhận xét về sự chuyển biến trong cách dùng từ
địa phơng Nam Bộ trong tác phẩm văn học của các tác giả trớc đây và hiệnnay
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phầnnội dung của luận văn gồm 3 chơng:
Trang 8Chơng 1: Một số giới thuyết về đề tài
Chơng 2: Từ địa phơng Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh vàtruyện Nguyễn Ngọc T
Chơng 3: So sánh việc dùng từ địa phơng Nam Bộ trong tiểu thuyết HồBiểu Chánh và truyện Nguyễn Ngọc T
Chơng 1 Một số giới thuyết về đề tài
Trang 91.1 Sơ lợc về phơng ngữ Nam Bộ
1.1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ
Ngôn ngữ dân tộc với t cách là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhấtgiữa ngời với ngời, bao giờ cũng thống nhất đối với một xã hội cụ thể Khi xáhội có giai cấp, sự giao tiếp không thể bó hẹp vào phạm vi một giai cấp màtrớc hết là sự giao tiếp giữa các giai cấp với nhau, cho nên ngôn ngữ không
có tính giai cấp mà phục vụ cho mọi ngời ngôn ngữ là công cụ giao tiếp củamọi thành viên trong xã hội, từ xã hội cổ xa (bộ lạc, bộ tộc) đến xã hội hiện
đại ( dân tộc, quốc gia) Cho nên về thực chất, ngôn ngữ có tính toàn dântrong mọi giai đoạn phát triển của nó
Ngôn ngữ đợc sử dụng hàng ngày trong mọi lĩnh vực hoạt động củacon ngời Ngôn ngữ phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, tồn tại mãitheo thời gian từ xã hội này qua xã hội khác Ngôn ngữ tồn tại theo sự tồnvong của dân tộc Chính vì thế W Humbôn đã cho rằng ngôn ngữ là linh hồncủa dân tộc
Ngôn ngữ dân tộc thờng đợc hiểu là ngôn ngữ chung của cả dân tộc
đó là phạm trù lịch sử - xã hội, đợc thể hiện dới hai hình thức: nói và viết
“Ngôn ngữ dân tộc là ngôn ngữ đợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếphàng ngày, không bị hạn chế bởi phong cách và phạm vi sử dụng, ngôn ngữ
đợc mọi ngời trong quốc gia biết, chấp nhận và sử dụng [5; 16]
Nh đã biết, sự phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xãhội loài ngời Quá trình hình thành dân tộc đa đến sự hình thành một ngônngữ dân tộc thống nhất Mỗi ngôn ngữ dân tộc đều có sự thống nhất bêntrong của mình Tuy nhiên, sự thống nhất của ngôn ngữ dân tộc không bắtbuộc phải có sự giống nhau của tất cả các biểu hiện ngôn ngữ trong thực tế.Tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc đợc thừa nhận nh là một thuộc tínhbản chất Đồng thời, tình trạng tồn tại trong lòng ngôn ngữ dân tộc nhữngphơng ngữ địa lí và phơng ngữ xã hội là một sự thực hiển nhiên Chúng ta cóthể quan sát đợc trong tiếng Việt hiện thực đó Nói cách khác, giữa ngôn ngữdân tộc và các phơng ngữ trong lòng nó có sự thống nhất trong sự đa dạng;giữa các phơng ngữ va ngôn ngữ dân tộc chứa đựng chúng có quan hệ đadạng trên một căn bản thống nhất
Cùng với sự biến đổi của xã hội, ngôn ngữ không ngừng biến đổ do
Trang 10nhiều nguyên nhân Quan sát biểu hiện của ngôn ngữ trên từng khu vực địa
lý, ngời ta thấy sự khác nhau của các ngôn ngữ rõ ràng không phải là donguyên nhân địa lý Nguyên nhân sâu xa là do sự phát triển, biến đổi bêntrong của chính ngôn ngữ Điều kiện địa lý chỉ là nhân tố khách quan bênngoài, nó làm cho các khác biệt của ngôn ngữ đợc giữ lại và thể hiện ra Nếukhông có sự phân bố tách biệt nhau về địa lý thì không có phơng ngữ, nhng
đó chỉ là điều kiện để thay đổi ngôn ngữ đợc thể hiện phổ biến trong vùng.Nhân tố thời gian không cụ thể bằng nhân tố không gian Nhng chính donhân tố thời gian mà có sự phân hoá ngôn ngữ
Tuy thế, sự khác nhau giữa các phơng ngữ dù lớn đến đâu cũng chỉ là
sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân Về cơ bản, các phơngngữ trên giống nhau về hệ thống cấu trúc: chúng vẫn dùng chung một mã(code) ngôn ngữ thống nhất; hệ thống qui tắc ngữ pháp, phơng thức cấu tạo
từ, hệ thống âm vị của ngôn ngữ dân tộc và các phơng ngữ là giống nhau
Đa số các ngôn ngữ dân tộc đều có phơng ngữ Tuỳ thuộc điều kiện
địa lý - xã hội, só phơng ngữ trong mỗi ngôn ngữ dân tộc nhiều ít khác nhau.Các phơng ngữ đó tạo thành hệ thống, có quan hệ gắn bó với ngôn ngữ toàndân và là một biểu hiện của tính phong phú đa dạng của ngôn ngữ toàn dân
Nh vậy phơng ngữ là biến thể địa phơng của ngôn ngữ toàn dân ở một
địa phơng cụ thể Phơng ngữ có các đặc điểm:
- Phơng ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình pháttriển, biến đổi theo quy luật của ngôn ngữ
- Phơng ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi về ngữ âm, từ ngữ nghĩa, ngữ pháp của ngôn ngữ
vng Phơng ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân bị hạnchế về phạm vi sử dụng
- Phơng ngữ là một hiện tợng lịch sử, nó ra đời nh một tất yếu do sựphát triển, biến đổi của ngôn ngữ xã hội Do đó với xu thế thống nhất ngônngữ ngày càng cao, phạm vi sử dụng của phơng ngữ ngày càng bị thu hẹp
Về mặt lý thuyết, nó sẽ mất đi trong tơng lai của một ngôn ngữ dân tộc thốngnhất và đợc tiêu chuẩn hoá cao
Nh vậy, nói tới phơng ngữ là nói tới một hiện tợng phức tạp của ngônngữ không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc, cấu tạo cũng nh phơng diện thể hiện
Trang 11mà bản thân nó còn là sự phản ánh của nhièu mối quan hệ trong và ngoàingôn ngữ Nh đã trình bày, tiếng nói của một cộng đồng ngôn ngữ thờng làmột thể thống nhất nhng đa dạng Trong cái chung giống nhau vẫn có nhữngsai biệt giữa các địa phơng Những khác biệt địa phơng có thể là về cách phát
âm, về lối dùng từ ngữ và có thể cả về mặt ngữ pháp nữa Điều đó có nghĩa là
ở mỗi địa phơng, tiếng nói có những nét chung với nhau và mỗi địa phơng
nh vậy đã hình thành một phơng ngữ
Hơn nữa, do phơng ngữ là một hiện tợng rất phức tạp nên nó nằmtrong mỗi quan hệ chằng chéo trong và ngoài ngôn ngữ và bản thân nó là kếtquả của sự phát triển và biến đổi ngôn ngữ nên nó có quan hệ với dân tộc
Đồng thời,do phơng ngữ có quan hệ gắn bó với cộng đồng ngời của mộtvùng địa phơng nhất định nên nó liên quan đến sự hình thành và phát triểncủa lịch sử, văn hóa ở vùng địa phơng đó Bên cạnh đó, do phơng ngữ cóquan hệ với ngôn ngữ dân tộc nên phơng ngữ cũng liên quan đến sự hìnhthành và phát triển của lịch sử văn hóa dân tộc
1.1.2 Khái niệm về phơng ngữ
Nh chúng ta đã thấy, phơng ngữ là một hiện tợng phức tạp nằm trongnhiều mỗi quan hệ chằng chéo trong và ngoài ngôn ngữ Phơng ngữ là đối t-ợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan
Theo tác giả Hoàng Thị Châu, “Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữhọc để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể vớinhững nét khác biệt của nó với ngôn ngữ toàn dân hay với một phơng ngữkhác.” [5; 24]
Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Vơng Toàn nhấn mạnh đến tính hệthống của phơng ngữ: “Phơng ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từvựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt đợc sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hayxã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu và quy tắc kết hợp cónguồn gốc chung với hệ thống khác đợc coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc)các phơng ngữ có ngời gọi là tiếng địa phơng, phơng ngôn) khác nhau trớc
hết là cách phát âm, sau đó là vốn từ vững [13; 275]
Theo Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Hoài Nguyên, Hoàng Trọng Canh thì
“Phơng ngữ không phải là ngôn ngữ riêng, nó là biến dạng của ngôn ngữ vănhóa ở một địa phơng cụ thể mà có hai sự đối lập: đối lập với ngôn ngữ văn
Trang 12hóa và với các phơng ngữ khác về ngữ âm, từ vững, ngữ pháp (trong đó đốilập nét khác biệt rõ nhất là ngữ âm).” [2; 14]
Tuy các tác giả phát biểu không giống nhau song chúng ta có thể rút
ra điểm thống nhất căn bản trong cách hiểu của họ về phơng ngữ: Phơng ngữ
là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân trên một vùng địa ph ơng, có
sự khác biệt ít nhiều về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân.Nói cách khác, phơng ngữ là sự thể hiện của ngôn ngữ dân tộc trên một vùng
địa lý dân c nào đó (nh một vài tỉnh) có sự khác biệt so với ngôn ngữ toàndân
Những điều vừa nói tới là thuộc về vấn đề phơng ngữ địa lý Nói tớiphơng ngữ còn phải nhắc đến phơng ngữ xã hội Phơng ngữ xã hội thờng đợcxem là sự thể hiện của ngôn ngữ dân tộc trên một lớp ngời sử dụng nào đó và
có sự khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân
di dân trong lịch sử cứ từng chặng xuôi vào Nam trong điều kiện địa lý, hoàncảnh lịch sử, yếu tố thời gian, sự giao lu ngôn ngữ khác nhau nên từ đó hìnhthành các phơng ngữ khác nhau trong lòng tiếng Việt Phơng ngữ Nam Bộ làmột bộ phận trong dòng chảy phát triểncủa ngôn ngữ dân tộc Việt
Theo giải nghĩa của Từ điển Tiếng Việt [14], phơng ngữ là biến thể địa
phơng hoặc biến thể xã hội của ngôn ngữ Nh vậy, có thể nói phơng ngữ Nam
Bộ là một biến thể địa lý của ngôn ngữ toàn dân; hay nói cách khác, phơngngữ Nam Bộ là những biểu hiện khác biệt của ngôn ngữ tiếng Việt trên vùng
địa lý c dân Nam Bộ đợc ngời Nam Bộ quen dùng, là lời ăn tiếng nói tựnhiên hằng ngày của ngời dân Nam Bộ
Lịch sử phát triển vùng đất phơng Nam của tổ quốc cũng đi liền vớilịch sử của nhiều cuộc chiến tranh chia cắt có tính chất dai dẳng, quyết liệt,
Trang 13và chính những cuộc chiến tranh này đã chia cắt hẳn sự tiếp xúc giữa cácvùng miền Đó là cuộc chiến tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn (Đàng ngoài -
Đàng trong), sự chia cắt kéo dài trong suốt hơn hai thế kỷ (từ khi NguyễnHoàng đợc lệnh vào Nam mùa đông năm 1558 đến ngày Nguyễn ánh lấy lạiPhú Xuân, thống nhất đất nớc 1802) Sau đó, từ 1858, thực dân Pháp đã chiacắt nớc ta thành 3 miền để trị: Bắc kỳ - Trung kỳ - Nam kỳ Ba miền vớinhững thế chế hành chính và những luật lệ khác nhau đã góp phần tạo thêm
sự khác biệt nhiều mặt, trong đó có ngôn ngữ giữa các miền Sau năm 1954,
đất nớc lại bị chia làm hai và nhân dân cả nớc lại phải tiếp tục cuộc khángchiến Chống Mỹ cho đến ngày thống nhất đất nớc 1975 Do đó, có thể xem
sự phân chia lãnh thổ chính trị - hành chính do lịch sử để lại là nhân tố quantrọng, sau nhân tố sự biến đổi bên trong của ngôn ngữ làm hình thành nênphơng ngữ Nam Bộ Bên cạnh đó, sự chia cắt tự nhiên về mặt địa lý làm cho
sự giao lu tiếp xúc giữa các vùng gặp khó khăn càng củng cố thêm sự khácbiệt ngôn ngữ giữa các vùng
Phơng ngữ Nam Bộ đợc hình thành và phát triển cùng với tiến trìnhphát triển lịch sử 300 năm của vùng đất mới Nam Bộ Bắt đầu từ thế kỷXVII, cùng lúc với những đoàn ngời Việt đầu tiên vào định c khai khẩn vùng
đất niềm Đông Nam Bộ, rồi sau đó phát triển mạnh xuống Miền Tây Họ vào
đồng bằng này thoạt đầu với nhiều giọng nói khác nhau của nhiều địa phơngtrong cả nớc, rồi quần tụ nhau lại, hợp tác với nhau trong lao động sản xuất
và giao lu tình cảm Do đó, tiếng nói của nhiều địa phơng quê hơng trớc
đây mà họ mang theo dần dần đợc hòa đồng thống nhất do sự điều chỉnh tựnhiên của việc tiếp xúc thờng xuyên và mạnh mẽ trong cộng đồng dân c ở
đây Từ đó, tiếng Vịêt ở đồng bằng Nam Bộ cùng với cuộc sống của ngời dânnơi đây đã không ngừng phát triển, biến đổi thành sắc thái riêng nh hiện nay
và khác biệt với ngôn ngữ toàn dân và các phơng ngữ khác
Phơng ngữ Nam Bộ đợc hình thành trên một vùng đất khá rộng lớn có
sự giao lu rất đậm nét với các phơng ngữ khác trong khu vực, nh phơng ngữcủa đồng bào Khơme, đồng bào Chăm, đồng bào Hoa và một số tiếng nóikhác Điều đó đã làm nên một diện mạo và bản sắc riêng không thể nhầm lẫncủa phơng ngữ Nam Bộ Đồng thời, đặc điểm chung của phơng ngữ là mộttrạng thái ngôn ngữ toàn dân bị chia cắt do hoàn cảnh lịch sử để lại, làm biến
Trang 14dạng đi ít nhiều, tạo ra một số nét riêng biệt Đó là tiếng nói sinh động củanhân dân lao động, đợc sử dụng chủ yếu trong khuôn khổ một vùng địa ph-
ơng nhất định Cho nên, phơng ngữ Nam Bộ cũng nh các phơng ngữ kháccủa tiếng Việt không tránh khỏi có những phát triển biến đổi riêng biệt trongnội bộ hệ thống phơng ngữ, gắn liền với đặc điểm xã hội và tâm lý con ngời,thói quen sử dụng của ngời địa phơng Trải qua thời gian sử dụng, phơng ngữNam Bộ đã tự khẳng định bản sắc riêng của mình bằng con đờng khẩu ngữ ,bằng những sáng tạo nghệ thuật dân gian trong đó có ca dao dân ca
Sự phát triển tự nhiên - tự do của phơng ngữ Nam Bộ đợc thể hiện quamột số hiện tợng cha định âm (phát âm cha chuẩn) và cha định hình (cáchviết chính tả cha ổn định nhất quán) Ví dụ: Ngời dân Nam Bộ thờng có thóiquen sử dụng 5 dấu thanh (thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một); thờng nói
sai phụ âm đầu (v-d, h-g); có sự biến đổi trong phát âm ( i- iê, ng - n); hay nói gộp âm trong một số từ xng hô (bả, chả, ảnh, chỉ, ổng); trong từ chỉ địa
điểm (ngoải, trỏng, trển); hay dùng từ cổ (bể, bợ, bông, heo); thích dùng yếu
tố phụ để tạo từ có sắc thái (dơ hầy, nhọn lểu, rẻ rề, vàng ngoách, đỏ hóet); thích mợn từ ngữ của ngôn ngữ khác (nh: chạp phô, tàu hủ, khổ qua, bao tử, hột xoàn, hên xui, cần xé, cù lao, …) )
Phơng ngữ Nam Bộ không chỉ đợc sử dụng trong cuộc sống hàng ngàycủa ngời dân nơi đây mà nó còn đợc phát triển mạnh mẽ trong địa hạt vănhóa thông qua văn học Nền văn học Nam Bộ và đội ngũ những nhà thơ, nhàvăn ở đây đã nối tiếp nhau phát triển liên tục và mạnh mẽ qua các thời kỳlịch sử, nhất là nền văn học cận đại và hiện đại của Việt Nam Bằng con đờngsáng tác, những nhà thơ, nhà văn của địa phơng này đã dày công khai thác và
sử dụng vốn từ ngữ bình dân của phơng ngữ Nam Bộ vào trong lĩnh vực vănhóa nh một phong cách hay một thị hiếu thẩm mỹ về ngôn ngữ, làm cho sựkhác biệt của phơng ngữ này nh càng đợc củng cố, khắc sâu Ngoài ra,những hình thức văn học dân gian nh: ca dao, hò, vè, lý , cải lơng phát triểnrất phong phú ở vùng đồng bằng Nam Bộ cũng là điều kiện tốt giúp cho việcphổ biến lời ăn tiếng nói của địa phơng mình
Nhận diện đợc các đặc điểm của phơng ngữ sẽ giúp chúng ta có thểhiểu một cách thực tế sinh động sự phong phú của tiếng nói toàn dân Việcnhận diện phơng ngữ Nam Bộ cũng nh các phơng ngữ khác sẽ giúp chúng ta
Trang 15có thể hiểu thêm về một khía cạnh dùng từ của ngời dân nơi đây và sự đónggóp của phơng ngữ Nam Bộ vào trong ngôn ngữ toàn dân Có thể khái quátsơ lợc những nét chính cuộc sống và thói quen nói năng của ngời Nam Bộ
nh sau
Trên mảnh đất Nam Bộ, chúng ta có thể nhìn thấy những căn nhà vàcấu trúc làng xóm cũng giống nh con ngời Nam Bộ; thoải mái, ít bị ràngbuộc mà ta gọi là phóng khoáng Ngời Nam Bộ bộc trực, thích bông đùa, hàihớc Chính phơng ngữ nơi đây đã phản ánh khá trung thực các nét tính cách
đó Từ ngữ đợc dùng thờng rất linh hoạt và ngắn gọn Chẳng hạn, những cách
nói nh: ông ấy, anh ấy, chị ấy, bà ấy đợc dùng quen thuộc trong ngôn ngữ
toàn dân nhng lại ít đợc ngời dân nơi đây sử dụng; ngợc lại họ lại tạo ra cách
gọi - gộp: ổng, ảnh, chỉ, bả, nhng không nói là củ, ẻm (cụ ấy, em ấy) cả bởi
phơng ngữ Nam Bộ ra đời là do tiện dụng và không phải phụ thuộc vào mộtnguyên tắc nào Tuy nhiên, phơng ngữ Nam Bộ cũng nh các phơng ngữ khác
là ngôn ngữ nói phát sinh từ hoàn cảnh cuộc sống xã hội địa phơng cho nên
nó khá gần gũi với tiếng lóng
Từ khi hình thành và khai phá để lập nên mảnh đất mới này, Nam Bộtừng là nơi tiếp nhận và chung sống với cộng đồng ngời Hoa và ngờiKhơmer Cho nên trong phơng ngữ Nam Bộ cũng có một số tiếng lai, ví dụ:
dzách, rầu, mắc, xiêm la, mình ên, cà tha, lì xì, xí muội, thò lò,…) ; một số địa
danh đợc gọi tên có yếu tố của ngôn ngữ tiếp xúc nh: Sa Đéc, Sóc Trăng, Bãi Xấu, Chắc Cà Đao
Phơng ngữ Nam Bộ bắt nguồn từ nếp sống, cách suy nghĩ và nói rằngcủa ngời Nam Bộ, cũng nh sự bộc trực, thăng thắn, ít thích văn chơng rào
đón Ngôn ngữ Nam Bộ thờng cụ thể, ngắn gọn, nóng bỏng, huỵch toẹt, ítdiễn tả những trạnh thái tâm t, nhất là những nội dung sâu kín tế nhị, mà th-ờng thể hiện hành vi, tính cách, hành động của con ngời bộc trực nhng rấtgiàu hình tợng và thích ngoa dụ với mục đích làm vui kiểu nói không lẫn với
vùng khác Ví dụ: bi dai bi lớn, bi nhiều, bi tuổi, đép thật ớn, xấu thấy sợ, say quắc cần câu, lời thối thây
Nh vậy, phơng ngữ Nam Bộ đợc sử dụng trong một vùng địa phơngrộng lớn với một phần ba số dân cả nớc Có một trung tâm kinh tế, văn hóa,khoa học - kỹ thuật và chính trị nổi bật, đóng vai trò chi phối mọi mặt sinh
Trang 16hoạt của toàn vùng Nam Bộ, đó là thành phố Sài Gòn, nay là Thành phố HồChí Minh Với thời gian hình thành phơng ngữ tơng đối mới, ở một vùng
đồng bằng thẳng tắp với nhiều đờng giao thông thủy bộ thông suốt, nền kinh
tế phát triển nhanh chóng, việc giao lu trao đổi hàng hóa mở rộng thờngxuyên và đều khắp đã tạo ra tính thống nhất cho phơng ngữ Nam Bộ rấtcao về các mặt phát âm, từ ngữ cũng nh phong cách Tính thống nhất cao vềmặt tiếng nói đó cũng là một khía cạnh biểu hiện sự gắn bó tâm lý, tình cảm,tập quán, phơng thức sinh hoạt của cộng đồng dân c ở đây
1.2 Việc dùng từ địa phơng trong tác phẩm văn học
1.2.1 Từ ngữ trong văn học và từ địa phơng trong tác phẩm văn học
“Văn học là nghệ thuật ngôn từ Trong tay ngời sáng tạo, ngôn ngữ trởthành một công cụ kỳ diệu tạo nên những tác phẩm mang hơi thở của cuộcsống, lay động trái tim, khối óc của muôn ngời Ngôn ngữ khi đợc sử dụngtrong tác phẩm văn học không còn là một loại phơng tiện giao tiếp thông th-ờng mà trở thành công cụ giao tiếp sáng tác đã đợc tác giả gọt giũa, chọn lọccông phu
Thông thờng xét trên bình diện chuẩn ngôn ngữ, nếu chỉ nhằm mục đíchthông báo nội dung mà không nhằm mục đích nghệ thuật thì ngôn ngữ toàndân sẽ đợc sử dụng Tuy nhiên trong tác phẩm nghệ thuật, ngời ta có thểdùng ngôn ngữ toàn dân để thông báo cũng có thể dùng những từ ngữ mangsắc thái địa phơng để cho tác phẩm của mình có tính sáng tạo phong phú vàgiàu sắc thái biểu cảm
Bên cạnh đó, do thói quen sử dụng từ địa phơng, không ít tác giả khisáng tạo văn chơng đã sử dụng những ngôn ngữ thân thuộc của mình Vì vậy,tuy tác phẩm văn học là một thể loại mang tính nghệ thuật cao nh ng trong
đó từ địa phơng vẫn đợc sử dụng từ địa phơng nh một tất yếu
Việc khảo sát từ địa phơng trong tác phẩm văn học là cần thiết, khôngchỉ nhằm mục đích nhận thức về đặc điểm từ địa phơng trong hệ thống vốn
từ mà còn để thấy vai trò, chức năng thi ca hay còn gọi là chức năng sáng tácvăn học của lớp từ này
Nhìn chung, trong các tác phẩm văn học Nam Bộ, số từ địa phơng đợctác giả dùng rất dày đặc đã tạo nên sắc thái địa phơng rõ nét, thể hiện đợc
Trang 17tình cảm quê hơng thân thiết trong sáng tác của mình Những tác phẩm nàymang dấu ấn nhà văn khá rõ Hồ Biểu Chánh và Nguyễn Ngọc T, là nhữngtác giả đã sử dụng từ địa phơng làm cho tác phẩm của họ mang hơi thở mộcmạc, chân chất của cuộc sống
Tìm hiểu từ địa phơng trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh và NguyễnNgọc T là để thấy đợc vai trò của từ địa phơng trong hành chức, một dạnghành chức ít nhiều mang tính đặc trng riêng (ở đây phần lớn từ địa phơng
đảm trách chức nghệ thuật), và cũng qua đó hiểu thêm khía cạnh, tâm hồntình cảm và ứng xử của những ngời Nam Bộ
1.2.2 Vai trò từ địa phơng trong tác phẩm văn học
Sử dụng từ địa phơng trong sáng tác văn học có vai trò trớc hết đó là
về hình thức, nó tạo nên sự bình dị, tự nhiên hơn Bên cạnh đó nó còn có vaitrò thể hiện với nghệ thuật Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật,việc sử dụng chân thực, sinh động những từ phơng ngữ và sáng tác của mìnhgóp phần thể hiện rõ những bức tranh xã hội, những lời ăn tiếng nói với cáchứng xử, giao tiếp của con ngời nói chung và ngời dân Nam Bộ nói riêng:Thông qua những phơng ngữ mà tác giả sử dụng chúng ta có thể bắt gặp đủloại nhân vật, nhìn thấy đủ mọi quang cảnh, tập tục, lề thói, cũng nh sự sinhhoạt từ thành thị đến thôn quê Chính vì vậy những phơng ngữ đợc sử dụng
và tác phẩm văn học là nguồn tài liệu quý hóa, rất cần thiết cho những aimuốn tìm hình ảnh xã hội trớc đây
Giữa từ địa phơng với từ toàn dân có thể có sự tơng đồng về nghĩa
nh-ng chúnh-ng thờnh-ng phân biệt nhau về sắc thái biểu cảm nhất định Ngoài lý doquen thuộc đây là một nguyên nhân khiến cho tác giả phải lựa chọn từ đểdiễn tả đợc một cách tinh tế các trạng thái tâm hồn tình cảm của con ngời nơi
đây, rút ngắn khoảng cách trong giao tiếp giữa nhà văn và ngời đọc Cho nêncái tinh tế, cái hay của từ ngữ ở đây trớc hết là nó phù hợp với nhân dân Nam
Trang 18nhiều sẽ làm cho văn phong thiếu trong sáng và gây nên khó hiểu đối với độcgiả cả nớc
Chẳng hạn từ vớ”, nếu không đối chiếu với Từ điển phơng ngữ Nam
Bộ thì khó ai có thể hiểu đợc đó là bít tất, hay từ hối có nghĩa là thúc dục thì
cũng rất khó hiểu
Xét về phong cách giao tiếp hội thoại thì đại bộ phận từ địa phơng đợccác tác giả thể hiện trong tác phẩm của mình đều thể hiện phong cách riêngkhông ai giống ai: nhẹ nhàng, giản dị, rất gần với cuộc sống, phong tục củacon ngời nơi đây và rất gần với ngôn ngữ bình dân Chính vì vậy mà ngời đọctìm thấy đợc sự quen thuộc gần gũi
1.3 Hồ Biểu Chánh và màu sắc Nam Bộ trong một số
tiểu thuyết của ông
1.3.1 Vài nét về Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết của ông
Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, tự là Biểu Chánh, hiệu làThứ Tiên Ông sinh ngày 1 10 1885 tại làng Bình Thành, Gò Công (nay làTiền Giang) Hồ Biểu Chánh là con thứ năm trong một gia đình gồm 12 anhchị em Sinh trởng trong một gia đình nghèo, thuở nhỏ Hồ Biểu Chánh chịunhiều vất vả, thiếu thốn Năm lên chín tuổi, ông bắt đầu đi học chữ Nho tạitrờng làng Sau khi thi đậu thành chung (1905), Hồ Biểu Chánh có ý định xin
đi dạy học, nhng nhờ thầy giáo cũ khuyên ông nên thi vào ngạch kí lục đểsau đợc lên chức huyện, phủ Năm 1906, ông thi đậu Kí lục Soái phủ Nam
Kỳ và về làm việc tại dinh thợng th ở Sài Gòn Ngày 4/8/1941, Hồ BiểuChánh đợc cử làm nghị viên Hội đồng liên bang Đông Dơng Từ năm 1942– 1944, ông là ủy viên Hội đồng quản trị Sài Gòn – Chợ Lớn Năm 1946,sau khi thủ tớng Nguyễn Văn Thinh tự tử vì chính phủ của ông gặp nhiều thửthách, Hồ Biểu Chánh giã từ chính trờng, về ở ẩn tại Gò Công Kể từ đó ônghớng đến cuộc sống an nhàn và dành trọn thời gian cho công việc sáng tác.Ngày 4/11/1958, Hồ Biểu Chánh qua đời tại nhà riêng ở Phú Nhuận, hởngthọ 74 tuổi, an táng tại xã Thông Tây Hội, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định (nay
là quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh)
Trong tập ký ức Đời của tôi về văn nghệ, Hồ Biểu Chánh cho biết vào
năm 1907, một số nhà nho ở Nam Kỳ đề xớng việc “đa Quan Công về Tàu
”và “mời Thích Ca về ấn Độ”, gây thành phong trào quốc gia phục hng, làm
Trang 19sôi nổi d luận ở Nam Kỳ Hồ Biểu Chánh đã chọn những truyện hay trongTình sử, Kim cổ kỳ quan, Kim cổ kỳ văn đem dịch ra quốc văn Ngoài ra HồBiểu Chánh cũng tập làm thơ quốc ngữ với các nhà nho trong phong trào
“Duy tân diệt tục” Năm 1909, Hồ Biểu Chánh viết truyện dài đầu tay là U tình lục bằng thể lục bát, gồm 1790 câu và 4 bài thơ đờng luật thất ngôn bát
cú U tình lục là một tác phẩm chịu ảnh hởng của Đoạn trờng tân thanh.
Điểm mới của tác phẩm này là tuy nhằm chủ đích luân lý nhng tác giả vẫn
để cho hai nhân vật chính Tấn Nhơn và Cúc Hơng đợc tự do luyến ái và cónhiều hành động táo bạo vợt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến Có thể
nói, U tình lục là tác phẩm đánh dấu giai đoạn quá độ từ các truyện thơ Nôm sang tiểu thuyết mới Tiếp đó, Hồ Biểu Chánh đợc đọc Truyện thầy Lazarô Phiền, Hoàng Tố Anh hàm oan và Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân Ba tác phẩm này đã ảnh hởng đến hớng sáng tác của ông Nhất là Hoàng Tố anh hàm oan, một tiểu thuyết với cốt truyện li kỳ, tác giả theo thuyết nhân quả
mà cho ngời tốt đợc hạnh phúc, kẻ xấu bị trừng phạt Hồ Biểu Chánh quyết
định viết tiểu thuyết theo đờng lối ấy để cảm hoá quần chúng mà đa họ trởlại con đờng chính trực Năm 1912, Hồ Biểu Chánh đổi xuống làm việc ở Cà
Mau, ở đây ông đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên là Ai làm đợc Từ đó cho
đến khi qua đời, Hồ Biểu Chánh để lại một khối lợng sáng tác không nhỏ Sựnghiệp sáng tác của ông gồm 64 cuốn tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn vàtruyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập kí, 28 tậpkhảo cứu và phê bình Ngoài ra còn các bài diễn thuyết và các tác phẩm dịch
Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh có nhiều thể loại Thế nhng, trớc đâycũng nh hiện nay, ngời ta thờng chỉ nhớ đến ông với t cách là một nhà viếttiểu thuyết ông là cây bút tiêủ thuyết sáng giá bậc nhất Việt Nam ở giai
đoạn văn học 1913-1932 Từ năm 1932 về sau nhất là từ năm 1945, trớc sựxuất hiện của nhiều nhà văn trẻ trung, mới mẻ, tài hoa, vai trò văn học của
ông có lu mờ đi Chính vì vậy chúng tôi đã lựa chọn khảo sát 3 tiểu thuyết
tiêu biểu cho thời kỳ hoàng kim của ông, đó là: Ai làm đợc (1912), Cay đắng mùi đời(1923), Thầy thông ngôn(1926).
Ai làm đợc là cuốn tiểu thuyết gồm 6 chơng Đây là cuốn tiểu thuyết
bằng văn xuôi đầu tiên của Hồ Biểu Chánh, viết năm 1912 Các việc trong
chuyện xảy ra mạch lạc và dẫn đến kết cục một cách tự nhiên Với Ai làm
đ-ợc, ngoài mục đích luân lý (lòng thơng ngời của Khiếu Nhàn, chí tự lập của
Trang 20Chí Đại, long trinh bạch của Băng Tâm, sự cải hoá của Trờng Khanh) tác giảcòn muốn trình bày cái uy quyền tuyệt đối của ngời cha (ông Phủ) đối vớicon (Bạch Tuyết), nhất là trong việc hôn nhân và đặt vấn đề tự do luyến ái ởvào thời mà việc cới gả hoàn toàn do cha mẹ định đoạt, con cái không cóquyền lựa chọn ngời bạn đời của mình thì để chống lại sự độc đoán của cha
mẹ kẻ làm con không có cách nào khác ngoài việc tự tử hoặc bỏ nhà ra đi.Bạch Tuyết đã bỏ theo Chí Đại và sự “tiền dâm hậu thú” xảy ra Theo luân lýnho giáo, nàng là ngời con bất hiếu Tuy nhiên hành động của nàng có lý do
để biện minh: Bạch Tuyết phải trốn theo Chí Đại vì bà phủ Hai đã đẩy nàngvào cái thế chẳng đặng đừng và nàng cần phải sống để tìm cách báo thù cho
mẹ Dẫu vậy, sau khi tội ác đợc đa ra ánh sáng, nàng đã toan tự sát để khỏi
hổ thẹn là gái bất hiếu, bất trinh Nhờ thế nàng đã chiếm đợc trọn vẹn cảmtình của độc giả và đó cũng là một chủ ý luân lý khác nữa của tác phẩm Vềphơng diện hình thức, đây là tác phẩm có văn phong bình dị sáng sủa và giàusắc thái địa phơng
Tiểu thuyết Cay đắng mùi đời (1923) là một tiểu thuyết dài đợc chia làm hai tập Đây là tiểu thuyết mô phỏng tiểu thuyết Không gia đình của Hector Malot (Pháp) Đọc Cay đắng mùi đời , ngời ta hiểu rõ nhân tình thế
cố, thơng xót cho cuộc đời vất vởng, cơ cực của những đứa con hoang Nhng,
vì là một truyện mô phỏng, cái giá trị của Cay đắng mùi đời là ở chỗ Hồ Biểu
Chánh đã biết dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết Pháp mà viết nên một tácphẩm hợp với nếp sinh hoạt của xã hội Việt Nam và diễn tả đúng tâm lý ngờimình
Tiểu thuyết Thầy thông ngôn(1926) gồm 12 chơng và đoạn chuyện
sau Có thể nói, quãng đời làm thông ngôn ký lục của Hồ Biểu Chánh đã để
lại dấu vết sâu đậm trong tác phẩm này Thật vậy, truyện Thầy thông ngôn
phần lớn xảy ra tại Cà Mau và Long Xuyên là hai nơi mà ông đã đổi tới làm
việc Qua tiểu thuyết Thầy thông ngôn, tác giả muốn mô tả cuộc sống, thái
độ nịnh bợ quan trên bắt nạt kẻ dới và nhất là lòng tham phú phụ bần củaphần đông các thầy thông, thầy ký thời Pháp thuộc mà Phong là một trờnghợp điển hình Ông đã cực tả tâm lý của Phong, một thầy thông tâm trí luônluôn mơ ớc cới đợc vợ giàu, không phải bằng lối giảng giải mà bằng chính ýnghĩ, ngôn ngữ và cử chỉ của nhân vật
1.3.2 Màu sắc Nam Bộ trong ba tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Trang 21Trong các tiểu thuyết nói chung và trong ba tiểu thuyết chúng tôi đềcập ở đây nói riêng, Hồ Biểu Chánh đã dùng rất nhiều từ địa phơng Đơngiản ông là một nhà văn Miền Nam Không những trong lời đối thoại của cácnhân vật mà cả trong lời thuật truyện, mô tả của tác giả Đó là những tiếng
phổ thông trong ngôn ngữ đại chúng miền Nam: nín khe; không thèm léo vô bếp, lơn tơn trở về, cời ngỏn nghẻn, xẩn bẩn một bên, dữ hôn, hổng dắt đi, s- ớng giống gì, té ra, đi riết, làm lung lắm, day lại, đứng xớ rớ, xí đợc, sắp cháu, lạ hoắc, dục dặc không muốn đi, la tiếng bài hải, đỏ hực hở, xẻn lẻn lắm,
Nh vậy, khảo sát từ địa phơng trong tác phẩm của ông chúng ta có thểthấy đợc vai trò từ địa phơng trong hành chức - một dạng hành chức ít nhiềumang tính đặc trng Cũng qua đó ta có thể hiểu thêm khía cạnh tâm hồn, tìnhcảm và ứng xử của ngời Nam Bộ
Chúng tôi đã tiến hành thống kê trong ba tiểu thuyết tiêu biểu của HồBiểu Chánh (tổng cộng 394 trang) và thu đợc 831 từ địa phơng với 5.294 lầndùng Trung bình mỗi trang có 2,11 từ địa phơng xuất hiện, với 13,47 lợtdùng Bình quân mỗi từ địa phơng có 6,37 lợt dùng
1.4 Nguyễn Ngọc T và tập truyện Cánh đồng bất tận
Nguyễn Ngọc T sinh năm 1976, quê quán ở xã Tân Duyệt, huyện ĐầmDơi, tỉnh Cà Mau Tuy là nhà văn trẻ Nam Bộ nhng những tác phẩm của chịxuất hiện rất đều đặn trên văn đàn và thu hút đông đảo độc giả Truyện ngắncủa Nguyễn Ngọc T có sức hấp dẫn đối với ngời đọc, nhất là ngời Nam Bộ.Truyện ngắn của chị không cầu kỳ từ đề tài đến ngôn ngữ thể hiện NguyễnNgọc T thờng khai thác những vấn đề rất đời thờng và cuộc sống của ngờidân miền Nam đó là chuyện một ông già đi tìm con, chuyện tình cảm gia
đình, tình cảm nam nữ, chuyện về những ớc mơ bình dị, chuyện về sự thahoá ở một lớp ngời nghèo túng, thất học…) Tất cả đều đợc thể hiện với mộtdọng văn nhẹ nhàng, tự nhiên, với ngôn ngữ đậm đà chất Nam Bộ Nhà vănNguyễn Quang Sáng nhận xét: “Với giọng văn mộc mạc, bình dị, với ngônngữ đời thờng đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hơng vị củamảnh đất cuối cùng Tổ Quốc- mũi Cà Mau, của những con ngời mà cha ông
là ngời tứ xứ về mũi đất của rừng, của sông nớc, của biển cả đẫ dày côngkhai phá, đã đứng lên khơi nghĩa Qua ngòi bút của Nguyễn Ngọc T, những
Trang 22con ngời lam lũ, giản dị , bộc trực ấy chứa bên trong cả một tâm hồn vừanhân hậu, vừa tinh tế qua cách đối nhân xử thế.” Tiến sĩ Huỳnh Công Tín
trong quyển Cảm nhận bản sắc Nam Bộ [15] cũng có những đánh giá cao về
ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc T: “Ngôn ngữ trong tất cả truyệnngắn của chị, từ ngôn ngữ dẫn truyện đến ngôn ngữ nhân vật, nhất là ngônngữ nhân vật, đều khá thuần chất Nam Bộ Số lợng từ ngữ Nam Bộ trong tácphẩm của chị khá ln Đặc điểm này tạo nên ở truyện của chị một văn phongriêng mà nhiều ngời cảm thấy yêu thích.”
Đọc truyện của chị ngời đọc sẽ cảm nhận đợc chất Nam Bộ thể hiệnkhái quát ở nhiều phơng diện của tác phẩm Bối cảnh trong các truyện ngắnphần lớn là vùng đất U Mịnh Đó là mảnh đất cuối trời quê hơng mà nhiềungời chỉ nghe nói tới , chứ cũng không có lần đợc đặt chân đến, đừng nói chi
đến việc đi hết vùng đất Mũi Trong tác phẩm của chị có một không gian
Nam bộ với những loại cây, tên gọi nghe quen, dân giã (mắm, đớc, sú, vệt, bần, tra, chàm, choại, quao, ô rô, dừa nớc ) với những vàm, kinh, rạch, xẻo, tắt chằng chịt, mà tên gọi cũng gợi trí tò mò tim hiểu ở ngời đọc (Vàm
Cỏ Xớc, vàm Mắm,Kinh Cỏ Chác, kinh Mời Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi, Rạch Ráng, Rạch Ruộng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, lung Lớn, gò Cây Quao ) hay những tên ấp, tên làng, tên chợ nhiều chất Nam bộ (Xóm Xẻo, Xóm Rạch, Xóm Kinh Cụt, Xóm Miễu, Chợ Ba Bảy Chín, Cái Nớc, Trảng Cò, Đất Cháy, Mút
Cà Tha ) Nhân vật trong tác phẩm của chị là những ngời Nam Bộ với
những cái tên cũng hết sức bình dị, chân chất, đặt tên theo thứ, và cách xnggọi kết hợp với tên: Hai, Ba, T, Chín, út, T Nhớ, Năm Nhỏ, Sáu Đèo, mangnhững tâm t nguyện vọng cũng hết sức nhỏ bé, đời thờng Đó là những conngời sinh sống bằng những ngành nghề gắn liền với quê hơng sông nớc Nam
Bộ, nh: nghề sông nớc, nghề nuôi vịt chạy đồng, nghề theo gánh hát , ngoài
những ngành nghề truyền thống làm ruộng, làm rẫy, đan lát Đặc biệt, vùng
đất và con ngời Nam Bộ trong các sáng tác của chị đợc dựng lại bằng chínhchất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ
Truyện của chị đa phần dừng lại ở những tình cảnh gia đình nghèo, đềcập đến những số phận buồn của những con ngời bé nhỏ, những nông dânchân chất với những ớc mơ và cuộc sống hết sức bình dị đời thờng rất đángcảm thông, trân trọng, nhng đôi khi cuộc đời nghiệt ngã cũng không cho họ
đợc nh ý, đợc toại nguyện
Trang 23Cho tới nay, ngoài những truyện đăng với những tác giả khác (nhữngtuyển tập chung), Nguyễn Ngọc T đã có đợc những tập truyện ngắn riêng:
Ngọn đèn không tắt [29], Ông ngoại [30], Biển trời mênh mông [31], Giao thừa [32] , Nớc chảy mây trôi [33], Truyện ngắn Nguyễn Ngọc T [34], Cánh
đồng bất tận [35] và rất nhiều truyện ngắn, tản văn, tạp văn, tạp bút,khác.
Cánh đồng bất tận là tập truyện có nhiều tiếng vang: khen, chê đều có.
Nhng dù sao thì hiện nay tên tuổi Nguyễn Ngọc T và các tác phẩm của chị đã
đợc nhiều bạn đọc ở cả trong nớc lẫn ngoài nớc nớc quan tâm Nhiều truyện
đợc chọn in ở những tập sách khác nhau, vì sức thu hút ngời đọc của chúng
Tập Cánh đồng bất tận [35] gồm 14 truyện ngắn Nguyễn Ngọc T vẫn
với bút pháp giản dị, gọn ghẽ đầy ắp âm sắc Nam Bộ, cách chọn lọc ngônngữ, cử chỉ sống động nh đẽo nh tạc, trên bối cảnh tiêu sơ ruộng đồng sôngnớc Cửu Long vẫn là những mảnh đời nghèo khó, xiêu dạt bơ phờ vì áo cơm.Nhng không cũ mòn, không nhàm chán, mạch văn liên kết chặt chẽ vớinhững chi tiết, hình ảnh thú vị Trong truyện vẫn là tình cảnh của những gia
đình nghèo, những số phận buồn của những con ngời nhỏ bé, của những ngờinông dân bình dị:
Chuyện của Điệp nói về một cô bé lớn lên với ngoại, nhng có tâm hồn
đa cảm, bao dung: “Má à, sáng này má kêu con Giàu theo con ra đoàn, mấy
bộ đồ của bé Bơ còn nguyên một giỏ y thinh, con gửi nó đem về cho má, maimốt má sinh cho em bé mặc, nghen má”
Truyện Nhớ sông nói về cảnh bất hạnh của gia đình ông Chín Vợ mất
sớm vì một tai nạn bất ngờ trên sông nớc để ông phải lâm vào cảnh “gàtrống nuôi con” Dù nghèo nhng ba cha con vẫn gắn bó với nhau bằng mộttình thơng yêu hết sức cảm động Đọc truyện này nhiều ngời phải rơi nớcmắt vì cảnh gia đình ông Chín: “Gia đình ông Chín sống hẳn trên ghe Cảnhcủa ông cũng buồn lắm Nhà nghèo, ra riêng, gia đình chỉ cho hai công đất.Năm Giang ba tuổi, Giang lên sởi, ông Chín bán đất cứu con Số tiền còn dlại ông mua chiếc ghe nhỏ đi bán hàng bông Cả nhà dắt díu nhau linh đinh
sông nớc” Cảm động nhiều là đoạn nói về tình cảnh trong quá khứ, khi mỗi
lần ghe ông ghé lại, đứa trẻ con ông lại lên bờ chạy nh điên dại, và lúc ấy nó
nh tìm lại đợc khoảng trời tuổi thơ đầy ớc mơ, mà điều này khiến vợ chồng
ông đau xót qua tâm sự: “Có lúc vừa ghé lại bờ, cha kịp buộc dây ghe vô gốcmắm, do quẩn chân lâu ngày, Giang đã chạy lên bờ, chạy cuống chạy quồng
Trang 24nh vui nh điên trên đất, má Giang rớt nớc mắt “con nó thiệt thòi ” ông Chín
an ủi “vì miếng ăn mà , mình ơi”
Cuộc sống nghèo khổ tạo cho con ngời một nghị lực, lâu dần trở thànhthói quen, mà thói quen dễ làm con ngời nhớ Dù nỗi nhớ của những con ng-
ời nghèo khổ này lạ quá, mấy ai thông cảm đợc: “Ghé Đập Sậy, Giang đòi
ông Chín ở lại một đêm, cho Giang xuống ghe ngủ với con Thuỷ, Giang thannức nở: “Trời ơi, con nhớ ghe quá trời đất đi” “Xuống ghe Giang mò mẫm
từng món hàng, từng miếng sạp” ([35] - Nhớ sông)
Đọc truyện của chị, ngời đọc băn khoăn: ở vùng đồng bằng này, cònbao nhiêu gia đình đang ở vào tình cảnh nh gia đình ông Chín, gia đình của
Điệp, gia đình cha con T Nhớ, ?
Truyện Cải ơi cũng đề cập đến tình cảnh của gia đình Năm Nhỏ phải
chịu tiếng oan là “giết con” khi nhỏ Cải (con của vợ ông), làm mất đôi trâu,
sợ đòn, bỏ trốn Cuộc hành trình dài lặn lội đi tìm đứa con với nhiều “phơngkế” của ông, của một ngời cha ghẻ (bố dợng) để mong tìm đợc con Cải, cónhiều chi tiết hết sức xúc động Những chi tiết của cuộc sống sinh hoạt đờithờng, bình dị, giàu chất Nam Bộ và thấm đợm tình ngời:”Ông già Năm Nhỏlặng đi, tự hỏi, bây giờ ông lên ti vi, con Cải có nhận ra ông không Câu trảlời là có, ông đã dắt con nhỏ đi hái xoài chín trong vờn hoang, đã chặt chuốilàm bè dạy cho nó lội, thả trâu, chơi diều, ông đã cõng con nhỏ đi tắt quamấy vạt đồng đến khám bệnh nơi ông bác sĩ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổmũi Cây kẹp nhỏ, mớ dây thun khoanh, mấy chục kẹo dừa vung vinh trongtúi áo mỗi khi ông đi chợ về…) tất cả những thứ đó, ông nhớ mồn một thì nhỏCải chắc cha quên Ông già muốn lên ti vi để nhắn đứa trẻ bỏ nhà rằng: về đi
con ơi, đôi trâu sá gì” ([35] - Cải ơi).
Trong truyện Hiu hiu gió bấc, có một tình cảm đẹp nhng bất thành để lại nỗi đau ở hai con ngời tha thiết yêu nhau: “Hôm đám cới, anh Hết còn
tỉnh bơ ngồi ngoài bờ, dới gốc còng, hào hứng bày cờ ra chơi với mấy đứanhỏ Đám bạn gái ai cũng xì xầm, chắc thằng Hết không thơng thiệt conHoài nên mới dửng dng vậy Chị Hoài nghe mà khóc không thôi, bảo với chị
Hảo, có cái tiếng bạc tình ảnh cũng ghánh cho em rồi” ([35] – Hiu hiu gió bấc).
Có khi tình yêu đến bất ngờ, rồi vội đi, để lại một khoảng trống cho
thực tại và một kỷ niệm đẹp trong quá khứ, nh ở truyện Cái nhìn khắc khoải,
Trang 25chị viết: “Chị bật khóc, con Cộc điềm đạm lại cái mẻ lúa, nó ăn chậm rãi ýnói sao mà tội nghiệp hai ngời quá đi, làm ngời mà khổ vậy, làm vịt còn sớnghơn Đêm đó, ngoài nhà xuồng, nó nghe ông thở dài Tự mình làm mìnhchịu, ai biểu ?”
Chủ đề tha hoá cũng đợc chị đề cập trong một số truyện Truyện Cánh
đồng bất tận là một cảnh báo về sự tha hoá ở một lớp ngời vì sự nghèo túng
và thất học gây nên, cần phải đợc ngăn chặn bằng cách tổ chức một xã hội
tốt hơn nó hiện có ([35] – Cánh đồng bất tận)
Tóm lại, truyện ngắn Nguyễn Ngọc T đã đem đến cho ngời đọc mộtcái nhìn khá chân thật, sinh động về cảnh vật, con ngời vùng sông nớc miềnTây- Nam Bộ Có đợc điều đó, phần lớn là do cách sử dụng ngôn ngữ củachị Tất cả tạo cho tác phẩm của chị màu sắc riêng, biểu hiện một cách sinh
động, chân thật cảnh vật, tâm trạng, cảm xúc của con ngời Trong truyệnngắn của chị, ngôn ngữ không bị gò bó vào khuôn mẫu của ngôn ngữ truyềnthống nên chúng có khả năng mở rộng và sáng tạo cho phù hợp với tính cáchcon ngời và cuộc sống ở vùng đất Nam Bộ Khi viết truyện ngắn NguyễnNgọc T sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên Chị từng nói: “Những cảnh đời,cảnh ngời bên cạnh mình, những ngôn ngữ đời sống bình dị hàng ngày cứ thế
ùa vào trang viết” Nhng những cố gắng cùng với sự khéo léo của chị trongviệc sử dụng từ ngữ đã biến ngôn ngữ đậm phong cách khẩu ngữ trở thànhngôn ngữ văn chơng Nguyễn Ngọc T đã dùng đợc chất liệu ngôn từ của thựctại cần phản ánh” Vì thế, tác phẩm của chị mang một văn phong riêng mànhiều ngời cảm thấy yêu thích
Thống kê trong tập Cánh đồng bất tận (gồm 14 truyện ngắn với 205
trang in), chúng tôi thu đợc 195 từ địa phơng, với 1.540 lần dùng Nh vậy,trung bình mỗi trang truyện có 0,95 từ địa phơng, với 7,51 lần dùng
Chơng 2
Từ địa phơng NAM Bộ trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh và truyện Nguyễn Ngọc T 2.1 Từ địa phơng NAM BÔ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Chúng tôi đã tiến hành thống kê trong ba tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ
Trang 26Biểu Chánh (in trong [28]) để có các số liệu về tổng số từ ngữ địa phơng cómặt trong từng tác phẩm, cũng nh trong toàn bộ ba tác phẩm Số từ này sẽ đ-
ợc khảo sát trên 3 phơng diện: cấu tạo, quan hệ với ngôn ngữ toàn dân, cáctrờng nghĩa
2.1.1 Số lợng và tần số sử dụng từ địa phơng Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Số liệu
Tác phẩm
Số TĐP(tỉ lệ số từ /trang)
Số lần dùngTĐP
Tỉ lệ lần dùngTĐP / trang
Tỉ lệ lầndùng TĐP /từ
Ai làm đợc
(142 trang)
256(1,80)
1.460 10,28 lần 5,70 lần
Cay đắng mùi đời
(154 trang)
369(2,40)
2.770 17,98 lần 7,50 lần
Thầy thông ngôn
(97 trang)
206(2,12)
1.064 10,96 lần 5,16 lần
Tổng số
(393 trang)
831(2,11)
Số liệu cụ thể trong từng tác phẩm nh trong bảng 2.1.1
Qua bảng 2.1.1, có thể có những nhận xét định lợng sau:
1- Tất cả 831 từ địa phơng đợc Hồ Biểu Chánh dùng (với 5.294 lợtdùng) trong tiểu thuyết đều là phơng ngữ Nam Bộ Tỉ lệ bình quân 2,11 từ
địa phơng ( với 13,47 lợt dùng) trên một trang tác phẩm là một tỷ lệ cao
2- Thứ tự các tác phẩm bình quân từ địa phơng / trang từ cao nhất đến
thấp nhất là: Cay đắng mùi đời (2,40 từ), Thầy thông ngôn (2,12 từ), Ai làm
đợc (1,80 từ)
3- Số lợng tác phẩm có bình quân lợt dùng từ địa phơng / trang từ cao
nhất đến thấp nhất là: Cay đắng mùi đời (17,98 lợt dùng), Thầy thông ngôn (10,96 lợt dùng), Ai làm đợc (10,28 lợt dùng)
4-Thứ tự các tác phẩm có bình quân lợt dùng / từ từ cao đến thấp nhất
Trang 272.1.2.1 Phân loại theo cấu tạo từ địa phơng Nam Bộ trong 3 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Bảng 2.1.2: Cấu tạo từ địa phơng Nam Bộ trong 3 tiểu thuyết của Hồ Biểu
Chánh
Từ đa tiếtTổng số Từ láy Từ ghép
(100%)
66(25,8%)
190(74,2%)
Cay đắng mùi
đời
369(100%)
114(30,9%)
255(60,1%)
Thầy thông
ngôn
206(100%)
73(35,47%)
133(64,6%)
Tổng số
831(100%)
253(30,4%)
578(69,6%)
Qua bảng 2.1.2, chúng tôi có nhận xét:
1- Trong tổng số 831 từ địa phơng thu đợc chủ yếu là từ đa tiết với 578
từ chiếm 69,6% mà trong đó từ ghép đợc sử dụng nhiều hơn từ láy
2- Thứ tự các tác phẩm có số lợng từ đơn tiết từ cao nhất đến thấp nhấtlà:
Cay đắng mùi đời (114 từ, chiếm 30,9%), Thầy thông ngôn (73 từ, chiếm 35,4%), Ai làm đợc (66 từ, chiếm 25,8%)
3- Thứ tự các tác phẩm có số lợng từ đa tiết từ cao nhất đến thấp nhất
là: Cay đắng mùi đời (255 từ, chiếm 60,1%), Ai làm đợc (190 từ, chiếm
Trang 2874,2%), Thầy thông ngôn (133 từ, chiếm 64,6%)
4- Thứ tự các tác phẩm có số lợng từ láy từ cao nhất đến thấp nhất là:
Ai làm đợc và Cay đắng mùi đời có số lợng bằng nhau 46 từ, Thầy thông
ngôn là 27 từ
5- Thứ tự các tác phẩm có số lợng từ ghép từ cao nhất đến thấp nhất là:
Cay đắng mùi đời (209 từ), Ai làm đợc (144 từ), Thầy thông ngôn (106 từ)
2.1.2.2 Phân loại từ địa phơng Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh theo sự tơng ứng âm và nghĩa với từ toàn dân
Xét theo quan hệ về mặt âm thanh và ý nghĩa giữa từ địa phơng với từtoàn dân, chúng tôi chia lớp từ địa phơng Nam Bộ thống kê đợc ở trên làm 3loại:
- Loại a) Các từ địa phơng Nam Bộ vừa có sự tơng ứng về âm thanh vừa có sựtơng đồng về nghĩa với từ toàn dân
- Loại b) Các từ địa phơng Nam Bộ không có quan hệ âm thanh nhng lại có
sự tơng đồng về nghĩa với từ toàn dân
- Loại c) Các từ địa phơng Nam Bộ không có quan hệ cả về âm thanh lẫnngữ nghĩa với từ toàn dân
a) Các từ địa phơng Nam Bộ (trong 3 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh)vừa có sự tơng ứng về âm thanh vừa có sự tơng đồng về ngữ nghĩa với từtrong ngôn ngữ toàn dân
Đây là loại từ đợc tạo ra bằng việc biến đổi một phần mặt ngữ âm sovới từ toàn dân Loại này có số lợng nhiều nhất trong 3 loại từ địa phơng nói
trên: trong 3 tiểu thuyết có 402 từ thuộc loại a), trong đó Ai làm đợc : 94 từ, Cay đắng mùi đời : 186 từ, Thầy thông ngôn : 117 từ (Xin xem các bảng
2.1.3, 2.1.4 và 2.1.5 ở dới - Danh sách các từ địa phơng loại a)
Về căn bản, các từ địa phơng loại a) giống nghĩa với từ toàn dân tơngứng ngữ âm với nó Sự khác nhau về nghĩa giữa từ địa phơng và từ toàn dân ởloại này là không đáng kể; nếu có thì chủ yếu ở sắc thái nghĩa tu từ
Ví dụ: minh mông và mênh mông (trong tiểu thuyết Ai làm đợc), là cặp
đồng nhất với nhau về nghĩa, khác nhau chỉ ở phần vần của tiếng đứng trớc
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng - 2000), mênh mông (tính từ) : chỉ sự rộng lớn đến mức gây cảm giác mung lung, mờ mịt.
Ví dụ: Trời biển mênh mông [14; 29]
Trang 29Trong Từ điển đối chiếu từ địa phơng, từ minh mông cũng có nghĩa là mênh mông với từ toàn dân Trong Ai làm đợc, Hồ Biểu Chánh viết: “Ai ngờ
đất Sài Gòn minh mông quá”.
Tơng tự là các từ: bịnh và bệnh Theo Từ điển tiếng Việt, bệnh gồm các
3 Thói xấu hoặc khuyết điểm về t tởng làm cho những hành động
đáng chê trách hoặc gây hại
Trang 30151617181920212223242526272829303132333435363738394041424344454647
Trang 31Từ địa ph ơng
ảnh
biểu
biểu dùmbịnh
bịnh hoạnbinh vực
chớ chichớ thiệtchơn
chơn chấtchơn trờichơn runchúa nhậtday
dầy
dùm
đa
gặc đầugởi
gởi th
giành giựtgiựt củagiựt mìnhhiệp
(ý) hiệphổm
hổng có
Trang 32hủ hỉ
huê hồnghực hỡmá
mạ
mạnh giỏmày mạymầy
minh môngmùng
nầy
nhơn
nhơn nghĩanhơn đức
Từ toàn dânanh
bảo
bảo giúpbệnh
bệnh hoạnbênh vực
bỡ ngỡcô
gì
chị
chậu cảnhchứ
chứ gìchứ thậtchân
chân chấtchân trờichân run
Trang 33chủ nhậtquay
dày
giúp
đấy
gật đầugửi
gửi th
giành giậtgiật củagiật mìnhhợp
(ý) hợphôm
không cóthủ thỉhoa hồngrực rỡmẹ
mẹ
mạnh khoẻmang mángmày
mênh môngmàn
này
nhân
nhân nghĩanhân đức
TT
48
49
50
Trang 3451525354555657585960616263646566676869707172737475767778798081828384
Trang 35t¸nh cøngt¸nh nÕtt¸nh khÝt¸nh t×nht¸nh ý
t¸nh chÊtt¸nh m¹ngt»ng h¾ng
tá thiÖt
t nh¬n
th©u gomth¬
thi
thiÖt
thiÖt m¹nhthiÖt t×nhthiÖt thµ
th thíi
thÑn thïaæng
phèi hiÖp
Trang 36nh¬n tõnhùt tr×nhnhùt kÝ
l·nh
l¹t lÏo
lÌn (cói)linh
linh ®inhsanh
sanh bÞnh sanh chuyÖnsanh lßngsanh sùsanh viÖcs¶ng sètsum hiÖpvÇy
tÝnh cøngtÝnh nÕttÝnh khitÝnh t×nhtÝnh ý
tÝnh chÊt
Trang 37tánh mạng
đằng hắng
tỏ thật
t nhânthu gomth
thơ
thật
thật mạnhthật tìnhthật thà
th tháithẹn thùng
ông
phối hợpnhân từnhật trìnhnhật kílĩnh
nhạt nhẽoluồn (cúi)lênh
lênh đênhsinh
sinh bệnhsinh chuyệnsinh lòngsinh sựsinh việcsửng sốtsum họpvậy
ngắn
vào
Trang 38vào với
vâng lời
vâng lệnh
Ví dụ:
* “… Khiếu Nhàn đọc hết bài thi, thấy văn chơng tao nhã thì khen thầm,
mà thấy ý tứ thảm sầu lại tội nghiệp nên tính ngồi nán đợi ngời ấy trở vô
đặng làm quen hỏi coi ngời ở đâu cho biết Té ra ông ngồi đợi chót giờ mà
không thấy bèn kêu Chú Lỳ mà hỏi rằng:
Nầy, ngời trai hồi nãy ở đâu lại đây, nị biết hôn? Vào quán nị sao không thấy ăn uống chi hết lại viết mấy câu thì rồi bỏ đi đâu mất đi? (28;
318)
* Phận trò em lận đận nghe nói ai cũng động lòng Song trò em nên biết
ở đời ngời có chí lớn hơn ngời có của, bởi vì ngời có chí tuy bây giờ không
có của, song một ngày kia phải có, chớ ngời có của mà không có chí, sợ e
một ngày kia của tiền mất hết mà chí lập cũng cha đợc Trò em vừa mới gặp
đại tang tự nhiên phải buồn rầu; mà trò em xét lại thử coi con ngời ai khỏi
mấy cái hoạ ấy đâu (28; 325)
* “Chí Đại làm vừa đợc một năm thì quan Phủ xin tăng lơng nên mỗi
tháng mời lăm đồng, lại cậy Chí Đại mỗi chúa nhật qua dinh dạy dùm con
trai nhỏ của ông học chữ quốc ngữ (28; 330)
* “Chí Đại thờng thấy Bạch Tuyết hoài, nhng mà thấy thì thấy, chớ anh không dám ngó, lại cũng không có dịp nào mà nói chuyện (28; 332) ; v.v Bảng 2.1.3.2 Các từ địa phơng Nam Bộ (trong tiểu thuyết Cay đắng mùi
đời) tơng ứng âm thanh và tơng đồng ngữ nghĩa với từ toàn dân (177 từ)
bà
bè bạnbảo
TT90919293
Từ địa ph ơngminh môngmùng(khóc) mùinầy
Từ toàn dânmênh môngmàn
(khóc) vùinày
Trang 39bản tánhnhơ bẩn
bỡ ngỡbản tínhcầmcô
chínhchính tâmchính trựcchặc lỡichậu cảnhtrồng bạcgiằng codày dày
dò xét
dò xemrộn ràngchứchứ gì
chứ thậtchứ sao(vậy) chớchânchân chấtchân trờichân runchân ai
949596979899100101102103104105106107108109110111112113114115116117118119120121122123124125126127
nầy con(chút) nầy(chuyện) nầynúp
nơng đỡnhơnnhơn nghĩanhơn đứcnhơn duyênnhơn từnhựt trìnhnhựt kítánh nếttánh khítánh tìnhtánh ýtánh chấtlãnhlạtlạt lẽolinh đinhphứtphớcquao cọrày(bựa) ràyrấm rứcrờ
rờ rẫmrớtsanh sanh chuyệnsanh lòngsanh sự
này con(chút) này(chuyện) nàynấp
nâng đỡnhânnhân nghĩanhân đứcnhân duyênnhân từnhật trìnhnhật kítính nếttính khitính tìnhtính ýtính chấtlĩnhnhạtnhạt nhẽolênh đênhvứt
phúccau cónày(bữa) nàyrấm rứtsờ
sờ sẫmrơisinhsinh chuyệnsinh lòngsinh sự
Trang 40gì đâygì hếtgì vậy(bệnh) gì
dò nhauthỏ thẻ
128129130131132133134135136137138139140141142143144145146147148149150151152153154155156157158159160161
sanh việcsảng sốtsum hiệptánhtánh cứngvô theovô trỏngvô xómvô sânvng lờivng lịnhtánh mạngtằng hắng
tỏ thiệt
t nhơnthơ
thithiệtthiệt mạnhthiệt tìnhthiệt thà
th thớithẹn thùathiệt tốttrỏngvầyvắnvô
vô vớivô đâyvô mànvô nhàvô buồng(trở) vô
sinh việcsửng sốtsum họptínhtính cứngvào theovào trongvào xómvào sânvâng lờivâng lệnhtánh mạng
đằng hắng
tỏ thật
t nhânththơ
thậtthật mạnhthật tìnhthật thà
th tháithẹn thùngthật tốttrongvậyngắnvàovào vớivào đâyvào mànvào nhàvào buồng(trở) vào