1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật quân sự việt nam

53 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Quân Sự Việt Nam
Tác giả Lê Thị Tân
Người hướng dẫn Thượng Tá: Trương Xuân Dũng
Trường học Không rõ
Chuyên ngành Giáo dục quốc phòng
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt nam là một quốc gia dân tộc tự chủ từ sớm nền dân tộc Việt Nam gắnliền với quá trình dựng và giữ nước trải qua những cuộc khởi nghĩa vũ trang đểgiành lại độc lập tự do cho đất nước,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, trong quá trình nghiên cứu tôi nhận

được sự giúp đỡ tận tình chu đáo của thầy giáo Thượng tá:Trương Xuân Dũng

và sự góp ý chân thành, động viên của thầy cô trong khoa cùng sự động viên khích lệ của bạn bè, người thân.

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng để hoan thành đề tài nghiên cứu này, song thời gian và trình độ bản thân còn có hạn nên khó tránh khỏi thiếu sót Kính mong quý thầy cô giáo và bạn bè góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn.

Tôi xin bày tỏ nlòng biết ơn chân thành nhất đối với quý thầy cô và tất cả các bạn./

Vinh, ngày 28 tháng 5 năm 2011

Người thực hiện

Lê Thị Tân

Trang 2

Việt Nam chúng ta có lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữnước vô cùng oanh liệt Các cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược do nhândân ta tiến hành đều là chiến tranh nhân dân chính nghĩa, thu hút được đông đảoquần chúng tham gia ủng hộ Trong các cuộc chiến tranh ấy, nhiều trận đánh hay

đã mãi mãi ghi vào sử sách, vào tâm trí mỗi người dân Việt Nam Ngày nay,nhìn lại lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chúng ta càng tự hào vềtruyền thống hào hùng ấy Nghệ thuật chiến tranh nhân dân đã được hình thành

rất sớm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta

Việt nam là một quốc gia dân tộc tự chủ từ sớm nền dân tộc Việt Nam gắnliền với quá trình dựng và giữ nước trải qua những cuộc khởi nghĩa vũ trang đểgiành lại độc lập tự do cho đất nước, các cuộc chiến tranh chống lại các thế lựcxâm lược để bảo vệ Tổ quốc, dân tộc ta đã hình thành và ngày càng phát triểnmột nền nghệ thuật quân sự trong chiến tranh nhân dân Việt Nam rất độc đáo,đặc sắc và ưu việt Chính sự độc đáo đó của nghệ thuật quân sự việt Nam đã gópphần làm nên những chiến công hiển hách vang dội lịch sử của dân tộc, làm choquân thù luôn bị động, bất ngờ chuyển mạnh thành yếu và cuối cùng đi đến thấtbại nặng nề

Trong các cuộc chiến tranh ấy, lịch sử dân tộc việt Nam lại một lần nữa cakhúc ca khải hoàn khi đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, một đế quốc hùngmạnh nhất trên thế giới Điều đó đã chứng minh cho cả thế giới thấy rằng dân

Trang 3

tộc việt Nam, nhân dân việt Nam tuy nhỏ bé nhưng không dễ gì đánh bại, ViệtNam có chiến tranh nhân dân, có truyền thống đánh giặc giữ nước lâu đời, cótinh thần đoàn kết, thống nhất trong dân tộc đã phát triển lên thành nghệ thuậtquân sự Việt Nam ưu việt và hiện đại không một thế lực nào có thể đánh thắngnổi, nét độc đáo đặc sắc ấy thể hiện một cách đầy đủ trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của nhân dân ta

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước dân và giữ nước đã hình thành choViệt Nam các giá trị truyền thống dân tộc phong phú,bền vững Đó là ý thức chủquyền quốc gia dân tộc,ý chí tự lập tự cường yêu nước,kiên cường bất khuất tạothành một động lực mạnh mẽ của đất nước,là tinh thần tương thân tương ái,nhânnghĩa cố kết cộng đồng dân tộc ,thủy chung,khoan dung độ lượng,là thông minhsáng tạo,quý trọng hiền tài ,tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phongphú văn hóa dân tộc trong các giá trị tinh thần ấy thì chủ nghĩa yêu nước vanghe thuật đánh giặc của ông cha ta vẫn là dòng chảy chính của tư tưởng vănhóa truyền thống Việt Nam xuyên suốt trường kỳ lịch sử là động lực mạnh mẽcho sự trường tồn của dân tộc,chính nghệ thuật quân sự đã góp phần vận dụngbảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới

Chính vì vậy mà em lựa chọn đề tài này để tìm hiểu một cách sâu sắc về

nét độc đáo đặc sắc của nghệ thuật “Nghệ Thuật Quân Sự Việt Nam”, đồng

thời bổ sung vào nguồn kiến thức giúp em làm phong phú về nội dung khi giảngdạy môn học GDQP

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

.Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự

“Chiến tranh nhân dân Việt Nam”

.Tìm hiểu về những nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam

Trang 4

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sử dụng phương pháp lý luận thông qua việc nghiên cứu thu thập tàiliệu, các kênh thông tin quân đội

Sử dụng phương pháp hệ thống để thể hiện đầy đủ quá trình hình thành

và phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam

Liên hệ thực tiễn đời sống

V VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN

Sau khi nghiên cứu thành công, đề tài này sẽ giúp cho chúng ta hiểu đượcnét độc đáo sâu sắc của nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam quacác giai đoạn lịch sử đồng thời giúp chúng ta hiểu thêm về nghệ thuật quân sựViệt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt là nghệ thuật quân sựViệt Nam từ khi có đảng lãnh đạo, vận dụng được một số bài học kinh nghiệm

về nghệ thuât quân sự vào sự nghiêp bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới làm

phong phú thêm chúng ta giảng dạy môn Giáo Dục Quốc Phòng An Ninh

Trang 5

NỘI DUNG PHẦN I: NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN

Vào giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta đánh sụpthành trì mục ruỗng của triều đình nhà Nguyễn biến nước ta thành thuộc địa củaPháp ,nhân dân Việt Nam bị sống trong kiếp đọa đày nô lệ Bắt đầu từ muà xuânnăm 1930,dưới ngọn cờ độc lập ,tự do của Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đãđoàn kết thành một khối ,kiên cường chiến đấu và xây dựng đất nước, giànhđược những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại đó là nhờ Đảng, nhân dân ta được

vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Hơn nữa do vịtrí địa lý thuận lợi,nước ta luôn bị các thế lực ngoại xâm nhòm ngó Sự xuấthiện các thế lực thù địch và âm mưu thôn tính mở rộng lãnh thổ của chúng lànguy cơ trực tiếp đe dọa vận mệnh đất nước ta Do vậy yêu cầu chống giặcngoại xâm, bảo vệ độc lập và cuộc sống đã sớm xuát hiện trong lịch sử dân tộc

ta Người Nam muốn tồn tạ, bảo vệ cuộc sống và nền văn hóa của mình chỉ cócon đường duy nhất là đoàn kết đứng lên đánh giặc, giữ nước

I NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN

1.1 Địa lý

Nước ta nằm ở cực đông bán đảo Đông

Dương, phía Đông Nam lục địa Châu Á (toạ

độ địa lý: 16’00N, 18 00E), chiếm diện tích

khoảng 331 688km2 Phía Đông và Nam tiếp

giáp Thái Bình Dương trong vùng nhiệt đới

gió mùa, biên giới giáp với vịnh Thái Lan ở

phía Nam, Bắc Bộ và Biển Đông ở phía Tây,

Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Căm pu Chia

ở phía Tây Đất nước ta có hình chữ S, với

khảng cách từ Bắc đến Nam khảng 1650 km,

Trang 6

vị trí hẹp nhất chiều Đông sang Tây là 50 km Với đường bờ biển dài 3260 kmkhông kể các đảo, Việt Nam tuyên bố có 12 hải lý ranh giới lãnh thổ Nước ta cóđịa hình đa dạng bao gồm rừng núi Cao Nguyên, Trung Du chiếm 3/4 lãnh thổ,nhiều sông ngòi kênh rạch Nước ta có 2 con sông lớn nhất là Sông Hồng vàSông MêKông bắt nguồn từ Tây Bắc lục địa Châu Á chảy ra Biển Đông tạo ra

hệ thống giao thông, thuỷ chiến lược rộng khắp Từ xa xưa nước ta đã có đường

“Thiên di” của nhiều tộc người tạo nên 2 trục đường chính nối dài từ Bắc vào

Nam

Do Việt Nam là nước giàu tài nguyên, có điều kiện để phát triển nền sảnxuất nông nghiệp nhưng lại nằm ở vành đai thiên tai, lụt lội, khí hậu không điềuhoà Mặt khác nước ta nằm ở một vị trí chiến lược hết sức quan trọng, cửa ngõ

đi vào lục địa Châu Á, đi ra Thái Bình Dương, điểm cắt nhau của đường thiên diBắc Nam và Đông Tây Vì thế nước ta luôn bị các thiên tai địch hoạ, kẻ thù dòmngó tiến công xâm lược Điều này đòi hỏi dân tộc ta phải biết đoàn kết, cảnhgiác, sát cánh bên nhau, cùng nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp chống lại sự tànphá của thiên nhiên, đánh bại mọi kẻ thù để tồn tại, xây dựng và phát triển đất

nước Trong đánh giặc, tổ tiên ta đã biết vận dụng yếu tố “thiên thời, địa lợi”

sáng tạo ra nhiều cách đánh phù hợp hiệu quả như: Lợi dụng núi rừng, đèo dốc,sông biển, đồng ruộng ao hồ, đầm lầy để tiêu diệt kẻ địch, bảo vệ mình Đúng

như Nguyễn Trãi đã viết “Quan hà bách nhị do thiên thiết” (quan hà hiểm yếu

hai người chống lại được trăm người)

Trang 7

tự lực tự cường, quán triệt tư tưởng “Quốc phú binh cường” Trong xây dựng

đất nước tổ tiên ta đã đề ra những chính sách nhằm phát triển kinh tế, củng cố

quốc phòng như “ngụ binh ư nông” của nhà Lý, “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” của nhà Trần, “Ra sức làm đường, đắp đê, đào kênh rạch cải tạo đồng ruộng, đẩy mạnh chăn nuôi sản xuất ra các loại công cụ lao động, đóng thuyền bè để phát triển sản xuất, cơ động quân đội” Trong đánh giặc nhân

dân ta đã biết cất giấu lương thực để ổn định đời sống, nuôi quân, sử dụng cáccông cụ lao động sản xuất ra các loại vũ khí trang bị như mũi tên đồng, cung nỏ,vót chông để đánh giặc bảo vệ Tổ quốc

1.3 Chính trị

Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, không qua chế độchiếm hữu nô lệ, phân vùng cát cứ không nhiều Do phải cùng nhau chung lưngđấu cật chống lại thiên tai, địch hoạ, các nhà nước phong kiến đã có những tưtưởng tiến bộ thân dân, những chính sách hoà hợp dân tộc đúng đắn, nên các dântộc ít xảy ra mâu thuẫn, hận thù Các dân tộc đều sống hoà thuận, gắn bó thuỷchung, yêu quê hương đất nước Đây là nhân tố, là cơ sở tạo nên sức mạnh đoànkết, thống nhất dân tộc, sự cố kết cộng đồng bền vững Trong quá trình xây dựngđất nước, chúng ta đã tổ chức ra nhà nước xác định chủ quyền lãnh thổ, tổ chức

ra quân đội, đề ra luật pháp để quản lý, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các nhànước phong kiến Việt Nam đều có tư tưởng trọng dân, đưa ra nhiều chính sáchhợp với lòng dân, xác định vai trò, vị trí của quần chúng nhân dân, mối quan hệ

giữa dân với nước, nước với dân được ví như “không thể phân biệt được đâu là

cá đâu là nước” nên đã động viên và phát huy được sức mạnh toàn dân trong

công cuộc xây dựng đất nước, động viên cả nước đánh giặc gìn giữ non sông.Trong đánh giặc, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất,tinh thần quyết tâm cao, với ý chí quật cường sắt đá và nghị lực phi thường, luônsáng tạo ra nhiều cách đánh hay, đánh giặc mềm dẻo khôn khéo, mưu trí sángtạo Dân tộc ta đã chiến đấu và đánh bại nhiều kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổquốc, giữ vững độc lập cho dân tộc

Trang 8

1.4 Văn hoá - xã hội

Dân tộc ta có một nền văn hoá bản địa xuất hiện sớm, từ thời tiền sử vớikết cấu bền vững có nhà, có làng, có bản, có nhiều dân tộc cùng chung sống,mỗi dân tộc, làng xã lại có một truyền thống phong tục tập quán riêng Nhưngtrong quá trình lao động, đấu tranh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì các dântộc đã vun đắp nên những truyền thống văn hóa chung như: Tinh thần yêu nước,đoàn kết, gắn bó, yêu thương đùm bọc che chở lẫn nhau, ý thức lao động cần cùsáng tạo, ý chí tự lực tự cường, đấu tranh dũng cảm, kiên cường, bất khuất Đây

là nguồn gốc sức mạnh của dân tộc để chống lại thiên nhiên, đánh bại mọi thếlực, mọi kẻ thù xâm lược Truyền thống ấy được thể hiện rõ nét và sâu sắc qua

các truyền thuyết “Lạc Long Quân và Âu Cơ”, “Sơn Tinh - Thuỷ Tinh”, “Thánh Gióng” Trong quá trình xây dựng đất nước, dân tộc ta luôn coi trọng phát triển

nền văn hoá, giáo dục kiến thức hội hoạ, âm nhạc mang bản sắc truyền thốngdân tộc, đồng thời không ngừng tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nền vănhoá thế gới làm cho nền văn hóa nước ta ngày càng phong phú, đa dạng và trànđầy sức sống

Có thể khẳng định rằng: Các yếu tố địa lý kinh tế, chính trị, văn hoá xã

hội có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta Tất cả nữngyếu tố đó đã không ngừng được tìm tòi và phát triển, tạo nên sức mạnh to lớncho dân tộc ta trong quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh bảo

vệ giống nòi, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc

II Cỏc cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược

2.1 Những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên

- Cuộc kháng chiến chống quân Tần: trước năm 214 trước công nguyên,dưới sự lónh đạo của vua Hùng và vua Thục Phán

- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của Triệu Đà, từ năm 184 đến

179 trước công nguyên, do An Dương Vương lónh đạo

Trang 9

2.2 Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược giành và giữ độc lập từ thế kỉ II trước công nguyên đến đầu thế kỉ X

- Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 40, đó giành được độc lập

và giữ vững được trong 3 năm

- Năm 248, cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Thị Trinh, nhưng bị thất bại

- Năm 542 là cuộc khởi nghĩa của Lý Bụn, giành thắng lợi, Lý Bụn lờnngụi vua với hiệu Lý Nam Đế và đặt tên nước là Vạn Xuân

- Ngoài ra cũn cú rất nhiều cỏc cuộc khởi nghĩa tiờu biểu khỏc như: Khởinghĩa của Mai Thúc Loan (năm 722), khởi nghĩa Phùng Hưng (từ năm 766 đến791), khởi nghĩa Ngô Quyền …

2.3 Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược từ thế kỷ X đến thế

kỷ XVIII

- Kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất của nhà Tiền Lê năm 981

- Cuộc khỏng chiến chống Tống lần 2 (1075- 1077) của nhà Lý

- Ba lần khỏng chiến chống quõn Nguyờn của nhà Trần ở thế kỉ XIII

- Cuộc khỏng chiến chống quõn Minh do Hồ Quớ Ly lónh đạo, cuối thế

kỉ XIV

- Khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi,Nguyễn Trói lónh đạo (1418 - 1427)

- Khởi nghĩa Tây Sơn và các cuộc kháng chiến chống quân Xiêm 1784 –

1785, kháng chiến chống quân xâm lược Món Thanh 1788 – 1789

III NỘI DUNG NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN

Từ thế kỉ X, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã dành được độc lập tựchủ, đây cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật đánh giặc ViệtNam dưới chế độ phong kiến Nghệ thuật đánh giặc trong thời kỳ này là sự kếthừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc của nhân dân Âu Lạc trước đây, cũng

Trang 10

như của các vị anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lê Lợi, NguyễnTrãi, Nguyễn Huệ

Nội dung nghệ thuật đánh giặc giữ nước của tổ tiên ta được thể hiện ởnhững mặt sau đây:

3.1 Tư tưởng, kế sách đánh giặc

Với tư tưởng tích cực chủ động tiến công và kế sách đánh giặc mềm dẻo,khéo léo của dân tộc ta đã được các triều đại Lí, Trần, Hậu Lê và Quang Trungvận dụng một cách linh hoạt, sánh tạo, đưa quân và dân ta đánh bại nhiều kẻ thùxâm lược, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của

Tổ quốc và được thể hiện qua các nội dung sau:

Thứ nhất, Tư tưởng tích cực, chủ động tiến công

Lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cho

thấy: “Tư tưởng chiến lược tiến công là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đánh

thắng các đạo quân xâm lược đất nước ta”

Quan điểm quân sự của dân tộc Việt Nam cho rằng: chỉ có tiến công vàtiến công một cách kiên quyết mới có thể đánh bại được kẻ thù để giải phóng đấtnước và bảo vệ Tổ quốc Và trên thực tế, các cuộc chiến tranh chống xâm lược

đã giành được thắng lợi, dân tộc Việt Nam đều rất coi trọng nghệ thuật tiến công

và thực hiện tiến công rất tài giỏi

Cách tiến công của chúng ta là tích cực chuẩn bị, tiến công liên tục, tiến

công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ Đạt được mục tiêu tiến công là tiêudiệt nhiều sinh lực địch, làm thay đổi so sánh lực lượng ta và địch trên chiến

trường, thay đổi cục diện chiến tranh và ta dành thắng lợi Tư tưởng tích cực chủ động tiến công là chủ động giành quyền đánh giặc trên các mặt trận của dân tộc,

kiên quyết tiến công bằng sức mạnh tổng hợp toàn dân, không thụ động phòngngự đó là yếu tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh và là nét đặc sắc trongnghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc ta Với thế cơ động tiến công từ mọiphía, hãm địch vào thế bị động lúng túng, nắm được thời cơ chuyển sang phảncông, tiến công và giành thắng lợi Từ thời nhà Trần vào thế kỉ thứ XIII, trước

Trang 11

thế mạnh của quân Nguyên - Mông, tư tưởng tích cực chủ động tiến công đượcthể hiện bằng việc không chấp nhận yêu sách của Chúa Nguyên, mà động viênnhân dân cả nước chuẩn bị vũ khí kháng chiến, xây dựng quyết tâm đánh giặc

cao cho quân dân cả nước Với ý chí “sát thát” thề giết giặc Nguyên - Mông.

Khi quân Nguyên Mông vào xâm lược nước ta, nhà Trần đã phát huy sức mạnhtoàn dân, thế trận làng nước, chặn giặc phía trước, đánh giặc phía sau, triệt pháđường tiếp tế lương thực, cô lập địch, tập trung lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữatiến công và rút lui, phản công chiến lược và kết quả cả 3 lần đều đánh bại cuộctiến công xâm lược của giặc Nguyên Mông

Đầu thế kỉ XV trước sự xâm lăng của giặc Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi

đã đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Với lòng yêu nước thương dân,

ý chí căm thù giặc của nghĩa quân Lam Sơn “Không đội trời chung với giặc, thề không cùng sống chung với chúng” đã chuyển thành quyết tâm đánh giặc rất kiên cường của quân sĩ dù phải “Nằm gai nếm mật vẫn bền gan chiến đấu” Thời kỳ đầu khởi nghĩa, nghĩa quân gặp muôn vàn khó khăn “Sớm tối không được hai bữa áo mặc, đông hè chỉ được có một manh, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không” Nhiều lần bị kẻ địch vây hãm, Lê Lợi đã tổ

chức cuộc tiến công phá thế bao vây phong tỏa của kẻ thù Đến năm 938 chỉbằng một trận Ngô Quyền đã đánh tan đội thuỷ quân xâm lược của Lưu HoằngThao trên sông Bạch Đằng, kết thúc thời kỳ mất nước kéo dài hàng ngàn năm

Thời nhà Lý, do có nhiều chính sách, cải cách tiến bộ để xây dựng đất

nước, củng cố quốc phòng như: “khuyến nông”, “ngụ binh ư nông” (gửi quân ở

dân) đã tạo nên sức mạnh, giành quyền chủ động đánh bại mọi âm mưu thủđoạn mua chuộc lôi kéo, đe doạ, xâm lấn biên giới của kẻ thù Trước nguy cơ bị

quân Tống xâm lược, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của nhà Lý là: “Giành quyền chủ động đánh trước để phá thế mạnh của giặc” Lý Thường Kiệt nói “Ngồi yên chờ giặc không bằng đem quân ra chặn trước mũi nhọn của chúng”, bằng hành

động thiết thực của mình, đích thân vua Lý Thái Tông cầm quân xuống phươngNam đánh giặc Chăm Pa, đã phá được thế liên kết gọng kìm của kẻ thù từ hai

Trang 12

đầu đất nước, tạo điều kiện tập trung lực lượng đánh giặc phương Bắc Cuốinăm 1075 đầu năm 1076 Lý Thường Kiệt đã mở cuộc tiến công chủ động đánhsang thành Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu phá thế chuẩn bị tiến công xâmlược của quân Tống Sau đó chủ động lui về xây dựng phòng tuyến Sông Cầu

(sông Như Nguyệt) thành thế “hoành trận” để đánh giặc Tư tưởng chỉ đạo đánh

giặc của quân và dân nhà Lý là kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự và phản công,xây dựng lực lượng phát triển mở rộng thế trận, chủ động tiến công địch, quy

mô ngày càng lớn cả bằng quân sự, chính trị, binh vận kết hợp đánh tiêu diệtđịch

Khởi nghĩa Tây Sơn thế kỉ XVIII do ba anh em nhà Nguyễn Nhạc,Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo đã được nhân dân đồng lòng ủng hộ

Lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển mạnh, vốn tư tưởng tích cựcchủ động tiến công nghĩa quân đã giải phóng một vùng rộng lớn từ Quảng Namđến Bình Thuận, đánh tan Chúa Nguyễn ở đằng trong, Chúa Trịnh ở đằng ngoài

Nghe tin bọn Nguyễn Ánh, Lê Chiêu Thống “Cọng rắn cắn gà nhà”, “rước voi

về giày mộ tổ” mở đường cho gần 3 vạn quân Xiêm và gần 30 vạn quân Mãn

Thanh sang xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ đã tổ chức cuộc hành binh thần tốc,tập trung lực lượng mạnh, đánh bất ngờ, với sự hiệp đồng giữa quân thuỷ, kỵbinh, pháo binh và voi chiến đã đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Múttiêu diệt quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi - Đống Đa, giữ vững nền độc lập dân tộc,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

Những lần đánh thắng quân xâm lược đó là những lần biểu hiện cho nghệthuật tiến công rất tài giỏi của cha ông ta, là nét đặc sắc về tư tưởng, chủ động

và kiên quyết tiến công, nghệ thuật tiến công còn gắn liền với tinh thần tích cựcchủ động tiến công của một dân tộc nhỏ đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớnhơn mình rất nhiều lần Ở phạm trù chiến lược, nghệ thuật quân sự Việt Namkhông có phòng ngự mà chỉ có tiến công, coi tiến công là tư tưởng chỉ đạo, cũng

có nghĩa coi phòng ngự là tạm thời, là sách lược, là biện pháp cần thiết để tạothế, tạo thời có lợi cho phản công Nhưng không vì thế mà dân tộc ta coi nhẹ

Trang 13

phòng ngự vì thành luỹ và tổ chức phòng ngự cũng là biện pháp, phương tiện tạo

ra thế trận và thời cơ giống như các yếu tố khác để phát huy sức mạnh của mình,đạt tới mục đích tiến công và phản công Trong lịch sử dân tộc, ông cha ta cũng

có lần phòng ngự chiến lược, như Lý Thường Kiệt tổ chức phòng ngự ở SôngCầu, chặn đứng đạo quân xâm lược nhà Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy.Bằng cách đó đã chặn đứng các cuộc tiến công quyết liệt của địch để tạo thời cơ,sau đó chuyển sang phản công và tiến công đánh bại quân giặc

Trong nghệ thuật quân sự dân tộc Việt Nam, phòng ngự luôn gắnliền với tiến công và phản công Vừa chặn địch ở chính diện, vừa đánh vàobên sườn phía sau, kết hợp phản công và tiến công ngay khi đang cònphòng ngự, tìm cách bộc lộ sơ hở để ta chuyển sang tiến công hoặc phảncông, đó là cách phòng ngự thế công

Thứ hai, kế sách đánh giặc

Chiến tranh là một quá trình đấu tranh vũ trang rất quyết liệt giữa hai bêntham chiến để dành ưu thế mà thắng Sự đọ sức quyết liệt ấy đòi hỏi phải có lựclượng, song nó còn gắn liền với sự đấu tranh rất gay go quyết liệt về trí tuệ củacác bên tham chiến, bên nào thông minh hơn sẽ thắng Càng đọ sức quyết liệt và

gay go thì càng biểu hiện quy luật chung của chiến tranh “Mạnh được yếu thua”, mạnh yếu tuỳ thuộc vào số lượng, chất lượng mọi người tham chiến,

tranh bị vật chất kỹ thuật và nguồn lực bảo đảm các mặt cho cuộc chiến tranh

đó, và còn phụ thuộc rất lớn vào tài nghệ chỉ đạo, chỉ huy của người cầm quyềncùng năng lực sáng tạo trong vận dụng nghệ thuật của người tham chiến trênchiến trường Vì vậy ai có sức mạnh hơn, thông minh hơn và sáng tạo hơn thìngưới đó sẽ chiến thắng

Do đó kế sách đánh giặc ở đây là mưu kế, là sách lược đánh giặc của dântộc Kế sách phải mềm dẻo, khéo léo kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòngngự, quân sự với binh vận, ngoại giao tạo ra thế mạnh của ta phá thế mạnh củađịch, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định Kế sách đó được

Trang 14

vận dụng linh hoạt sáng tạo cho từng cuộc chiến tranh Vì vậy mưu kế và kếsách giữ vai trò hết sức quan trọng trong nghệ thuật đánh giặc

Mưu kế trong chiến tranh tạo ra thế trận và thời cơ có lợi mà đánh thắng

địch, đó là yếu tố thế và thời trong chiến tranh do mưu kế tạo nên Trong lịch sửđấu tranh của dân tộc, nhân dân ta luôn phải đương đầu với những kẻ thù lớnmạnh hơn mình rất nhiều lần, chúng vừa đông lại có tiềm lực kinh tế, quân sự tolớn hơn Nhân dân ta đánh giặc trong điều kiện nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều, yếuchống mạnh và thường bị quân thù bao vây về mọi phía

Từ đó mà nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta kể từ xưa đến nay đều vì

thế mà nghĩ đến mưu kế, tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, dành chủ động, đánh bất

ngờ để thắng địch Trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã dùng mưu trí cắm cọcnhọn bịt sắt chôn xuống lòng sông có quân mai phục tạo ra sức mạnh tổng hợplàm thế mạnh của ta dụ quân địch vào thế trận, rồi đánh quặt lại chúng lúc thuỷtriều rút nước xuống để tiêu diệt địch Đây là nghệ thuật tạo, nắm thời cơ Sựthông minh, sáng tạo trong chiến tranh là biểu hiện trước hết ở mưu kế hay vàkhéo léo Mưu hay kế sâu không chỉ biểu hiện ở phạm trù chiến lược mà cònbiểu hiện rất rõ ở phạm trù chiến dịch, chiến đấu trong nghệ thuật quân sự củadân tộc ta Có mưu hay kế khéo thì các trận đánh lớn, nhỏ cũng như tác chiếnđều cho phép ta với lực lượng ít hơn, có thể đánh thắng được một đối thủ có lựclượng đông và vũ khí trang bị kỹ thuật mạnh hơn Mưu hay kế khéo có thể buộcđịch đánh theo cách đánh của ta, biến địch từ tiến công thành bị tiến công, quátrình giao chiến buộc địch bộc lộ ra những sơ hở để ta chủ động và bất ngờ đánhthắng

Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỉ X, do chăm lo xây dựngđất nước, củng cố quốc phòng, Triều Lý đã nắm được ý đồ chiến tranh của giặcTống Chúng bí mật chuẩn bị lực lượng mạnh, triển khai sát gần biên giới nước

ta, để bất ngờ mở cuộc tiến công xâm lược đánh chiếm kinh đô Thăng Long của

nước Đại Việt Tương kế tựu kế, nhà Lý đã sử dụng mưu kế “Tiên phát chế nhân”, chủ động chế người, không để người chế mình Đích thân Lý Thường

Trang 15

Kiệt đã thống lĩnh quân đội, mở cuộc tiến công đánh sang đất Tống, phá tan cáccăn cứ xuất phát tiến công của giặc ở Ung - Khâm - Liêm Châu làm đảo lộn kếhoạch xâm lược của nhà Tống, tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị kháng chiến

Trước thế giặc Nguyên - Mông đang mạnh, mưu lược đánh gặc của quândân thời Trần là: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, nơi hiểm yếu của kẻ thù

“Nguyên binh nhuệ khí đang hứng kíp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy” Quân

dân thời Trần vừa chặn đánh vừa rút lui từng bước, kết hợp với tổ chức cho toàn

dân lập kế“thanh dã” (làm vườn không nhà trống) với đánh phá nhỏ lẻ ở phía

trước, bên sườn phía sau Quân dân ta đã đẩy quân Nguyên vào thế cùng lực kiệttiến thoái lưỡng nan Lúc đó ta mới tập trung lực lượng, chuyển sang phản côngkiên quyết, tiến công liên tục, lập nên chiến thắng vang dội ở Đông Bộ Đầu,Hàm Tử, Chương Dương ba lần đem quân xâm lược Đại Việt, đạo kị binh thiệnchiến Nguyên - Mông đã từng chinh phục khắp lục địa Âu- Á đã bị đánh bại.Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thời kỳ đầu khởi nghĩa, so sánh lựclượng ta yếu hơn địch, nhưng tổ tiên ta đã sử dụng nhiều kế sách đánh giặc rất

mềm dẻo và vô cùng khôn khéo Nghĩa quân Lam Sơn thì dùng kế “Bên ngoài giả thác hoà thân” để “bên trong lo rèn chiến cục” Nghĩa quân lại dùng mưu:

“Hoà hoãn với Chúa Trịnh ở đằng ngoài, để tập trung lực lượng đối phó với Chúa Nguyễn ở đằng trong” Nhờ có nghệ thật khôn khéo đó mà ta đã tránh

được sự đánh phá rất quyết liệt của kẻ thù, đưa phong trào khởi nghĩa phát triểnmạnh mẽ trong công cuộc giải phóng dân tộc Có mưu hay kế khéo khôngnhững tiêu diệt được nhiều địch phá huỷ được nhiều phương tiện chiến tranh,lấy được tranh bị vũ khí phương tiện của địch để dùng cho ta, làm cho ta càngđánh càng mạnh, mà một vấn đề quan trọng hơn nữa là ta đã đánh bại đượcnhững chủ trương biện pháp, thủ đoạn, tác chiến quan trọng của địch, làm chođịch quân đông mà không dám dùng, còn lực lượng tinh nhuệ mà không dám sửdụng để thi thố tài năng vào đúng nơi và đúng lúc

Mưu đồ của địch từ đó mà đi tới chỗ dần dần suy sụp, càng đánh càng bịthua đau đớn, thiệt hại của chúng càng lớn hơn, tác động tinh thần đối với chúng

Trang 16

còn nguy hại nhân lên gấp bội, dẫn đến ý chí tinh thần của chúng bị lung lay, âmmưu xâm lược bị nứt rạn, mâu thuẫn tăng lên cuối cùng bị tan vỡ Mưu kế trướchết là lừa địch, tìm cách điều địch để phá thế địch mà tiêu diệt địch

Trần Hưng Đạo nói “Đời xưa người giỏi dùng binh ý muốn như thế mà không là như thế, nay thì ý muốn không như thế cho nên làm như thế, khiến họ lại ngờ là ý muốn như thế Đó là phép tinh vi để phá quân, bắt tướng Cái làm chỉ là cái bóng, làm mà không nghĩ thế chỉ là cái bóng trong cái bóng mà thôi - như hai cái gương trao đổi nhau, thực là huyền ảo mà không huyền ảo”

Trong chiến tranh, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều mưu kế để lừa

địch, đưa chúng vào “địa tử” để tiêu diệt, lập nên chiến trắng vang dội Đúng như nghĩa quân đã tổng kết: “Trải biến nhiều thì mưu kế sâu, tích việc xa thành công kỳ” Còn Nguyễn Huệ thì lại dùng kế “Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng” Quân dân ta đã lừa địch vào thế chủ quan ít đề phòng, sau đó

mới bí mật cơ động tập trung lực lượng nhanh, đánh bất ngờ, đồng loạt tiến côngmạnh trên nhiều hướng bằng một trận tuyến chiến lược, quân dân ta đã dànhđược thắng lợi kết thúc chiến tranh

Ngoài ra mặt trận ngoại giao cũng gĩư vai trò hết sức to lớn Thời Trầnđánh thắng giặc Nguyên - Mông đã mở mặt trận tiến công ngoại giao, buộc chúa

Nguyên phải công nhận xâm phạm quốc cảnh “Đại việt” để ta thả 5 vạn tù binh

về nước

Nghĩa quân Lam Sơn, Tây Sơn dùng kế sách “hoà hoãn” tránh sức mạnh

ban đầu của giặc để xây dựng lực lượng phát triển thế trận, sau đó mới mở cáccuộc tiến công ngày càng lớn Trong đánh giặc, nghĩa quân Lam Sơn đã kết hợptiêu diệt đạo quân viện binh nhà Minh ở Chi Lăng - Xương Giang với tổ chức

“hội thề Đông Quan” buộc Vương Thông phải công nhận thất bại cam kết rút

quân về nước Nghĩ kế lâu dài, Lê Lợi - Nguyễn Trãi còn cấp cho hàng binh giặc

cả lương ăn cùng phương tiện đi đường để nhà Minh từ bỏ ý đồ xâm lược Nghĩaquân Tây Sơn sau khi đánh tan gần 30 vạn quân Thanh ở Bắc Hà, Quang Trung

Trang 17

đã mở ngay mặt trận ngoại giao, thiết lập mối bang giao với nhà Thanh để hạnchế chiến tranh xây dựng đất nước

Từ đó cho thấy tư tưởng chỉ đạo đánh giặc của nhân dân ta phải dành, giữvững quyền chủ động, liên tục tiến công địch Nhưng tuỳ theo điều kiện củatừng cuộc chiến tranh, so sánh lực lượng ta và địch, để tìm ra cách đánh thíchhợp tiêu diệt chúng Kế sách đánh giặc của nhân dân ta rất mềm dẻo, khôn khéo,kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao tạo ra thếmạnh của ta, phá thế mạnh của địch, đánh bại chúng, trong đó tiến công quân sựluôn giữ vai trò quyết định

3.2 Đoàn kết toàn dân đánh giặc.

Đây là nghệ thuật về tổ chức, sử dụng lực lượng, động viên tinh thần, pháthuy sức mạnh, cách đánh giặc theo sở trường của từng người, từng lực lượng,

mỗi bản làng, thôn xóm trên cả nước tạo thành sức mạnh toàn dân là binh cả nước đánh giặc

Toàn dân là binh, cả nước đánh giặc là nghệ thuật đánh giặc truyền thốngđộc đáo, sáng tạo của dân tộc ta, là chiến thuật chiến tranh nhân dân toàn dânđánh giặc, nó được thể hiện trong cả khởi nghĩa vũ trang, trong chiến tranh bảo

vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc

Thắng lợi của nhân dân ta chống kẻ thù xâm lược trong lịch sử đều do biết

tiến hành chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc mà nội dung thực chất là nghệ thuật quân sự dựa vào dân, lấy dân làm

gốc để tiến hành chiến tranh Nó mang tính truyền thống của nghệ thuật quân sựViệt Nam, nó đã trở thành nguyên lý sâu sắc nhất để tiến hành giành thắng lợikhởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng suốt hàng ngàn năm lịch sử

- Cơ sở phát động toàn dân đánh giặc

Trang 18

Các cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành đều là chiến tranh yêunước chính nghĩa để bảo vệ Tổ quốc

hoặc giải phóng dân tộc, đây là nguồn

sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy

toàn đân hăng hái tham gia, nhà nhà

hưởng ứng, người người đứng lên

đánh giặc cứu nước Dân tộc ta có

truyền thống đoàn kết, yêu nước,

thương nòi, ý chí đấu tranh kiên

cường bất khuất, tinh thần quyết đánh quyết thắng quân xâm lược để bảo vệ độclập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc

Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết đứng lên chống giặc ngoại xâm, biết dựavào sức lực của chính mình, tạo ra sức mạnh đoàn kết và kiên trì đấu tranh lâudài, cuối cùng dành được thắng lợi, mở đầu cho trang sử chống ngoại xâm rất vẻvang của dân tộc Lực lượng chủ yếu ấy là những người dân của các bộ tộc, bộlạc được huy động ra đi làm dân binh để chiến đấu Với trang bị vũ khí lúc ấyvừa bằng tre, gỗ, vừa bằng sắt, đồng, đá Tre, gỗ, đá dùng làm gậy gộc, mũi tên,lao và đá ném; sắt đồng làm ra giáo, mác, rìu, lao

Những trang bị ấy thường ngày là những phương tiện lao động sản xuất,săn bắn thú rừng để sinh sống, đồng thời cũng là vũ khí chiến đấu chống giặckhi cần thiết Sức mạnh đó là sức mạnh dựa vào sự đoàn kết của các bộ tộcchống ngoại xâm để bảo vệ dân tộc, bảo vệ giống nòi

Các nhà nước phong kiến Đại Việt đã có tư tưởng “trọng dân”, “an dân”,

được thể chế thành tư tưởng, phương châm chỉ đạo, chính sách xây dựng đất

nước củng cố quốc phòng Thời trần có tư tưởng “chúng chí thành thành” (ý chí dân tộc mạnh hơn mọi thành luỹ) Lê Lợi - Nguyễn Trãi viết “Phúc chu thuỷ, tín dân do linh” (nâng thuyền lật thuyền mới biết sức dân) với phương châm xây dựng đất nước củng cố quốc phòng “dân giàu nước mạnh, quốc phú binh cường” Nhà nước có nhiều chính sách cải cách tiến bộ để xây dựng quân đội,

Trang 19

tăng cường sức mạnh quốc phòng như: “ngụ binh ư nông” (gửi binh ở dân) quân lính thay phiên nhau về sản xuất, thực hiện “tĩnh vi nông, động vi binh” phương hướng xây dựng quân đội “binh lính cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều”, tổ chức lực lượng vũ trang nhiều thứ quân để thực hiện “trăm họ là binh, toàn dân đánh giặc” Do có bước phát triển tiến bộ về tư tưởng, tổ chức xây dựng đất nước,

củng cố quốc phòng, các nhà nước phong kiến Đại Việt đã gắn chặt dân với

nước, nước với dân, tạo cơ sở vững chắc cho nghệ thuật đánh giặc “toàn dân vi binh, cử quốc nghênh địch” thời chiến đã có bước phát triển quan trọng, ảnh

hưởng lớn đến quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam

Trải qua bao nhiêu thế hệ, dân tộc Việt Nam với khí phách anh hùng ngàycàng nảy nở và phát triển, đã kiên quyết liên tục đứng lên chống ngoại xâm, sẵnsàng chịu đựng mọi gian khổ, bảo vệ quyền sống của mình trên mảnh đất quêhương

3.2.1.Nội dung nghệ thuật phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc

Thứ nhất, tổ chức động viên lực lượng

Là tổ chức động viên toàn dân, mọi nhà, mọi người đều đánh giặc, “trăm

họ là binh, cả nước đánh giặc” tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc Với

truyền thống yêu nước nồng nàn, tự lập tự cường, anh dũng bất khuất gắn liền với

ngọn cờ đại nghĩa chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước “nhân dân ta đã sớm

có ý thức gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn

bó nước với nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn bền chặt”, “nước mất nhà tan”, câu nói đó đã có từ lâu đời cho nên mỗi khi có giặc xâm lược thì mọi người đều đồng lòng đứng dậy chống giặc để giữ nước, giữ nhà “Cả nước chung sức đánh giặc đó là truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam”

Trang 20

Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các nhà nước phong kiến ĐạiViệt đã tổ chức sử dụng lực lượng vũ trang cùng nhân dân biên giới, đánh bạimọi âm mưu thủ đoạn mua chuộc

lôi kéo, kích động của kẻ thù, giữ

vững biên cương của Tổ quốc, các

địa phương còn tích cực tổ chức

lực lượng, động viên nhân dân chủ

động xây đồn luỹ, chuẩn bị vũ khí

sẵn sàng đánh giặc

Thời nhà Lý đã động viên

hàng trăm vạn dân tham gia lập

nên thế “hoành trận” để đánh giặc

ở sông Cầu (sông Như Nguyệt) Trong tác chiến quân đội triều đình cùng dânbinh do Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh giặc ở phía sau làm cho tướng giặc làQuách Quỳ sợ hãi ra lệnh án binh bất động Khi quân ta chuyển sang phản công,quân triều đình đánh giặc ở phía trước, dân binh đánh ở phía sau làm cho quânTống hoảng loạn Do cũng chuẩn bị tốt lực lượng, thế trận nên quân dân địaphương vùng Lạng Sơn, Cao Bằng cùng quân đội triều đình sang đất Tống đểphá thế tiến công chuẩn bị trước của giặc Sự tham gia đông đảo của quần chúngnhân dân với khí thế tiến công ngày càng mạnh đã trở thành nhân tố rất quantrọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng và bảo tồn dân tộc

Thời nhà Trần tổ chức hội nghị “Diên Hồng”, cùng nhân dân bàn cách

đánh giặc sau hội nghị cả nước dấy lên phong trào đánh giặc lập công Tiêu biểu

là đội dân binh người Tày ở Lạng Sơn do Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉhuy cùng một bộ phận quân triều đình liên tục chặn giặc trong nhiều ngày đêm.Đội quân gia nô của Nguyễn Địa đã chém chết tên phản bội Trần Kiệm ngaytrên mình ngựa trước cửa Chi Lăng Lực lượng dân binh ở Tây Bắc do Hà Bổng,

Hà Đặc, Hà Chương đã chặn đánh kiên quyết liên tục quân Nguyễn ở Thu Vạt,Bạch Hạc khi tiến công địch ở Nam Thăng Long, lực lượng dân binh, quân các

Trang 21

lộ phủ của Trần Thống, Nguyễn Khả Lạp đã phối hợp với quân triều đình đánhgiặc lập nên chiến công ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương

Chiến thắng Vạn Kiếp có công to lớn của Hoài Văn Hầu, Trần QuốcToản - người đã tổ chức chặn đánh quyết liệt ở sông Như Nguyệt buộc quânNguyên phải đi vào đúng thế trận của ta Trận quyết chiến trên sông BạchĐằng được nhân dân đồng lòng, quyết tâm ra sức ủng hộ Trần Quốc Toản, đãgiàn thế trận hiểm, kết hợp với tài nghi binh lừa địch của dân binh địaphương, ta đã bắt gọn quân giặc, bắt sống nhiều tướng giặc như Ô Mã Nhi,Phàn Tiếp, Trích Lê Cơ Ba lần xâm lược Đại Việt, cả 3 lần đều thất bại dướiquân và dân ta, làm cho kẻ thù khiếp sợ không dám xâm phạm Thắng lợi củadân tộc ta đã góp phần làm suy yếu thế lực của đế quốc Mông Cổ, làm thấtbại âm mưu biến nước ta thành bàn đạp để mở rộng xâm lược xuống các nướcĐông Nam Á Đó là những cống hiến quan trọng có ý nghĩa lớn lao của dântộc ta đối với cuộc chiến tranh của các dân tộc Châu Á chống xâm lược vàthống trị của đế quốc Nguyên - Mông hồi thế kỉ XIII

Khởi nghĩa Lam Sơn với mục tiêu “kéo cùng dân ra khỏi lầm than”, quân

khởi nghĩa được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ phát triển lên thành cuộc chiến tranh

giải phóng dân tộc Khi đánh giặc, quân khởi nghĩa đi đến đâu cũng “chật đất người theo”, nghĩa quân đánh giặc ở đâu nhân dân ở đó nổi dậy hưởng ứng.

Quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An, Tân Bình, Thanh Hoá người trẻ gia nhậpnghĩa quân, người già cũng tham gia đánh giặc, chỉ riêng Trà Lân đã có hơn

5000 thanh niên được tuyển vào quân đội Khi tiến quân ra Bắc Bộ, cả đồngbằng vùng lên đánh giặc, chiến thắng Tốt Động, Chúc động, Đông Quan, ChiLăng đều có dân binh và nhân dân trong vùng giúp sức mà sử sách còn ghi

“Hào kiệt các lộ ở kinh đô và nhân dân các lộ, phủ, huyện tấp nập kéo đến cửa quân hết sức liều chết đánh thắng giặc ở các xứ” Sau mười năm chiến đấu bền

bỉ, gian khổ và ngoan cường, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hoàn thành vẻ vangnhiệm vụ giải phóng dân tộc Thắng lợi của cuộc chiến thật là oanh liệt, toàndiện và triệt để đã đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược nước ta của nhà Minh, đất

Trang 22

nước được giải phóng và nền độc lập dân tộc nhờ đó mà được bảo đảm gần 4 thế

kỉ (đầu thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII) không bị nạn ngoại xâm, phong kiếnphương Bắc đe doạ

Dưới chế độ hà khắc và ngột ngạt của họ Nguyễn, nhân dân ta từ lâu đãtích chứa nhiều bất mãn oán giận và căm thù Phong trào đấu tranh của nhân dânđàng trong có nổ ra chậm hơn đàng ngoài nhưng mỗi khi bùng nổ thì lại rấtmạnh mẽ và kiên quyết Từ đó cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, nghĩa quântiến công vào đàng trong được nhân dân hết lòng ủng hộ đánh tan chúa Nguyễn,tiêu diệt quân Xiêm tiến quân ra đàng ngoài tiêu diệt luôn cả Chúa Trịnh, thốngnhất đất nước Trước họa xân lược của giặc Thanh, mùa xuân năm 1789 QuangTrung cấp tốc mở cuộc hành binh ra Bắc, chỉ dừng lại Nghệ An có 10 ngày mà

đã có hàng vạn thanh niên tình nguyện gia nhập nghĩa quân Trong các trậnquyết chiến ở Ngọc Hồi, Khương Thượng, Thăng Long có sự giúp đỡ phối hợp

của nhân dân, nghĩa quân đã có “luỹ mộc” để cản phá hoả lực của Hứa Tế Hanh lập thành “trận rồng lửa” (hoả long trận) quân vây kín bốn mặt thành, đánh tan

hàng vạn quân của Sầm Nghi Đống, Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựakhông kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp vượt cầu phao nhằm hướngBắc mà chạy

Trong các cuộc chiến tranh này, ngoài lực lượng quân sự thì dân chúngcũng tham gia trực tiếp chống giặc bằng nhiều hình thức rất phong phú, ra sức

hỗ trợ về mọi mặt để đánh thắng kẻ thù Đối với đất nước ta, trước nạn xâm lượcthường xuyên đe dọa của kẻ thù, các vị lãnh tụ luôn biết dựa vào dân, coi việcchăm lo súc mạnh của nhân dân làm nền tảng cho việc giữ nước và giải phóngđất nước Hình thức chiến tranh nhân dân sớm xuất hiện, không những kế thừađược phong trào đấu tranh có tính chất quần chúng rộng rãi với truyền thống anhhùng bất khuất đã có từ xa xưa, mà còn phát triển lên một trình độ mới rất cao,lập nên những kỳ tích vang dội với những chiến công hiển hách Hình thức tổchức lực lượng quân sự lúc này bao gồm ba thứ quân (quân cấm của triều đình,quân các lộ các địa phương và dân binh) ngày càng hoàn thiện, gồm bộ binh,

Trang 23

thuỷ quân và các loại hình binh chủng khác Tổ tiên ta đánh thắng địch khôngchỉ ở miền rừng núi, trung du mà ở cả đồng bằng, trên sông nước và ngoài cửabiển Đánh thắng giặc Tống, Nguyên, Minh, Xiêm, Thanh đã chứng minh sức

mạnh toàn dân trong nghệ thuật đánh giặc “toàn dân là binh cả nước đánh giặc”, điều đó được nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn khẳng định “Sở dĩ nước ta thắng được giặc ngoại xâm qua nhiều thời đại là do ta biết đồng lòng đánh giặc, cả nước chung sức…”, ngược lại thời Hồ dựng nước và giữ nước theo tư tưởng “ích kỉ phi gia”, “để trong nước lòng dân oán hận” vì thế dù cho

Hồ Quý Ly có xây thành cao, đắp được luỹ dày thì khi chiến tranh xảy ra mà

“dân không theo” cũng dẫn đến thất bại thảm hại, làm cho đất nước bị đô hộ kéo

dài hàng ngàn năm

Thứ hai, Với sức mạnh“toàn dân là binh, cả nước đánh giặc” đã hình thành nên thế trận đánh giặc độc đáo, sáng tạo ra nhiều cách đánh đạt hiệu quả cao

Trong quá trình đánh giặc, quân và dân nước Đại Việt đã khéo léo vận

dụng kết hợp chặt chẽ giữa mưu, kế, thế, thời, lực để tạo ra sức mạnh của ta đánh

phá, làm suy yếu hạn chế thế mạnh của địch trên phạm vi chiến lược và chiếnđấu tiêu diệt chúng Thế trận của ta là kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương(thế của các lộ, các vương hầu xưa kia, thế bộ đội địa phương và quân du kích)với thế trận chiến tranh bằng hoạt động tác chiến của quân chủ lực (du quân củatriều đình) là thế trận chiến lược của các lực lượng vũ trang kết hợp với các lựclượng chính trị triển khai trên các địa bàn xung yếu và kết hợp chặt chẽ với nhauhãm địch vào thế không có lợi

Thời nhà Lý do tạo được thế bất ngờ chủ động đánh trước phá được thànhlũy của giặc ở hai đầu đất nước đã làm đảo lộn kế hoạch xâm lược của kẻ thù.Trong trận tiến công thành Ung Châu, tướng giặc Tô Giám thúc quân phòng thủchống trả quyết liệt Quân ta đã sử dụng cách đánh vừa vây hãm vừa công thành,trong đột phá ta sử dụng hoả công, thang mây (vân thê) để nhập thành, đào hầmqua chân thành, dùng bao đất xếp thành bậc cao đưa quân vào thành đánh phá.Khi lui về phòng thủ đất nước, quân dân tổ chức thành hai tuyến chặn giặc

Trang 24

Tuyến trước do quân các lộ, phủ cùng dân binh địa phương bố trí lực lượng dọccác tuyến đường bộ và đường sông mà địch tiến công, dựa vào thế hiểm trở củanúi rừng, sông suối, đèo ải để chặn đánh giặc Tuyến sau dựa vào thế núi, thếsông ta xây dựng chiến luỹ dài hàng trăm dặm, cao mấy thước; ở Nam sông NhưNguyệt, phía trước đóng cọc tre dày đặc với nhiều hầm chông Lực lượng bố trí

có quân bộ, quân thủy cùng với dân binh tại chỗ có cả thế phòng và thế công tạonên thế trận vững chắc, có cả chính diện, chiều sâu và trọng điểm phát huy sứcmạnh, sở trường của các lực lượng, chặn giặc ở phía trước, tiến đánh giặc ở phíasau, hãm địch vào thế bất lợi để ta chuyển sang phản công Trong tiến công,

quân ta lại dùng kế “dương Đông kích Tây”, tổ chức những trận tập kích bất ngờ

làm cho quân Tống không kịp chống đỡ tổn thất rất nhiều Kết hợp với đòn tiếncông ngoại giao, dân tộc ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của giặcTống Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến trước hết là kết quả của mộtbước phát triển vượt bậc của dân tộc ta mọi mặt về tinh thần, vật chất và tổ chức.Sau hơn một thế kỉ giành được độc lập (thế kỉ X), do sự lớn mạnh đó quân dânthời Lý đã tiến hành cuộc kháng chiến với tinh thần chủ động, tư thế đạp lên đầu

kẻ thù, khí phách hiên ngang và ý thức sâu sắc về quyền bất khả xâm phạm củadân tộc, làm chủ đất nước và vận mệnh của mình

Thời Trần, quân dân ta đã lợi dụng địa hình, địa vật phát huy sức mạnhquân thuỷ bộ, quân các lộ, phủ cùng nhiều lực lượng dân binh tại chỗ chặn đánhđịch từng bước Quân ta còn chủ động rút lui chiến lược phối hợp đánh phámạnh mẽ ở phía trước bên sườn, phía sau bằng đòn quân sự, binh vận triệt pháquân lương để tiêu hao hạn chế thế mạnh ban đầu của giặc Quân dân thời Trầncòn lập kế nghi binh, bí mật cơ động lực lượng làm cho kị binh Nguyên - Môngcàng truy đuổi càng không đánh được đối phương mà lực lượng ngày càng tiêuhao mệt mỏi Quân dân ta đánh tan được ý đồ đánh lớn, tiến công hợp vây từnhiều hướng mũi của kẻ thù, bảo vệ được lực lượng, lập được thế trận nhân dân

thời Trần đã hãm được giặc Nguyên vào thế “Bị treo lơ lửng” làm cho chúng

sức cùng lực kiệt (xưa kia quân kị binh Mông Cổ rất cơ động, giỏi đánh ngoài

Trang 25

thành luỹ, trên đồng nội đã phát huy được cao độ sở trường của chúng trên nhiềuchiến trường từ Á sang Âu” Nhưng trước những cách đánh sáng tạo, mưu mẹocủa quân ta, sự gắn bó giữa quân chủ lực triều đình với quân địa phương trongthế trận liên hoàn, quân Mông Cổ đã không phát huy được cách đánh sở trường

như chúng muốn; Nguyên Sử đã thừa nhận trên đất nước Đại Việt “Quân và ngựa Nguyên - Mông đã không thể thi thố được tài năng nào” Tướng giặc là

Thoát Hoan phải lệnh cho Toa Đô đóng quân lại ở Trường Yên để kiếm lươngthực Lập được thế trận, tạo được thời cơ; quân dân thời Trần chuyển sang phảncông trên cả 3 hướng chiến lược, tiêu diệt cả hai tập đoàn quân của Thoát Hoan

và Toa Đô Để tiêu diệt cụm quân Thoát Hoan ở Thăng Long nhà Trần đã phốihợp chặt chẽ giữa lực lượng chính binh của Trần Quang Khải với lực lượng kịbinh của Trần Quốc Tuấn cùng lực lượng dân binh tại chỗ tạo nên sức mạnhđánh tan quân giặc ở A Lỗ, Giám Khẩu, Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương giảiphóng Thăng Long, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn chạy về nước Đó

thực sự là cách đánh “Phàm chiến đấu lấy đạo chính để hợp, lấy đạo kỳ để thắng, chính kỳ biến hoá khôn cùng vậy” Trong vòng 30 năm (1258 - 1288) dân

tộc ta đã 3 lần đương đầu với những đạo quân xâm lược khét tiếng của đế quốcMông Cổ đang chiến thắng khắp trên thế giới Mỗi lần xâm lược, quy mô vàmức độ của chiến tranh lực càng lớn, ác liệt hơn, nhưng mỗi lần kháng chiến,dân tộc ta lại càng kiên cường, sáng tạo, chiến thắng lại càng vẻ vang hơn

Khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân đã phát huy thế mạnh của chiến tranhgiải phóng dân tộc, sức mạnh của toàn dân, vận dụng cách đánh vây hãm thành,

đánh quân cứu viện Với tư tưởng “Giặc đông ta ít, lấy ít đánh đông, chỉ ở nơi đất hiểm mới được công” ta thực hiện “nhử người đến chứ không để người nhử đến” trong trận Chúc Động, Tốt Động

Sau chiến thắng Ninh Kiều, nghĩa quân Lam Sơn được tăng cường cả về

số lượng cũng như chất lượng và trang bị vũ khí Trên cơ sở đó nghĩa quân tiếptục vây hãm thành Đông Quan và các thành luỹ nằm sâu bên trong hậu phươngcủa ta (như thành Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh ) còn

Trang 26

những thành luỹ nằm trên hai đường tiếp viện của địch từ Vân Nam và QuảngTây đến Đông Quan (Như thành Điêu Diêu, Thị Cầu, Xương Giang, Khâu Ôn,Tam Giang ) thì nghĩa quân chủ trương kiên quyết tiêu diệt địch cho kỳ hếttrước khi viện binh của nhà Minh kéo sang Đặc biệt trong giai đoạn này, côngtác vận động và thuyết phục kẻ thù được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ cho cuộc tiếncông bằng quân sự Đúng như dự kiến của ta, Vương Thông tập trung 9 vạnbinh, sử dụng hai mũi chính kỳ vây chặt Cao Bộ nhằm tiêu diệt quân khởi nghĩa.

Nắm được ý đồ của giặc “tương kế tựu kế”, “nhanh chóng như thần máy then đóng mở” (Nguyễn Trãi) quân ta lợi dụng địa hình hiểm trở lập thế trận mai

phục, chặn địch ở Cao Lỗ, khoá đuôi cắt địch ở Ninh Kiều, dồn quân Minhxuống cánh đồng Tốt Động, Chúc Động để tiêu diệt; đúng như dự kiến đến canhnăm địch tiến công lên Cao Bộ; tướng Đinh Lễ cho pháo ở nơi yếu hại lừa địch,nghe tiếng pháo Vương Thông lầm tưởng cánh quân kỳ đã đánh phía sau Cao

Bộ, liền xua quân đi tắt vào Cao Bộ Khi quân địch đã qua cầu, toàn bộ quânMinh lọt vào trận địa mai phục của ta Từ 3 phía quân ta xông ra thả sức chémgiết, quân địch bị hãm vào đầm lầy người ngựa vướng vào nhau không saochống cự được, tướng Trần Hiệp tử trận, tổng chỉ huy Vương Thông bị thương,quân chết vô kể, cánh kị binh vội tháo chạy qua cánh đồng Chúc Động lại bị rơivào trận địa mai phục của ta quân số chết quá nửa Sau mười năm chiến đấu bền

bỉ, gian khổ và ngoan cường cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã hoàn thành vẻ vangnhiệm vụ giải phóng dân tộc

Trong khởi nghĩa Tây Sơn, nghĩa quân đã sử dụng kế sách tác chiến

“Nghi binh thăm dò”, đưa một bộ phận linh thuyền ra phía trước tiến đánh một

số trận tập kích thăm dò rồi bỏ chạy, mặt khác sai người đàm phán với tướng

Xiêm “xin” rút binh làm cho địch càng chủ quan gây được mối nghi ngờ trong

nội bộ của chúng, phía ta có thêm thời gian chuẩn bị chiến đấu Chúng lầmtưởng lực lượng Tây Sơn nhỏ yếu, nên quân Xiêm - Nguyễn lợi dụng lúc nướccường, gió chướng, đêm ngày 8 tháng chạp năm Giáp Thìn (18/01/1875) đưatoàn bộ thuyền binh từ Trà Tân tiến thẳng đến Mỹ Tho, để tiêu diệt quân Tây

Ngày đăng: 23/08/2021, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình GDQP Đại học, Cao đẳng dùng cho đào tạo giáo viên giảng dạy môn GDQP (Bộ giáo dục và đào tạo vụ GDQP) NXB QĐND Việt Nam, Hà nội - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình GDQP Đại học, Cao đẳng dùng cho đào tạo giáo viên giảng dạymôn GDQP
Nhà XB: NXB QĐND Việt Nam
2. Quốc Phòng toàn dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, NXB Lao ĐộngViệt Nam - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc Phòng toàn dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đấtnước
Nhà XB: NXB Lao ĐộngViệt Nam - 2005
3. Giáo sư, nhà giáo nhân dân Hoàng Minh Thảo, Một số vấn đề phương pháp luận lãnh đạo chiến tranh và quy luật chiến tranh - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phương phápluận lãnh đạo chiến tranh và quy luật chiến tranh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
4. Thiếu Tướng Hồ Đệ, Góp phần tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật quân sự Việt Nam trong lịch sử dựng nước – NXB QĐND Việt Nam, Hà Nội - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật quân sự ViệtNam trong lịch sử dựng nước
Nhà XB: NXB QĐND Việt Nam
5. CTND địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) chuyên đề “CTND địa phương trụ bám ở đồng bằng Sông Cửu Long”- Bộ tổng tham mưu – NXB QĐND - Hà Nội – 1997./ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “CTND địa phương trụ bám ở đồng bằng Sông Cửu Long”
Nhà XB: NXB QĐND - Hà Nội – 1997./

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

I. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN - Nghệ thuật quân sự việt nam
I. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA TỔ TIÊN (Trang 5)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. - Nghệ thuật quân sự việt nam
MỘT SỐ HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w